1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hướng dẫn học sinh lớp 9 làm tốt phần đọc hiểu văn bản trong đề thi vào lớp 10 THPT môn ngữ văn

20 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 288,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thêm nữa, cấu trúc đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn của tỉnh Thanh Hóa từ năm học 2019 - 2020 cũng có sự thay đổi khi phần kiến thức Tiếng Việt 2 điểm được thay bằng thành phần Đọc hiểu văn

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Ôn thi vào lớp 10 THPT là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các trường THCS Cùng với chất lượng mũi nhọn, chất lượng ôn thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT cho học sinh lớp 9 đóng một vai trò quan trọng trong công tác dạy học ở tr-ường THCS, giúp HS đạt được trình độ kiến thức nhất định để học lên cấp trên, đồng thời kết quả của nó phản ánh được thương hiệu, vị trí của một nhà trường Vì thế, công tác này đã được HS, PHHS, GV, nhà trường và các cấp giáo dục quan tâm

và chú ý Nhưng việc ôn thi vào lớp 10 hiện nay ở các trường còn gặp nhiều khó khăn về phương pháp, kỹ năng ôn luyện, cách lựa chọn tài liệu ôn thi Đặc biệt là môn Ngữ văn bởi trong những năm gần đây các em học sinh có xu hướng học thiên

về các môn như Toán, Hoá, Lý, Tiếng Anh mà ít có hứng thú học môn Ngữ văn cũng là một thử thách đối với thầy cô

Thêm nữa, cấu trúc đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn của tỉnh Thanh Hóa từ năm học 2019 - 2020 cũng có sự thay đổi khi phần kiến thức Tiếng Việt (2 điểm) được thay bằng thành phần Đọc hiểu văn bản (3 điểm) Có thể nói đây là sự đổi mới tích cực trong cách ra đề Ngữ văn theo định hướng mới, tiếp cận với cách ra đề của cấp THPT Nếu phần Tiếng Việt với dạng câu hỏi tái hiện kiến thức chỉ có thể kiểm

tra học sinh ở mức nhận biết, thông hiểu, có biết, hiểu, nắm được những kiến thức văn học đã được dạy trong chương trình hay không thì dạng câu hỏi Đọc hiểu đã nâng cao hơn một mức vận dụng thấp, vận dụng sáng tạo, kiểm tra, phát triển được

năng lực tự cảm nhận một văn bản bất kì (có thể văn bản đó hoàn toàn xa lạ đối với các em)

Câu hỏi Đọc hiểu là một kiểu dạng khá mới mẻ được đưa vào đề thi vào lớp

10 THPT, chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng trong chương trình Ngữ văn bậc THCS Dạng này cũng không có nhiều tài liệu, bài viết chuyên sâu để tham khảo, hơn nữa kiến thức đọc hiểu nằm rải rác trong chương trình học môn Ngữ văn

từ lớp 6 đến lớp 9 Chính vì thế mà không ít giáo viên ôn thi vào lớp 10 tỏ ra lúng túng khi hướng dẫn học sinh làm bài Điều đó cũng ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng, kết quả bài thi của học sinh

Đọc hiểu văn bản là một trong hai phần bắt buộc có trong một đề thi vào lớp

10 THPT Phần này tuy không chiếm phần lớn số điểm nhưng lại có vị trí rất quan trọng bởi nó quyết định điểm cao hay thấp trong một bài thi Nếu học sinh làm sai hết phần này thì chắc chắn điểm toàn bài còn lại dù có tốt mấy cũng chỉ đạt khoảng 5,0 - 6,0 điểm Ngược lại nếu học sinh làm tốt phần đọc hiểu các em sẽ có nhiều cơ

hội đạt điểm 8,0 hoặc 9,0 Như vậy phần Đọc hiểu góp phần không nhỏ vào kết quả

bài thi môn Ngữ văn Có thể nói ôn tập và làm tốt phần Đọc hiểu chính là giúp các

em gỡ điểm cho bài thi của mình

Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy cũng như vai trò của một giáo viên tâm huyết với nghề, nhiều năm ôn thi vào lớp 10 THPT, đồng thời góp phần tháo gỡ

những khó khăn trên, tôi đã lựa chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm: Hướng dẫn học sinh lớp 9 làm tốt phần Đọc hiểu trong đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn.

