Mục tiêu của đề tài là kiểm định tác động của cân bằng công việc và cuộc sống dẫn đến sự hài lòng trong công việc và cam kết với tổ chức của nhân viên kế toán; kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố S; đưa ra một số hàm ý chính sách cho các doanh nghiệp nhằm sử dụng lao động một cách có hiệu quả.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Lý do chọn đề tài
Trong thời đại công nghiệp, để một nhân viên vừa cân đối được công việc và cuộc sống là điều rất khó khăn, công việc và cuộc sống là hai khía cạnh quan trọng nhất của bất kỳ một cá nhân nào, mối quan hệ giữa đời sống cá nhân và công việc có thể trở nên không bền vững và rất khó cân đối Để duy trì được sự cân bằng, đòi hỏi một sự khéo léo của từng cá nhân, đặc biệt dù bạn là ai, bạn là một nhà lãnh đạo hay nhân viên xuất sắc trong tổ chức hoặc hay chỉ là một nhân viên bình thường Làm sao để giữ được sự cân bằng, dung hòa giữa các yêu cầu của công việc và yêu cầu của gia đình và cuộc sống mà không làm ảnh hưởng đến kết quả của cả hai thật sự là điều không dễ dàng Ngày nay nhân viên kế toán là những người phải chịu nhiều áp lực nhất khi mà nền kinh tế lâm vào tình hình khó khăn như hiện tại, thất nghiệp tăng, kinh doanh không hiệu quả nhiều doanh nghiệp phải chọn giải pháp cuối cùng là cho nhân viên nghỉ việc để giảm chi phí, dẫn đến một người phải đảm nhận, kiêm nhiệm nhiều công việc hơn trước với cùng một lượng thời gian tham gia công việc như cũ vì có thể nếu không đồng ý thì đồng nghĩa với việc phải nộp đơn xin thôi việc Mặc dù các doanh nghiệp hiện tại vẫn biết thực tế họ cũng rất lo lắng suy nghĩ về việc này, công việc quá tải, thu nhập của người lao động không tăng, chi phí ngày một đắt đỏ để một nhân viên cố gắn cân bằng giữa công việc và cuộc sống để gắn bó với doanh nghiệp cũng là điều khó khăn về phía doanh nghiệp
Trước thực trạng đó doanh nghiệp cũng cần phải có các chính sách đối với nhân viên của mình, cam kết tổ chức tạo niềm tin, sự hài lòng cho nhân viên Việc thực hiện cùng lúc nhiều việc tại nơi làm việc có chiếm dụng thời gian cho gia đình cho cuộc sống hay không, làm sao để một cá nhân có thể cân bằng cả công việc và cuộc sống Nhân viên văn phòng đặc biệt là nhân viên /chuyên viên kế toán là lực lượng lao động chiếm tỷ lệ lớn trong hoạt động kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp và cũng là lực lượng đông đảo nhất họ là những thành viên chính trong gia đình phải gánh vác công việc của gia đình lo cho cuộc sống gia đình song song cùng lúc với công việc ngoài xã hội
Như vậy với bối cảnh như trên, tại sao lại quan tâm đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, không phải đến thời điểm hiện tại thì chúng ta mới quan tâm đến làm sao để cân bằng nó, từ rất lâu các tại các nước công nghiệp phát triển, các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng đã thật sự quan tâm và nghiên cứu bàn luận để tìm ra giải pháp để cân bằng công việc và cuộc sống, nâng cao đời sống tinh thần, của mỗi cá nhân trong công việc và cuộc sống của họ
Theo nghiên cứu trong hai mươi lăm năm qua của các nhà nghiên cứu đã tìm cách khám phá và hiểu rõ hơn về rất nhiều hướng, trong đó vai trò công việc và công việc tác động lẫn nhau (Barling & Sorensen, 1997; Greenhaus & Parasuraman,
1999) Vai trò công việc và cuộc sống có thể có một tác động có ý nghĩa về tâm lý, hạnh phúc và sự hài lòng (Kossek & Ozeki, 1998; Schultheiss, 2006; Schwartzberg
& Dytell, 1996), vì cả hai vai trò là thành phần trung tâm trong cuộc sống của con người và do đó đòi hỏi tiêu hao một lượng lớn thời gian và năng lượng Trong các tài liệu công việc – cuộc sống đã có một số lượng không cân xứng có tác động đến tiêu cực của việc một cá nhân đồng thời quản lý với vai trò công việc và gia đình (Barnett, 1998; Greenhaus & Parasuraman, 1999; Haas, 1999) Ngoài ra, hầu hết tài liệu về các mối quan hệ công việc và gia đình ít quan tâm nhiều hơn đến những ảnh hưởng tích cực của việc kết hợp vai trò của công việc và gia đình (Greenhaus & Powell, 2006)
