1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao hiệu quả việc trả lời các câu hỏi dạng vì sao cho học sinh lớp 9 ở trường THCSTHPT như thanh

15 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 161,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rèn luyện và phát triển các kĩ năng như: quan sát hiện tượng và các quá trình vật lí, sử dụng dụng cụ đo thông thường, phân tích, tổng hợp và xử lí các thông tin thu được, vận dụng kiến

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Dạy học môn Vật lí giúp học sinh đạt được một hệ thống kiến thức Vật lí phổ thông, cơ bản và phù hợp với những quan điểm của vật lí học hiện đại bao gồm: Các khái niệm về các sự vật hiện tượng và quá trình vật lí thường gặp; các đại lượng, các định luật, các nguyên lí cơ bản, các thuyết vật lí, những ứng dụng phổ biến của vật lí vào đời sống Rèn luyện và phát triển các kĩ năng như: quan sát hiện tượng và các quá trình vật lí, sử dụng dụng cụ đo thông thường, phân tích, tổng hợp và xử lí các thông tin thu được, vận dụng kiến thức để giải thích hiện tượng và giải các bài tập, sử dụng các thuật ngữ vật lí, các bảng biểu, Bên cạnh đó dạy học Vật lí còn hình thành và rèn luyện thái độ, tình cảm giúp học sinh hứng thú với môn học, yêu thích tìm tòi khoa học, có thái độ khách quan trong việc nhìn nhận vai trò của khoa học vật lí, trung thực trong việc tìm tòi và đưa ra kết quả nghiên cứu, có ý thức vận dụng những hiểu biết vật lí vào đời sống sản xuất

Theo chương tình giáo dục phổ thông năm 2018, việc dạy – học, kiểm tra đánh giá phải theo định hướng phát triển năng lực người học Kết hợp với nhu cầu học tập của học sinh ngày càng cao, nhằm đáp ứng với sự phát triển của xã hội, đã và đang đặt ra những nhiệm vụ cấp bách cho công tác nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục Vậy làm thế nào để học sinh có thể chiếm lĩnh tốt các nội dung kiến thức và rèn luyện được đầy đủ các kĩ năng theo chuẩn, từ đó phát triển được các năng lực cần thiết, đồng thời biết và áp dụng được kiến thức vào phục vụ đời sống sản xuất? Bộ môn Vật lí trung học cơ sở mục tiêu chủ yếu tập trung vào việc hình thành và phát triển ở học sinh những kiến thức, kĩ năng

và những năng lực cụ thể, cần thiết cho việc nhận thức đúng các hiện tượng tự nhiên, cho cuộc sống hằng ngày và cho việc lao động trong nhiều ngành kĩ thuật Hiện nay ở các trường Trung học cơ sở nhiều học sinh còn chưa chiếm lĩnh được những kiến thức cơ bản của Vật lí, làm cho kĩ năng và năng lực của các em cũng chưa thể phát triển Nguyên nhân là do Vật lí có rất nhiều nội dung kiến thức khó, mang tính trừu tượng; các bài học thường có những công thức, những con số và liên quan nhiều đến việc tính toán hoặc phải suy luận lí thuyết với yêu lôgic cầu chặt chẽ nên đa số các em ngại học, đặc biệt là những học sinh học trung bình và yếu Vì vậy, bản thân tôi đã tìm hiểu và đưa ra sáng kiến

“Nâng cao hiệu quả việc trả lời các câu hỏi dạng “Vì sao” cho học sinh lớp 9

ở trường THCS và THPT Như Thanh” hi vọng sẽ góp được một phần nhỏ

vào việc giải quyết vấn đề trên

1.2 Mục đích nghiên cứu

Sáng kiến kinh nghiệm “Nâng cao hiệu quả việc trả lời các câu hỏi dạng “Vì sao” cho học sinh lớp 9 ở trường THCS và THPT Như Thanh”

nhằm mục đích sau:

- Giúp học sinh có cách tốt nhất để trả lời các câu hỏi dạng “Vì sao” Từ

đó học sinh vận dụng một cách thành thạo để trả lời được các câu hỏi khác, giải được các bài tập có liên quan, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống;

Trang 2

…Tạo cho học sinh các kĩ năng: chiếm lĩnh tri thức; vận dụng kiến thức; Hình thành ở học sinh các năng lực cần thiết cho quá trình học tập, đặc biệt là năng lực giải quyết các tình huống mới từ việc giải quyết các tình huống trong bài học cụ thể Học sinh có hứng thú học tập, yêu thích môn học, tích cực trong việc tìm tòi, khám phá khoa học Vật lí