Trang 2

1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đưa ra đề tài này, thông qua việc hướng dẫn các em học sinh ôn luyện kiến thức lý thuyết, lưu ý cách làm bài, luyện tập các dạng đề Đọc hiểu, tôi muốn nâng cao chất lượng làm dạng câu hỏi Đọc hiểu của học sinh lớp 9 chuẩn bị bước vào kì thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT Vì thế khi nghiên cứu và thực hiện đề tài này tôi đã hướng tới các mục đích cụ thể sau:

- Nắm vững những kiến thức lý thuyết liên quan đến câu hỏi Đọc hiểu

- Nhận diện, phân loại các dạng câu hỏi Đọc hiểu theo phạm vi kiến thức

- Hiểu được phương pháp, cách thức làm các dạng câu hỏi Đọc hiểu đạt kết quả cao

- Luyện tập một số đề Đọc hiểu để rèn kĩ năng làm bài

- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Học sinh lớp 9 chuẩn bị thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn

- Dạng bài tập Đọc hiểu

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Trong văn học, thực tế dạng câu hỏi Đọc hiểu rất phong phú, đa dạng Lý thuyết đọc - hiểu nằm ở diện rộng: rải rác trong chương trình học Ngữ văn THCS (lớp 6,7,8,9) Ngữ liệu có thể nằm trong chương trình sách giáo khoa và cả ngoài sách giáo khoa Song tôi đã cố gắng nghiên cứu và xếp vào các phạm vi kiến thức

cụ thể để học sinh dễ nhận diện và luyện đề, nhất là những kiến thức có liên quan trực tiếp, thường hay gặp trong kì thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT

1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Sáng kiến đã sử dụng các phương pháp sau

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp điều tra

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

2.1.1 Quan niệm về Đọc hiểu.

Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người để chiếm lĩnh văn hóa Đọc là

một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sử dụng bộ máy phát

âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe Hiểu là phát hiện và nắm

vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan

hệ đó Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống Hiểu

là phải trả lời được các câu hỏi: Là gì? Cái gì? Như thế nào? Làm thế nào?

Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích, khái

quát, biện luận đúng - sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực tư duy và biểu đạt Mục đích trong tác phẩm văn chương, đọc hiểu là phải thấy được:

+ Nội dung của văn bản

+ Mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả tổ chức và xây dựng

+ Ý đồ, mục đích

+ Thấy được tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm

Trang 3

+ Giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật.

+ Ý nghĩa của từ ngữ được dùng trong cấu trúc văn bản

+ Thể loại của văn bản, hình tượng nghệ thuật…

Lâu nay trong dạy học Văn, người ta thường dùng thuật ngữ là giảng văn, phân tích văn…song từ khi thay sách đã thay bằng thuật ngữ Đọc hiểu văn bản.

Đây không chỉ là sự thay đổi về tên gọi mà thực chất là sự thay đổi quan niệm về bản chất của môn Ngữ văn, cả về phương pháp dạy học Văn và các hoạt động khi tiếp nhận tác phẩm văn học cũng có những thay đổi Theo GS - TS Nguyễn Thanh

Hùng “Đọc hiểu là một khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn của người đọc”.“Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa văn bản” Còn với GS Trần Đình Sử “Đọc hiểu văn bản như một khâu đột phá trong việc đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến” PGS - TS Nguyễn Thị Hạnh, dựa trên cơ sở ngôn ngữ học, khẳng định: “Đọc hiểu là một hoạt động giao tiếp ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết thành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết, tình cảm hoặc hành vi của chính mình, đọc hiểu là hoạt động đọc cho mình”

Như vậy, Đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh Đọc hiểu là tiếp xúc với văn bản, hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật Với quan điểm phát huy vai trò chủ thể của học sinh, xuất phát từ đặc thù của văn chương (nghệ thuật ngôn từ), mà vấn đề Đọc hiểu văn bản ngày càng được quan tâm

2.1.2 Văn bản Đọc hiểu

Trong chương trình Ngữ văn của Việt Nam nêu hai loại văn bản để dạy Đọc

hiểu, đó là: Văn bản văn học và văn bản nhật dụng Trong đó các văn bản được xếp

theo tiến trình lịch sử hoặc theo thể loại Các văn bản văn học đa dạng hơn các văn bản nhật dụng Hai loại văn bản này cũng chính là các ngữ liệu để học sinh khai thác