Theo (Susi.S, 2010) cân bằng cuộc sống làm việc là động lực cho sự hài lòng của nhân viên Nhiều tổ chức cảm thấy sự cần thiết của cuộc sống cân bằng công việc trong đó bao gồm duy trì lực lượng lao động có giá trị, giảm xung đột trong công việc và cuộc sống và giảm căng thẳng của nhân viên, việc làm hài lòng và cân bằng cuộc sống tốt hơn Đa số mối liên hệ giữa công việc và gia đình chỉ được nghiên cứu theo chiều hướng tiêu cực mà hầu hết các nhà nghiên cứu trước đây quan tâm đó là xung đột trong công việc và gia đình Xung đột công việc - gia đình đã được nghiên cứu rộng rãi và có liên quan đến kết quả như sự hài lòng thấp hơn và gia tăng căng thẳng trong vai trò công việc và gia đình (Bedeian, Burke, và Moffett, 1988; Adams, King, và King năm 1996; Netemeyer, Boles, & McMurrian năm 1996; Perrewe, Hochwarter, và Kiewitz, 1999)
Cân bằng công việc và cuộc sống luôn luôn là một mối quan tâm của những người quan tâm đến chất lượng cuộc sống, công việc và mối quan hệ rộng lớn hơn đến chất lượng của cuộc sống Trong những ngày đầu của cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu (và hiện nay ở một số nơi trên thế giới tại các nước đang phát triển) nó là mối quan tâm chủ yếu là với các tác động của lao động trẻ (David E Guest 2001) Trong thời kỳ suy thoái và hiện nay tại nhiều nơi ở châu Âu, người ta lo ngại với tình trạng thiếu việc làm và hậu quả của nó, bằng đồ thị đã minh họa trong tác phẩm đầu tay của Jahoda (1992) tại Marienthal và nghiên cứu trong nhiều ngữ cảnh cho đến ngày nay
Ba độ rộng của sự chồng chéo các ảnh hưởng có thể được xác định, những người có liên quan với sự phát triển trong công việc có thể được coi là gây ra vấn đề mất cân bằng công việc và cuộc sống, ngược lại những người liên quan đến cuộc sống bên ngoài công việc mà có thể được xem như là hậu quả của sự mất cân bằng trong công việc và cuộc sống; và những người liên quan các cá nhân và cuộc sống của họ mà cung cấp cho sự cần thiết phải giải quyết những thách thức trong việc cân bằng công việc và cuộc sống gia đình là một vấn đề chính sách hiện đại (David
Nhân viên tham gia làm việc tại tổ chức phải xác định rõ được các yếu tố ảnh hưởng đến việc cân bằng công việc và cuộc sống của mình, làm cách nào để có được sự hài lòng trong công việc trong quá trình tham gia công việc, tâm lý khi được tổ chức trao quyền tự quyết, khả năng về năng lực của bản thân từ đó có sự cam kết với tổ chức để gắn bó làm việc lâu dài hơn
Theo như “Bond, Galinsky, và Swanberg (1998) nghiên cứu rằng số lượng các công việc và cuộc sống hoàn thành và thời gian dành cho việc chăm sóc trẻ em tiếp tục có sự khác biệt giữa nam giới và phụ nữ, phụ nữ dành nhiều thời gian quản lý các trách nhiệm liên quan đến gia đình nhiều hơn nam giới Với sự kết hợp của những tiến bộ chuyên môn thực hiện trong 50 năm qua và thực tế là phụ nữ tiếp tục chịu trách nhiệm cho một số lượng không cân xứng của công việc trong nhà, trong đó có trách nhiệm chăm sóc, đã có một sự bùng nổ trong tỷ lệ phụ nữ quản lý nhiều vai trò
Hiện đề tài tác động của cân bằng công việc và gia đình dẫn đến sự gắn bó của nhân viên kế toán trong doanh nghiệp chưa có nhiều tác giả hay báo cáo khoa học nghiên cứu chính thức tại Việt Nam
Nghiên cứu của tác giả muốn làm rõ tác động của tham gia vào công việc ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, cách giải quyết xung đột công việc và nhu cầu không làm việc để cân bằng giữa công việc và cuộc sống, sự hài lòng trong công việc tác động đến cam kết với tổ chức của nhân viên kế toán làm việc trong văn phòng tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Lý do tác giả chọn phạm vi nghiên cứu ở Thành phố Hồ Chí Minh vì đây là khu vực tập trung nhiều lao động, mật độ dân số cao, các doanh nghiệp, tổ chức tập trung nhiều, nên dễ dàng cho việc khảo sát và thăm dò ý kiến người lao động, tỷ lệ nhân viên kế toán làm việc trong doanh nghiệp chiếm đa số và tập trung Điều quan trọng nhất là do Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố có tốc độ phát triển về công nghiệp và dịch vụ gần như cao nhất nước, do đó người lao động tập trung cao và yêu cầu thời gian tập trung cho công việc nhiều hơn dẫn đến sự mất cân đối giữa thời gian dành cho công việc và thời gian cho bản thân và gia đình