- Giúp nâng cao hiệu quả dạy học môn Vật lí nói riêng và quá trình dạy học ở trường THCS và THPT Như Thanh nói chung

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Sáng kiến kinh nghiệm “Nâng cao hiệu quả việc trả lời các câu hỏi dạng “Vì sao” cho học sinh lớp 9 ở trường THCS và THPT Như Thanh”

nghiên cứu và tổng kết các vấn đề đó là: Tất cả các câu hỏi có dạng “Vì sao”, nội dung kiến thức, kĩ năng và các năng lực cơ bản cần phát triển trong các câu hỏi dạng này thuộc chương trình Vật lí trung học cơ sở; các phương pháp, phương tiện dạy học đem lại kết quả cao nhất cho quá trình dạy - học các vấn

đề đó

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Với sáng kiến kinh nghiệm này bản thân tôi đã sử dụng phối hợp các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu, xây dựng cơ sở lí thuyết: Nghiên cứu nội dung chương trình, đặc biệt là những bài học có các câu hỏi dạng “Vì sao” trong bộ môn vật lí THCS; xác định chuẩn kiến thức kĩ năng và các năng lực cần phát triển ở học sinh thông qua dạy và học các bài học; tổng hợp, hệ thống hóa kiến thức; xây dựng kế hoạch dạy học, kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh;…

- Phương pháp điều tra thực tế, thu thập thông tin, thống kê, xử lí số liệu: Khảo sát chất lượng học sinh trong quá trình học tập; từ kết quả khảo sát, thu được thông tin cụ thể về chất lượng học sinh; phân loại đối tượng theo các mức

độ nhận thức; so sánh kết quả thống kê qua các năm học; tự đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học

1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.

Sáng kiến kinh nghiệm “Nâng cao hiệu quả việc trả lời các câu hỏi dạng “Vì sao” cho học sinh lớp 9 ở trường THCS và THPT Như Thanh” được phát triển từ sáng kiến kinh nghiệm “Hướng dẫn học sinh trả lời các câu hỏi dạng “Vì sao” trong môn Vật lí THCS ở trường THCS và THPT Như Thanh” đã được xếp loại B cấp huyện năm học 2019 - 2020, có những điểm mới sau:

- Tên sáng kiến kinh nghiệm: “Nâng cao hiệu quả việc trả lời các câu hỏi dạng “Vì sao” cho học sinh lớp 9 ở trường THCS và THPT Như Thanh”.

- Nội dung: Sáng kiến kinh nghiệm “Nâng cao hiệu quả việc trả lời các câu hỏi dạng “Vì sao” cho học sinh lớp 9 ở trường THCS và THPT Như

Trang 3

Thanh” chỉ tập trung vào nâng cao hiệu quả việc trả lời các câu hỏi “Vì sao”

dạng định tính, không đề cập đến các câu hỏi mang tính chất định lượng.

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Vật lí học là cơ sở của nhiều ngành kĩ thuật và công nghệ quan trong Sự phát triển của khoa học vật lí gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại trực tiếp với

sự tiến bộ của khoa học, kĩ thuật và công nghệ Vì vậy, những hiểu biết và nhận thức về vật lí có giá trị to lớn trong đời sống và sản xuất, đặc biệt là trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Việc giảng dạy môn Vật lí có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức vật lí cơ bản ở trình độ phổ thông, bước đầu hình thành cho học sinh những kĩ năng và thói quen làm việc khoa học; góp phần tạo ra ở họ các năng lực nhận thức, năng lực hành động và các phẩm chất nhân cách mà mục tiêu giáo dục đã đề ra; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục tham gia lao động sản xuất, có thể thích ứng với sự phát triển của khoa học – kĩ thuật; rèn luyện cho học sinh tư duy lôgíc và tư duy biện chứng, hình thành ở các em niềm tin về bản chất khoa học của các hiện tượng

tự nhiên cũng như khả năng nhận thức của con người, khả năng ứng dụng của khoa học để đẩy mạnh sản xuất

