1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Rèn kĩ năng viết bài văn biểu cảm cho học sinh lớp 7 góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn ngữ văn ở trường THCS

21 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 257,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học môn Ngữ văn chính là dạy đạo đức vànhân cách cho các em học sinh, giúp các em gần gũi hơn với đời sống thườngngày của chúng ta; học văn giúp cho học sinh trau dồi vốn từ và cách

Trang 1

2 2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4

2 3 Các biện pháp thực hiện để giái quyết vấn đề 5

2.3.2.1 Biện pháp 1: Rèn kĩ năng làm các bước trong bài văn biểu cảm 62.3.2.2 Biện pháp 2: Rèn kĩ năng tạo cảm xúc cho bài văn biểu cảm 92.3.2.3 Biện pháp 3: Rèn kĩ năng đưa yếu tố tự sự và miêu tả vào bài

2.3.2.4 Biện pháp 4: Rèn kĩ năng lập ý cho bài văn biểu cảm 112.3.2.5 Biện pháp 5: Rèn kĩ năng đọc văn mẫu và có thói quen ghi chép 12

Trang 2

1 MỞ ĐẦU

1.1.Lí do chọn đề tài

Môn Ngữ Văn là một môn học rất quan trọng, chiếm thời lượng lớn trongchương trình học của học sinh Dạy học môn Ngữ văn chính là dạy đạo đức vànhân cách cho các em học sinh, giúp các em gần gũi hơn với đời sống thườngngày của chúng ta; học văn giúp cho học sinh trau dồi vốn từ và cách sử dụngngôn từ khéo léo hơn, có tấm lòng đồng cảm chia sẻ với tấm lòng yêu thươngcon người, có thêm tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng, biết được đất nước

ta giàu đẹp nhường nào, bồi dưỡng cho các em có lòng nhiệt tình, là những khátvọng chân thiện, mĩ… Như vậy, có thể nói văn học như một quyển “Bách khoatoàn thư” về vô vàn những cung bậc cảm xúc của con người, tất cả đều sinhđộng và chân thực đến lạ thường Đòi hỏi người giáo có vai trò là người tổ chức,hướng dẫn và cần phải lựa chọn các cách thức, phương pháp sáng tạo phù hợpvới từng lứa tuổi, khoá học, lớp học để đề ra một hay nhiều phương pháp giúphọc sinh lĩnh hội tri thức Cho nên tôi nghĩ rằng, mỗi giáo viên dạy Ngữ văn cầnkhơi dậy tình yêu và niềm đam mê văn học bằng nhiều cách Để giúp các emđến với văn học bằng niềm đam mê, sự thích thú và tự nhiên vốn có mà khôngphải ràng buộc một vấn đề gì, không gò bó hay ép buộc

Xuất phát từ cuộc sống xung quanh chúng ta luôn có nhiều điều kì diệuđẹp đẽ đan xen những mảnh đời khổ đau bất hạnh và khơi dậy trong mỗi thầytrò chúng ta những cung bậc cảm xúc, những nỗi niềm thiết tha thương cảm,chia sẻ… và muốn gửi gắm vào trang viết Đó là những tình cảm, những rungđộng từ đáy lòng, từ những con tim nhạy cảm, cảm thương Vậy làm văn biểucảm trong môn Ngữ văn trường THCS sẽ là một trong những kiểu bài làm văngiúp chúng ta có thể biểu lộ được những tình cảm, những cung bậc cảm xúc củamình về con người, cuộc sống xung quanh Thế nhưng trong quá trình đứng trênbục giảng tôi nhận thấy không phải học sinh nào cũng có thể trình bày một cáchchính xác, chân thực, xúc động và trôi chảy những cung bậc cảm xúc đó quatrang viết của mình Bài văn của các em thường bị đánh giá là “khô khan” hay