Các đề tài trước đây đa số nghiên cứu về xung đột công việc và cuộc sống dẫn đến chuyển việc hoặc nghỉ việc mà chưa nghiên cứu đến các yếu tố tác động của cân bằng công việc và cuộc sống và sự hài lòng trong công việc của nhân viên với doanh nghiệp Nên tác giả muốn nghiên cứu theo chiều hướng tích cực hơn, đánh giá tác động của cân bằng công việc và cuộc sống đến sự hài lòng trong công việc và cam kết với tổ chức của nhân viên Nên tác giả chọn đề tài “Tác động của cân bằng công việc và cuộc sống đến sự hài lòng trong công việc và cam kết với tổ chức của nhân viên kế toán làm việc trong các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh” để thực hiện nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu
Kiểm định tác động của cân bằng công việc và cuộc sống dẫn đến sự hài lòng trong công việc và cam kết với tổ chức của nhân viên kế toán
Kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố S
Đưa ra một số hàm ý chính sách cho các doanh nghiệp nhằm sử dụng lao động một cách có hiệu quả
1.3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: tác động của cân bằng công việc và cuộc sống dẫn đến sự hài lòng trong công việc và cam kết với tổ chức của nhân viên kế toán Để kiểm tra đầy đủ hơn mô hình tham gia công việc ảnh hưởng của cân bằng công việc và cuộc sống đến sự hài lòng trong công việc trình bày trong nghiên cứu này, các cá nhân tham gia bao gồm những nhân viên kế toán làm việc tại các doanh nghiệp; những người đang trong quá trình cân bằng nhiều vai trò
Trong nền kinh tế khó khăn như hiện tại, sự cạnh tranh và tồn tại giữa các doanh nghiệp cũng trở nên gay gắt hơn Vì vậy mà mỗi doanh nghiệp phải tìm cho mình những giải pháp tốt nhất để có thể tồn tại và ngày càng phát triển Để làm được những điều đó nhất định phải có một đội ngũ nhân viên có năng lực, nhất là một kế toán giỏi để có thể cân bằng tình hình tài chính cho công ty của mình Trong mọi doanh nghiệp từ tư nhân đến doanh nghiệp nhà nước đều cần đến vị trí kế toán để thu thập, xử lý các vấn đề liên quan đến tài chính cũng như tình hình hoạt động của công ty Ở những nền kinh tế càng phát triển thì vai trò của người kế toán càng được đánh giá cao hơn vì họ chính là những người góp phần xây dựng một nền kinh tế bền vững Nhắc đến kế toán không chỉ đơn thuần là nói đến tiền và những con số mà còn là những vấn đề quan trọng khác nữa Trong môi trường kinh tế năng động này, kế toán phải có kiến thức sâu rộng, nhạy bén để có thể ứng phó với mọi điều có gặp phải trong công việc
Vai trò của bộ máy kế toán trong doanh nghiệp rất quan trọng, kế toán đảm nhận việc kích thích và điều tiết các hoạt động kinh doanh Kế toán là những người duy trì và phát triển các mối liên kết trong doanh nghiệp, mọi bộ phận trong doanh nghiệp đều liên quan đến kế toán, từ khâu kinh doanh đến hành chánh nhân sự
Nhờ những tài liệu mà kế toán cung cấp mà các doanh nghiệp có thể thường xuyên theo dõi cũng như nắm bắt được tình hình hoạt động, sản xuất, kinh doanh của mình Như vậy, chủ doanh nghiệp có thể quản lý và điều hành các hoạt động có hiệu quả hơn cũng như định ra những điều cần phải làm cho mỗi cá nhân, cho từng giai đoạn trong hiện tại và trong cả tương lai Đây là lý do để tác giả chọn đối tượng nghiên cứu là nhân viên kế toán làm việc trong các doanh nghiệp
