Đề tài nghiên cứu nhằm 3 mục tiêu: Đánh giá chất lượng thông tin trên BCTC của các DNNVV ở TP. Hồ Chí Minh dựa vào các thước đo được lựa chọn; xác định nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trình bày trên BCTC của các DNNVV ở TP. Hồ Chí Minh,... Mời các bạn cùng tham khảo.
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Các nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1 Các nghiên cứu liên quan đến chất lƣợng thông tin BCTC
Nghiên cứu của Robert M Bushman và Abbie J Smith (2003) đã cung cấp cái nhìn toàn diện về chất lượng thông tin kế toán (TTKT) bằng cách phân loại và lượng hóa chất lượng TTKT thành ba nhóm chính.
Lượng hóa chất lượng lập Báo cáo Tài chính (BCTC) của công ty bao gồm các điểm mạnh, nguyên tắc đo lường, đảm bảo tính đúng kỳ và niềm tin, trong đó chất lượng kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong việc công bố thông tin nội bộ của công ty.
- Lƣợng hoá điểm mạnh trong cung cấp thông tin khác bao gồm việc phân tích và chiến lƣợc kinh doanh, giao dịch nội bộ;
- Lƣợng hóa chất lƣợng về công bố thông tin rộng rãi
Ferdy van Beest (2009) cho rằng nghiên cứu chất lượng thông tin kế toán tài chính (TTKT) dựa vào các khoản mục cụ thể trên báo cáo tài chính (BCTC) hàng năm, bao gồm cả thông tin tài chính và phi tài chính, nhưng không phản ánh toàn diện chất lượng BCTC Phương pháp lượng hóa toàn diện chất lượng thông tin KTTC thông qua BCTC được xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn của FASB và IASB, cùng với những ưu nhược điểm của các nghiên cứu trước Mô hình đánh giá chất lượng BCTC bao gồm 21 biến quan sát và 5 tiêu chuẩn: tính thích hợp, trung thực, dễ hiểu, có thể so sánh được, và kịp thời Mô hình này đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước áp dụng để kiểm tra chất lượng BCTC.
Nghiên cứu của Maines, L.A (2003) tập trung vào phân tích đặc tính "Đáng tin cậy" của thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) Để đánh giá độ tin cậy này, nhóm tác giả đã sử dụng các phương pháp như so sánh số liệu kế toán với chuẩn mực kế toán, xem xét việc công bố lại thông tin kế toán, so sánh các ước tính kế toán và nhận diện dòng tiền tương lai Nghiên cứu nhằm hỗ trợ các nhà làm chính sách trong việc xây dựng chuẩn mực, đồng thời giúp người sử dụng thông tin xác định các yếu tố tăng cường độ tin cậy của BCTC.
Davood Khodadady (2012) đã nghiên cứu 49 ngân hàng nhà nước và tư nhân ở Ấn Độ về đặc tính "Sự thích hợp" của thông tin báo cáo tài chính (BCTC) Tác giả áp dụng thang đo Likert 5 điểm để đánh giá 14 yếu tố ảnh hưởng đến sự thích hợp của thông tin BCTC, trong đó có 10 yếu tố liên quan đến giá trị dự báo và 4 yếu tố liên quan đến sự xác nhận Kết quả cho thấy thông tin BCTC của các ngân hàng tư nhân có mức độ thích hợp cao hơn so với thông tin BCTC của các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước.
Nelson và cộng sự (2005) đã xác định bốn đặc tính quan trọng của chất lượng thông tin trong hệ thống, bao gồm tính chính xác, đầy đủ, thích hợp và có thể hiểu được Nghiên cứu thực nghiệm với 465 người sử dụng kho dữ liệu cho thấy tính chính xác là đặc trưng quan trọng nhất, tiếp theo là tính đầy đủ.
