Trong những năm qua đơn vị đã thực hiện rất nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bệnh viện; đồng thời tuân thủ các quy định của Nhà nước về công tác khám chữa bệnh giúp cho người dân
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THỊ THÙY DUNG
CÔNG TÁC KẾ TOÁN THEO MÔ HÌNH TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN BA VÌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THỊ THÙY DUNG
CÔNG TÁC KẾ TOÁN THEO MÔ HÌNH TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN BA VÌ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2020
Tác giả
Nguyễn Thị Thùy Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm sâu sắc, chân thành, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn tới
cơ quan và cá nhân đã tạo điều kiện đã giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể quý thầy, cô giáo của khoa Kế toán - Kiểm toán, lãnh đạo và cán bộ của Trường Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ về mọi mặt trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đến TS Đỗ Kiều Oanh đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo và động viên tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo, phòng tài chính kế toán và cán bộ nhân viên của Bệnh viện đa khoa Huyện Ba Vì - nơi tôi đang công tác, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong công tác, trong nghiên cứu và cung cấp các thông tin bổ ích giúp tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ,
hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ ii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 5
1.2 Cơ sở lý luận về tự chủ tài chính tại bệnh viện 7
1.2.1 Khái niệm và vai trò tự chủ tài chính tại bệnh viện 10
1.2.2 Nội dung của việc tự chủ tài chính tại Bệnh viện: 11
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tự chủ tài chính tại Bệnh viện 18
1.3 Kinh nghiệm của một số bệnh viện về tự chủ tài chính 24
1.3.1 Kinh nghiệm của các bệnh viện cùng hạng 24
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Quy trình nghiên cứu 32
2.2 Phương pháp thu thập thông tin: 33
2.2.1 Thu thập dữ liệu sơ cấp 33
2.2.2 Thu thập dữ liệu thứ cấp 33
2.3 Phương pháp phân tích thông tin: 34
2.3.1 Phương pháp so sánh: 34
2.3.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 36
Trang 6CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN THEO MÔ HÌNH TỰ CHỦ
TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN BA VÌ 37
3.1 Giới thiệu chung về Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì 37
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển: 37
3.1.2 Cơ cấu tổ chức: 38
3.1.3 Cơ sở pháp lý cho tự chủ tài chính ở Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì 41
3.2 Thực trạng công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì 52
3.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì: 52
3.2.2 Nhiệm vụ của kế toán và quy trình công tác kế toán 52
3.2.3 Kết quả đạt được và nguyên nhân 65
3.2.4 Tình hình huy động, tạo lập các nguồn lực tài chính 67
3.2.5 Tình hình sử dụng các nguồn lực tài chính 75
3.2.6 Cơ chế kiểm tra, kiểm soát tài chính khi thực hiện cơ chế TCTC tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì 85
3.3 Đánh giá mức độ thực hiện TCTC tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì 91
3.3.1 Những thành công đạt được 91
3.3.2 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 93
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 99
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN THEO MÔ HÌNH TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN BA VÌ
4.1 Định hướng của Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì 100
4.1.1 Định hướng phát triển: 100
4.1.2 Các chỉ tiêu cơ bản: 104
4.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì 115
4.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì 117
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 120
Trang 7KẾT LUẬN 121 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
14 PTHĐSN Phát triển hoạt động sự nghiệp
Trang 9DANH MỤC BẢNG
2 Bảng 3.2 Kết quả hoạt động chuyên môn của BV giai đoạn
3 Bảng 3.3 Các nguồn tài chính thực hiện theo cơ chế tự chủ tại
4 Bảng 3.4 Cơ cấu các nguồn thu của bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì 68
7 Bảng 3.7 Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ y tế 74
9 Bảng 3.9 Kết quả hoạt động chuyên môn 6 tháng đầu năm 2020 86
10 Bảng 3.10 Tình hình thu – chi 6 tháng đầu năm 2020 89
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
SƠ ĐỒ
1 Sơ đồ 1.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến tự chủ tài chính của
3 Sơ đồ 3.1 Mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy của Bệnh viện 39
4 Sơ đồ 3.2 Bộ máy kế toán tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì 53
BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1 Cơ cấu các nguồn thu từ 2017-2019của bệnh viện
2 Biểu đồ 3.2 So sánh chi thường xuyên năm 2017- 2109 81
3 Biểu đồ 3.3 So sánh chi thường xuyên 6 tháng đầu năm 2019 và
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của luận văn
Đổi mới, phát triển để chăm sóc sức khỏe cho nhân dân là nhiệm vụ, vinh dự
và cũng là trọng trách vô cùng to lớn của ngành Y tế Xác định mục tiêu đó, ngành
Y tế phấn đấu luôn đảm bảo công bằng, không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, trong đó việc phát triển và hoạt động có hiệu quả đối với các bệnh viện, đặc biệt là hệ thống các bệnh viện công lập đã và đang là một vấn đề được quan tâm đặc biệt của ngành Y tế nói riêng và toàn xã hội nói chung
Kinh phí hoạt động hàng năm.của bệnh viện gồm rất nhiều nguồn, nhiều loại, khoản Có thể nói, Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì là một trong những tổ chức phức tạp xét về mặt quản lý tài chính kế toán Để đẩy mạnh công tác quản lý trong bệnh viện, quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh thì công tác quản lý tài chính đang là động lực thúc đẩy các bệnh viện phải thay đổi, cải tiến, nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh Do đó các bệnh viện phải nâng cao hiệu quả công tác kế toán theo cơ chế tự chủ tài chính, tự chịu trách nhiệm tại bệnh viện Đây
là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu để Bệnh viện thực hiện chủ trương trong công tác quản lý và điều hành Bệnh viện
Năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, có hiệu lực thi hành từ ngày 6/4/2015 thay thế Nghị định 43/2016/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập với nhiều điểm mới, là một bước ngoặt lớn
mở ra hướng tự chủ về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập và thực hiện Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập
Để có sự tương đồng giữa chính sách tài chính và kế toán, Bộ tài chính đã ban hành Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 về việc hướng dẫn Chế độ
kế toán hành chính sự nghiệp thay thế Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC Thông tư
Trang 12107 đã khuyến khích các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính thông qua việc chuyển đổi sang lộ trình tính đủ giá, phí để đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tự chủ hoàn toàn, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước Góp phần nâng cao chất lượng quản lý và sử dụng tài chính, tài sản phù hợp, hiệu quả tại các đơn vị sự nghiệp công này
Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì là Bệnh viện hạng II, trực thuộc Sở Y tế Hà Nội được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và đã tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 Trong những năm qua đơn vị đã thực hiện rất nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bệnh viện; đồng thời tuân thủ các quy định của Nhà nước về công tác khám chữa bệnh giúp cho người dân có thể tiếp cận với các dịch vụ y tế một cách đơn giản, thuận tiện nhất
Nằm trong hệ thống bệnh viện công lập, từ tháng 01 năm 2018 Bệnh viện Đa khoa huyện Ba Vì đã chủ động cơ cấu lại bộ máy tổ chức, tăng cường công tác quản
lý trong đó chú trọng đến nâng cao vai trò của công tác kế toán Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy công tác kế toán ở đơn vị còn nhiều bất cập khi chuyển đổi sang cơ chế tài chính mới Công tác kế toán chưa đáp ứng được hết nhu cầu quản lý Vì vậy, việc tổ chức tốt công tác kế toán sẽ cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ thông tin không chỉ giúp cho việc lập báo cáo quyết toán và điều hành hoạt động của đơn vị
mà còn có hiệu quả trong việc kiểm soát nhiều mặt hoạt động, tăng cường giám sát thu, chi một cách chặt chẽ tránh thất thoát, lãng phí góp phần ổn định tình hình tài chính của đơn vị Ngoài ra, nhờ có thông tin kịp thời, chính xác và đầy đủ, kế toàn còn thực hiện tốt vai trò tham mưu định hướng, giải pháp, qui chế quản lý tài chính, thực hiện các quyết định tài chính kế toán sao cho hiệu quả, đúng quy định
Chính vì những lý do nêu trên, đề tài nghiên cứu được tác giả lựa chọn là: “Công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì” nhằm
đưa ra các định hướng và giải pháp cụ thể hoàn thiện công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính tại bệnh viện làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kế toán
Trang 132 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Từ việc hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về công tác kế toán theo mô hình
tự chủ tài chính tại các bệnh viện cùng hạng cũng nhƣ phân tích, đánh giá thực trạng công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì
đã tìm ra những tồn tại và hạn chế, từ đó đƣa ra một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Xác định các nội dung cơ bản của công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì
Đánh giá thực trạng công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì
Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì
3 Câu hỏi nghiên cứu
Cơ sở lý luận về công tác kế toán theo cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị
sự nghiệp công lập?
