1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Rèn kĩ năng làm đoạn văn, bài văn nghị luận xã hội cho học sinh lớp 9 trường THCS minh sơn

23 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế cho thấy làm văn nghị luận xã hội rất khó vì nó đòi hỏi phải trìnhbày lập luận sao cho ý kiến của mình thuyết phục và phải có kiến thức về cácvấn đề xã hội, quan sát đời sống, tì

Trang 1

1 Mở đầu

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 3

1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm Trang 4

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm Trang 4

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động

giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường

Trang 18, 19

3 Kiến nghị và kết luận

Danh mục sáng kiến kinh nghiệm đã được Hội đồng

ngành Giáo dục xếp loại

Trang 22

Trang 2

Thực tế cho thấy làm văn nghị luận xã hội rất khó vì nó đòi hỏi phải trìnhbày lập luận sao cho ý kiến của mình thuyết phục và phải có kiến thức về cácvấn đề xã hội, quan sát đời sống, tìm những dẫn chứng thực tế để minh họa.Trong khi đó thì làm văn nghị luận văn học dễ dàng hơn vì học sinh có thể dựavào bài giảng của giáo viên trên lớp để phát triển thành bài văn Nhiều học sinh

có kiến thức, có năng lực cảm thụ văn chương, có sự hiểu biết xã hội nhưng khilàm văn, nhất là văn nghị luận xã hội, lại rất lúng túng Bài viết mắc nhiều saisót, không phản ánh đúng năng lực thực của học sinh

Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là học sinh còn yếu cả

về kĩ năng lẫn phương pháp làm bài Vì thế, dạy văn nghị luận nói riêng, đặcbiệt dạy làm bài văn nghị luận xã hội là phải rèn những kĩ năng làm bài, địnhhình được cho học sinh những thao tác tư duy cần thiết để giúp các em làm tốtbài văn

Nghị luận xã hội là phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực xã hội,chính trị, đạo đức làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cái đúng, sai, tốt, xấucủa vấn đề được nêu ra Từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đề nghịluận cũng như vận dụng nó vào đời sống và bản thân Những đề tài và nội dungnày thường là những vấn đề có ý nghĩa thiết thực trong cuộc sống, có tính giáodục và tính thời sự cao Đối với học sinh THCS, các bài văn nghị luận xã hộithường mang đến cho các em những suy nghĩ và nhận thức đúng đắn về cuộcsống; đặc biệt là uốn nắn nhận thức cho các em về những vấn đề có tính hai mặtcủa đời sống xã hội đang tác động trực tiếp đến thế hệ trẻ

Ở kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh qua những trải nghiệm của bản thân,trình bày những hiểu biết, ý kiến, quan niệm, cách đánh giá, thái độ của mình

về các vấn đề xã hội, từ đó rút ra được bài học (nhận thức và hành động) chobản thân Để làm tốt khâu này, học sinh không chỉ biết vận dụng những thao tác

cơ bản của bài văn nghị luận (như giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận,

so sánh, bác bỏ ) mà còn phải biết trang bị cho mình kiến thức về đời sống xãhội

Bài văn nghị luận xã hội nhất thiết phải có dẫn chứng thực tế Cần tránh tìnhtrạng hoặc không có dẫn chứng hoặc lạm dụng dẫn chứng mà bỏ qua các bước

đi khác của quá trình lập luận Mặt khác với kiểu bài nghị luận xã hội, học sinhcần làm rõ vấn đề nghị luận, sau đó mới đi vào đánh giá, bình luận, rút ra bàihọc cho bản thân Thực tế cho thấy nhiều học sinh mới chỉ dừng lại ở việc làm

rõ vấn đề nghị luận mà coi nhẹ khâu quá trình lập luận Vì những yêu cầu trên

mà việc rèn luyện giúp cho học sinh có kĩ năng làm tốt một bài văn nghị luận xãhội là một việc làm rất cần thiết Nhằm giúp học sinh có thêm kĩ năng để làm tốt

Trang 3

bài văn nghị luận xã hội đó là lí do để tôi chọn đề tài “Rèn kĩ năng làm đoạn

văn, bài văn nghị luận xã hội cho học sinh lớp 9 trường THCS Minh Sơn”.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển với tốc độ chóng mặt như hiệnnay thì giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng Mục tiêu giáo dục của quốcgia là đào tạo con người phát triển toàn diện Học để biết, học để làm, học đểchung sống và học để khẳng định mình Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tàinày với năm mục đích cơ bản sau:

Thứ nhất: Giúp học sinh nắm được những phương pháp và kĩ năng cơ bản

để làm tốt đoạn văn, bài văn nghị luận xã hội

Thứ hai: Khảo sát đánh giá kĩ năng tiếp thu kiến thức và cách làm bài của

học sinh qua tiết dạy

Thứ ba: Đạt kết quả cao khi làm đoạn văn, bài văn nghị luận xã hội.