Với việc dạy học hướng tới sự phát triển năng lực người học theo chuẩn kiến thức kĩ năng thì dạy học môn Vật lí phải giúp học sinh đạt được một hệ thống kiến thức Vật lí phổ thông, cơ bản và phù hợp với những quan điểm hiện đại Rèn luyện và phát triển các kĩ năng như: quan sát hiện tượng, sử dụng dụng

cụ đo, phân tích, tổng hợp thông tin, vận dụng kiến thức để giải thích hiện tượng và giải các bài tập, sử dụng các thuật ngữ vật lí, các bảng biểu, Hướng tới sự phát triển các năng lực cụ thể: Năng lực sử dụng kiến thức; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực sáng tạo; năng lực hợp tác; năng lực trao đổi thông tin; năng lực tính toán, vận dụng được công thức để tính, đưa ra kết quả chính xác; năng lực sử dụng ngôn ngữ, sử dụng đúng ngôn ngữ vật lí, trả lời câu hỏi lưu loát, ngắn gọn nhưng đầy đủ dễ hiểu;…Bên cạnh đó dạy học Vật lí còn hình thành và rèn luyện thái độ tình cảm giúp học sinh hứng thú với môn học yêu thích tìm tòi khoa học, có thái độ khách quan, trung thực, có ý thức vận dụng những hiểu biết vật lí vào đời sống

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Trường THCS và THPT Như Thanh là một trường mới được thành lập theo quyết định số 2628/QĐ-UBND ngày 15 tháng 8 năm 2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở xác nhập một phần cán bộ, giáo viên và học sinh trường THPT Như Thanh với toàn bộ cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh trường THCS Phượng Nghi với mô hình 2 cấp học THCS và THPT Trường đóng tại thôn Bái Đa 1 xã Phượng Nghi, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa Phượng Nghi là một xã nghèo, thuộc xã 135, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn thấp Không ít các bậc phụ huynh còn chưa

ý thức được sự cần thiết của dạy học và giáo dục, chưa có sự quan tâm cần thiết

đến việc học tập của con em mình Phần nhiều học sinh THCS của trường đều

là người đân tộc, thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo, ngoài việc đến trường tham

Trang 4

gia học tập thì các em còn phải phụ giúp công việc gia đình Cơ sở vật chất của nhà trường hiện nay chưa đáp ứng được với nhu cầu thực tiễn: thiếu phòng học; không có phòng thí nghiệm thực hành cho bộ môn; thiết bị phục vụ dạy học kém về chất lượng, Kết quả học tập của học sinh chưa cao

Trong chương trình Vật lí THCS có rất nhiều nội dung kiến thức khó, mang tính trừu tượng, có nhiều bài tập và câu hỏi khó, đặc biệt là các bài tập và câu hỏi có dạng “Vì sao” Nhiều học sinh gặp khó khăn khi phải trả lời, thậm chí không thể đưa ra câu trả lời hoàn chỉnh Nguyên nhân là do học sinh chưa

có khả năng tư duy, khả năng suy luận, liên kết các vấn đề hoặc chuổi các vấn

đề còn hạn chế

Trong quá trình dạy học, giáo viên chỉ mới hướng dẫn học sinh trả lời theo chiều thuận, cách diễn đạt bằng lời dưới sự gò ép của lối mòn Phương pháp này chưa phù hợp với đối tượng học sinh, không gây được hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập nên hiệu quả dạy học chưa cao

Nhiều học sinh ham học nhưng cũng không ít học sinh chưa thực sự cố gắng, lười suy nghĩ, khả năng suy luận không cao, ngại tính toán nên gặp khó khăn trong giải bài tập hay trả lời câu hỏi dạng “Vì sao” dẫn đến kết quả học tập không được như mong muốn

Năm học 2018 – 2019, tôi tiến hành khảo sát ở môn Vật lí nội dung trả lời một số câu hỏi dạng “Vì sao”, với 24 học sinh lớp 9A trường THCS và THPT Như Thanh, kết quả như sau:

Tổng

số

HS

Chưa trả lời được các

câu hỏi dạng “Vì sao”

trong SGK

Trả lời được các câu hỏi dạng “Vì sao”

trong SGK

Trả lời thành thạo các câu hỏi dạng

“Vì sao”

Đa số học sinh chưa trả lời được các câu hỏi dạng này do chưa có phương pháp tiếp cận, từ đó làm giảm đi hứng thú học tập của các em đối với môn Vật lí cũng như các môn học khác

Từ thực trạng trên, để công việc giảng dạy có hiệu quả tốt hơn, tôi mạnh dạn đưa ra các giải pháp, các biện pháp nhằm từng bước cải thiện ý thức học tập, hiệu quả giảng dạy các câu hỏi dạng “Vì sao” trong bộ môn Vật lí hiện nay tại đơn vị Cụ thể như sau:

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

Trước hết giáo viên phải xác định được những nội dung kiến thức cơ bản, các kĩ năng mà học sinh cần đạt được cũng như các nhóm năng lực mà học sinh

có thể hướng tới trong một chương, một bài học hoặc một vấn đề nào đó,… theo chuẩn kiến thức kĩ năng, sau đó thiết kế tiến trình dạy học, dùng phương pháp và các phương tiện dạy học phù hợp để giúp học sinh từng bức lĩnh hội và vận dụng các tri thức đó một cách hiệu quả nhất Trong việc hướng dẫn học sinh trả lời các câu hỏi dạng “Vì sao”, giáo viên phải phân loại các câu hỏi dạng này và