Phạm vi nghiên cứu: Thu thập thông tin thông qua khảo sát bằng bản câu hỏi cho khoảng 200 mẫu điều tra đối tượng khảo sát là nhân viên kế toán tại hơn 20 doanh nghiệp thuộc ngành thương mại và dịch vụ từ cấp quản lý phòng ban và nhân viên bình thường trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để khách quan hơn trong công tác chọn mẫu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính và định lượng để phân tích
Bước thứ nhất : Phân tích định tính được thực hiện trên cơ sở xây dựng các lý thuyết về sự cân bằng trong công việc và cuộc sống thông qua các việc hiệu chỉnh các thang đo cho phù hợp
Bước thứ hai: Phân tích định lượng được thực hiện thông qua việc áp dụng các mô hình hồi quy tương quan để đánh giá tác động cân bằng công việc và cuộc sống đến sự gắn bó với doanh nghiệp của nhân viên kế toán làm việc trong các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
Cùng với những thông tin sơ cấp được thu thập qua khảo sát điều tra mẫu nghiên cứu Thông tin thứ cấp được thu thập và tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau về chính sách của Nhà nước liên quan đến ngành nghề hoạt động kinh doanh, chính sách lao động tiền lương, phụ cấp và kiến thức của tác giả đúc kết được trong quá trình học tập tại trường
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Gợi ý một số giải pháp quản trị giúp cho doanh nghiệp có thể cân đối lại về khối lượng công việc, sắp xếp công việc theo những cách khác nhau linh động về thời gian, có các chế độ phúc lợi cho nhân viên, các chương trình hỗ trợ cho nhân viên…tạo điều kiện để nhân viên có thời gian cân đối giữa công việc và cuộc sống tạo điều kiện thuận lợi cho họ giảm bớt căn thẳng, áp lực công việc, không có ý định sẽ thay đổi nơi làm việc và từ đó họ có tin thần thoải mái phát huy hết khả năng để đạt được hiệu quả trong công việc và an tâm gắn bó lâu dài với doanh nghiệp
1.6 Bố cục của luận văn
Chương 1: Trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi, giới hạn, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết về các khái niệm nghiên cứu và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu, phần này đưa ra khái niệm liên quan tới cân bằng công việc – cuộc sống, sự hài lòng công việc, cam kết tổ chức và các mối quan hệ xung quanh các khái niệm này Sau đó là xây dựng mô hình nghiên cứu
Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu và xử lý số liệu trong đó quy trình nghiên cứu gồm hai gia đoạn, nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS
Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận kết quả nghiên cứu
Chương 5: Tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, những đóng góp, hàm ý chính sách của nghiên cứu cho nhà quản trị doanh nghiệp cũng như các hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho nghiên cứu tiếp theo
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 sẽ trình bày về tổng quan lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu bao gồm các khái niệm trong mô hình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và một số nghiên cứu gần đây về những đề tài tương tự
2.1 Một số lý luận về Cân bằng công việc – cuộc sống
2.1.1 Khái niệm về Cân bằng công việc và cuộc sống
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính và định lượng để phân tích
Bước thứ nhất : Phân tích định tính được thực hiện trên cơ sở xây dựng các lý thuyết về sự cân bằng trong công việc và cuộc sống thông qua các việc hiệu chỉnh các thang đo cho phù hợp
Bước thứ hai: Phân tích định lượng được thực hiện thông qua việc áp dụng các mô hình hồi quy tương quan để đánh giá tác động cân bằng công việc và cuộc sống đến sự gắn bó với doanh nghiệp của nhân viên kế toán làm việc trong các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
Cùng với những thông tin sơ cấp được thu thập qua khảo sát điều tra mẫu nghiên cứu Thông tin thứ cấp được thu thập và tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau về chính sách của Nhà nước liên quan đến ngành nghề hoạt động kinh doanh, chính sách lao động tiền lương, phụ cấp và kiến thức của tác giả đúc kết được trong quá trình học tập tại trường.
Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Gợi ý một số giải pháp quản trị giúp cho doanh nghiệp có thể cân đối lại về khối lượng công việc, sắp xếp công việc theo những cách khác nhau linh động về thời gian, có các chế độ phúc lợi cho nhân viên, các chương trình hỗ trợ cho nhân viên…tạo điều kiện để nhân viên có thời gian cân đối giữa công việc và cuộc sống tạo điều kiện thuận lợi cho họ giảm bớt căn thẳng, áp lực công việc, không có ý định sẽ thay đổi nơi làm việc và từ đó họ có tin thần thoải mái phát huy hết khả năng để đạt được hiệu quả trong công việc và an tâm gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
Bố cục của luận văn
Chương 1: Trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi, giới hạn, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết về các khái niệm nghiên cứu và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu, phần này đưa ra khái niệm liên quan tới cân bằng công việc – cuộc sống, sự hài lòng công việc, cam kết tổ chức và các mối quan hệ xung quanh các khái niệm này Sau đó là xây dựng mô hình nghiên cứu
Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu và xử lý số liệu trong đó quy trình nghiên cứu gồm hai gia đoạn, nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS
Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận kết quả nghiên cứu
Chương 5: Tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, những đóng góp, hàm ý chính sách của nghiên cứu cho nhà quản trị doanh nghiệp cũng như các hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho nghiên cứu tiếp theo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 sẽ trình bày về tổng quan lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu bao gồm các khái niệm trong mô hình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và một số nghiên cứu gần đây về những đề tài tương tự
2.1 Một số lý luận về Cân bằng công việc – cuộc sống
2.1.1 Khái niệm về Cân bằng công việc và cuộc sống
Có rất nhiều định nghĩa về sự cân bằng công việc và cuộc sống, tác giả thực hiện trích dẫn đưa ra một số khái niệm gần nhất với đề tài nghiên cứu của mình
Các khái niệm cân bằng công việc và cuộc sống đã đạt được tầm quan trọng rất cao trong những năm gần đây Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển và thay đổi tại nơi làm việc như những tiến bộ trong công nghệ thông tin và quá tải thông tin đòi hỏi phản ứng nhanh chóng và thay đổi với một tốc độ nhanh chóng tăng áp lực đối với người lao động (Guest, 2002) Tiếp theo đó, cũng phát triển và thay đổi trong cuộc sống ngoài công việc có thể được xem như là nguồn gốc của sự mất cân bằng trong công việc Đặc biệt, biến đổi trong môi trường kinh tế xã hội và những thay đổi trong khả năng mở rộng về công nghệ liên quan đến đâu và khi công việc được thực hiện là nguyên nhân của sự mất cân bằng giữa công việc và trách nhiệm gia đình Hơn nữa, sự chuyển đổi từ hình ảnh của "gia đình truyền thống" hướng tới sự xuất hiện ngày càng nhiều gia đình mẹ độc thân và sự tham gia lớn hơn của phụ nữ trong lực lượng lao động đại diện cho yếu tố yêu cầu một sự cân bằng công việc- cuộc sống lớn hơn giữa các nhân viên (Guest, 2002)