Chất lượng thông tin báo cáo tài chính (BCTC) được nhiều nhà nghiên cứu như Barth (2008), Cohen (2004), và Schipper (2003) đánh giá thông qua các yếu tố ảnh hưởng như hành vi quản trị lợi nhuận, việc công bố lại BCTC và thời hạn công bố Điều chỉnh lợi nhuận là chiến lược của nhà quản lý nhằm tác động đến lợi nhuận để đạt được mục tiêu đã đề ra, có thể thực hiện bằng cách tăng hoặc giảm lợi nhuận (Miettinen, 2008) Hành động này có thể liên quan đến khuyến khích vật chất cho nhà quản lý hoặc đảm bảo các điều khoản trong hợp đồng tín dụng Điều chỉnh lợi nhuận không chỉ là việc tác động qua các con số kế toán mà còn thông qua các giao dịch kinh tế, như quan điểm của Ali Shah S.Z et al (2009) và Ebraheem.
Saleem Salem Alzoubi (2012), Leila Hussein Amer, Naser Abdelkarim (2012), Gulzar M.A (2011)
Huang Zhizhong và Zhang Juan (2011) chỉ ra rằng việc công bố lại báo cáo tài chính (BCTC) nhằm khẳng định những sai sót trọng yếu trong các BCTC trước đó Điều này cho thấy rằng BCTC công bố lại thường chỉ ra sự không trung thực trong các báo cáo trước, từ đó phản ánh chất lượng BCTC thấp.
1.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC
1.1.2.1 Các yếu tố bên ngoài
N.Klai (2011), nghiên cứu tại các CTNY trên TTCK Tunis trong giai đoạn 1997-2007, cơ chế quản trị công ty ảnh hưởng tới chất lượng thông tin KTTC của các CTNY Tunisi Kết quả cho thấy, ảnh hưởng của nhà đầu tư nước ngoài, yếu tố sở hữu gia đình và tổ chức đầu tƣ làm giảm chất lƣợng BCTC, trong khi đó sự kiểm soát từ phía nhà nước và các tổ chức tài chính có tác độngthuận chiều tới chất lượng thông tin KTTC công bố của các CTNY
Nghiên cứu của Stoderstrom và cộng sự (2007) chỉ ra rằng chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính (BCTC) khi áp dụng IFRS chịu ảnh hưởng từ chuẩn mực kế toán, hệ thống pháp luật và chính trị, cũng như cách trình bày BCTC Kết quả cho thấy hệ thống pháp luật và chính trị có ảnh hưởng quan trọng nhất đến chất lượng thông tin BCTC, có thể tác động trực tiếp đến chất lượng thông tin kế toán hoặc gián tiếp thông qua các chuẩn mực kế toán và phương pháp trình bày BCTC.
K.Naser (2003), nghiên cứu tại các CTNY trên TTCK Saudi cho thấy các BCTC tuân thủ chế độ và chuẩn mực kế toán, đảm bảo đầy đủ thông tin tài chính và phi tài chính đƣợc đánh giá có chất lƣợng tốt
Ferdy van Beest (2009) trong nghiên cứu của mình đã lượng hóa chất lượng thông tin kế toán và kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính bội để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng này Kết quả cho thấy các nhân tố bên ngoài, bao gồm chuẩn mực kế toán, môi trường pháp lý và đặc thù của ngành công nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thông tin kế toán.
Nghiên cứu của Lesley Stainbank (2008) về sự phát triển và tác động của IFRS đến báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở Nam Phi cho thấy rằng việc tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực IFRS sẽ giúp các doanh nghiệp nhận được hỗ trợ vốn tốt nhất Ngoài ra, việc bãi bỏ hình thức thực thể doanh nghiệp tại Nam Phi là một hướng đi nên được xem xét BCTC sẽ được lập dựa trên nhu cầu thông tin cụ thể của từng doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Valeria Maria Albert và Mihaela Serban (2012) tại các DNNVV ở Roma cho thấy rằng từ năm 2000 đến 2007, các doanh nghiệp này gặp nhiều khó khăn như thiếu nguồn lực, hạn chế tiếp cận tín dụng và thiếu khách hàng, chủ yếu do thông tin không đáng tin cậy trên báo cáo tài chính (BCTC) Báo cáo thường niên năm 2008 chỉ ra rằng BCTC của DNNVV chủ yếu phục vụ cho cơ quan thuế mà không chú trọng đến chất lượng thông tin cho người sử dụng Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của kiểm toán độc lập trong việc nâng cao độ tin cậy của BCTC, từ đó cải thiện khả năng tiếp cận vốn và quyết định cho vay của ngân hàng Kết quả này cũng đồng nhất với nghiên cứu của Maines (2006), cho rằng báo cáo kiểm toán có ý kiến chấp nhận toàn bộ là điều kiện cần thiết để xác định thông tin kinh tế tài chính đáng tin cậy.