áp dụng cách hướng dẫn riêng cho từng loại đó Cụ thể tôi phân thành hai loại là: Các câu hỏi “Vì sao”dạng định tính và các câu hỏi mang tính chất định lượng Trong sáng kiến kinh nghiệm này tôi chỉ đề cập đến các câu hỏi “Vì sao” dạng định tính

Trang 5

Với các câu hỏi “Vì sao” dạng định tính trong chương trình Vật lí THCS,

bản thân tôi đã hướng dẫn học sinh trả lời bằng phương pháp đặt ra và trả lời chuổi các câu hỏi “Vì sao” và cụ thể là: Từ câu hỏi dạng “Vì sao” lớn, giáo

viên hướng dẫn học sinh tự đặt ra chuổi các câu hỏi “Vì sao” nhỏ có liên quan

trực tiếp đến nội dung câu hỏi “Vì sao” lớn, học sinh trả lời sau đó sâu chuổi

các câu trả lời nhỏ thành câu trả lời cho câu hỏi đặt ra Có thể thực hiện theo các bước sau:

- Bước 1: Đọc kĩ nội dung câu hỏi, xác định nội dung kiến thức có liên quan;

- Bước 2: Sử dụng chuổi các câu hỏi vì sao có liên quan;

- Bước 3: Sâu chuổi các câu trả lời nhỏ thành câu trả lời cho câu hỏi đặt ra Việc trả lời các câu hỏi dạng “Vì sao” ở trường THCS và THPT Như Thanh, không thể đạt hiệu quả cao nhất trong ngày một, ngày hai mà phải trải qua một quá trình với thời gian khá dài Để nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh lớp 9 trong việc trả lời các câu hỏi dạng “Vì sao” thì ngay từ lớp 6, chúng ta phải hướng dẫn học sinh thực hiện các bước như trên, từ đó hình thành ở học sinh ý tưởng để trả lời các câu hỏi dạng này ở các lớp 7, 8 Kết hợp với định hướng của giáo viên sẽ giúp học sinh trả lời thành thạo các câu hỏi dạng “Vì sao” trong chương trình vật lí lớp 9

Ví dụ 1: Ở đầu cán (chuôi) dao, liềm bằng gỗ, thường có một đai bằng sắt,

gọi là cái khâu (H.18.2) dùng để giữ chặt lưỡi dao hay lưỡi liềm Tại sao khi lắp khâu, người thợ rèn phải nung nóng khâu rồi mới tra vào cán?

(C5 trang 59, SGK Vật lí 6)

Kiến thức liên quan đến câu hỏi này là sự nở vì nhiệt của chất rắn: Chất rắn

nở ra khi nóng lên co lại khi lạnh đi

Giáo viên có thể hướng dẫn giải:

- Vì sao phải nung nóng khâu trước khi tra vào cán gỗ? (nung nóng khâu thì tra vào cán dễ dàng hơn)

- Vì sao nung nóng khâu thì tra vào cán dễ dàng hơn? (khâu kim loại nở ra, rộng vòng hơn)

- Vì sao nung nóng khâu kim loại nở ra, rộng vòng hơn? (chất rắn nở ra khi nóng lên)

 Phải nung nóng khâu dao, liềm vì khi được nung nóng, khâu nở ra rộng vòng hơn dễ lắp vào cán, khi nguội đi khâu co lại siết chặt vào cán

Ví dụ 2: Tại sao khi đun nước, ta không nên đổ nước thật đầy ấm

(C5 trang 61, SGK Vật lí 6)

Kiến thức liên quan đến câu hỏi này là sự nở vì nhiệt của chất rắn và sự nở

vì nhiệt của chất lỏng: Chất rắn nở ra vì nhiệt ít hơn chất lỏng

Giáo viên hướng dẫn lưu ý để học sinh chú ý tới nước và ấm

- Tại sao khi đun nước, ta không nên đổ nước thật đầy ấm? (khi đun nóng nước trong ấm sẽ tràn ra)

- Tại sao khi đun nóng nước trong ấm lại tràn ra? (nước nở ra khi nóng lên)

- Ấm là chất rắn khi bị làm nóng ấm cũng nở ra, tại sao lúc đó nước trong

ấm vẫn tràn ra? (thể tích của nước lớn hơn thể tích trong của ấm)

Trang 6

- Tại sao lúc này thể tích của nước lại lớn hơn thể tích trong của ấm? (nước

nở vì nhiệt nhiều hơn ấm)