sơ sài, nghèo cảm xúc Do vậy điểm của các em thường không cao nên dẫn đếnnhiều em giảm dần sự hứng thú với học môn Ngữ văn Điều này đã làm tôi bănkhoăn trăn trở rất nhiều và thôi thúc tôi phải tìm ra những giải pháp để nâng caochất lượng dạy học phần Tập làm văn Biểu cảm nói riêng và môn Ngữ văn nóichung để tạo hứng thú cho học sinh, giúp các em yêu thích môn học hơn Vì vậy

tôi đã mạnh dạn đưa ra kinh nghiệm “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết bài văn biểu cảm cho học sinh lớp 7 góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS”, kinh nghiệm này như một gợi ý nhỏ để góp phần

nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ văn trong phần tập làm văn Biểu cảm.1.2 Mục đích nghiên cứu:

Chọn vấn đề nghiên cứu “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết bài văn biểu cảm cho học sinh lớp 7 góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS”, với mục đích cung cấp cho học sinh kĩ năng làm bài văn

biểu cảm Ngoài ra bản thân muốn trao đổi với đồng nghiệp để xây dựng giảipháp giúp học sinh đam mê học văn nói chung, viết bài văn biểu cảm nói riêngngày càng hoàn thiện hơn trong quá trình thực hiện

Trang 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

* Đối tượng nghiên cứu: Đối với đề tài sáng kiến này, tôi chỉ nghiên cứu vàdừng lại ở 3 vấn đề, đó là:

- Tìm hiểu đề, tìm ý.

- Cách lập ý bài văn biểu cảm

- Viết đoạn văn biểu cảm có kết hợp với yếu tố miêu tả , kể.

(Tập trung chủ yếu ở các Tiết 20, 24, 25, 29, 32, 33, 36, 40, 44, 51, 52, 53 theo

Kế hoạch giáo dục nhà trường môn Ngữ văn Lưu hành từ năm 2019 - 2020)

Qua việc nghiên cứu này cung cấp cho học sinh những giải pháp giúp các embiết tạo lập một văn bản đúng và hay

Những biện pháp này chỉ áp dụng trong phạm vi phương thức biểu cảm

trong chương trình Ngữ văn 7 học kì 1

* Phạm vi nghiên cứu: Sáng kiến kinh nghiệm này được vận dụng vào thực tếgiảng dạy ở lớp 7A, 7B ở trường THCS tôi dạy

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Tham khảo thu thập tài liệu

- Điều tra khảo sát thực tế

- Phân tích, tổng kết kinh nghiệm

- Thống kê, xử lí tài liệu

- Phương pháp thực nghiệm

Trang 4

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

“Văn biểu cảm là loại văn trữ tình, được viết ra nhằm biểu đạt tình cảm, cảm xúc và sự đánh giá của con người đối với thế giới xung quanh đồng thời khêu gợi sự đồng cảm nơi người đọc”(Tạ Đức Hiền -Tư liệu bồi dưỡng thường

xuyên ,quyển II) Như vậy, văn biểu cảm là loại văn thể hiện nội tâm, tâm trạngcủa người viết Nếu người học sinh khi viết bài mà tâm hồn trống rỗng, không

có cảm xúc, suy nghĩ không rõ ràng cụ thể thì người viết không thể có được bàivăn biểu cảm có hồn Lúc đó, bài văn hoặc khô khan, nhạt nhẽo, ngắn ngủi hoặcgiả tạo, vay tình mượn ý Tình cảm của người viết có chân thật không, đọc văn

ta dễ dàng nhận ra điều đó Cảm xúc thực khiến lời văn bao giờ cũng cảm động,dễ đi vào lòng người Vậy nên, khi dạy văn nói chung, dạy văn biểu cảm cho đốitượng học sinh lớp 7 nói riêng, người giáo viên ngoài việc nắm vững phươngpháp, kiến thức còn rất cần có một trái tim nhạy cảm, một tâm hồn rung độngtrước cuộc sống, để truyền cảm hứng cho các em Giúp các em phát huy khảnăng sáng tạo và trí tưởng tượng để rồi thể hiện những cung bậc tình cảm ấythành những sắc thái biểu cảm khác nhau dưới dạng một bài viết Cần đánh thứcnhu cầu bộc lộ cảm xúc tình cảm ở các em, giúp các em diễn đạt những cảm xúc