1.1.2.2 Các yếu tố bên trong
Nghiên cứu của Gul và Leung (2004) tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hồng Kông chỉ ra rằng cấu trúc hội đồng quản trị ảnh hưởng đến việc công bố thông tin của doanh nghiệp Kết quả cho thấy việc kiêm nhiệm chức danh chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc có tác động đến việc công bố tự nguyện thông tin trên báo cáo tài chính Điều này tương đồng với nghiên cứu của Nadia Smaili và cộng sự (2009), cho thấy việc kiêm nhiệm hai chức danh có thể dẫn đến gian lận trong báo cáo tài chính Hơn nữa, nghiên cứu của Arman Aziz Karagul cũng hỗ trợ các phát hiện này.
Các nghiên cứu ở trong nước
1.2.1 Các nghiên cứu liên quan đến chất lƣợng thông tin BCTC
Nguyễn Đình Hùng (2010) nêu rõ rằng thông tin tài chính được sử dụng để lượng hóa bao gồm 30 khoản mục quan trọng Những khoản mục này bao gồm chính sách kế toán, các chuẩn mực kế toán áp dụng cho báo cáo tài chính, và sự tuân thủ các chuẩn mực quốc gia Báo cáo tài chính năm cần tuân thủ các hệ thống chuẩn mực như IFRS và GAAP, cùng với thuyết minh và báo cáo kiểm toán tương ứng Các báo cáo tài chính phải được công bố đúng hạn và bao gồm khai báo giao dịch với các bên liên quan, với các điều khoản rõ ràng Ngoài ra, báo cáo giữa kỳ cũng cần tuân thủ các chuẩn mực này và được xem xét hoặc kiểm toán để đảm bảo tính chính xác Phương pháp đánh giá tài sản cũng là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo thông tin tài chính minh bạch và đáng tin cậy.
Công ty cần liệt kê các bên liên kết mà mình nắm giữ phần lợi ích thiểu số, đồng thời cung cấp cấu trúc sở hữu của các bên này Bên cạnh đó, một bản dự báo thu nhập cơ bản và chi tiết dự báo thu nhập cũng cần được trình bày Cuối cùng, báo cáo phân tích theo bộ phận và cấu trúc doanh số sẽ giúp hiểu rõ hơn về tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của công ty.
Cấu trúc chi phí và tên công ty kiểm toán là những yếu tố quan trọng trong quy trình kiểm toán Công ty kiểm toán không nhất thiết phải là những công ty hàng đầu trong nước hoặc quốc tế, nhưng cần có chính sách thay đổi phù hợp theo từng đợt kiểm toán Mức phí kiểm toán và phí dịch vụ tư vấn cũng là những yếu tố cần xem xét Nghiên cứu cho thấy chất lượng kiểm toán tài chính của các công ty niêm yết (CTNY) tại Việt Nam đang ở mức kém, với thông tin tài chính chưa được công bố đầy đủ.
Võ Văn Nhị và Trần Thị Thanh Hải (2013), nghiên cứu “Một số ý kiến về chất lƣợng BCTC của DNNVV ở Việt Nam”, nhóm tác giả có dẫn chứng (Đoạn 9, 11 và
Theo chuẩn mực kế toán số 21, báo cáo tài chính (BCTC) cần trình bày trung thực và hợp lý tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và luồng tiền của doanh nghiệp Để đảm bảo tính trung thực và hợp lý, doanh nghiệp phải áp dụng các chính sách kế toán phù hợp, cung cấp thông tin đáng tin cậy và dễ hiểu, đồng thời bổ sung thông tin cần thiết khi quy định chưa đủ rõ ràng Chất lượng BCTC được đánh giá dựa trên các yêu cầu của VAS21, bao gồm tính trung thực, hợp lý, thích hợp, đáng tin cậy và dễ hiểu Việc tuân thủ các nguyên tắc như hoạt động liên tục, cơ sở dồn tích, nhất quán và có thể so sánh sẽ nâng cao tính hữu ích của thông tin trong BCTC, hỗ trợ người sử dụng trong quá trình ra quyết định.