 Nếu đổ nước thật đầy ấm (thể tích nước bằng thể tích trong của ấm) khi đun nóng, nước và ấm đều nóng lên, nở ra, tăng thể tích Do nước nở vì nhiệt nhiều hơn ấm nên thể tích của nước lúc này lớn hơn thể tích trong của ấm, nước

sẽ tràn ra ngoài Vì vậy khi đun nước, ta không nên đổ nước thật đầy ấm

Ví dụ 3: Tại sao không khí nóng lại nhẹ hơn không khí lạnh? (Hãy xem lại

bài trọng lượng riêng để trả lời câu hỏi này)

(C5 trang 63, SGK Vật lí 6)

Kiến thức liên quan đến câu hỏi này gồm: Sự nở vì nhiệt của chất khí; trọng lượng riêng và công thức tính trọng lượng riêng

Giáo viên có thể hướng dẫn:

- Tại sao không khí nóng lại nhẹ hơn không khí lạnh? (Trọng lượng riêng của không khí nóng nhỏ hơn trọng lượng riêng của không khí lạnh)

- Vì sao trọng lượng riêng của không khí nóng lại nhỏ hơn trọng lượng riêng của không khí lạnh? (Thể tích của không khí nóng lớn hơn thể tích của không khí lạnh)

- Vì sao thể tích của không khí nóng lớn hơn thể tích của không khí lạnh? (không khí nở ra (tăng thể tích) khi nóng lên, co lại (giảm thể tích) khi lạnh đi)

- Vì sao thể tích của không khí nóng lớn hơn thể tích của không khí lạnh

mà trọng lượng riêng của không khí nóng lại nhỏ hơn trọng lượng riêng của không khí lạnh?(trọng lượng riêng của một lượng không khí tỉ lệ nghịch với thể tích của lượng không khí đó)

Ví dụ 4: Hình 21.3 vẽ gối đỡ ở hai đầu cầu của một số cầu thép Hai gối đỡ

đó có cấu tạo giống nhau không ? Tại sao một gối đỡ phải đặt trên các con lăn?

(C6 trang 66, SGK Vật lí 6)

Kiên thức liên quan:

- Chất rắn nở ra khi nóng lên, co lại khi lạnh đi

- Sự co dãn vì nhiệt khi bị ngăn cản có thể gây ra những lực rất lớn

Giáo viên hướng dẫn:

- Tại sao cầu thép một gối đỡ phải đặt trên các con lăn? (Hạn chế lực tác dụng làm ảnh hưởng đến cầu)

- Tại sao có lực tác dụng làm ảnh hưởng đến cầu? (khi co dãn vì nhiệt nếu

bị ngăn cản thì có thể gây ra lực rất lớn)

- Tại sao các con lăn lại hạn chế lực tác dụng làm ảnh hưởng đến cầu? (con lăn làm giảm cường độ của lực cản)

- Tại sao cần phải giảm lực khi co dãn vì nhiệt

 Một gối đỡ phải đặt trên các con lăn để giúp sự co dãn vì nhiệt của cầu

ít bị ngăn cản, do đó không gây ra những lực rất lớn làm ảnh hưởng đến cầu

Ví dụ 5: Tại sao rượu đựng trong chai không đậy nút sẽ cạn dần, còn nếu

nút kín thì không cạn?

(C8 trang 84, SGK Vật lí 6)

Kiến thức liên quan đến câu hỏi này đó là sự bay hơi và sự ngưng tụ xay ra đồng thời trong điều kiện thường: chất lỏng bay hơi, hơi ngưng tụ thành chất lỏng

Trang 7

Giáo viên hướng dẫn:

- Tại sao rượu đựng trong chai không đậy nút sẽ cạn dần? (rượu bay hơi)

- Tại sao chai đậy kín, rượu cũng bay hơi sao lại không cạn? (lượng rượu bay hơi bằng lượng rượu ngưng tụ)

- Tại sao rượu đựng trong chai không đậy nút cũng ngưng tụ nhưng vẫn cạn dần? (lượng rượu bay hơi nhiều hơn lượng rượu ngưng tụ)

 Trong chai đựng rượu đồng thời xảy ra hai quá trình bay hơi và ngưng tụ:

+ Với chai được đậy kín, có bao nhiêu rượu bay hơi thì cũng có bấy nhiêu rượu ngưng tụ, do đó mà lượng rượu không giảm

+ Với chai để hở miệng, mặt thoáng của rượu thông với không khí bên ngoài nên sự bay hơi xảy ra mạnh hơn so với sự ngưng tụ nên rượu cạn dần

Ví dụ 6: Giải thích tại sao vào những ngày thời tiết khô ráo, đặc biệt là

những ngày hanh khô, khi ta chải đầu bằng lược nhựa, nhiều sợi tóc bị lược nhựa hút kéo thẳng ra ?