Thực tế cho thấy văn bản Đọc hiểu nói chung và văn bản Đọc hiểu trong nhà trường nói riêng rất đa dạng và phong phú Có bao nhiêu loại văn bản trong cuộc sống thì có bấy nhiêu loại được dạy trong nhà trường Điều đó cũng có nghĩa là văn bản Đọc hiểu trong các đề thi rất rộng Đề thi có thể là văn bản các em đã được tiếp cận, đã được học, hoặc cũng có thể là văn bản hoàn toàn xa lạ

2.1.3 Vấn đề Đọc hiểu môn Ngữ văn trong nhà trường THCS

Nhằm phát huy khả năng chủ động tiếp cận văn bản của học sinh, từ đề thi vào lớp 10 THPT năm học 2019 - 2020, Sở GD&ĐT Thanh Hóa chính thức đưa câu hỏi Đọc hiểu vào đề thi Khi có quyết định, nhiều học sinh, các thầy cô tỏ ra lúng túng vì cho rằng đây là vấn đề hoàn toàn mới mẻ Nhưng thực chất, bản chất của vấn đề không hoàn toàn mới vì hoạt động đọc hiểu vẫn diễn ra thường xuyên trong các bài giảng văn Các thầy cô vẫn thường cho học sinh tiếp cận văn bản bằng cách đọc ngữ liệu, sau đó đặt câu hỏi để học sinh trả lời, nghĩa là đang diễn ra hoạt động đoc hiểu Tuy nhiên giữa hoạt động đọc hiểu và dạng câu hỏi đọc hiểu có nét tương đồng và khác biệt Nét tương đồng là phương thức tiếp cận văn bản là giống nhau:

Trang 4

bắt đầu từ đọc rồi đến hiểu Còn nét khác biệt là Đọc hiểu trong dạy học văn nói

chung là hoạt động trên lớp có sự định hướng của người thầy, còn câu hỏi Đọc hiểu trong đề thi là hoạt động độc lập, sáng tạo của học sinh, nhằm đánh giá năng lực người học Hơn nữa những kiến thức trong dạng câu hỏi Đọc hiểu rất phong phú, học sinh phải biết huy động những kiến thức đã học ở các lớp dưới để trả lời câu hỏi Như vậy hoạt động đọc hiểu vẫn thường xuyên diễn ra trong môn Ngữ văn ở các nhà trường

Hiện nay Đọc hiểu văn học trong nhà trường THCS thường hướng tới các vấn

đề cụ thể sau:

- Nhận biết đúng, chính xác về văn bản

+ Thể loại của văn bản

+ Hiểu đề tài, nhan đề, chủ đề, tóm tắt được các nội dung của văn bản

+ Hiểu các phương thức biểu đạt của văn bản (phương thức tự sự, biểu cảm, thuyết minh…)

+ Hiểu các thao tác lập luận (thao tác phân tích, bình luận, chứng minh, bác bỏ…)

- Thông hiểu, đánh giá đúng văn bản

+ Cảm nhận được những đặc sắc, nổi bật của văn bản: từ ngữ, hình ảnh,chi tiết quann trọng, đặc sắc, các biện pháp tu từ…

+ Hiểu được ý nghĩa hàm ẩn của văn bản, đánh giá được nội dung, ý nghĩa của văn bản bằng kiến thức, kinh nghiệm của mình

- Vận dụng văn bản để giải quyết một vấn đề cụ thể

+ Liên hệ mở rộng một vấn đề nào đó từ văn bản bằng suy nghĩ, ý kiến của mình

+ Vận dụng văn bản để trình bày phương hướng, biện pháp giải quyết một vấn đề cụ thể của cuộc sống, của xã hội

2.2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thực trạng nghiên cứu đề Đọc hiểu môn Ngữ văn THCS

Ngay từ khi Sở GD&ĐT thông báo và hướng dẫn các trường THCS thực hiện đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong kì thi vào lớp 10 THPT năm học 2019