Hà Xuân Thạch và Nguyễn Trọng Nguyên (2014) đã nghiên cứu các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính (BCTC) tại 195 công ty niêm yết ở Việt Nam Nhóm tác giả áp dụng phương pháp đo lường chất lượng thông tin BCTC dựa trên nghiên cứu của Ferdy van Beest (2009) và quan điểm của FASB cùng IASB, kết hợp với nghiên cứu của Jonas và Blanchet (2000) Nghiên cứu này sử dụng 16 biến quan sát thuộc 5 đặc tính để đánh giá chất lượng thông tin BCTC, bao gồm tính thích hợp, trình bày trung thực và dễ hiểu.
Có thể so sánh và kịp thời Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lƣợng thông tin BCTC của các công ty niêm yết là dưới mức trung bình
Nguyễn Phúc Sinh (2008) trong luận án tiến sĩ "Nâng cao tính hữu ích trong BCTC doanh nghiệp Việt Nam hiện nay" đã phân tích vai trò và tính hữu ích của báo cáo tài chính (BCTC) doanh nghiệp Tác giả dựa trên lý thuyết quốc tế và thực tiễn kế toán tại Việt Nam để đánh giá tình hình cung cấp thông tin của BCTC Từ đó, ông đề xuất các giải pháp nhằm chuẩn hóa BCTC và nâng cao tính hữu ích của chúng.
Nguyễn Bích Liên (2012) trong luận án tiến sỹ đã nghiên cứu đề tài “Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại các doanh nghiệp Việt Nam” Tác giả cho rằng chất lượng thông tin kế toán được xem như chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) theo quan điểm của IASB, FASB và chuẩn mực kế toán Việt Nam Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thông tin trong bối cảnh công nghệ thông tin bao gồm hữu hiệu, hiệu quả, bảo mật, toàn vẹn, sẵn sàng, tuân thủ và đáng tin cậy Tuy nhiên, nghiên cứu không đi sâu vào các tiêu chuẩn chất lượng thông tin theo chuẩn mực kế toán mà chủ yếu tập trung vào ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán.
Cao Nguyễn Lệ Thư (2014) đã tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá các yếu tố nội bộ của doanh nghiệp ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Tp Hồ Chí Minh, áp dụng mô hình của Jouini Fathi.
Năm 2013, chất lượng thông tin kế toán tài chính (TTKT) được đánh giá thông qua 78 chỉ số, được phân loại thành 7 nhóm thông tin cơ bản: thông tin chung và chiến lược, thông tin về báo cáo tài chính (BCTC), dữ liệu xã hội và môi trường, quản trị doanh nghiệp, thông tin tài chính và thị trường, thông tin dự báo, và thông tin khác Kết quả cho thấy chất lượng thông tin BCTC của các công ty niêm yết (CTNY) đạt 80,9%, tương đương với 63/78 chỉ số Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa đưa ra kết luận rõ ràng về việc chất lượng thông tin BCTC của các CTNY đã đạt ngưỡng chất lượng hay chưa.
Nguyễn Anh Hiền và cộng sự (2015) đã tiến hành nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tác động của nó đến chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) tại 380 công ty niêm yết ở Việt Nam trong giai đoạn 2013-2014 Nghiên cứu này áp dụng mô hình của Dechow et al (1995) và các phương pháp của Kothari, Leone và Wasley để phân tích dữ liệu.
Nghiên cứu năm 2005 đã chỉ ra rằng các doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong ngành xây dựng, vật liệu xây dựng và bất động sản, có động cơ điều chỉnh lợi nhuận cao hơn so với các doanh nghiệp khác Kết quả cũng cho thấy sự khác biệt trong mức độ điều chỉnh lợi nhuận giữa hai sàn chứng khoán HOSE và HNX, với các công ty niêm yết trên sàn HNX có mức độ điều chỉnh cao hơn Điều này ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp này.