Thứ tư: Thông qua quá trình rèn luyện kĩ năng làm đoạn văn, bài văn nghị

luận xã hội giúp học sinh lớp 9 trình bày suy nghĩ của mình; có vốn tri thứcphong phú về các vấn đề xã hội để các em nâng cao nhận thức và kĩ năng sống;sống tốt hơn, đẹp hơn, từng bước hoàn thiện nhân cách của bản thân

Thứ năm: Những kinh nghiệm này có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho

các giáo viên Ngữ văn khi dạy phần nghị luận xã hội ở lớp 9

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Do điều kiện và thời gian nên phạm vi nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm,bản thân tôi chỉ gói gọn ở đối tượng học sinh khối lớp 9 của trường THCS MinhSơn - Ngọc Lặc - Thanh Hóa

Thời gian nghiên cứu đề tài từ năm học 2019 - 2020 đến nay, trong các nămhọc tiếp theo tiếp tục triển khai và theo dõi kết quả thực hiện

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích và thực hiện những nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, tôi sửdụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài

- Phương pháp quan sát: Nhằm tìm hiểu việc làm của học sinh trong giờ học

- Phương pháp điều tra, khảo sát: Nhằm đánh giá thực trạng có bao nhiêu họcsinh còn yếu, kém khi thực hành làm bài

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Thông qua kết quả các bài kiểmtra, các bài tập có thể đánh giá chất lượng và hiệu quả của học sinh

- Phương pháp tổng hợp tài liệu: Tham khảo các tài liệu để tổng hợp kiến thức

- Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm: Qua thực tế giảng dạy tổng kết đúc rútkinh nghiệm

- Phương pháp thống kê phân loại: Thông kê, phân loại các đối tượng để có biệnpháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh

Trang 4

1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm

- Đưa ra các phương pháp cụ thể, rèn cho học sinh kĩ năng làm đoạn văn, bàivăn nghị luận xã hội

- Trang bị cho học sinh kiến thức và những kĩ năng cơ bản cần thiết cho việc họctập, đồng thời cũng chuẩn bị kĩ năng cho việc tiếp thu kiến thức ở mức độ caohơn

- Sử dụng ảnh minh họa cho bài học

- Đưa công nghệ thông tin vào hỗ trợ bài giảng

Với những biện pháp thực hiện ở trên đã góp phần cải thiện kết quả học tậptheo hướng tích cực, học sinh hướng thú học hơn

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Trong thực tế giảng dạy tại trường THCS Minh Sơn - Ngọc Lặc - ThanhHóa, tôi nhận thấy đại đa số học sinh ở đây là con em gia đình nông dân, dân tộcthiểu số nên đời sống vật chất còn gặp nhiều khó khăn thiếu thốn, do đó việc đầu

tư cho việc học tập cũng có những hạn chế nhất định, một bộ phận gia đình họcsinh bố mẹ đi làm ăn xa nhà, các em ở nhà với ông bà Vì thế ít quan tâm đếnviệc học tập của con em mình, nhiều em khả năng lĩnh hội và vận dụng kiếnthức còn chậm, hiểu biết xã hội kém dẫn đến việc học tập môn Ngữ văn nóichung và đặc biệt là cách làm đoạn văn, bài văn nghị luận xã hội nói riêng còngặp nhiều khó khăn đối với học sinh

Căn cứ vào tình hình thực tế nêu trên, tôi đã chọn đề tài: “Rèn kĩ năng làm đoạn văn, bài văn nghị luận xã hội cho học sinh lớp 9 trường THCS Minh Sơn” làm cơ sở cho việc nghiên cứu của mình.