- 2020, vấn đề Đọc hiểu thu hút sự chú ý của rất nhiều các thầy, cô giáo và học sinh nhất là học sinh lớp 9 Cùng với việc chuyên viên của Sở, Phòng GD & ĐT giải đáp những thắc mắc về hướng ra đề phần Đọc hiểu thì nhiều thầy, cô giáo luyện thi có kinh nghiệm cũng đăng trên trang cá nhân của mình những bài ôn tập Đọc hiểu Song những hướng dẫn ôn tập đó chưa chi tiết, chưa cụ thể và chưa có tính hệ thống Trong khi đó chưa có một cuốn tài liệu chính thống nào hướng dẫn các dạng hoặc cách ôn luyện phần Đọc hiểu một cách bài bản

2.2.2.Thực trạng đề thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn có câu hỏi Đọc hiểu

Năm học 2019 - 2020 Sở GD& ĐT quyết định đổi mới kiểm tra đánh giá.Trong đề thi vào lớp 10 THPT phần Đọc hiểu chiếm 3/10 điểm toàn bài với 1 văn bản và 4 câu hỏi nhỏ theo các mức độ khác nhau Xét về mức độ kiến thức và tương quan thời gian trong toàn bài thi thì cấu trúc phần Đọc – hiểu như thế là hợp lí

Trang 5

Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2019 - 2020:

PHẦN I ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi

(1) Một chàng trai trẻ đến gặp một chuyên gia đá quý và đề nghị ông ta dạy cho anh trở thành một nhà nghiên cứu về đá quý Chuyên gia nọ từ chối vì ông sợ rằng chàng trai không đủ kiên nhẫn để theo học Chàng trai cầu xin một cơ hội Cuối cùng, vị chuyên gia đồng ý và bảo chàng trai "Ngày mai hãy đến đây".

(2) Sáng hôm sau, vị chuyên gia đặt một hòn ngọc bích vào tay chàng trai và bảo chàng hãy cầm nó Rồi ông tiếp tục công việc của mình: mài đá, cân và phân loại đá quý Chàng trai ngồi yên lặng và chờ đợi.

(3) Buổi sáng tiếp theo, vị chuyên gia lại đặt hòn ngọc bích vào tay chàng trai và bảo chàng cầm nó Ngày thứ ba, thứ tư, thứ năm sau đó vị chuyên gia vẫn lặp lại hành động trên.

(4) Đến ngày thứ sáu, chàng trai vẫn cầm hòn ngọc bích nhưng chàng không thể im lặng được nữa.

- Thưa thầy - chàng trai hỏi - khi nào thì em sẽ bắt đầu học ạ?

- Con sẽ được học - vị chuyên gia trả lời và tiếp tục công việc của mình.

(5) Vài ngày nữa lại trôi qua và sự thất vọng của chàng trai càng tăng Một ngày kia, khi vị chuyên gia bảo chàng trai đưa tay ra, chàng định nói với ông ta rằng chàng chẳng muốn tiếp tục việc này nữa Nhưng khi vị chuyên gia đặt hòn ngọc bích lên tay chàng trai, chàng nói mà không cần nhìn viên đá:

- Đây không phải là hòn đá con vẫn cầm!

- Con đã bắt đầu học rồi đấy - vị chuyên gia nói

(Theo Quà tặng cuộc sống NXB Trẻ, 2013)

Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản

trên

Câu 2 Vì sao ban đầu vị chuyên gia lại từ chối lời đề nghị của chàng trai? Câu 3 Tìm câu văn có lời dẫn trực tiếp trong đoạn (1), sau đó chuyển thành

lời dẫn gián tiếp

Câu 4 Anh/chị có đồng tình với quan điểm được gợi ra từ phần đọc hiểu "tự

học là cách học tập hiệu quả nhất" không? Vì sao? (Trình bày từ 7 đến 10 câu)

Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2020 - 2021:

PHẦN I ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi

Mỗi một người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận.

Đó là lí do để chúng ta không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác Cha mẹ ta, phẩn đông, làm những công việc rất bình thường Và đó là một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy Để trân trọng Không phải

để mặc cảm Để bình thản tiến bước Không phải để tự ti Nếu tất cả đểu là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả là bác sĩ nổi tiếng thế giới thì ai sẽ là người dọn vệ sinh bệnh viện? Nếu tất cả đều là nhà khoa học thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau? Nếu tất cả là kĩ sư phần mềm thì

ai sẽ gắn những con chip vào máy tính? Phần đông chúng ta cũng sẽ là người bình thường Nhưng điều đỏ không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày.".