Thực trạng công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì đang đƣợc thực hiện nhƣ thế nào? Có những ƣu điểm và hạn chế gì? Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì cần phải có những giải pháp gì để tiếp tục hoàn thiện công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính?
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Những vấn đề lý luận và thực tiễn để hoàn thiện công tác kế toán theo mô
hình tự chủ tài chính tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì
Trang 144.2 Phạm vi nghiên cứu:
4.2.1 Phạm vi không gian: Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì
4.2.2 Phạm vi thời gian: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu qua 3 năm gần nhất
(từ năm 2017 đến năm 2019) Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì trong những năm tiếp theo
4.2.3 Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu về việc tự chủ tài chính
để đánh giá thực trạng công tác kế toán và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính tại Bệnh viện đa khoa huyện
Ba Vì trên cơ sở khảo sát thực trạng và thu thập dữ liệu
5 Đóng góp của luận văn
5.1 Đóng góp về mặt lý luận:
Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính để đánh giá chất lượng kế toán trong các bệnh viện cùng hạng
5.2 Đóng góp về mặt thực tế:
Luận văn đã đánh giá thực trạng công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính
và một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác kế toán trong các bệnh viện cùng hạng
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về tự chủ tài chính tại Bệnh viện công lập
Chương 2 Quy trình và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì
Chương 4 Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Năm 2014, tác giả Syaifulla thực hiện nghiên cứu “Ảnh hưởng của cam kết tổ chức đối với chất lượng của hệ thống thông tin kế toán”, bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, tác giả đã xác định rằng yếu tố cam kết của ban quản trị và yếu tố cam kết của nhân viên kế toán có ảnh hưởng đến chất lượng công tác kế toán của một tổ chức
Theo Nathan Carroll và Justin C Lord (2016), tổ chức công tác kế toán là tổ chức thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp toàn bộ thông tin về tình hình sử dụng tài sản, kinh phí của đơn vị, nhằm phục vụ công tác quản lý tài chính và công tác nghiệp vụ ở đơn vị đó Việc tổ chức công tác kế toán khoa học sẽ có tác dụng tích cực như: (1) Tổ chức công tác kế toán khoa học sẽ cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác cho hoạt động quản lý nói chung; (2) Tổ chức công tác kế toán khoa học sẽ tạo dựng được bộ máy kế toán gọn nhẹ mà hiệu quả, qua đó giúp làm việc hiệu quả hơn, trôi chảy và đồng bộ hơn ở nhiều bộ phận; thời gian hạch toán và thanh quyết toán đáp ứng kịp thời với quy định chung; (3) Tổ chức công tác kế toán khoa học sẽ là cơ sở quan trọng để quản lý tài chính hiệu quả
Năm 2010, tác giả Salah A Hammad và các cộng sự thực hiện nghiên cứu
“Hệ thống kế toán quản lý bệnh viện: khung nghiên cứu” Năm 2016, hai tác giả Nathan Carroll và Justin C Lord với đề tài “Tầm quan trọng ngày càng tăng của kế toán chi phí cho bệnh viện” Trong các nghiên cứu này, bằng phương pháp nghiên cứu định tính, các tác giả đề xuất nâng cao hiệu quả của hệ thống kế toán quản lý trên cơ sở sử dụng phương pháp kế toán hợp lý nhằm năng cao hiệu quả quản lý
trong ngành Y tế nói chung và cho các bệnh viện nói riêng
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, những năm qua trong lĩnh vực y tế đã có một số nghiên cứu được công bố có liên quan đến công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập, đặc biệt là các cơ sở y tế
Trang 16Luận văn nghiên cứu trong lĩnh vực y tế của tác giả Phạm Việt Linh (2014)
về “Hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định” nhằm tìm hiểu thực trạng công tác kế toán tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán trong điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí của bệnh viện Thực trạng công tác kế toán tại bệnh viện
đa khoa tỉnh Bình Định đã được tác giả đề cập là chưa quy định mức phân bổ cho các nguồn kinh phí, việc phân loại chứng từ và luân chuyển chứng từ kế toán giữa các bộ phận chưa thống nhất, còn chồng chéo Phân công nhiệm vụ cho nhân viên
kế toán chưa phù hợp Sau khi nêu lên thực trạng công tác kế toán tại đơn vị, tác giả
đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tại bệnh viện và cũng đề nghị tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán
Tiếp theo là luận văn của tác giả Bùi Mỹ Lý (2016) về “Hoàn thiện công tác
kế toán tại Bệnh viện chỉnh hình và phục hồi chức năng Đà Nẵng” đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác lập dự toán và sử dụng kinh phí, tăng nguồn thu, tiết kiệm chi phục vụ cho việc tự chủ tài chính và quản trị tại đơn vị
Luận văn Thạc sỹ về “Tăng cường quản lý tài chính tại Bệnh viện Đa khoa huyện Gia Lộc, Tỉnh Hải Dương” của tác giả Đỗ Thị Thành (2015) đã có nhiều đóng góp trong việc nâng cao hiệu quả trong công việc quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính, củng cố phương thức chi trả BHYT, quản lý tốt nguồn thu tại Bệnh viện
Tiếp theo là nghiên cứu của tác giả Đặng Công Văn (2019) về “Hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện tâm thần Thành phố Đà Nẵng trong điều kiện áp dụng chế độ kế toán hành chính sự nghiệp mới” đã đưa ra được lý luận cơ bản về cơ chế quản lý tài chính và công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp có thu Nắm được những nội dung cơ bản và những điểm khác của Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 về việc hướng dẫn Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp thay cho Quyết định 19/2006/QĐ-BTC Tác giả đã đánh giá thực trạng công tác kế toán tại một số nội dung chủ yếu của bệnh viện và đưa ra phương án để hoàn thiện công tác kế toán theo chế độ hành chính sự nghiệp mới Đề xuất những thông tin quản trị nội bộ mà
Trang 17kế toán cần cung cấp thông tin cho lãnh đạo đơn vị nhằm phục vụ công tác, điều hành, quản lý bệnh viện
Luận văn tác giả Nguyễn Thị Ngọc (2019) về “Cơ chế tự chủ tài chính Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình” đã đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính và tình hình thực hiện tự chủ tài chính tại bệnh viện Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện
cơ chế tự chủ tài chính và hướng đến tự chủ hoàn toàn về chi thường xuyên
Một nghiên cứu khác đã được đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ II, số tháng 7/2016, ThS Trần Đức Chung đã nghiên cứu đề tài “Kế toán quản trị đối với ĐVSNCL trong nền kinh tế hội nhập” đã đề cập đến việc cung cấp thông tin kế toán cho nhà quản lý của ĐVSNCL Bài báo cũng nêu lên tầm quan trọng của kế toán quản trị trong công tác kế toán và công tác quản lý kinh tế tài chính của một đơn vị Trong đó việc tính đúng, tính đủ các yếu tố đầu vào và tổ chức tốt công tác thu thập,
xử lý, phân tích, cung cấp thông tin để phục vụ yêu cầu quản lý có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các ĐVSNCL có thu Tác giả cũng đã nêu lên những tồn tại cần phải cải thiện của kế toán quản trị mà ảnh hưởng đến toàn
bộ công tác kế toán tại ĐVSNCL