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

*Phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề:

Trong quá trình giảng dạy và dự giờ các đồng nghiệp, tôi nhận thấy một số

thực trạng sau:

+ Đối với giáo viên:

- Các giáo viên bộ môn Ngữ văn đã chú ý đến mảng nghị luận xã hội ở chươngtrình lớp 9 Nhưng do thời lượng chương trình hạn chế nên không có nhiều điềukiện bổ sung kiến thức cũng như rèn luyện kĩ năng làm đoạn văn, bài văn nghịluận xã hội cho học sinh

- Giáo viên chưa sử dụng và kết hợp tốt các phương tiện, thiết bị dạy học phùhợp với nội dung của kiểu bài lên lớp

- Giáo viên chưa vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học cũng như cácbiện pháp tổ chức dạy học nhằm gây hứng thú cho học sinh

- Giờ dạy tẻ nhạt, không thực sự thu hút sự chú ý của học sinh

- Giáo viên chưa bao quát lớp, chưa quan tâm đến từng đối tượng học sinh

- Giáo viên chưa hoặc rất ít ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy

+ Đối với học sinh:

- Số học sinh hiểu thấu đáo vấn đề, có kĩ năng làm đoạn văn, bài văn nghị luận

xã hội tốt không nhiều Đa phần các em thường ngợp trước các vấn đề xã hội,

Trang 5

hiểu lơ mơ, viết hời hợt Không có những trăn trở sâu sắc, không có cái nhìntoàn diện, đa chiều Đôi khi viết theo tính chất cảm hứng, không nắm vững quitrình làm bài Gặp phải đề lắt léo hay vấn đề nghị luận ẩn sau câu chữ, hìnhảnh là không làm được

- Với thời gian dạy kiểu bài nghị luận xã hội còn ít, chỉ đủ để giáo viên giớithiệu khái niệm, kiểu bài, dạng đề và cách làm bài một cách đơn giản nhất Các

em tiếp cận và làm quen với cách làm bài chứ chưa thể đạt đến độ thuần thục,nhuần nhuyễn

- Do học sinh thiếu thời gian học tập, đa số các em là con em của những gia đìnhnông dân nghèo, sau thời gian học tập ở trường, về nhà các em còn phải phụgiúp gia đình làm công việc nhà do đó các em không đủ thời gian cho việc tựhọc ở nhà, điều này có ảnh hưởng không nhỏ đối với việc tiếp thu kiến thức trênlớp và chất lượng học tập

- Một số em do sự giảm sát không chặt chẽ của gia đình xa vào các trò chơi điện

tử, không chuyên tâm vào việc học tập

- Có một số học sinh không tập trung theo dõi bài dạy trên lớp của giáo viên Đó

là những học sinh yếu kém, trong giờ học hầu như các em không hề để ý đến sựhướng dẫn của giáo viên trong việc tìm hiểu bài, do đó các em không hiểu đượcbài, từ đó dẫn đến sự chán nản trong việc học tập và làm kém kiểu bài này

* Tồn tại, hạn chế:

Từ thực tế giảng dạy ở trường THCS Minh Sơn - Ngọc Lặc - Thanh Hóa, tôinhận thấy bên cạnh một số học sinh học nắm vững kiến thức, thành thạo cácbước làm tốt đoạn văn, bài văn nghị luận xã hội; thì vẫn còn nhiều em còn chậm,tiếp thu kiến thức còn hạn chế, khi thực hành còn nhầm lẫn giữa các bước, diễnđạt còn lủng củng

Cụ thể kết quả khảo sát trước khi chưa áp dụng sáng kiến của khối lớp 9 năm học 2019 – 2020 như sau:

Số HS biết cách làm bài ở mức trung bình-khá (5->7điểm)

Số HS làm bài tốt (8->9 điểm)

*Nguyên nhân của tồn tại hạn chế:

Qua tìm hiểu nguyên nhân tôi nhận thấy rằng do học sinh có một đặc tính tâm

lí là nhanh nhớ nhưng chóng quên Có khi ngay tại lớp các em nhớ cách làm bàinhưng sau vài ngày kiểm tra lại các em đã quên gần hết (nếu các em không được

ôn luyện thường xuyên)

Do học sinh chưa nắm vững các phương pháp, chưa vận dụng kĩ năng viếtbài một cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo vào từng bài cụ thể

Trang 6

2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

Muốn làm tốt đoạn văn, bài văn nghị luận xã hội, trước hết giáo viên cầnhướng dẫn và yêu cầu học sinh nắm chắc phần lí thuyết thì mới vận dụng tốttrong khi làm bài

*Tóm tắt kiến thức về văn nghị luận

- Văn nghị luận là đưa ra các lí lẽ dẫn chứng để bảo vệ hoặc làm sáng tỏ mộtquan điểm, tư tưởng (luận điểm) nào đó