ấy một cách rõ ràng, cụ thể, sinh động

Nói như vậy có nghĩa là người học phải chủ động tích cực trong quá trìnhhọc văn biểu cảm Học sinh phải thực sự làm chủ trong quá trình tạo lập văn bảnbằng hai hình thức nói và viết Việc học sinh luyện nói, luyện viết, tập làm dàn

ý, dùng từ đặt câu, viết đoạn văn là rất quan trọng Hơn thế nữa, các em phảiđến với giờ văn bằng cả trái tim, tấm lòng đam mê của mình Có như thế các emmới có thể có được những cung bậc tình cảm khác nhau từ bài giảng của thầy cô

để rồi nảy sinh ý muốn tạo lập văn bản biểu cảm hay Đặc biệt giáo viên cầnkhuyến khích học sinh rèn luyện cho tâm hồn mình trở nên chan chứa tình cảm

Có nghĩa là cần phải biết yêu gia đình, yêu cuộc sống, yêu quê hương, đất nước.Đây chính là nền tảng, cái gốc cung cấp những kiến thức cần thiết để các emviết bài văn biểu cảm có hồn hơn, chất văn biểu cảm hơn, giúp các em trân trọngcuộc sống, thấy cuộc sống tươi đẹp, đáng sống và đáng quí

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

* Đối vối giáo viên:

Trong quá trình dạy học, đôi khi giáo viên có tâm lí ngại dạy phân môntập làm văn vì cho rằng học sinh ngại viết, khó dạy Có lúc giáo viên chưa khơigợi được mạch nguồn cảm xúc vốn đã rất ít ỏi ở học sinh Số ít giáo viên cònchưa chịu nghiên cứu tài liệu, ngại học hỏi

Theo sự tìm hiểu của cá nhân, tôi nhận thấy trong những kì thi giáo viên giỏicác cấp, hay ngay cả khi thao giảng ở trường rất ít giáo viên tự chọn dạy tiết Tậplàm văn Mặt khác khi dạy, tỉ lệ thời gian cho lí thuyết chiếm khá nhiều, hơn cảphần thực hành dẫn đến học sinh ít được luyện tập trên lớp, nếu giáo viên giao

về nhà thì học sinh cũng chỉ làm đối phó Khi giáo viên có thể thu vở bài tậpchấm bài thì cũng cũng gặp nhiều khó khăn, không thường xuyên, liên tục vì

quỹ thời gian cũng rất hạn hẹp Do vậy nhiều khi giáo viên cũng chỉ “ tin” vào

tính tự giác của các em và sự quan tâm của các bậc phụ huynh mà thôi

Trang 5

* Đối với học sinh

Qua nhiều năm dạy chương trình Ngữ văn 7, tôi nhận thấy kĩ năng viết bài vàbộc lộ cảm xúc trong bài tập làm văn ở một số học sinh còn yếu Nhiều khi các

em sa vào văn kể hoặc văn tả nên bài làm không thể hiện thái độ tình cảm củamình đối với đối tượng cần biểu cảm Bài viết nghèo nàn cảm xúc, nhiều bài cònquá ngắn Một số em khá vẫn có những bài viết không quá một trang Mặc dùvăn hay không căn cứ ngắn hay dài, song qua đó có thể khẳng định vốn ngônngữ của các em còn quá nghèo nàn Thậm chí nhiều em cứ nghĩ rằng cứ biểucảm là phải có các từ như : yêu, quý, mến, thích,…Một số em thì lại phụ thuộcvào văn mẫu nên bài viết chỉ là vay mượn mà không có sự sáng tạo Số học sinhkhông mặn mà với việc học văn vẫn còn nhiều Các em coi học môn văn chỉ làmột nghĩa vụ Nhiều em còn lười học, ít chịu khó đọc sách, gia đình lại thiếu sựquan tâm