(Phạm Lữ Ân, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, NXB Hội Nhà văn năm 2012)

Trang 6

Câu 1 Theo tác giả, một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy là gì?.

Câu 2 Xác định một phép liên kết được sử dụng trong các câu: Phần đông

chúng ta cũng sẽ là người bình thường Nhưng điều đỏ không thể ngăn cản chúng

ta vươn lên từng ngày.

Câu 3 Nêu tác dụng của các câu hỏi tu từ trong những câu sau: Nếu tất cả

đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả là bác sĩ nổi tiếng thế giới thì ai sẽ là người dọn vệ sinh bệnh viện? Nếu tất cả đêu là nhà khoa học thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau? Nếu tất cả là kĩ sư phẩn mềm thì ai sẽ gắn những con chip vào máy tính?

Câu 4 Em có đồng tình với quan điểm của tác giả: Mỗi một con người đều

có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận không? Vì sao?

Từ thực tế những năm dạy ôn thi vào lớp 10 THPT, tôi nhận thầy rằng nhiều

em đã có kỹ năng đọc, phân tích đề tốt, xác định đúng vấn đề của câu hỏi đọc hiểu Tuy nhiên, khi gặp dạng đề này, học sinh thường mắc những lỗi sau:

- Lỗi không đọc kĩ nội dung ngữ liệu; không thực hiện thao tác phân tích đề, chưa đọc kĩ yêu cầu của đề bài nên trả lời còn sai hoặc chưa đúng trọng tâm của câu hỏi… Ví dụ: đề yêu cầu xác định PTBĐ chính lại nêu nhiều PTBĐ, ngược lại, khi hỏi xác định các PTBĐ lại chỉ nêu 1 PTBĐ; đề yêu cầu trình bày những thông điệp

từ văn bản lại chỉ nêu một thông điệp; đề yêu cầu trình bày thông điệp sâu sắc nhất lại trả lời nhiều thông điệp…

- Lỗi sai về kiến thức như:

+ Lỗi nhầm lẫn giữa các đơn vị kiến thức về phương thức biểu đạt

+ Lỗi sai khi xác định và phân tích hiệu quả của các biện pháp tu từ Các em chỉ mới nêu tên biện pháp tu từ mà chưa chỉ ra từ ngữ cụ thể, chỉ nêu chung chung

về giá trị biểu đạt mà chưa dựa vào ngữ liệu để nêu cụ thể

+ Khi trả lời câu hỏi yêu cầu trình bày thông điệp, bài học, bày tỏ ý kiến, quan điểm: nhiều học sinh chỉ mới nêu thông điệp, bài học hoặc chỉ trả lời là “em đồng tình hay không đồng tình với ý kiến…” mà chưa giải thích lí do vì sao hoặc giải thích bằng cách kể lại, diễn xuôi lại văn bản…

- Lỗi trong khâu trình bày: Nhiều em học sinh tham kiến thức nên một ý trả lời diễn đạt hàng trang giấy Lại có nhiều em trả lời cộc lốc, sơ sài, mỗi ý một gạch đầu dòng, không hề chú ý đến việc bám sát các ý hỏi trong đề bài… Những biểu hiện này đều tác động không tốt đến kết quả bài làm của các em

Vậy cần chú ý những nguyên tắc nào trong khi làm bài đọc hiểu?

– Thứ nhất: Trong đề thi, phần đọc hiểu văn bản thường bao gồm ngữ liệu văn bản với những câu hỏi ở các mức độ năng lực khác nhau Các em khi thực hiện phần đọc hiểu nên chú ý đọc kĩ văn bản, có câu trả lời khái quát cho từng phần đọc hiểu, có kí hiệu câu trả lời thống nhất với kí hiệu trong đề bài… để đảm bảo tính mạch lạc, rõ ràng cho phần trả lời

– Thứ hai: Với những câu hỏi ở mức độ nhận biết, các em chỉ cần trả lời ngắn gọn, đảm bảo bám sát ý hỏi Với những trường hợp bản thân còn băn khoăn về phương án trả lời vì thấy có sự giao thoa nào đó, các em có thể nêu cả hai phương