- Một bài văn nghị luận đều phải có luận điểm, luận cứ và lập luận Trong mộtvăn có thể có một luận điểm chính và các luận điểm phụ

+ Luận điểm: Là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài văn được nêu ra

dưới hình thức câu khẳng định (hay phủ định), được diễn đạt sáng tỏ, dễ hiểu,nhất quán Luận điểm là linh hồn của bài viết, nó thống nhất các đoạn văn thànhmột khối Luận điểm phải đúng đắn, chân thật, đáp ứng nhu cầu thực tế thì mới

có sức thuyết phục

+ Luận cứ: Là lí lẽ, dẫn chứng đưa ra làm cơ sở cho luận điểm Luận cứ phải

chân thật, đúng đắn, tiêu biểu thì mới khiến cho luận điểm có sức thuyết phục

+ Lập luận: Là cách nêu luận cứ để dẫn đến luận điểm Lập luận phải chặt chẽ,

hợp lí thì bài văn mới có sức thuyết phục

*Các dạng nghị luận xã hội ở lớp 9:

- Kiểu bài này có hai dạng bài cụ thể là:

+ Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.

+ Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí.

I Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

1 Khái niệm

- Văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống là bàn về một sự việc,hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội, đáng khen hay đáng chê hay có vấn đềđáng suy nghĩ

2 Yêu cầu chung

- Bài nghị luận phải nêu được sự việc, hiện tượng có vấn đề Phân tích mặt đúng,mặt sai, nguyên nhân và bày tỏ thái độ của người viết

- Hình thức phải có bố cục mạch lạc, rõ ràng, luận điểm rõ ràng, luận cứ xácthực, lập luận phù hợp; lời văn chính xác, sinh động

3 Dàn bài chung

a) Mở bài:

- Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận

b) Thân bài:

- Khái niệm và bản chất của hiện tượng (giải thích); mô tả được hiện tượng

- Nêu thực trạng và nguyên nhân (khách quan – chủ quan ) của hiện tượng bằngbằng các thao tác phân tích, chứng minh

- Nêu tác dụng - ý nghĩa (nếu là hiện tượng tích cực; tác hại - hậu quả (nếu làhiện tượng tiêu cực)

- Giải pháp phát huy (nếu là hiện tượng tích cực); biện pháp khắc phục (nếu hiệntượng tiêu cực)

c) Kết bài:

Trang 7

- Bày tỏ ý kiến của bản thân về hiện tượng xã hội vừa nghị luận.

- Rút ra bài học về nhận thức, hành động cho bản thân

4 Các bước làm bài

- Bước 1 Giải thích: Tìm và giải thích nghĩa của các từ được coi là từ khóa mà

đề bài đưa ra Tuy nhiên không phải sự việc nào cũng cần giải thích vì có nhữngkhái niệm phổ biến mà ai cũng biết như tai nạn giao thông, nói tục chửi thề…

- Bước 2 Nêu hiện trạng: Dựa vào thực tế đời sống để trả lời các câu hỏi sự

việc, hiện tượng này xuất hiện ở đâu, xuất hiện vào thời gian nào, diễn ra ở quy

mô nào, đối tượng của sự việc hiện tượng là ai, mức độ ảnh hưởng ra sao…

- Bước 3 Lí giải nguyên nhân: Lập luận theo hai hướng nguyên nhân khách

quan (tác động từ bên ngoài như pháp luật, nhà nước, xã hội…) và nguyên nhânchủ quan (do nhận thức, ý thức, thói quen của con người…)

- Bước 4 Đánh giá hậu quả/ kết quả: Dù là hiện tượng tích cực hay tiêu cực thì

đều dẫn đến một kết quả hay hậu quả tương ứng Nếu đó là hiện tượng xấu thìcần nhấn mạnh khía cạnh đạo đức, nâng cao nhận thức, ý thức của con người đểgiảm thiểu, loại bỏ hiện tượng đó khỏi đời sống xã hội

- Bước 5 Giải pháp: Dựa vào phần đánh giá hậu quả/ kết quả để đưa ra giải

pháp phù hợp Đối với hậu quả thì phải đưa ra giải pháp mạnh mẽ để ngăn chặn;nếu là kết quả thì phải khuyến khích, cổ vũ, khích lệ và phát triển

5 Các dạng đề bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

Để làm tốt bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống trước hếtphải tìm hiểu thật kĩ sự việc, hiện tượng đó bằng nhiều cách: hoặc đọc trên sáchbáo, xem trên ti vi hay trực tiếp chứng kiến Việc tìm hiểu này cần thiết cho bàinghị luận khi mô tả, phân tích các khía cạnh đúng, sai, lợi hại của vấn đề Đồngthời có thể hiểu đúng, hiểu sâu thì mới có thể đưa ra những ý kiến đánh giákhách quan sự việc, hiện tượng đó

Đề tài nghị luận ở đây là các hiện tượng đời sống đáng suy ngẫm Các hiệntượng có thể có ý nghĩa tích cực như tấm gương người tốt việc tốt, ý chí nghịlực,… hay cũng có thể là hiện tượng tiêu cực, cần lên án, phê phán

Trang 8

- Vai trò của rừng đối với con người.