Đây là kết quả thống kê điểm kiểm tra bài viết phần làm văn biểu cảm củahọc sinh lớp 7A, 7B năm học 2019 – 2020 Trường THCS

( Lớp 7A áp dụng phương pháp rèn kĩ năng viết văn biểu cảm, lớp 7B chưa ápdụng phương pháp dạy học rèn kĩ năng viết văn biểu cảm)

định chọn nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết bài văn biểu cảm cho học sinh lớp 7 góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn

ở trường THCS” để áp dụng vào thực tế giảng dạy lớp 7A và 7B năm học 2019

- 2020 Với mong muốn giúp học sinh biết cách làm văn biểu cảm, tiến tới cónhững bài văn biểu cảm hay, giàu cảm xúc

2.3 Các biện pháp thực hiện để giải quyết vấn đề

2.3 1 Biện pháp tổng quát:

* Dạy học lí thuyết:

Tôi nhấn mạnh cho học sinh nắm vững khái niệm: Văn biểu cảm là vănbản viết ra nhằm biểu đạt tình cảm, cảm xúc, sự đánh giá của con người đối vớithế giới xung quanh và khêu gợi lòng đồng cảm nơi người đọc

Tình cảm trong văn biểu cảm là tình cảm đẹp, thấm nhuần tư tưởng nhânvăn như: yêu con người, yêu thiên nhiên, yêu tổ quốc, ghét thói tầm thường, độcác

Có hai cách biểu cảm là: biểu cảm trực tiếp, biểu cảm gián tiếp Về biểucảm trực tiếp: thông qua các lời gọi như: ơi, hỡi, ô Lời than như: hỡi ôi, than

ôi, thương thay Và thông qua các từ: yêu, thương, nhớ, ghét, giận, còn biểucảm gián tiếp: thông qua mượn các hình ảnh ẩn dụ để nói lên tình cảm

* Hướng dẫn thực hành:

Điều quan trọng nhất là các em phải thường xuyên được thực hành Ông

Trang 6

bà ta cũng đã dạy: văn ôn võ luyện, nhưng không có nghĩa là chỉ biết, hiểu họcthuộc lòng mà cần phải luyện tập - thực hành thường xuyên liên tục có sự kiểmtra đánh giá và có rút kinh nghiệm.

Trong các tiết thực hành (Luyện nói và viết bài), cần yêu cầu học sinh làmcác bài tập rèn kĩ năng từ dễ đến khó Học sinh định rõ cho mình các yêu cầu cụthể, sau đó xác định những tình cảm cảm xúc của mình rồi huy động những hiểubiết của mình về sự vật, con người để làm bài Cần tập trung trình bày nhữngtình cảm cảm xúc đó sao cho thật độc đáo và có dấu ấn riêng Khi viết bài cầnnhắc các em kết hợp các cách lập ý quen thuộc để tạo ra sự mới mẻ cho bài viết

Qua các tiết thực hành và ở các buổi học thêm, giáo viên chú ý rèn chohọc sinh các kĩ năng còn yếu ở các em như: lập dàn ý, cách dùng từ, đặt câu,dựng đoạn, hoàn thiện văn bản Đồng thời cung cấp cho các em một số các bàimẫu để các em đối chiếu và tham khảo

* Nghiệm thu kết quả

Với phần lí thuyết có thể thông qua việc kiểm tra bài cũ trên lớp để củng

cố cho các em Đây là yêu cầu bắt buộc với mỗi học sinh Vì không nắm vững líthuyết thì sẽ gặp khó khăn trong quá trình thực hành