Cuối cùng, trong nghiên cứu về công tác kế toán tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình của tác giả Lê Thị Thúy Hằng (2017) về “Hoàn thiện tổ chức kế toán tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình” Qua kết quả nghiên cứu của tác giả đã khẳng định công tác tổ chức công tác kế toán và công tác quản lý tài chính của đơn vị có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tổ chức công tác kế toán khoa học sẽ giúp cung cấp tốt về thông tin cho công tác quản lý tài chính của đơn vị Tuy nhiên, công tác kế toán của các đơn vị ngành Y tế hiện nay còn nhiều bất cập và chưa phù hợp, do vậy việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán của các đơn vị là rất cần thiết như nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của nhân viên kế toán, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong lĩnh vực này
1.2 Cơ sở lý luận về tự chủ tài chính tại bệnh viện
Bệnh viện công lập là một loại hình của ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực
y tế được xác định dựa theo các tiêu chí sau: Có văn bản quyết định thành lập của
Trang 18cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương; được Nhà nước cấp kinh phí và tài sản để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện một số khoản thu theo quy định của Nhà nước; có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ Nhà nước quy định; là đơn vị độc lập, có
tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng mở tại Kho bạc Nhà nước
Các đơn vị BVCL hoạt động trong ngành y tế, với quy mô hoạt động khác nhau nhưng đều có một số đặc điểm, vai trò nhất định như: Thứ nhất, BVCL là một
tổ chức hoạt động theo nguyên tắc cung cấp dịch vụ công ra ngoài xã hội
Thứ hai, sản phẩm của BVCL mang lại lợi ích chung cho toàn xã hội, có tính bền vững và gắn bó mật thiết với quá trình tạo ra của cải vật chất Những sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp y tế tạo ra chủ yếu là những sản phẩm có giá trị về chăm sóc sức khoẻ Đó là những “hàng hoá công cộng” và có hai đặc điểm cơ bản:
“không loại trừ” và “không tranh giành” tức là việc tiêu dùng của Người này không loại trừ việc tiêu dùng của Người khác và không có ai có thể can thiệp ngăn chặn việc Người khác sử dụng sản phẩm dịch vụ đó Hàng hóa của dịch vụ y tế mang lại sức khoẻ, tri thức, những hiểu biết cần thiết, giúp cho sự phát triển toàn diện của con Người Vì vậy, hoạt động y tế luôn gắn bó cơ hữu và có tác động tích cực đến quá trình tái sản xuất xã hội
Thứ ba, các hoạt động của BVCL bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tổ chức, đảm bảo hoạt động sự nghiệp y tế để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội như: Chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình, chương trình phòng chống một số bệnh dịch nguy hiểm cho xã hội, chương trình xoá đói giảm nghèo Với những chương trình mục tiêu quốc gia này chỉ có nhà nước mà cụ thể ở đây là các ĐVSNCL, BVCL mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả bởi nếu để tư nhân thực hiện họ sẽ vì mục tiêu lợi nhuận là chính mà ít quan tâm đến mục tiêu xã hội dẫn đến hạn chế việc tiêu dùng, làm giảm hiệu quả công bằng xã hội
- Thứ tư, các BVCL có nguồn thu hợp pháp từ hoạt động sự nghiệp y tế Được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, các BVCL cung cấp
Trang 19những dịch vụ công nhằm thoả mãn nhu cầu thiết yếu của Người dân Nhìn chung nguồn tài chính cơ bản phục vụ cho hoạt động của các BVCL do NSNN cấp Tuy nhiên, với những khó khăn của NSNN và sự phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ
y tế và với mục tiêu bảo đảm tính hiệu quả trong các hoạt động của các BVCL, Nhà nước đã cho phép các đơn vị này thực hiện theo cơ chế TCTC thông qua việc giao quyền chủ động trong việc khai thác các nguồn thu trong phạm vi chức năng và nhiệm vụ của đơn vị và quyết định một số khoản chi tại đơn vị một cách linh hoạt, phù hợp với các quy định đã được ban hành
Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, mức độ tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên và theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định cơ chế
tự chủ của ĐVSNCL thì các ĐVSNCL nói chung và BVCL nói riêng được chia thành 4 loại:
BVCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư: Là đơn vị có nguồn thu
sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên và hoạt động đầu tư, mức độ tự bảo đảm chi phí của hai hoạt động này bằng hoặc lớn hơn 100%
BVCL tự bảo đảm chi thường xuyên: Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm chi thường xuyên, bao gồm cả nguồn NSNN đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chi phí
BVCL tự bảo đảm một phần chi thường xuyên: Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được NSNN cấp, có mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị được tính từ 10% đến dưới 100% (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí)
BVCL do Nhà nước bảo đảm hoàn toàn chi thường xuyên là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có, được NSNN đảm bảo toàn bộ hoạt động chi thường xuyên tại đơn vị
Mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị xác định bằng công thức:
Trang 20So với Nghị định 43/2006/NĐ-CP, thì quy định tại Nghị định mới bổ sung thêm loại hình ĐVSNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư Mỗi loại hình đơn vị sự nghiệp được quy định rõ: Nguồn tài chính của đơn vị; sử dụng nguồn tài chính; phân phối kết quả tài chính trong năm
1.2.1 Khái niệm và vai trò tự chủ tài chính tại bệnh viện
a) Khái niệm Cơ chế TCTC của các BVCL hiện nay được quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ, trong đó các BVCL được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tạo lập và sử dụng các nguồn tài chính để thực hiện các nhiệm vụ trong lĩnh vực hoạt động của mình
Việc thực hiện cơ chế TCTC giúp tăng Cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các BVCL về các mặt hoạt động tài chính, tổ chức bộ máy, biên chế qua đó làm tăng chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ công tại đơn vị
Việc ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định cơ chế tự chủ của ĐVSNCL được đánh giá là bước đột phá mới trên lộ trình đổi mới toàn diện, cơ cấu lại các ĐVSNCL, tăng cường giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp Cơ chế, chính sách này nhận được sự đồng thuận cao của các cấp, các ngành khi “cởi trói” cho các ĐVSNCL phát triển, giảm áp lực tài chính cho NSNN và thực hiện Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 về
cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập
b) Vai trò của tự chủ tài chính đối với các bệnh viện công lập
Trang 21Một là, cân đối giữa việc hình thành, tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đáp ứng các yêu cầu hoạt động của các BVCL Do đó, cơ chế phải được xây dựng phù hợp với loại hình hoạt động của đơn vị nhằm tăng cường và tập trung nguồn lực tài chính, đảm bảo sự linh hoạt, năng động và phong phú đa dạng về hình thức, giúp cho bệnh viện hoàn thành tốt nhiệm vụ được nhà nước giao
Hai là, tác động đến quá trình chi tiêu NSNN, ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ của bệnh viện Vì vậy, cơ chế đó phải khắc phục được tình trạng lãng phí các nguồn tài chính, đồng thời khuyến khích sử dụng tiết kiệm trong chi tiêu và tôn trọng nhiệm vụ và hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của bệnh viện
Ba là, góp phần tạo hành lang pháp lý cho quá trình tạo lập và sử dụng nguồn tài chính trong bệnh viện Nó được xây dựng trên quan điểm thống nhất và hợp lý,
từ việc xây dựng các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu đến quy định về cấp phát, kiểm tra, kiểm soát quá trình chi tiêu nhằm phát huy vai trò của cơ chế tự chủ tài chính, đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô Xây dựng cơ chế tự chủ tài chính phải quan tâm về