- Hiện nay, nhiều người chỉ vì lợi ích của bản thân mà không ngưng tay khaithác rừng một cách bừa bãi

- Thay vào hành động vô ý thức tàn phá rừng là hành động mà tất cả mọi ngườiđều cảm thấy thán phục: đó chính là trồng rừng

c) Kết đoạn

- Ý nghĩa của việc trồng rừng

*Đoạn văn: Rừng là nguồn tài nguyên quý giá mà mẹ thiên nhiên đã ban tặng

cho loài người chúng ta Tuy nhiên, rừng cũng là một nguồn tài nguyên có hạnnên loài người phải biết khai thác một cách hợp lí Như chúng ta đã biết, thànhphần chính của rừng là cây xanh, mà cây xanh lại có tác dụng rất lớn đối với môitrường sống của con người Không chỉ đơn thuần là tạo bóng mát, làm đẹp chophố phường mà hơn hết cây xanh còn làm điều hòa khí hậu, giúp con ngườichống lại được những thiên tai, thảm họa Không những thế rừng còn là nơi dulịch sinh thái vô cùng lí tưởng bởi vẻ đẹp hoang sơ, mộc mạc Hiện nay, nhiềungười chỉ vì lợi ích của bản thân mà không ngưng tay khai thác rừng một cáchbừa bãi Mặc dù hằng ngày, hằng giờ trên các phương tiện thông tin đại chúngvẫn luôn luôn tuyên truyền rộng rãi về ý thức bảo vệ môi trường để giúp môitrường xanh - sạch - đẹp Họ chỉ biết khai thác mà không hề nghĩ đến việc mà họlàm đang khiên mẹ thiên nhiên đâu đớn và khổ sở biết nhường nào Hằng ngày,rừng luôn gào khóc và van xin sự giúp đỡ từ con người chúng ta trong vô vọng.Con người là nguyên nhân chính khiên môi trường rừng ngày càng suy giảmnhư ngày hôm nay Tại sao thay vào hành động vô ý thức kia không phải là hànhđộng mà tất cả mọi người đều cảm thấy thán phục: đó chính là trồng rừng Trồngrừng để những tán cây xanh ngày càng vươn cao và to lớn hơn để bù đắp phần

Trang 9

nào những mất mát và đau đớn mà "rừng" đang chịu Còn riêng về phần chínhbản thân mình - chúng ta - những học sinh hãy cố gắng hết sức để tuyên truyềncho mọi người dân địa phương mình cách khai thác rừng hợp lí, và cả cách đểcùng chung tay với đồng bào cả nước bảo vệ lá phổi xanh của Trái Đất.

Đề 2: Viết bài văn nghị luận về vấn đề ô nhiễm môi trường ở địa phương em

Trang 10

1 Phân tích đề

- Yêu cầu: viết bài nghị luận bàn về vấn đề ô nhiễm môi trường

- Đối tượng, phạm vi đề bài: vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay trên thế giới,nước ta hoặc địa phương em

- Phương pháp lập luận: bình luận, giải thích, phân tích, chứng minh

2 Hệ thống luận điểm

- Luận điểm 1: Nêu thực trạng vấn đề ô nhiễm môi trường ở địa phương.

- Luận điểm 2: Nguyên nhân của ô nhiễm môi trường.

- Luận điểm 3: Hậu quả của vấn đề ô nhiễm môi trường

- Luận điểm 4: Đề xuất những giải pháp hạn chế ô nhiễm môi trường.