Đối với bài viết thực hành, thông qua bài viết 15 phút, bài kiểm tra theophân phối chương trình để đánh giá khả năng của học sinh Cần chú ý kiểm tra

và chỉ ra lỗi để học sinh khắc phục Những bài làm tốt cần động viên khuyếnkhích các em Cần chấm trả bài đúng quy định

Phải chú ý tới hoạt động tự học, tự kiểm tra của học sinh Sau mỗi tiết họcphải giao bài tập về nhà để yêu cầu các em tự rèn luyện thêm Phải thu các bàiviết đã giao làm ở nhà để đánh giá các em Nên lưu ý một số đối tượng đặc biệtnhư khá, yếu để khuyến khích hay uốn nắn kịp thời

2.3.2 Các biện pháp cụ thể

2.3.2.1 Biện pháp 1: Rèn kĩ năng làm các bước làm văn biểu cảm

Dù dạy làm văn biểu cảm về sự vật, con người hay biểu cảm về tác phẩmvăn học giáo viên cần phải hướng dẫn các em nắm vững các bước làm bài văn

Có những bước cần phải hướng dẫn kĩ, yêu cầu học sinh luyện thành kĩ năng

Tìm hiểu đề bằng cách tìm ra lời giải đáp cho các câu hỏi:

Em định phát biểu cảm nghĩ về đối tượng nào?

Mục đích viết là gì?

Viết cho ai đọc? Việc tìm hiểu đề rất quan trọng, giúp người viết đi đúng hướng, không bị

“lạc đề”

- Tìm ý:

Khi làm văn biểu cảm, có một việc không đơn giản là tìm ý cho bài văn.Bởi tìm ý chính là tìm cảm xúc, tìm những ý nghĩ và tình cảm để diễn đạt thành

Trang 7

nội dung của văn bản Mà ý nghĩ tình cảm, cảm xúc ấy bắt nguồn từ những gìngười viết trải nghiệm trong cuộc sống, hoặc đã tiếp xúc với tác phẩm Với mỗiđối tượng khác nhau thì việc tìm ý cũng khác nhau Do vậy giáo viên cần hướngdẫn các em một cách chi tiết khâu này Nên chia nhóm đối tượng biểu cảm đểhướng dẫn các em tìm ý Như nhóm đối tượng biểu cảm là người, nhóm đốitượng biểu cảm là một sự vật, nhóm đối tượng biểu cảm là một tác phẩm vănhọc Từ đó giáo viên hướng dẫn các em cách lập ý cụ thể.

Ví dụ: Với đối tượng biểu cảm là một người thân nào đó:

Để tạo ý, sau khi đã xác định đối tượng biểu cảm cụ thể là ai, cần trả lời

hệ thống câu hỏi sau:

1 Người ấy là ai? Người viết sẽ ít nhiều thể hiện tình cảm, cảm xúc của

mình, tuy nhiên đó mới chỉ là khái quát, chưa thật rõ ràng

2 Tình cảm suy nghĩ về người đó là gì? Gợi ý cho người viết giải quyết

nhiệm vụ trọng tâm của bài văn, đó là tình cảm cảm xúc cần biểu hiện về đốitượng biểu cảm Đây là những tình cảm cảm xúc chung nhất về người chúng tađịnh thể hiện tình cảm

3 Quan hệ với em như thế nào? Yêu cầu học sinh phải giải thích người là

đối tượng biểu cảm trong bài văn có quan hệ với em như thế nào Những trườnghợp có quan hệ rõ ràng và hầu như không phải giải thích nhiều như bố mẹ, ông

bà nội ngoại Tuy nhiên, với người khác thì rất cần những thông tin giải thích rõràng Chẳng hạn là một người bạn thì đó là bạn học hay bạn cùng xóm Là thầyhay cô giáo thì nên giải thích thầy cô dạy mình môn gì, khi nào ở đâu Nhữngchi tiết giải thích về mối quan hệ đó tuy rằng không thật quan trọng, không thểhiện tình cảm, cảm xúc của người viết nhưng lại là điều kiện hoàn cảnh môitrường để hình thành tình cảm cảm xúc