án trả lời kèm theo phần diễn giải lí do vì sao

– Thứ ba: Với những câu hỏi yêu cầu phân tích hiệu quả nghệ thuật, nêu cảm nghĩ về một phương diện nào đó của văn bản hoặc liên hệ, so sánh với hiện thực đời

Trang 7

sống… các em nên diễn đạt linh hoạt thành các đoạn văn ngắn Nếu đề bài có những chỉ thị về dung lượng như: viết một đoạn văn từ 5 đến 7 dòng, viết một đoạn văn khoảng 10 dòng… thì không nhất thiết các em phải máy móc đếm dòng, đếm chữ mà có thể hiểu đó là những chỉ thị giúp người làm bài không sa đà vào diễn đạt rườm rà, còn đoạn văn cụ thể có thể dao động trong khoảng đó hoặc hơn vậy một chút cũng không sao

- Thứ tư: Bài thi môn Ngữ văn vào lớp 10 có thời gian làm bài trong 120 phút với 3 phần: Đọc hiểu văn bản (3 điểm), Nghị luận xã hội (2 điểm) và Nghị luận văn học (5 điểm) Để có thể đạt điểm cao tuyệt đối, bên cạnh việc nắm chắc toàn bộ kiến thức, thí sinh phải kiểm soát được thời gian làm bài mới đảm bảo làm hết các câu hỏi trong đề Thời gian làm phần đọc hiểu khoảng từ 20 đến 30 phút

2.3 Những giải pháp giúp học sinh lớp 9 làm tốt kiểu bài Đọc hiểu trong

đề thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn.

2.3.1 Rèn luyện, bồi dưỡng cho học sinh nắm chắc, hiểu sâu và toàn diện kiến thức đồng thời hướng dẫn cho các em cách làm các dạng cụ thể của bài Đọc hiểu.

Đây là một bước không mấy dễ dàng đối với những thầy cô ôn thi vào lớp 10 THPT nói chung, đặc biệt là các giáo viên mới ra trường hoặc năm đầu ôn thi Vì phần kiến thức lý thuyết liên qua đến dạng câu hỏi Đọc hiểu này khá rộng, kiến thức không quy tụ thành một bài, hay ở một khối lớp nào mà kiến thức đó nằm rải rác từ lớp 6 cho đến lớp 9 Vì vậy giáo viên mất nhiều thời gian thu thập, thanh lọc, xử lý kiến thức, chia thành các mảng, với các chủ đề cụ thể cùng các ví dụ tương ứng để hướng dẫn học sinh

Tháo gỡ khó khăn trên tôi đã nghiên cứu và phân loại kiến thức lý thuyết có liên quan đến dạng câu hỏi Đọc hiểu để ôn tập cho học sinh Đặc biệt ở những phần kiến thức lý thuyết dễ nhầm lẫn tôi kẻ thành bảng kiến thức trọng tâm nhằm giúp các em học sinh nhận diện đúng từng thể loại, dễ dàng khắc sâu kiến thức Sau mỗi phần lý thuyết đều có ví dụ minh họa để học sinh củng cố, kiểm chứng lại lý thuyết Trong một ngữ liệu, tôi có thể khai thác nhiều dạng câu hỏi khác nhau để các em nắm chắc, hiểu sâu kiến thức từ đó vận dụng vào bài tập cụ thể

2.3.1.1 Hệ thống câu hỏi nhận diện kiến thức cơ bản:

a Xác định phương thức biểu đạt

Xác định phương thức biểu đạt là một trong những yêu cầu thường gặp trong phần Đọc hiểu của đề thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn Ở phần lý thuyết về phương thức biểu đạt giáo viên cung cấp cho học sinh kiến thức lý thuyết về 6 phương thức biểu đạt thường xuất hiện trong văn bản Chú ý đến các đặc điểm để nhận diện các phương thức biểu đạt

Tự sự - Dùng ngôn ngữ để kể

lại một hoặc một chuỗi

các sự kiện, có mở đầu ->

kết thúc

- Ngoài ra còn dùng để

khắc họa nhân vật (tính

- Có sự kiện, cốt truyện

- Có diễn biến câu chuyện

- Có nhân vật

- Có các câu trần thuật/

đối thoại

- Bản tin báo chí

- Bản tường thuật, tường trình

- Tác phẩm văn học nghệ thuật (truyện,tiểu thuyết)