Huỳnh Thị Vân (2012) trong luận văn thạc sỹ của mình đã nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tập trung vào giai đoạn 2008-2010 Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và dữ liệu từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết lần đầu tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và Hà Nội, áp dụng mô hình DeAngelo (1986) và Friedlan (1994) Tác giả xác định ba nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, bao gồm năm đầu niêm yết, ưu đãi thuế và quy mô doanh nghiệp Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết các công ty niêm yết trong năm đầu tiên đều có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận, và sự điều chỉnh này có mối quan hệ tích cực với các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên báo cáo tài chính.
1.2.2 Các nghiên cứu liên quan đến nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC
1.2.2.1 Các yếu tố bên ngoài
Phan Đức Dũng (2014) đã tiến hành nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp, sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp với 280 mẫu từ các kế toán viên tại nhiều công ty cổ phần Nghiên cứu đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC, trong đó chính sách thuế Nhà nước được đánh giá là yếu tố bên ngoài quan trọng nhất, có tác động tích cực đến chất lượng thông tin Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Phan Minh Nguyệt.
Nghiên cứu năm 2014 về "Xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ở Việt Nam" chỉ ra rằng hầu hết các công ty niêm yết hiện nay lập báo cáo tài chính chủ yếu nhằm mục tiêu thuế, mà không tuân thủ đầy đủ các quy định thuế hiện hành Để nâng cao chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính, cần thực hiện tốt chính sách thuế với nhà nước.
Nghiên cứu của Võ Văn Nhị và Trần Thị Thanh Hải (2013) về chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Việt Nam đã chỉ ra hai nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến chất lượng BCTC: khung pháp lý về kế toán và nhu cầu thông tin từ đối tượng sử dụng Nhóm tác giả nhận định rằng khung pháp lý hiện hành còn nhiều hạn chế, chưa phù hợp với đặc điểm riêng của DNNVV.
Nhận xét tổng quan nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận văn
Tác giả đã tóm tắt các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận văn, từ đó đưa ra một số nhận xét quan trọng.
Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã thực hiện đánh giá chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) từ nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt dựa vào các đặc tính chất lượng của FASB và IASB để có cái nhìn toàn diện Ngoài ra, có những nghiên cứu đánh giá chất lượng thông tin theo hướng gián tiếp, như hành vi điều chỉnh lợi nhuận và việc công bố lại BCTC, đều ảnh hưởng đến chất lượng thông tin Tại Việt Nam, các nghiên cứu về chất lượng thông tin trên BCTC vẫn còn hạn chế, chủ yếu áp dụng mô hình từ các nghiên cứu quốc tế mà chưa có nghiên cứu định lượng cụ thể nào cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).
Chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) chịu ảnh hưởng bởi hai nhóm nhân tố chính: nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Nhiều nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung vào các công ty niêm yết và tổ chức lớn, trong đó các yếu tố như quản trị công ty và kiểm toán đóng vai trò quan trọng Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước về BCTC tại doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thường chỉ dừng lại ở phương pháp định tính, chỉ ra những tồn tại và nhu cầu cải thiện mà chưa xác định rõ các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC của DNNVV.
1.3.2 Hướng nghiên cứu của luận văn
Từ những khe hỏng của các công trình mà tác giả đã trình bày ở trên nhằm xác định hướng nghiên cứu của luận văn:
Việc đánh giá chất lƣợng thông tin trình bày trên BCTC của các DNNVV ở TP
Hồ Chí Minh dựa trên các thước đo phù hợp nào để đánh giá chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)? Nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin này, bao gồm quy trình kiểm toán, trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán và công nghệ thông tin Để nâng cao chất lượng thông tin trên BCTC của các DNNVV tại TP, cần đề xuất các giải pháp như cải thiện quy trình báo cáo, nâng cao kỹ năng cho nhân viên và áp dụng công nghệ hiện đại trong quản lý tài chính.