4 Người đó em gặp hằng ngày hay đã xa cách? Quan trọng vì thông

thường, những tình cảm của con người dành cho nhau thường được cảm nhận rõnhất là khi xa nhau

5 Em đã gặp người ấy trong hoàn cảnh nào? Đối với những người bạn

thân thiết, thầy cô giáo hoặc một người thân yêu nào đó, trong những điều màchúng ta nhớ nhất về họ thường có những kỉ niệm về hoàn cảnh chúng ta đã gặp

họ như thế nào

6 Người đó làm công việc gì? Cách làm việc của người đó? Là một cách

chúng ta thể hiện tình cảm cảm xúc với người đó

7 Những đặc điểm ngoại hình: gương mặt, trang phục, dáng dấp? Đây

cũng là một điểm nhấn, những đặc điểm về ngoại hình của đối tượng biểu cảmrất có giá trị trong việc truyền tải tình cảm cảm xúc của người viết

8 Lời nói , giọng nói của người đó như thế nào? Đối với một con người,

có hai đặc điểm thể hiện rất rõ tính cách là ngoại hình và giọng nói Vì thế ngườilàm văn biểu cảm không nên bỏ qua một đặc điểm quan trọng là giọng nói vàcách nói năng

9 Những câu chuyện hay nhất hoặc ấn tượng nhất về người đó? Nếu

khéo kể những kỉ niệm khó quên, những câu chuyện hay và cảm động thì đây sẽ

là điểm sáng của những bài văn biểu cảm

10 Sự quan trọng của người đó? Đây là ý mang tính khái quát về người

Trang 8

làm đối tượng biểu cảm.Ý này không cần diễn đạt dài dòng nhưng quan trọng.

11.Khẳng định lại tình cảm suy nghĩ về người đó? Thường dùng ở cuối

bài Như là một sự “chốt lại ” những gì đã viết trong bài văn Không nhất thiết

đề văn biểu cảm về người nào cũng phải trả lời đầy đủ các câu hỏi trên Cũng

có thể các em có những ý khác không trùng với những gợi ý này và cũng khôngnhất thiết phải theo thứ tự như vậy Nhưng với việc trả lời các câu hỏi này trongviệc giải quyết một đề bài tập làm văn biểu cảm về một người thân nào đó sẽgiúp các em tìm ý dễ dàng hơn

Bước 2: Lập dàn ý:

Dàn ý giống như cái khung của một ngôi nhà, khung có đẹp, chắc chắn thìnhà mới vững và đẹp Dàn ý của bài văn cũng thế Nhưng thực tế học sinh rất ítlập dàn ý trước khi viết bài Vì thế khi viết bài thường thiếu ý hoặc sắp xếp các ý

lộ xộn Nên tôi đã hướng dẫn học sinh kĩ năng lập dàn ý, theo 2 dạng cụ thể nhưsau:

Dạng 1: Biểu cảm về thiên nhiên, cảnh vật:

* Mở bài : Giới thiệu chung về đối tượng.

* Thân bài:

- Hình dung đặc điểm gợi cảm của thiên nhiên, cảnh vật trong không gian,thời gian cụ thể để bộc lộ tình cảm của mình về đối tượng yêu thích (Có sửdụng yếu tố miêu tả)

- Suy nghĩ về mối quan hệ của thiên nhiên, cảnh vật đối với cuộc sốngcon người

+ Thân thuộc, gắn bó, có lợi ích với con người như thế nào?

+ Gắn bó với những lứa tuổi nào?

- Suy nghĩ về quan hệ của thiên nhiên, cảnh vật đối với người viết

+ Tình cảm cảm xúc như thế nào?

+ Gợi những kỉ niệm thân thiết gắn bó nào? (Sử dụng yếu tố tự sự)

- Thiên nhiên cảnh vật gợi cho mình liên tưởng gì về cuộc sống? Conngười ? Về tình cảm quê hương, trường lớp, gia đình?