Greenblatt (2002, p 179) mô tả cân bằng công việc và cuộc sống như "sự vắng mặt của mức không thể chấp nhận các cuộc xung đột giữa công việc và nhu cầu không làm việc" cho thấy rằng khi nhu cầu từ công việc và không làm việc bị đối lập, xung đột có thể xảy ra Định nghĩa này nhấn mạnh thêm một nghi ngờ/không chắc chắn Trong khi đó, ý nghĩa của khái niệm có thể được phần nào thu hẹp xuống "là một hoạt động liên quan đến nỗ lực tinh thần hoặc thể chất thực hiện để đạt được một kết quả" (điển Oxford, 2012) ví dụ: để kiếm sống, thuật ngữ yêu cầu không làm việc trong định nghĩa Greenblatt là khá rộng và có thể có nghĩa là bất cứ điều gì ngoại trừ công việc Do những thiếu sót, một số tác giả vẫn ưu ái sử dụng ví dụ như cân bằng công việc cuộc sống gia đình, cân bằng công việc cuộc sống hay tiêu cực lan toả công việc tới từng nhà để thu hẹp cuộc sống (ví dụ như Galinsky, Bond & Friedman năm 1993; Guest, 2002; Hill et al, 2001; Maume & Houston, 2001) Vì lợi ích của nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng các định nghĩa của Clark (2000, p 751), là người thấy cân bằng công việc và cuộc sống như "sự hài lòng và hoạt động tốt trong công việc và gia đình với mức tối thiểu của cuộc xung đột vai trò."
Mở rộng, cân bằng công việc gia đình theo Frone chỉ ra rằng công việc của một cá nhân và cuộc sống gia đình trải qua các xung đột nhỏ để tiến tới các thành công trong việc kết hợp tốt hai khía cạnh này Trong mỗi khía cạnh đều tồn tại các xung đột giữa việc làm tốt khía cạnh này sẽ có thể ảnh hưởng tới khía cạnh kia nếu như không biết cạnh cân bằng hoặc không thể cân bằng được công việc và gia đình Tuy nhiên, với mỗi lần xảy ra xung đột nhỏ đều rút ra kinh nghiệm để tiến tới cân bằng hơn trong công việc và gia đình(Frone, 2003)
Cũng có quan niệm cho rằng cân bằng công việc gia đình là một công cụ để đánh giá các nguồn lực thực hiện công việc để đáp ứng nhu cầu gia đình như thế nào (Voydanoff, 2005).Tương tự như vậy, những tác giả khác xem sự cân bằng trong việc tự đánh giá hiệu quả của một cá nhân, sự hài lòng của họ với công việc và cuộc sống gia đình Việc một cá nhân không thể làm tốt công việc và không phát triển gia đình được cho thấy năng lực của cá nhân chưa tốt, chưa biết cách cân bằng công việc và gia đình (Greenhaus & Allen; Valcour , 2007)
Thêm định nghĩa liên quan đến cân bằng công việc và gia đình của Greenhaus và cộng sự (2006) vì đây là định nghĩa được nhiều tác giả đề cập vì mang tính chung nhất và phù hợp đối với nhân viên/người lao động Việt Nam Do tính cần cù chịu khó mà họ có thể bỏ qua những xung đột về vai trò trong công việc và gia đình, họ điều tiết bản thân để hướng tới mục đích tốt đẹp là cân bằng giữa các vai trò trong công việc và gia đình họ để có sự hài lòng trong cả hai khía cạnh công việc và gia đình, mặc dù tùy vào từng như cầu hoặc năng lực của bản thân mà từng cá nhân có thể sẽ có mức độ hài lòng khác nhau
2.1.2 Mối quan hệ trong cân bằng công việc và cuộc sống
Công việc và cuộc sống gia đình luôn luôn đồng hành cùng nhau trong quá trình phát triển của xã hội Có rất nhiều mối quan hệ xoay quanh công việc và cuộc sống gia đình: hiệu quả tích cực từ việc quản lý công việc tốt kết hợp với cân bằng gia đình sẽ làm giàu cho cả công gia đình và công việc của cá nhân Làm giàu gia đình và công việc là một cấu trúc đại diện cho vai trò của cân bằng giữa công việc và cuộc sống gia đình Hai khía cạnh này đều có thể hỗ trợ nhau cùng phát triển (Greenhaus & Powell, 2006)