(C1 trang 49, SGK Vật lí 7)

Các kiến thức liên quan đến câu hỏi này gồm:

- Có thể làm nhiễm điện nhiều vật bằng cách cọ xát

- Vật bị nhiễm điện (vật mang điện tích) có khả năng hút các vật khác Giáo viên có thể hướng dẫn như sau:

- Tại sao lược nhựa lại hút tóc? (lược nhựa bị nhiễm điện)

- Tại sao lược nhựa bị nhiễm điện? (lược nhựa bị cọ xát)

- Tại sao lược nhựa bị cọ xát? (lược nhựa chải tóc)

 Khi ta chải đầu bằng lược nhựa, lược nhựa bị tóc cọ xát nhiều lần, lược nhựa bị nhiễm điện Do đó, lược nhựa hút tóc và kéo tóc thẳng ra

Ví dụ 7: Khi ta thổi vào mặt bàn, bụi bay đi Tại sao cánh quát điện thổi

gió mạnh, sau một thời gian lại có nhiều bụi bám vào cánh quạt đặc biệt ở mép cánh quạt chém vào không khí?

(C2 trang 49, SGK Vật lí 7)

- Tại sao cánh quạt lại có nhiều bụi bám vào, nhất là chỗ mép cánh quạt chém vào không khí? (cánh quạt hút bụi trong không khí)

- Tại sao cánh quạt lại hút được bụi trong không khí? (cánh quạt bị nhiễm điện)

- Tại sao cánh quạt lại bị nhiễm điện? (cánh quạt bị co xát nhiều lần)

- Tại sao cánh quạt lại bị cọ xát? (khi quạt hoạt động cánh quạt quay)

 Cánh quạt điện khi quay cọ xát mạnh với không khí và bị nhiễm điện, vì thế cánh quạt hút các hạt bụi có trong không khí ở gần nó Đặc biệt mép cánh quạt chém vào không khí được cọ xát mạnh nhất nên nhiễm điện nhiều nhất Do

đó, chỗ mép cánh quạt hút bụi mạnh nhất và bụi bám ở mép cánh quạt nhiều nhất

Ví dụ 8: Vào những ngày thời tiết khô ráo, khi lau chùi gương soi, kính

cửa sổ hay màn hình tivi bằng khăn bông khô, ta vẫn thấy có bụi vải bám vào chúng Giải thích tại sao?

(C3 trang 49, SGK Vật lí 7)

Trang 8

- Tại sao bụi vải lại có thể bám vào mặt gương, kính cửa sổ, màn hình tivi? (mặt gương, kính cửa sổ, màn hình tivi bị nhiễm điện)

- Tại sao mặt gương, kính cửa sổ, màn hình tivi bị nhiễm điện? (mặt gương, kính cửa sổ, màn hình tivi bị cọ xát)

- Tại sao mặt gương, kính cửa sổ, màn hình tivi lại bị cọ xát? (dùng khăn bông khô lau nhiều lần)

 Khi lau chùi gương soi, kính cửa sổ hay màn hình tivi bằng khăn bông khô thì chúng cọ xát với khăn bông khô và bị nhiễm điện Vì thế chúng hút các hạt bụi vải

Ví dụ 9: Ổ bi có tác dụng gì? Tại sao việc phát minh ra ổ bi lại có ý nghĩa

quan trọng đến sự phát triển của khoa học và công nghệ?

(C9 trang 23, SGK Vật lí 8)

Kiến thức liên quan đến câu hỏi này chính là ma sát, cách làm giảm ma sát Giáo viên có thể hướng dẫn như sau:

- Tại sao phát minh ra ổ bi lại có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển của khoa học và công nghệ? (phát minh ra ổ bi khiến cho các máy móc hoạt động dễ dàng hơn, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành động lực học, cơ khí chế tạo máy)

- Tại sao phát minh ra ổ bi khiến cho các máy móc hoạt động dễ dàng hơn, (ổ bi giảm được lực cản (lực ma sát) lên các vật chuyển động)

- Tại sao ổ bi giảm được lực cản (lực ma sát) lên các vật chuyển động? (thay thế ma sát trượt có cường độ lớn bằng ma sát lăn có cường độ nhỏ hơn)

 Ổ bi có tác dụng làm giảm ma sát do thay thế ma sát trượt bằng ma lăn của các viên bi Nhờ sử dụng ổ bi nên đã giảm được lực cản lên các vật chuyển động, khiến cho các máy móc hoạt động dễ dàng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành động lực học, cơ khi chế tạo máy,… Chính vì vậy phát minh ra

ổ bi có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển của khoa học công nghệ

Ví dụ 10: Giải thích hiện tượng nêu ra ở đầu bài “Khi lộn ngược một cốc

nước đầy được đậy kín bằng một tờ giấy không thấm nước (H.9.1) thì nước có chảy ra không? Vì sao?”