3 Lập dàn ý chi tiết

a) Mở bài

- Giới thiệu vấn đề nghị luận: "ô nhiễm môi trường"

Ví dụ: Ngày nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đang trở thành vấn đề trọng tâm

của toàn xã hội và được dư luận hết sức quan tâm Ô nhiễm môi trường đã vàđang để lại những hệ lụy hết sức khôn lường cho toàn nhân loại

b) Thân bài

* Giải thích vấn đề:

- Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn, đồng thời các

tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây tác hại tới sứckhỏe con người và các sinh vật khác

- Ô nhiễm môi trường chủ yếu do hoạt động của con người gây ra, ngoài ra còn

do một số hoạt động của tự nhiên khác có tác động tới môi trường

* Nêu thực trạng ô nhiễm môi trường hiện nay

- Ô nhiễm môi trường không khí:

+ Trái đất ngày càng nóng lên

+ Không khí chứa nhiều thành phần gây hại hơn

+ Nồng độ chì đã và đang tăng lên

+ Ô nhiễm từ các loại xe cộ

+ Các cơn mưa axít làm huỷ diệt các khu rừng và các cánh đồng

+ Hiện tượng hiệu ứng nhà kính

- Ô nhiễm môi trường nước:

+ Tình trạng ô nhiễm nguồn nước đang ngày càng báo động

+ Một số khu công nghiệp đã xả nước thải không qua xử lý ra môi trường + Hiện tượng xả rác ra ao, hồ sông suối vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nơi (dẫnchứng)

+ Các trang trại nuôi vật nuôi thường thải chất thải xuống ao, hồ, sông, suối + Các loại chất độc hại đó lại bị đưa ra biển gây ra hiện tượng "thủy triều đỏ" + Hiện tượng "sa mạc hóa biển"

- Ô nhiễm môi trường đất:

+ Hiện tượng đất nhiễm chì, nhiễm chất hóa học do thuốc trừ sâu

+ Những vùng đất thuộc các khu công nghiệp đang ô nhiễm nghiêm trọng (dẫnchứng)

+ Rác thải sinh hoạt hằng ngày: bao ni lông, rác thải khó phân hủy

Trang 11

- Các loại ô nhiễm khác: Ô nhiễm phóng xạ, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm sóng, ônhiễm ánh sáng,

* Nguyên nhân của ô nhiễm môi trường

- Ý thức của một số doanh nghiệp còn kém: một số doanh nghiệp bất chấp phápluật cố ý xả chất thải chưa qua xử lý vào môi trường, gây nên hiện tượng ônhiễm môi trường nặng nề ở biển, sông…

- Người dân xả rác thải dẫn đến tình trạng ô nhiễm diện rộng không kiểm soátđược

- Sự quản lý của nhà nước còn nhiều yếu kém, hệ thống quy phạm pháp luật vềbảo vệ môi trường vẫn còn nhiều lỗ hổng

* Hậu quả của vấn đề ô nhiễm môi trường

- Đối với sức khỏe con người:

+ Không khí ô nhiễm có thể giết chết nhiều cơ thể sống trong đó có con người + Ô nhiễm ozone có thể gây bệnh đường hô hấp, bệnh tim mạch, viêm họng,đau ngực, tức thở

+ Ô nhiễm nước gây ra xấp xỉ 14.000 cái chết mỗi ngày, chủ yếu do ăn uốngbằng nước bẩn chưa được xử lý ở các nước đang phát triển

- Đối với hệ sinh thái:

+ Gây mưa axít, làm giảm độ pH của đất

+ Đất ô nhiễm sẽ trở nên cằn cỗi, không thích hợp cho cây trồng, ảnh hưởngđến các cơ thể sống khác trong lưới thức ăn

+ Khói lẫn sương làm giảm ánh sáng mặt trời mà thực vật nhận được để thựchiện quá trình quang hợp

+ Các loài động vật có thể xâm lấn, cạnh tranh chiếm môi trường sống và làmnguy hại cho các loài địa phương, từ đó làm giảm đa dạng sinh học

+ Tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm, cạn kiệt

* Đề xuất giải pháp hạn chế ô nhiễm môi trường

- Cần có sự quản lý chặt chẽ của người nhà nước trong việc xử lý những doanhnghiệp, cá nhân vi phạm

- Tăng cường tuyên truyền để cho nâng cao nhận thức của người dân trong việcbảo vệ môi trường, hiểu rõ tác hại của ô nhiễm môi trường đối với hệ sinh thái,sức khỏe con người…

- Tái chế rác thải, tái sử dụng giấy

- Giảm thiểu chất thải và tác động của môi trường

- Thực hiện các biện pháp phòng chống ô nhiễm

- Làm phân hữu cơ

- Sử dụng điện có hiệu quả (đối với một số quốc gia)

Ngày đăng: 26/05/2021, 22:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w