tổ chức bộ máy, đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ cán bộ, kế hợp với tăng Cường chế độ thống nhất chỉ huy, trách nhiệm của giám đốc bệnh viện
1.2.2 Nội dung của việc tự chủ tài chính tại Bệnh viện:
Việc thực hiện cơ chế TCTC tại các ĐVSNCL nói chung và BVCL nói riêng được quy định cụ thể trong Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế
và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập và được thay thế trong Nghị định
số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập và thực hiện Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập; các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính Cụ thể như sau:
Tự chủ trong quản lý nguồn thu
a) Nguồn thu của bệnh viện gồm:
Trang 22- Nguồn NSNN cấp một phần hoặc toàn bộ cho các nhiệm vụ chi thường xuyên đối với ĐVSNCL tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và ĐVSNCL được NSNN bảo đảm hoàn toàn
- Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ sự nghiệp công, bao gồm cả nguồn NSNN đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công:
+ Đối với ĐVSNCL tự bảo đảm chi đầu tư và chi thường xuyên và ĐVSNCL
tự bảo đảm chi thường xuyên là giá đã tính đủ chi phí
+ Đối với ĐVSNCL tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và đơn vị được NSNN đảm bảo hoàn toàn chi thường xuyên: giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí
- Nguồn thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật được để lại chi theo quy định (phần được để lại chi thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết
bị, tài sản phục vụ công tác thu phí);
- Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật (nếu có);
- Nguồn Ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ chi không thường xuyên (nếu có), gồm: Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của các cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển, kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao;
- Nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho (nếu có) theo quy định của pháp luật
b) Nội dung về tự chủ các khoản thu, mức thu
- Về các khoản thu và mức thu, bệnh viện được tự chủ theo hình thức sau:
+ Thu đúng, thu đủ các loại phí, lệ phí theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Trường hợp có quy định của Nhà nước về khung giá thu thì đơn vị căn cứ nhu cầu chi phục vụ hoạt động, khả năng đóng góp của xã hội để quyết định mức thu cụ thể cho phù hợp với từng loại hoạt động sự nghiệp, từng đối tượng nhưng không được vượt quá mức khung do cơ quan có thẩm
Trang 23quyền quy định Đơn vị thực hiện chế độ miễn, giảm cho các đối tượng chính sách
xã hội theo quy định của Nhà nước
+ Đối với sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được thực hiện theo cơ chế đặt hàng bởi cơ quan nhà nước thì mức thu theo đơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; trường hợp sản phẩm chưa được cơ quan có thẩm quyền quy định giá, thì mức thu được xác định trên cơ sở dự toán chi phí được cơ quan tài chính cùng cấp thẩm định chấp thuận
+ Đối với những hoạt động dịch vụ thực hiện theo hợp đồng với các tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước, các hình thức hợp tác LDLK, huy động nguồn lực XHH, bệnh viện được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc đảm bảo đủ bù đắp chi phí và có tích lũy
Có thể thấy cơ chế quản lý đối với nguồn ngoài ngân sách linh hoạt hơn, mang tính thị trường hơn so với nguồn NSNN cấp, tính tự chủ tự chịu trách nhiệm của các BVCL từ đó được tăng cường hơn
Tự chủ trong quản lý các khoản chi tại đơn vị:
a) Chi đầu tư từ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, nguồn vốn vay và các nguồn tài chính hợp pháp khác (Chỉ áp dụng đối với ĐVSNCL tự bảo đảm chi đầu
tư và chi thường xuyên):
- Căn cứ nhu cầu đầu tư và khả năng cân đối các nguồn tài chính, đơn vị chủ động xây dựng danh mục các dự án đầu tư, báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Trên cơ sở danh mục dự án đầu tư đã được phê duyệt, đơn vị quyết định dự
án đầu tư, bao gồm các nội dung về quy mô, tổng mức vốn, phương án xây dựng, nguồn vốn, giai đoạn triển khai, thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư
- ĐVSNCL được vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng theo quy định
- Căn cứ yêu cầu phát triển của đơn vị, Nhà nước xem xét bố trí vốn cho các dự
án đầu tư đang triển khai, các dự án đầu tư khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền
b) Chi thường xuyên:
Trang 24- Đơn vị được chủ động sử dụng các nguồn tài chính giao tự chủ để chi thường xuyên Một số nội dung chi được quy định như sau:
* Đối với ĐVSNCL tự bảo đảm chi đầu tư và chi thường xuyên và ĐVSNCL
tự bảo đảm chi thường xuyên:
- Chi tiền lương: Đơn vị chi trả tiền lương theo lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với đơn vị sự nghiệp công Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương, đơn vị tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị (ngân sách nhà nước không cấp bổ sung)
- Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý
+ Đối với các nội dung chi đã có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Căn cứ vào khả năng tài chính, đơn vị được quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị;
+ Đối với các nội dung chi chưa có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Căn cứ tình hình thực tế, đơn vị xây dựng mức chi cho phù hợp theo quy chế chi tiêu nội bộ và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình
- Riêng đối với ĐVSNCL tự bảo đảm chi đầu tư và chi thường xuyên: Đơn
vị được trích khấu hao tài sản cố định theo quy định Tiền trích khấu hao tài sản hình thành từ nguồn vốn ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách được hạch toán vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
* Đối với ĐVSNCL tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và ĐVSNCL được NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí:
- Chi tiền lương: Đơn vị chi trả tiền lương theo lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với đơn vị sự nghiệp công Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương, đơn vị tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định; trường hợp còn thiếu, ngân sách nhà nước cấp bổ sung;
- Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý: Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn,
Trang 25chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
c) Chi nhiệm vụ không thường xuyên: Đơn vị chi theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và pháp luật hiện hành đối với nguồn thu từ phí, lệ phí được để lại chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí và nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên, nguồn viện trợ, nguồn vay hay nguồn khác;
Đơn vị sự nghiệp công phải thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về mức chi, tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô; tiêu chuẩn, định mức về nhà làm việc; tiêu chuẩn, định mức trang bị điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại di động; chế độ công tác phí nước ngoài; chế độ tiếp khách nước ngoài và hội thảo quốc tế ở Việt Nam
d) Về phân phối kết quả tài chính trong năm:
Hàng năm, sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên (nếu có), đơn vị được sử dụng theo trình tự như sau:
* Đối với ĐVSNCL tự bảo đảm chi đầu tư và chi thường xuyên:
Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập: Đơn vị được tự quyết định mức trích Quỹ
bổ sung thu nhập (không khống chế mức trích);
Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị;
Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật;
Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
* Đối với ĐVSNCL tự bảo đảm chi thường xuyên: Phân phối kết quả tài chính trong năm theo quy định như đối với ĐVSNCL tự bảo đảm chi đầu tư và chi thường xuyên Riêng trích lập Quỹ bổ sung thu nhập tối đa không quá 3 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định
Trang 26* Đối với ĐVSNCL do NSNN đảm bảo một phần chi thường xuyên, việc trích lập các quỹ theo trình tự như sau:
Trích tối thiểu 15% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập tối đa không quá 2 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định;
Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 2 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị;
Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật;
Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ thực hiện trong năm, đơn vị được quyết định sử dụng theo trình tự sau: Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập; Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ khác (nếu có)
* Đối với ĐVSNCL do NSNN đảm bảo chi thường xuyên, việc trích lập các quỹ theo trình tự như sau:
Trích tối thiểu 5% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập tối đa không quá 01 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định;
Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 01 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị;
Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật;
Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ thực hiện trong năm, đơn vị được quyết định mức trích vào các quỹ cho phù hợp theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
Mức trích cụ thể và việc sử dụng các quỹ do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ và phải công khai trong đơn vị Nội dung chi từ các quỹ thực hiện theo quy định như sau:
Trang 27Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: Để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc; phát triển năng lực hoạt động sự nghiệp; chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ; đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho người lao động trong đơn vị; góp vốn liên doanh, liên kết với các
tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước (đối với đơn vị được giao vốn theo quy định)
để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và các khoản chi khác (nếu có)
Quỹ bổ sung thu nhập: Để chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong năm và dự phòng chi bổ sung thu nhập cho người lao động năm sau trong trường hợp nguồn thu nhập bị giảm Việc chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác Hệ số thu nhập tăng thêm của chức danh lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công tối đa không quá 2 lần hệ số thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện của người lao động trong đơn vị
Quỹ khen thưởng: Để thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị (ngoài chế độ khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua khen thưởng) theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị Mức thưởng
do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
Quỹ phúc lợi: Để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi; chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chi thêm cho người lao động thực hiện tinh giản biên chế
Tự chủ trong quản lý và sử dụng tài sản của bệnh viện
Bệnh viện thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập Đối với TSCĐ không hình thành từ nguồn vốn NSNN cấp, sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực hiện việc trích khấu hao và thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp có vốn nhà nước Số tiền trích khấu hao TSCĐ và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước, bệnh viện được để lại bổ sung
Trang 28quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
Số tiền trích khấu hao, tiền thu thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn vay được dùng để trả nợ vay Trường hợp đã trả đủ nợ vay, bệnh viện được để lại bổ sung Quỹ PTHĐSN đối với số còn lại (nếu có)
Cơ chế kiểm tra, kiểm soát tài chính
Bệnh viện thực hiện kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên theo Thông tư số 62/2020/TT-BTC ngày 22/6/2020 của Bộ Tài chính hướng dẫn kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên từ NSNN qua kho bạc Nhà nước Đối với đơn vị
sự nghiệp y tế công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm Cụ thể như sau:
Bệnh viện thực hiện việc hạch toán kế toán theo đúng chế độ kế toán áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp công lập
Mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để thuận tiện cho quá trình kiểm tra kiểm soát các khoản chi qua kho bạc nhà nước
Đối với các khoản thu, chi dịch vụ, LDLK, bệnh viện có thể mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước hoặc ngân hàng để giao dịch thanh toán Kho bạc nhà nước không kiểm soát các khoản thu, chi này của bệnh viện
Tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trong quá trình chi trả, thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toán NSNN được cấp có thẩm quyền giao; đúng chế độ tiêu chuẩn, định mức chi NSNN do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc mức chi theo quy chế chi tiêu nội bộ do bệnh viện quy định; được giám đốc bệnh viện sự nghiệp hoặc người được uỷ quyền quyết định chi
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tự chủ tài chính tại Bệnh viện
Tự chủ tài chính được coi là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển của các ĐVSNCL nói chung và BVCL nói riêng nhằm phù hợp với cơ chế thị trường, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và nhu cầu ngày càng cao của người dân Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện TCTC, bệnh viện sẽ chịu ảnh hưởng của một vài nhân tố chủ quan và khách quan
Trang 29SƠ ĐỒ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH
Sơ đồ 1.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến tự chủ tài chính của bệnh viện
Nguồn: Phòng Kế hoạch tổng hợp - Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì 1.2.3.1 Các nhân tố chủ quan
Cơ chế tự chủ tài chính tại bệnh viện chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan như:
* Chiến lược mở rộng phát triển của bệnh viện;
Đây là nhân tố có vai trò quan trọng trong việc định hướng, thúc đẩy bệnh viện đề ra các giải pháp nhằm tăng cường các nguồn lực tài chính ngoài nguồn thu
Trang 30từ viện phí Bệnh viện đã tăng cường khai thác, tìm kiếm các đối tác hợp tác LDLK, tranh thủ nguồn vốn XHH, huy động từ chính CBVC và người lao động trong bệnh viện để mở rộng thêm một số hoạt động dịch vụ khám chữa bệnh chất lượng cao như dịch vụ giường bệnh theo yêu cầu, dịch vụ chụp city scanner với máy móc trang thiết bị hiện đại, hoạt động hiệu quả để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Nhờ đó mà nguồn thu tại đơn vị ngày càng tăng, góp phần cải thiện thu nhập cho người lao động trong bệnh viện đồng thời có tích lũy tạo nguồn đầu tư trang thiết bị hiện đại hơn nữa phát triển, mở rộng trong tương lai Chiến lược mở rộng phát triển bệnh viện giúp tăng thu từ đó giảm gánh nặng cho NSNN vốn đang hạn hẹp, tăng thêm tính tự chủ của bệnh viện trong thực hiện các nhiệm vụ Trong quá trình phát triển tại các bệnh viện công thì đây là một nhân tố quan trọng không thể thiếu trong việc thực hiện theo cơ chế tự chủ tài chính tại đơn vị