* Kết bài : Khẳng định tình cảm của mình đối với thiên nhiên, cảnh vật.

Dạng 2: Biểu cảm về con người:

* Mở bài: Giới thiệu chung về đối tượng biểu cảm Cảm nghĩ ban đầu

* Thân bài:

- Hình dung về đặc điểm gợi cảm của đối tượng để bộc lộ cảm xúc: hìnhdáng, mái tóc, làn da, nụ cười, giọng nói qua quan sát, liên tưởng, suy ngẫm hoặc hồi tưởng đặc điểm để gợi cảm xúc (nếu người đó ở xa)

- Bộc lộ tình cảm cảm xúc, suy nghĩ qua việc làm, hành động, cử chỉ, tínhcách của người đó thông qua quan hệ đối xử với mọi người xung quanh, với bảnthân người viết (Sử dụng yếu tố tự sự)

- Sự gắn bó của người ấy đối với em :

+ Trong cuộc sống hằng ngày

+ Hồi tưởng kỉ niệm gắn bó của người viết với người đó

-> Bộc lộ tình cảm của người viết: nhớ nhung, yêu quý, kính trọng, biết ơn

- Bộc lộ tình cảm với đối tượng qua một tình huống nào đó: liên tưởng,tưởng tượng đến tương lai, bộc lộ cảm xúc

Trang 9

* Kết bài: Khẳng định tình cảm với đối tượng Có thể hứa hẹn mong ước.

Dạng 3: Biểu cảm về tác phẩm văn học:

* Mở bài : Giới thiệu chung về tác phẩm (tác giả, tên tác phẩm, hoàn cảnh

sáng tác, hoàn cảnh tiếp xúc) Cảm nghĩ chung (ấn tượng sâu sắc nhất)

Bước 3: Viết bài:

Đây là việc viết các đoạn văn và nối chúng với nhau tạo thành chỉnh thểthống nhất Khi viết học sinh cần thành thạo kĩ năng dùng từ đặt câu, cách bộc

lộ tình cảm cảm xúc phù hợp Học sinh cần luyện thói quen lựa chọn, cân nhắckhi sử dụng từ ngữ và kiểu câu, diễn đạt sao cho đạt hiệu quả cao nhất Có mộtcách rèn kĩ năng viết văn cho học sinh là giáo viên đọc một đoạn mẫu cho các

em nghe một vài lần rồi yêu cầu các em viết theo trí nhớ và khả năng cảm nhận.Sau đó đọc nguyên văn để các em so sánh, đối chiếu với đoạn văn mình viết đểrút ra hạn chế trong cách diễn đạt của mình

Cần hướng dẫn học sinh luyện viết từng phần, từng đoạn văn bản Phảilưu ý các em không lặp lại cách viết của người khác, phải có sự sáng tạo củariêng mình mới đem lại sự thích thú cho người đọc

Bước 4: Sửa bài:

Phần lớn học sinh khi làm bài thường không biết cách chia thời gian hợp

lí Nhiều em khi viết xong là nộp bài ngay không có thời gian đọc lại, thậm chí

có em còn phải kết thúc vội vàng vì đã hết giờ, rất ít em có thói quen đọc lại bàilàm của mình Vậy nên cần tạo cho học sinh thói quen kiểm tra lại bài trước khinộp Chỉ cần năm đến mười phút cũng giúp các em cơ bản sửa những lỗi saiđáng tiếc như lỗi chính tả, lỗi câu Đây coi như là một việc làm có tính bắtbuộc giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện khi làm văn

2.3.2.2 Biện pháp 2: Rèn kĩ năng tạo cảm xúc cho bài văn biểu cảm

Có hai hình thức biểu cảm mà học sinh có thể vận dụng đó là biểu cảmtrực tiếp và biểu cảm gián tiếp