Trang 8

cách, tâm lí ) hoặc quá

trình nhận thức của con

người

Miêu tả

Dùng ngôn ngữ để tái

hiện lại những đặc điểm,

tính chất, nội tâm của

người, sự vật, hiện tượng

- Các câu văn miêu tả

- Từ ngữ sử dụng chủ yếu là tính từ

- Văn tả cảnh, tả người, vật

- Đoạn văn miêu tả trong tác phẩm tự sự

Thuyết

minh

Trình bày, giới thiệu các

thông tin, hiểu biết, đặc

điểm, tính chất của sự

vật, hiện tượng

- Các câu văn miêu tả đặc điểm, tính chất của đối tượng

- Có thể là những số liệu chứng minh

- Thuyết minh sản phẩm

- Giới thiệu di tích, thắng cảnh, nhân vật

- Trình bày tri thức

và phương pháp trong khoa học

Biểu

cảm

Dùng ngôn ngữ bộc lộ

cảm xúc, thái độ về thế

giới xung quanh

- Câu thơ, văn bộc lộ cảm xúc của người viết

- Có các từ ngữ thể hiện cảm xúc: ơi, ôi

- Điện mừng, thăm hỏi, chia buồn

- Tác phẩm văn học: thơ trữ tình, tùy bút

Nghị

luận

Dùng để bàn bạc phải

trái, đúng sai nhằm bộc lộ

rõ chủ kiến, thái độ của

người nói, người viết rồi

dẫn dắt, thuyết phục

người khác đồng tình với

ý kiến của mình

- Có vấn đề nghị luận

và quan điểm của người viết

- Từ ngữ thường mang tính khái quát cao (nêu chân lí, quy luật)

- Sử dụng các thao tác:

lập luận, giải thích, chứng minh

- Cáo, hịch, chiếu, biểu

- Xã luận, bình luận, lời kêu gọi

- Sách lí luận

- Tranh luận về một vấn đề trính trị, xã hội, văn hóa

Hành

chính

-công vụ

Là phương thức giao tiếp

giữa Nhà nước với nhân

dân, giữa nhân dân với cơ

quan Nhà nước, giữa cơ

quan với cơ quan, giữa

nước này và nước khác

trên cơ sở pháp lí

- Hợp đồng, hóa đơn

- Đơn từ, chứng chỉ

(Phương thức và phong cách hành chính công

vụ thường không xuất hiện trong bài đọc hiểu)

- Đơn từ

- Báo cáo

- Đề nghị -

Dạng câu hỏi về phương thức biểu đạt:

- Xác định phương thức biểu đạt chính (chủ yếu) của văn bản

- Xác định các phương thức biểu đạt của văn bản

Khi xác định phương thức biểu đạt:

- Học sinh cần đọc kĩ đề để hiểu đề yêu cầu chỉ ra phương thức biểu đạt chính/chủ yếu hay chỉ ra các phương thức biểu đạt

- Đọc kĩ ngữ liệu để xác định đúng PTBT

Trang 9

- Cách trả lời: Nếu đề hỏi PTBĐ chính thì chỉ nêu một PTBĐ chính/chủ yếu; nếu đề hỏi các PTBĐ thì trả lời PTBĐ chính và các PTBĐ khác có trong ngữ liệu

Ví dụ: Trong câu chuyện “Người ăn xin” (Tuốc-ghê-nhep, Ngữ văn 9, tập 1, trang 22), nếu đề yêu cầu xác định PTBĐ chính thì các em chỉ cần nêu PTBĐ là tự sự; còn nếu đề yêu cầu xác định các PTBĐ thì các em sẽ nêu PTBĐ

tự sự, miêu tả, biểu cảm.

b Xác định thể thơ (đối với ngữ liệu là văn bản thơ):

- Hướng dẫn học sinh nắm được một số đặc điểm cơ bản cuả các thể thơ thường gặp:

+ Thơ ngũ ngôn: có độ dài ngắn khác nhau nhưng được chia thành nhiều khổ

nhỏ, mỗi khổ gồm 4 dòng thơ, mỗi câu có 5 chữ

+ Thơ Song thất lục bát gồm mỗi đoạn có 4 câu, hai câu đầu là song thất, có

nghĩa là mỗi câu có 7 chữ, hai câu cuối là lục, bát, câu thứ ba sáu chữ, câu thứ 4 tám

chữ

+ Thơ lục bát là loại thơ một câu sáu chữ rồi đến một câu tám chữ cứ thế nối

liền nhau Bài thơ lục bát thông thường được bắt đầu bằng câu lục và kết thúc bằng câu bát

+ Thơ Đường luật: Đường luật có nhiều loại: Thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ

tuyệt… Thơ thất ngôn tứ tuyệt có 4 câu, mỗi câu có 7 chữ; thất ngôn bát cú có 8 câu, mỗi câu 7 chữ, niêm luật chặt chẽ

+ Thơ bốn chữ, thơ sáu chữ, thơ bảy chữ, thơ tám chữ: Nhận biết đơn giản, dựa vào số chữ trong 1 dòng thơ Mỗi loại có quy định riêng về vần, luật

+ Thơ tự do: không bị gò bó bởi số câu số chữ, niêm, luật, vần, đối, … Nhận biết thơ tự do rất đơn giản: đếm số chữ trong 1 dòng thơ, dòng nhiều dòng ít không gò bó, và không bắt buộc theo quy luật như các thể thơ khác

- Học sinh cần chú ý đến số lượng câu thơ trong đoạn thơ/ bài thơ; số lượng các tiếng trong các dòng/câu thơ để trả lời

Ví dụ: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

[…] Chợt hiện về, thăm thẳm núi non kia dưới lá là hầm, là tăng, là võng

là cơn sốt rét rừng vàng bủng

là muỗi, vắt, bom, mìn, vực sâu, đèo trơn

Những đoàn quân đi xuyên Trường Sơn ngủ ôm súng suốt một thời trai trẻ đêm trăn trở đố nhau:

bao giờ về thành phố?

con tắc kè nhanh nhảu nói: sắp về!

[…] Qua hai mùa thay lá những hàng me cái tết hoà bình thứ ba đã tới

chao ôi nhớ tết rừng không hương khói đốt nhang lên

chợt hiện tiếng tắc kè Tôi giật mình

Trang 10

có ai nói ở cành me:

sắp về!

(Nghe tắc kè kêu trong thành phố - Nguyễn Duy)

Xác định thể thơ và nêu tác dụng của việc sử dụng thể thơ mà Nguyễn Duy đã lựa chọn cho bài thơ.

Gợi ý:

- Thể thơ: Bài thơ viết theo thể thơ tự do

- Tác dụng: Nhà thơ chọn thể thơ tự do không bị chi phối bởi vần điệu, luật thơ, các câu thơ linh hoạt giúp nhà thơ có thể bộc lộ nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau một cách tự nhiên…

c Xác định một đơn vị kiến thức Tiếng Việt, chủ yếu là kiến thức trong chương trình lớp 9

* Xác định các biện pháp tu từ

Biện pháp

So sánh

Đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc

mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn

Giúp sự vật, sự việc được miêu tả sinh động, cụ thể tác động đến trí tưởng tượng, gợi hình dung và cảm xúc

Nhân hóa

Sử dụng những từ ngữ chỉ hoạt động, tính cách, suy nghĩ, tên gọi vốn chỉ dành cho con người để miêu tả đồ vật,

sự vật, con vật, cây cối khiến cho chúng trở nên sinh động, gần gũi, có hồn hơn

Làm cho đối tượng hiện ra sinh động, gần gũi, có tâm trạng và có hồn gần với con người

Ẩn dụ

Gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên

sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt

Cách diễn đạt mang tính hàm súc, cô đọng, giá trị biểu đạt cao, gợi những liên tưởng ý nhị, sâu sắc

Hoán dụ

Gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên của một sự vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt

Diễn tả sinh động nội dung thông báo và gợi những liên tưởng ý vị, sâu sắc

Nói quá

Phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm

Khiến các sự việc, hiện tượng hiện lên một cách ấn tượng với người đọc, người nghe

Nói giảm

nói tránh

Dùng cách diễn đạt tế nhị uyển chuyển

để tránh gây cảm giác quá đau buồn,

Làm giảm nhẹ đi ý muốn nói (đau thương, mất mát)

Ngày đăng: 26/05/2021, 22:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w