* Trình độ quản lý, tổ chức bộ máy; năng lực, nhận thức của đội ngũ CBVC
và người lao động trong trong toàn bệnh viện
Công tác tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ cán bộ, y bác sỹ và người lao động trong bệnh viện có ảnh hưởng quan trọng trong việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại bệnh viện Với bộ máy gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả, quản lý thống nhất
từ trên xuống dưới; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban, các bộ phận; bố trí lao động phù hợp với trình độ, năng lực; tinh giản lao động thừa hoặc làm việc không hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị, thực hiện tăng thu, tiết kiệm chi, cải thiện đời sống của CBVC trong toàn bệnh viện
Song song với việc phát triển trình độ chuyên môn, thì nhận thức của đội ngũ CBVC và người lao động trong bệnh viện cũng ảnh hưởng không nhỏ trong việc thực hiện theo cơ chế TCTC Cần phải thay đổi trong suy nghĩ và hành động của cả lãnh đạo bệnh viện cũng như đội ngũ y bác sỹ, phải coi người bệnh là khách hàng của mình Nếu bệnh viện phục vụ không tốt, nhân viên y tế phục vụ không chu đáo thì người dân
sẽ lựa chọn khám chữa bệnh ở một bệnh viện khác, bởi hiện nay những người có thẻ BHYT có thể đến bất cứ bệnh viện nào trong cùng tuyến huyện và từ năm 2021 sẽ liên thông tuyến tỉnh Khi bệnh nhân không đến nữa thì sẽ không có nguồn thu và bệnh
Trang 31viện chắc chắn rơi vào tình trạng khó khăn Làm sao để khi người bệnh đến, họ và gia đình hài lòng, là thách thức không nhỏ đối với bệnh viện hiện nay
* Chất lượng khám, chữa bệnh; thái độ phục vụ bệnh nhân của đội ngũ nhân viên y tế trong bệnh viện;
Muốn thu hút càng nhiều bệnh nhân có nhu cầu đến khám chữa bệnh tại đơn
vị, giúp tăng nguồn thu thì bên cạnh việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, chất lượng khám chữa bệnh và thái độ phục vụ chăm sóc bệnh nhân cũng là một trong những nhân tố tác động hàng đầu Bệnh viện cần chú trọng trong việc phát triển, đào tạo chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý; phát triển chuyên môn kỹ thuật đội ngũ y, bác sĩ của bệnh viện, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, bởi nếu chuyên môn yếu, bệnh viện sẽ phải chuyển bệnh nhân lên tuyến trên thì sẽ mất nguồn thu
Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, bản thân bệnh viện cũng có tính chất gần giống doanh nghiệp là cung cấp dịch vụ ra ngoài xã hội, vì vậy phải luôn coi trọng khách hàng “bệnh nhân” như thượng đế, coi trọng chất lượng khám chữa bệnh, có thái độ săn sóc phục vụ nhiệt tình bệnh nhân để họ cảm thấy an tâm tin tưởng bệnh viện, luôn lựa chọn bệnh viện là ưu tiên khi có nhu cầu khám chữa bệnh
* Khả năng ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý và khám chữa bệnh tại bệnh viện
Khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng trong mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, là một trong những chìa khóa mở ra sự phát triển kinh tế xã hội Làm chủ công nghệ là một đòi hỏi tất yếu để nâng cao hiệu quả hoạt động của bệnh viện Công nghệ và thiết bị phù hợp sẽ quyết định đến năng suất lao động, chất lượng dịch vụ, hiệu quả đào tạo và giảm các loại chi phí có liên quan Bên cạnh đó, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học tiên tiến vào khám chữa bệnh giúp tăng hiệu quả hoạt động quản lý, tránh thất thoát trong quá trình thực hiện Vì thế việc ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ trong bệnh viện là một trong những nhân tố quyết định tới sự phát triển của bệnh viện trong quá trình thực hiện cơ chế
tự chủ về tài chính
Trang 32* Cơ chế quản lý của bệnh viện
Việc tổ chức quản lý thu, chi tại bệnh viện có thực hiện tốt, tăng hiệu quả quản lý thì mới có thể giảm thất thoát, lãng phí cho bệnh viện và tạo nhiều nguồn thu cho bệnh viện Hiện nay, việc quản lý thu - chi tại bệnh viện vẫn còn tồn tại tình trạng thất thoát như thất thu trong khám chữa bệnh ngoại trú, đặc biệt là các dịch vụ khám và xét nghiệm, thất thu trong điều trị nội trú; Việc thực hiện các khoản chi còn chưa thực
sự hiệu quả, hợp lý, gây lãng phí nguồn lực
Để việc thực hiện tự chủ về tài chính mang lại hiệu quả cao thì công tác tổ chức quản lý thu chi tại bệnh viện cần phải:
+ Về nguồn thu: Phải tổ chức lập kế hoạch, dự toán thật khoa học, chính xác
và kịp thời Đề ra các biện pháp tổ chức thu thích hợp đối với các nguồn thu viện phí, thu dịch vụ và các khoản thu khác để tránh tình trạng thất thoát nguồn thu
+ Về các khoản chi: bệnh viện cần phải tổ chức chặt chẽ từ khâu xây dựng kế hoạch, dự toán, xây dựng định mức; thường xuyên phân tích, đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện các khoản chi để đạt được hiệu quả và tiết kiệm trong việc quản lý các khoản chi tại bệnh viện
* Công tác kiểm tra, kiểm soát tình hình tài chính của bệnh viện
Trong quá trình thực hiện tự chủ tài chính tại bệnh viện, bên cạnh những mặt tích cực vẫn còn tồn tại những sai sót khó tránh khỏi làm ảnh hưởng đến hoạt động của bệnh viện như chế độ chính sách, quản lý thu chi tài chính, hạch toán nhầm lẫn, sai sót nghiệp vụ Vì vậy, công tác kiểm tra, kiểm soát tại bệnh viện là điều rất cấp thiết Hệ thống kiểm tra kiểm soát tình hình tài chính của bệnh viện gồm kiểm soát nội bộ và việc kiểm soát của các cơ quan chức năng có thẩm quyền ngoài đơn vị như là việc kiểm tra của các cơ quan thanh tra, kiểm toán, cơ quan thuế…Việc kiểm tra, kiểm soát thường xuyên sẽ giúp đơn vị phát hiện kịp thời các sai sót và có biện pháp khắc phục, xử lý, giúp cho việc sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả, đóng góp vào việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại bệnh viện
1.2.3.2 Các nhân tố khách quan:
Ngoài các nhân tố chủ quan, việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các bệnh viện công lập cũng chịu ảnh hưởng bởi nhân tố khách quan như:
Trang 33* Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Là đơn vị do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, có chức năng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe, vì vậy hoạt động của bệnh viện công lập cũng chịu ảnh hưởng bởi các chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước như các chính sách thu một phần viện phí (1989), Pháp lệnh Hành nghề y dược tư nhân (1993 và sửa đổi năm 2003), chính sách về bảo hiểm y tế (1992), chính sách miễn, giảm viện phí cho người có công với nước, người nghèo (1994), chính sách “xã hội hóa” và giao quyền tự chủ về tài chính cho các cơ sở y tế công lập Việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại bệnh viện công lập ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng bởi các chính sách này
Cơ chế quản lý tài chính do Nhà nước ban hành bao gồm xây dựng nguồn thu và định mức thu, nội dung chi và định mức chi tiêu, cùng các quy định về cấp phát, kiểm tra, kiểm soát quá trình tạo lập các quỹ tài chính của đơn vị nhằm phát huy vai trò của cơ chế tự chủ tài chính Cơ chế quản lý tài chính trong bệnh viện là
cơ sở cho quá trình tạo lập và sử dụng nguồn tài chính, do đó ảnh hưởng đến tự chủ tài chính tại đơn vị
Các chính sách của nhà nước như: chính sách ban hành khung giá khám chữa bệnh, lộ trình tăng giá, tính đủ chi phí trong viện phí, chính sách tăng lương tối thiểu, chế độ phụ cấp đặc thù cho người lao động hoạt động trong lĩnh vực y tế… ảnh hưởng phần nào đến cơ cấu nguồn thu và việc thực hiện chi tại bệnh viện