(C8 trang 34, SGK Vật lí 8)

Kiến thức liên quan đến câu hỏi này là: Trái đất và mọi vật trên Trái đất đều chịu tác dụng của áp suất khí quyển theo mọi phương

Giáo viên làm thí nghiệm cho học sinh quan sát, sau đó học sinh làm thí nghiệm Kết quả là nước không chảy ra ngoài Giáo viên hướng dẫn:

- Tại sao nước không chảy ra? (tờ giấy đậy kín miệng cốc)

- Tại sao tờ giấy đậy kín miệng cốc? (áp suất chất lỏng trong cốc tác dụng lên tờ giấy nhỏ hơn áp suất khí quyển ngoài tác dụng lên tờ giấy)

 Do áp suất khí quyển tác dụng lên tờ giấy lớn hơn áp suất chất lỏng của nước trong cốc làm tờ giấy đậy kín miệng cốc nên nước không chảy ra ngoài

Ví dụ 11: Quả bóng cao su hoặc quả bóng bay bơm căng, dù có buộc chặt

cũng cứ ngày một xẹp dần

(C4 trang 70, SGK Vật lí 8)

Kiến thức liên quan gồm :

Trang 9

- Các chất được cấu tạo từ các hạt nhỏ bé, riêng biệt gọi là nguyên tử, phân tử;

- Giữa các nguyên tử, phân tử có khoảng cách

Giáo viên hướng dẫn:

- Tại sao quả bóng cao su hoặc quả bóng bay xẹp dần? (các phân tử không khí ở trong quả bóng đã thoát ra ngoài)

- Tại sao các phân tử không khí ở trong quả bóng đã thoát được ra ngoài trong khi bóng không thủng, buộc chặt? (các phân tử vô cùng nhỏ bé, giữa các phân tử có khoảng cách)

 Thành bóng cao su được cấu tạo từ các phân tử cao su, giữa chúng có khoảng cách Các phân tử không khí ở trong bóng có thể chui qua các khoảng cách này mà thoát ra ngoài làm cho bóng ngày một xẹp dần

Ví dụ 12: Tại sao về mùa đông mặc nhiều áo mỏng ấm hơn mặc một áo

dày?

(C10 trang 78, SGK Vật lí 8)

Kiến thức liên quan gồm:

- Nhiệt năng có thể truyền từ phần này sang phần khác của một vật, từ vật này sang vật khác bằng hình thức dẫn nhiệt;

- Chất rắn dẫn nhiệt tốt, chất lỏng và chất khí dẫn nhiệt kém

Hướng dẫn:

- Tại sao mùa đông mặc nhiều áo mỏng lại ấm hơn? (mặc nhiều áo mỏng sẽ giữ được nhiệt cho cơ thể)

- Tại sao mặc nhiều áo mỏng sẽ giữ được nhiệt cho cơ thể? (mặc nhiều áo mỏng sẽ tạo ra các lớp không khí giữa các lớp áo)

- Tại sao các lớp không khí giữa các lớp áo lại giữ được nhiệt? (không khí dẫn nhiệt kém, nhiệt ở cơ thể ít bị dẫn ra ngoài)

 Mùa đông mặc nhiều áo mỏng ấm hơn mặc một áo dày là vì: Mặc cùng lúc nhiều áo mỏng sẽ tạo ra được các lớp không khí ở giưa các lớp áo, các lớp không khí này dẫn nhiệt kém, nhiệt độ cơ thể ít bị dẫn ra ngoài

Ví dụ 13: Về mùa nào chim thường hay đứng xù lông? Tại sao?