Dạng 1: Biểu cảm trực tiếp là cách diễn đạt tình cảm cảm xúc, ý nghĩ của

người viết một cách rõ ràng bằng các từ ngữ câu chữ Đây là hình thức biểu cảmhọc sinh sử dụng phổ biến nhất và cũng tương đối dễ Khi sử dụng hình thứcbiểu cảm này nên sử dụng cách tạo cảm xúc sau:

+ Sử dụng từ ngữ biểu cảm:

Trang 10

Sử dụng những động từ chỉ cảm xúc, trạng thái tình cảm của con người:VD: Khi biểu cảm về loài hoa.

“Tôi phập phồng cùng những nụ hoa đang bắt đầu hé nở Tôi mê mẩn trước những bông hoa đang tỏa bừng rực rỡ Tôi ngây ngất trước những bông hoa đang lặng lẽ đưa hương.”

(Bài làm của học sinh)

Động từ chỉ trạng thái cảm xúc như “ phập phồng”, “ mê mẩn”, “ ngâyngất” giúp người viết thể hiện tự nhiên niềm say mê trước vẻ đẹp kì diệu củamuôn hoa

Sử dụng từ ngữ gợi hình, gợi cảm đặc biệt là từ tượng thanh tượng hình:

VD: Biểu cảm về cây sấu Hà Nội:

“ Hằng năm vào cữ hạ sớm này, người Hà Nội lại được hưởng những cơn mưa lá sấu vàng ào ạt rơi trong hương sấu dìu dịu, thơm thơm Hương lá dịu dàng ướp cả bầu không khí tinh khôi khiến ta những muốn hít sâu cho căng tràn lồng ngực.”

( Tạ Việt Anh )

Những từ láy “ ào ạt”, “ dìu dịu”, “ thơm thơm”, “ dịu dàng” được dùnggợi mùi hương, gợi những cảm giác thân thuộc bình dị về cây sấu, bộc lộ tìnhyêu Hà Nội sâu sắc của người viết

Dùng từ cảm thán, câu cảm thán

Đó là lời kêu, tiếng than để bộc lộ trực tiếp các cung bậc sắc thái cảm xúccủa người viết Có nghĩa là người viết đã gửi gắm tình cảm tha thiết chân thànhtới đối tượng biểu cảm

VD: Biểu cảm về cây cau

“ Bất chấp nắng hạ mưa sa hay bão giông giá rét, cây cau vẫn lớn lên, lá vẫn mướt xanh và trái vẫn nặng trĩu nghĩa tình Chao ôi! Sức sống của cau sao

mà bền bỉ, mãnh liệt như vậy!”

( Bài làm của học sinh)

Dạng 2: Biểu cảm gián tiếp thông qua các hình thức biểu cảm khác như

dùng biện pháp tu từ ẩn dụ tượng trưng hoặc các biện pháp tu từ khác

Sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ tượng trưng

Việc viết văn biểu cảm bằng cách mượn một hình ảnh ẩn dụ tượng trưngvới học sinh nói chung là tương đối khó Tuy nhiên với học sinh có năng khiếunên hướng dẫn các em rèn luyện theo cách này.Với những em khả năng vănchương còn hạn chế ta có thể chọn những cách biểu cảm khác

Dùng câu hỏi tu từ, các biện pháp nghệ thuật khác như so sánh, nhânhóa

VD : Cây bàng trước cửa lớp.

“ Đông về, cây bàng trần trụi, cô đơn Đâu rồi tán lá bàng sum suê? Cây bàng giơ những cánh tay gầy guộc Nhìn bàng, tôi cảm thấy chạnh lòng Khi những cơn gió lạnh thổi qua, liệu bàng có run? Bàng có lạnh khôn , với thân thể gầy guộc như thế?”.

( Bài làm của học sinh)

* Sử dụng điệp từ, điệp ngữ:

Ngày đăng: 26/05/2021, 22:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w