* Chính sách mở rộng, phát triển dịch vụ y tế tại địa phương;
Việc thu hút đầu tư, phát triển mạng lưới y tế chất lượng cao trên địa bàn nơi bệnh viện hoạt động cũng có những ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển, mở rộng Khi các dự án về dịch vụ y tế này hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng thì chất lượng khám chữa bệnh tại địa phương cũng được tăng lên đáng kể, tuy nhiên tạo sức cạnh tranh và ảnh hưởng không hề nhỏ đến việc tăng nguồn thu tại bệnh viện khi thực hiện cơ chế tự chủ tài chính Bên cạnh những mặt tích cực do thu hút đầu
tư mang lại, tăng chất lượng dịch vụ y tế tại địa phương nhưng cũng tạo ra sức cạnh tranh mạnh mẽ, buộc các nhà quản lý bệnh viện cần có những giải pháp quyết liệt
Trang 34hơn để tăng chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, tăng hiệu quả hoạt động
* Sự phát triển các loại hình dịch vụ tương tự tại các bệnh viện trên địa bàn
và các vùng lân cận
Bên cạnh các dự án đầu tư mới đã và đang được triển khai tại địa phương nơi bệnh viện hoạt động thì việc phát triển các loại hình dịch vụ khám chữa bệnh khác cũng ảnh hưởng đến việc phát triển của bệnh viện Phải kể đến hiện tượng “thất thu ngầm” do sự phát triển của hệ thống y tế tư nhân ở Việt Nam bao gồm: các phòng khám, bệnh viện tư, các hiệu thuốc tư phát triển khá mạnh mẽ trong đó chủ yếu là các cơ sở với quy mô nhỏ nhưng tạo sự cạnh tranh với các bệnh viện công Tuy nhiên, có những bệnh viện, phòng khám tư cạnh tranh không lành mạnh đã thông đồng với các bác sỹ trong bệnh viện công để bác sỹ chỉ bệnh nhân ra khám ở phòng khám của mình hoặc các bác sỹ kê đơn thuốc theo yêu cầu của cửa hàng dược… Một điểm đáng chú ý là có một bộ phận không nhỏ các phòng khám tư nhân do chính các bác sỹ trong các bệnh viện công làm việc ngoài giờ và chính các bác sỹ
đó cũng kéo khách hàng của bệnh viện thành khách hàng riêng của mình
1.3 Kinh nghiệm của một số bệnh viện về tự chủ tài chính
1.3.1 Kinh nghiệm của các bệnh viện cùng hạng
1.3.1.1 Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ
Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ được thành lập từ năm 1965 với tên gọi là Bệnh viện cán bộ Từ năm 2006 đến nay, Bệnh viện được đổi tên thành Bệnh viện
đa khoa tỉnh Phú Thọ; là bệnh viện tuyến cao nhất của tỉnh Phú Thọ, được xếp loại Bệnh viện hạng I với biên chế giường bệnh 1300 giường, trong đó có 800 giường kế hoạch và 500 giường bệnh xã hội hóa; tổng số cán bộ viên chức của Bệnh viện là hơn 960 cán bộ, trong đó có 300 bác sỹ
Bệnh viện có 43 khoa, phòng (35 khoa, 7 phòng chức năng và 1 trung tâm khám chữa bệnh chất lượng cao 11 tầng) Hàng ngày bệnh viện tiếp đón trung bình từ 1.400 đến 1.600 lượt khám bệnh, người bệnh nội trú trung bình 1.800-2.000 người, do đặc điểm vị trí địa lý số bệnh nhân của các tỉnh lân cận chiếm khoảng 35%
Trang 35Với nhiều năm kinh nghiệm thực hiện tự đảm bảo một phần và đặc biệt tự đảm bảo toàn bộ kinh phí chi thường xuyên từ năm 2017, Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ đã có những bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe người bệnh Đạt được kết quả nêu trên chính là do bệnh viện đã có những bước đi đúng đắn khi thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm Bệnh viện đã đề ra các biện pháp khi thực hiện theo cơ chế tự theo tài chính như sau:
Thứ nhất, Chủ động và tăng cường trong việc huy động các nguồn xã hội hóa
để đầu tư trang thiết bị, phát triển cơ sở vật chất tại bệnh viện Cơ chế tự chủ đã phát huy tính năng động của bệnh viện, khuyến khích và tạo điều kiện trong việc huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách để đầu tư, phát triển các hoạt động sự nghiệp, tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận các dịch vụ kỹ thuật y tế tiên tiến hiện đại đồng thời tăng nguồn thu cho bệnh viện Phát triển kỹ thuật, nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị, từng bước đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng
đa dạng của các tầng lớp nhân dân như: phẫu thuật bắc cầu động mạch; điều trị ung thư đồng bộ 4 phương pháp, phẫu thuật sọ não trong chấn thương sọ não, đột quỵ não, u não; can thiệp mạch não, mạch gan, mạch vành; phẫu thuật mạch máu dưới kính hiển vi; ghép thận; phẫu thuật tim mở; thay khớp nhân tạo Chính vì vậy, người bệnh đến khám chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ đã được tiếp cận với những dịch vụ kỹ thuật công nghệ cao như hệ thống siêu lọc, máy CT 128 dãy, máy Cộng hưởng từ 1.5 tesla…
Thứ hai, Điều chỉnh mức giá thu dịch vụ khám, chữa bệnh theo yêu cầu thực
tế của bệnh viện nhưng đảm bảo không vượt mức giá quy định chung của Nhà nước Đảm bảo tự chủ về tài chính hoàn toàn tức là đơn vị phải đảm bảo được nguồn thu, trong đó có cơ chế thoáng về giá dịch vụ Nghị quyết số 33/NQ-CP cũng nêu rõ giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế áp dụng theo khung bảng giá do Bộ Y tế ban hành; Giá dịch vụ theo yêu cầu, bệnh viện được quyền quyết định trong phạm vi khung giá do Bộ Y tế ban hành (tính đủ các yếu tố chi phí hình thành giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, có tích lũy trên cơ sở tham khảo giá của các bệnh viện tư nhân và các bệnh viện có vốn đầu tư ở nước ngoài tại Việt Nam )
Trang 36Do vậy, việc tạo cơ chế thoáng về giá dịch vụ giúp bệnh viện đã và đang tạo được tính cạnh tranh, nâng thương hiệu bệnh viện đối với người bệnh
Thứ ba, không ngừng nâng cao tinh thần trách nhiệm phục vụ, tuyên truyền,
giáo dục cán bộ y tế thực hiện nghiêm Quy tắc ứng xử của cán bộ y tế; đổi mới quy trình tiếp đón, hướng dẫn người bệnh; thành lập phòng công tác xã hội nhằm kịp thời giải quyết vướng mắc cho người bệnh trong quá trình khám, điều trị Thực hiện theo
cơ chế tự chủ tài chính là hoàn toàn không có nguồn cung cấp tài chính từ nguồn NSNN đồng nghĩa với việc người bệnh sẽ là người trả lương cho mình, vậy nên việc thu hút người dân đến khám chữa bệnh tại bệnh viện là điều tối quan trọng Do đó, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, bác sĩ, người lao động Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ cần có những thay đổi trong nhận thức, tinh thần thái độ phục vụ tốt hơn, năng động hơn trong quản lý, chặt chẽ hơn trong tổ chức để đảm bảo nâng cao chất lượng bệnh viện Cán bộ y tế và người lao động phải nỗ lực thay đổi vì sự hài lòng người bệnh
Thứ tư, nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực khám chữa bệnh của đội ngũ
y bác sỹ trong bệnh viện Tự chủ không có nghĩa là chạy theo lợi ích kinh doanh, tìm mọi cách tăng nguồn thu, điều quan trọng nhất là tạo uy tín để thu hút người dân, người bệnh đến với bệnh viện; xem người bệnh là trung tâm Do vậy, ngoài việc triển khai dịch vụ kỹ thuật mới, trang thiết bị hiện đại, cơ sở vật chất khang trang, đổi mới tinh thần thái độ phục vụ tiến đến sự hài lòng người bệnh thì bệnh viện cũng luôn chú trọng việc đào tạo, đào tạo liên tục và đào tạo lại đội ngũ y, bác
sĩ, người lao động về chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp, để nâng cao chất lượng phục vụ, sánh ngang với các bệnh viện trong khu vực và quốc tế Các cán bộ, nhân viên của bệnh viện luôn được khuyến khích trau dồi kiến thức, kỹ năng và ngoại ngữ, những hội thảo trong nước, quốc tế cập nhật phác đồ điều trị, những khóa học ngắn hạn, dài hạn tại nước ngoài… được tổ chức thường xuyên
Thứ năm, thực hiện những biện pháp đa dạng hóa loại hình dịch vụ để thu