(C11 trang 78, SGK Vật lí 8)

- Tại sao chim đứng xù lông? (không bị lạnh quá hoặc nóng quá)

- Tại sao xù lông lại không bị lạnh quá hoặc nóng quá? (tránh mất nhiệt hoặc nhận nhiệt)

- Tại sao chim đứng xù lông lại tránh được mất nhiệt hoặc nhận nhiệt? (chim xù lông đế tạo ra giữa các lớp lông là các lớp không khí dẫn nhiệt kém)

 Về mùa đông chim thường hay đứng xù lông Vì mùa đông nhiệt độ ngoài trời thấp hơn nhiệt độ cơ thể chim, nên cơ thể của chim sẽ truyền nhiệt năng ra môi trường bên ngoài Chim xù lông đế tạo ra các lớp không khí dẫn nhiệt kém Điều này giúp hạn chế sự truyền nhiệt năng ra ngoài, chim được giữ

ấm hơn Về mùa hè chim cũng thường hay đứng xù lông Vì mùa hè nhiệt độ ngoài trời cao hơn nhiệt độ cơ thể, chim xù lông đế tạo ra các lớp không khí dẫn nhiệt kém Điều này giúp chim không bị quá nóng

Ví dụ 14: Tại sao trong những ngày rét sờ vào kim loại ta thấy lạnh, còn

trong những ngày nắng nóng sờ vào kim loại ta lại thấy nóng?

Trang 10

(C12 trang 78, SGK Vật lí 8)

Kiến thức liên quan gồm:

- Nhiệt năng có thể truyền từ phần này sang phần khác của một vật, từ vật này sang vật khác bằng hình thức dẫn nhiệt;

- Chất rắn dẫn nhiệt tốt Trong chất rắn, kim loại dẫn nhiệt tốt nhất

- Vật nhận nhiệt năng sẽ tăng nhiệt độ (nóng lên), vật mất nhiệt năng sẽ giảm nhiệt độ (lạnh đi)

Hướng dẫn:

- Tại sao trong những ngày rét sờ vào kim loại ta thấy lạnh? (tay ta bị mất nhiều nhiệt)

- Tại sao tay lại mất nhiều nhiệt? (kim loại dẫn nhiệt tốt)

- Tại sao kim loại dẫn nhiệt tốt mà tay ta lại mất nhiều nhiệt? (nhiệt năng từ tay ta nhanh chóng được dẫn đi tới các phần khác trong kim loại)

- Tại sao nhiệt lại truyền từ tay ta sang kim loại? (mùa đông, nhiệt độ cơ thể lớn hơn nhiệt độ môi trường, nhiệt độ của thanh lim loại)

 Những ngày rét, nhiệt độ bên ngoài thấp hơn nhiệt độ cơ thể nên khi sờ vào kim loại, nhiệt từ cơ thể truyền vào kim loại Vì kim loại dẫn nhiệt rất tốt.nên nhiệt năng nhanh chóng phân tán trong kim loại, tay ta mất nhiệt năng nhanh nên ta cảm thấy lạnh

Ngược lại những ngày nóng nhiệt độ bên ngoài cao hơn nhiệt độ cơ thể nên nhiệt từ kim loại truyền vào tay ta nhiều và làm tay ta nóng

Ví dụ 15: Khi ta chạm mũi kéo vào đầu thanh nam châm thì sau đó mũi

kéo hút được các vụn sắt Hãy giải thích vì sao

(C4 trang 69, SGK Vật lí 9)

- Tại sao mũi kéo hút vụn sắt? (mũi kéo là nam châm vĩnh cửu)

- Vì sao mũi kéo lại có thể trở thành nam châm vĩnh cửu? (mũi kéo bằng thép bị nhiểm từ)

- Vì sao mũi kéo lại bị nhiễm từ? (mũi kéo chạm vào đầu của thanh nam châm)

 Khi chạm mũi kéo vào đầu thanh nam châm thì mũi kéo bị nhiễm từ Vì mũi kéo làm bằng thép nên mũi kéo trở thanh nam châm vĩnh cửu nên mũi kéo hút được các vụn sắt

Ví dụ 16: Hãy vận dụng kết luận vừa thu được để giải thích vì sao khi quay

núm của đinamô thì đèn xe đạp lại sáng

(C5 trang 89, SGK Vật lí 9)

- Tại sao đèn xe lại sáng? (có dòng điện chạy qua đèn)

- Tại sao lại có dòng điện chạy qua đèn? (số đường sức từ xuyên qua tiết diện S của cuộn dây dẫn (nối với hai đầu đèn) kín biến thiên)

- Tại sao số đường sức từ xuyên qua tiết diện S của cuộn dây dẫn nối với hai đầu đèn lại biến thiên? (nam châm quay trước cuộn dây dẫn kín (một đầu của nam châm luân phiên lại gần rồi ra xa đầu của cuộn dây)

- Tại sao nam châm lại quay? (trục quay)

- Tại sao trục quay? (núm quay)

 Khi núm quay thì trục quay và nam châm quay theo Một đầu của nam châm luân phiên lại gần rồi ra xa đầu của cuộn dây, số đường sức từ xuyên qua

Ngày đăng: 26/05/2021, 22:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w