Làm giàu trong công việc và phát triển gia đình là hai khía cạnh luôn song hành cùng nhau trong đó kinh nghiệm làm việc có thể cải thiện chất lượng cuộc sống của một gia đình (công việc để làm giàu gia đình) và kinh nghiệm gia đình có thể nâng cao chất lượng cuộc sống của một người làm việc (gia đình để làm giàu công việc) Trong thực tế, "tư duy cơ bản đằng sau sự làm giàu là công việc và gia đình từng cung cấp cho cá nhân có được nhiều lợi ích như nâng cao lòng tự trọng, thu nhập và lợi ích khác mà có thể giúp các cá nhân thực hiện trong các lĩnh vực cuộc sống khác tốt hơn" (Carlson, Kacmar, Wayne, Grzywacz, 2006)
Tuy nhiên cũng đã có những xung đột về công việc và gia đình liên quan được đề cập; việc chịu nhiều áp lực từ công việc và gia đình đã tác động không tốt lẫn nhau dẫn tới kết quả công việc cũng như hạnh phúc gia đình không phát triển một cách tích cực (Greenhaus & Beutell , 1985) Ngoài những xung đột trong đời sống tác động tiêu cực đến công việc và gia đình (Netemeyer và cộng sự, 1996) quan tâm đến những xung đột vai trò trong công việc và gia đình thì các nghiên cứu của một số tác giả khác lại quan tâm nhiều hơn đến chiều hướng tích cực hơn về WFB, kỳ vọng về hai vai trò này nhiều hơn (Grzywacz & Marks, 2000a, 2000b; Wayne, Musisca, và Fleeson, 2004) (Iqan Lazar, 2010) kết luận rằng, một thành công sự cân bằng giữa công việc và vai trò công việc không có lợi cho cả người lao động và sử dụng lao động Và cân bằng trong công việc và cuộc sống của các lĩnh vực nâng cao chất lượng các mối quan hệ cá nhân và kết quả tổ chức
Với việc tham khảo các định nghĩa trên, tác giả đưa ra quan niệm của mình về mối quan hệ cân bằng công việc – cuộc sống: Công việc giúp xây dựng cuộc sống tốt hơn với việc tạo ra tài chính và các mối quan hệ trong công việc, từ các mối quan hệ này sẽ giúp mỗi người có thêm những kĩ năng trong cuộc sống qua những chia sẻ của đồng nghiệp Đồng thời cuộc sống tốt sẽ làm động lực trong công việc, cá nhân sẽ tích cực làm việc để cuộc sống tích cực hơn
2.2 Khái niệm sự hài lòng công việc Đã có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về sự hài lòng công việc Trong nghiên cứu này tác giả sẽ giới thiệu một số khái niệm phổ biến và đưa ra khái niệm sự hài lòng công việc dùng cho nghiên cứu của tác giả
Theo Hoppock (1935) cho rằng sự hài lòng với công việc là tổng hợp sự hài lòng về tâm lý, sinh lý và các yếu tố môi trường khiến cho một người thật sự cảm thấy hài lòng về công việc của họ Theo Smith (1983) cho rằng sự hài lòng với công việc chỉ đơn giản là cảm giác mà người lao động cảm nhận về công việc của họ Và Weiss (1967) định nghĩa rằng hài lòng trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động Đối với Price (1997) sự hài lòng công việc được định nghĩa là mức độ mà nhân viên cảm nhận, có những định hướng tích cực đối với công việc của tổ chức
Sự hài lòng công việc còn được định nghĩa là những tình cảm theo chiều hướng tích cực mà nhân viên hướng tới công việc mà hộ đang làm; khi nhân viên cảm thấy vui vẻ trong công việc chúng ta có thể nói rằng họ đang hài lòng với công việc (Shermerhorn và cộng sự, 1997)
Theo Spector (1997), sự hài lòng công việc đơn giản là việc nhân viên cảm thấy thích công việc của họ; hoặc đó là mức độ mà nhân viên yêu thích công việc của mình, đó là thái độ dựa trên nhân thức của nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hay môi trường làm việc của họ (Ellickson và Logsdon, 2001)