hút người bệnh, trong đó tập trung phát triển những khu khám theo yêu cầu, những khoa phòng chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu của những người bệnh có điều kiện Tuy nhiên, để có thể đa dạng hóa các loại hình dịch vụ thì vẫn cần bổ sung nguồn
Trang 37nhân lực chất lượng Chính vì thế, bệnh viện đã xây dựng đội ngũ cán bộ nhân viên chuyên môn giỏi và nghiệp vụ tốt Những cán bộ, nhân viên này phải không ngừng nâng cao nghiệp vụ, bồi dưỡng về y đức cũng như thái độ phục vụ người bệnh làm sao để làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Bệnh viện coi người bệnh
là khách hàng, làm hài lòng khách hàng vì chính họ sẽ là người nuôi bệnh viện cũng như cán bộ nhân viên, đó chính là mấu chốt của vấn đề
Việc thực hiện TCTC đã làm cho thu nhập của cán bộ được cải thiện đáng kể Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ đã thực hiện tự đảm bảo toàn bộ kinh phí chi thường xuyên nên có chính sách đầu tư cho nhân lực, vật lực, chăm lo đời sống cán bộ, nhân viên Hiện tại, đời sống cán bộ nhân viên trong bệnh viện đã được đảm bảo, năm sau tăng cao hơn năm trước Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ xây dựng và có lộ trình xem xét thăng tiến, bổ nhiệm đối với từng cá nhân có triển vọng ở các vị trí hay các cấp quản
lý khác nhau, không ngừng đầu tư phát triển nguồn nhân lực, công nghệ thông tin và cơ
sở vật chất hiện đại, cải thiện môi trường làm việc và phát triển thương hiệu Bệnh viện
vệ tinh
1.3.1.2 Bệnh viện đa khoa huyện Hoài Đức:
Bệnh viện đa khoa huyện Hoài Đức được thành lập ngày 20/7/1965, trên cơ sở một phân viện của Bệnh viện Hà Đông Khi mới thành lập, bệnh viện chỉ có 50 giường bệnh với 13 cán bộ, viên chức Đến nay, Bệnh viện là bệnh viện đa khoa hạng II, là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của huyện và các huyện lân cận trong Thành phố, có đội ngũ cán bộ chuyên khoa cơ bản có trình độ chuyên môn sâu và
có trang thiết bị thích hợp, đủ khả năng hỗ trợ cho bệnh viện hạng III Bệnh viện có
370 giường bệnh với 24 khoa, phòng chức năng và tổng số 345 cán bộ
Trải qua 54 năm xây dựng và phát triển, từ chỗ chỉ có một số trang thiết bị thô
sơ như: làm công thức máu bằng kính hiển vi, xét nghiệm nước tiểu bằng phương pháp so màu, máy Xquang nửa sóng, máy siêu âm đen trắng Đến nay, Bệnh viện
đã được đầu tư hệ thống máy xét nghiệm và thiết bị chuyên môn cơ bản thực hiện tốt các nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân như: máy huyết học bán tự động, máy xét nghiệm sinh hóa, máy xét nghiệm nước tiểu tự động, monitoring, máy thở,
Trang 38dao mổ điện, máy nội soi dạ dày, máy nội soi tai mũi họng… giúp cho công tác chuyên môn của Bệnh viện đạt kết quả tốt nhất
Bệnh viện đa khoa huyện Hoài Đức thực hiện tự chủ tài chính, đảm bảo toàn
bộ chi hoạt động thường xuyên từ năm 2018 Tự chủ đồng nghĩa bệnh viện phải tự kiếm tiền để nuôi sống bộ máy khám chữa bệnh tại viện, phải chú trọng về chất lượng dịch vụ y tế, cải cách hành chính, đáp ứng sự hài lòng của người bệnh cả về chất lượng khám chữa bệnh và phong cách phục vụ Vì vậy bệnh viện đã đề ra các biện pháp trong quá trình thực hiện tự chủ tài chính như sau:
Thứ nhất, thông qua cơ chế tự chủ, hoạt động liên doanh, liên kết xã hội hoá
trang thiết bị y tế đã lựa chọn được liên doanh liên kết hiện đại, tiên tiến, mới 100%
có giá trị lớn mà ngân sách nhà nước chưa đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, trình độ chuyên môn của bệnh viện Như thế sẽ giúp cho bệnh viện có thêm nguồn lực về trang thiết bị, để triển khai thêm nhiều kỹ thuật cao trong khám chữa bệnh cho nhân dân từ đó có thể giúp cho bệnh nhân phát hiện được các bệnh
Thứ hai, bệnh viện đa dạng các loại hình khám chữa bệnh theo yêu cầu,
giường theo yêu cầu, dịch vụ tư vấn tái khám, hệ thống nhà thuốc bệnh viện, căn – tin, quầy dinh dưỡng bệnh viện để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của bệnh nhân, đồng thời góp phần làm tăng nguồn thu cho bệnh viện trong khi nguồn ngân sách nhà nước cấp còn hạn hẹp
Thứ ba, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng kịp thời
với những kỹ thuật hiện đại nhằm phục vụ người bệnh được tốt hơn
Thứ tư, chú trọng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh; thái độ chăm sóc,
phục vụ người bệnh; giản gọn trong quy trình giải quyết thủ tục hành chính tại bệnh viện, giảm thời gian chờ đợi cho bệnh nhân đến thăm khám và điều trị tại bệnh viện
Năm 2019, bệnh viện đa khoa huyện Hoài Đức thực hiện công tác tự chủ tài chính đã đạt được những kết quả như sau:
+ Tiết kiệm ngân sách nhà nước để trả lương cho cán bộ, y bác sỹ, người lao động trong bệnh viện từ đó cải thiện, nâng cao đời sống của họ;
Trang 39+ Chính sách xã hội hóa ngành y đã giúp cho bệnh viện phát triển, mở rộng các dịch vụ kỹ thuật hiện đại trong khu vực góp phần giúp bệnh nhân được khám chữa bệnh với chất lượng cao
+ Góp phần làm tăng nguồn thu thông qua việc đa dạng hoá các loại hình khám chữa bệnh theo yêu cầu như khám yêu cầu theo chuyên khoa, khám và điều trị trong ngày, khám tại khoa khám bệnh theo yêu cầu, giường bệnh theo yêu cầu ;
+ Bệnh viện làm chủ được về nguồn nhân lực chất lượng cao cũng như các
kỹ thuật mới;
+ Nâng cao chất lượng bệnh viện dẫn đến giảm các thủ tục hành chính, giảm thời gian chờ đợi cho bệnh nhân
Trong những năm tiếp theo, Bệnh viện tiếp tục xây dựng kế hoạch phát triển
để nâng hạng bệnh viện lên hạng I, với quy mô 600 giường bệnh và 350 biên chế và nhiều kỹ thuật chuyên môn mũi nhọn sẽ được triển khai
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về công tác kế toán theo mô hình tự chủ tài chính
Việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các bệnh viện công lập trên cả nước nói chung về cơ bản có những điểm chung, thống nhất Tuy nhiên tùy mỗi địa phương, tùy quy mô, tính chất hoạt động mà có sự khác nhau song đều đạt đến những mục tiêu chung là tăng quyền chủ động cho các bệnh viện trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước và tăng hiệu quả hoạt động cho đơn vị, cải thiện đời sống vật chất cho người lao động trong bệnh viện Từ kinh nghiệm thực tế tổ chức hoạt động theo cơ chế tự chủ tài chính tại một số bệnh viện trên, có thể rút ra cho Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì những vấn đề trong quá trình hoàn thiện cơ chế tự chủ về chi thường xuyên và hướng tới tự chủ hoàn toàn trong tương lai gần như sau:
Tăng cường hợp tác, liên doanh liên kết, tranh thủ các nguồn xã hội hóa để đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị hiện đại phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của người bệnh;
Mở rộng, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ khám chữa bệnh chất lượng cao theo yêu cầu để đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân, đồng thời góp phần làm tăng
Trang 40nguồn thu cho bệnh viện, giảm gánh nặng ngân sách, cải thiện đời sống cho cán bộ,
y bác sỹ và người lao động trong bệnh viện, giúp học yên tâm công tác
Chú trọng công tác đào tạo, nâng cao trình độ, chất lượng khám chữa bệnh của đội ngũ y bác sỹ và người lao động trong bệnh viện để bắt kịp với công nghệ máy móc tiên tiến, hiện đại, phục vụ người bệnh được tốt hơn
Nâng cao chất lượng quản lý, công tác kế toán tại bệnh viện, giản lược các thủ tục hành chính không cần thiết, giảm thời gian chờ đợi của bệnh nhân khi đến thăm, khám tại bệnh viện
Tạo môi trường thân thiện, gắn kết bệnh viện với bệnh nhân, thái độ phục vụ nhiệt tình, chu đáo, tạo niềm tin đối với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân khi đến khám tại bệnh viện