Chương này của luận văn trình bày các nghiên cứu liên quan đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính (BCTC) cả trong nước và quốc tế, đồng thời xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC của doanh nghiệp trên toàn cầu và tại Việt Nam.
Bài viết tổng hợp và đánh giá các công trình nghiên cứu trong luận văn được chia thành hai phần: quốc tế và nội địa Việc lựa chọn các công trình đã công bố liên quan đến nội dung luận văn nhằm xác định khoảng trống nghiên cứu, từ đó làm cơ sở cho mục tiêu nghiên cứu của luận văn.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Lý thuyết nền
2.1.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information)
G.A Akerlof (1970) lần đầu tiên giới thiệu về lý thuyết thông tin bất cân xứng Theo ông, thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông tin nhƣng thông tin không chính xác Điều này khiến cho bên có ít thông tin có những quyết định không chính xác khi thực hiện giao dịch đồng thời bên có nhiều thông tin sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện các giao dịch
Lý thuyết thông tin bất cân xứng đƣợc vận dụng trong nhiều hoạt động nhƣ:
Trong hoạt động kinh doanh, trước khi ký kết hợp đồng hoặc tham gia vào quan hệ pháp luật, bên nắm giữ nhiều thông tin có thể gây tổn hại cho bên nắm giữ ít thông tin hơn.
Trong các giao dịch mua bán thông thường, người bán thường có kiến thức sâu sắc về sản phẩm của mình, dẫn đến việc người mua phải gánh chịu chi phí lựa chọn không thuận lợi.
Trên thị trường chứng khoán, lợi nhuận là mối quan tâm hàng đầu của nhà đầu tư, khi họ mua cổ phiếu với giá thấp và bán với giá cao hoặc nhận cổ tức Tuy nhiên, nhà đầu tư thường thiếu thông tin so với nhà quản lý, dẫn đến những bất lợi trong việc định giá cổ phiếu Nếu không xác định chính xác lợi nhuận kỳ vọng của công ty niêm yết, nhà đầu tư có thể định giá cổ phiếu sai lệch, gây thiệt hại nếu giá cổ phiếu cao hơn giá trị thực Theo Yang Jing (2008), thông tin bất cân xứng trong thị trường chứng khoán được thể hiện qua ba yếu tố: thời gian, khối lượng thông tin và chất lượng thông tin.
Mối quan hệ giữa lý thuyết thông tin bất cân xứng và chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) rất quan trọng, đặc biệt là độ tin cậy của các chỉ tiêu trên BCTC Lợi nhuận là thông tin cốt yếu của doanh nghiệp, vì mục tiêu chính của họ là tối đa hóa lợi nhuận Thông tin về lợi nhuận đóng vai trò then chốt trong việc ra quyết định của cả nhà quản lý và nhà đầu tư, như đánh giá khả năng sinh lời và dòng tiền trong tương lai Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có sự liên hệ giữa lợi nhuận và giá cổ phiếu, dẫn đến khả năng cao rằng nhà quản lý có thể điều chỉnh chỉ tiêu lợi nhuận để ảnh hưởng đến thông tin tài chính.
Mối quan hệ giữa tình trạng thông tin bất cân xứng và hành vi quản trị lợi nhuận đã được nhiều nghiên cứu khẳng định Dye (1988) cho rằng sự tồn tại thông tin bất cân xứng giữa nhà quản lý và cổ đông tạo điều kiện cho hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản lý, dẫn đến việc bóp méo thông tin kinh tế trên báo cáo tài chính Tương tự, Schipper (1989) cũng đưa ra kết luận tương tự Richardson (1998) cho rằng khi tình trạng thông tin bất cân xứng gia tăng, hành vi quản trị lợi nhuận cũng tăng theo, dẫn đến chất lượng thông tin kinh tế giảm sút Do đó, trong bối cảnh thông tin bất cân xứng giữa nhà quản lý và cổ đông, các cổ đông hay người sử dụng thông tin bên ngoài thường ở trong tình trạng thiếu thông tin, tạo điều kiện cho nhà quản lý thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
Theo Jensen và Meckling (1976), mối quan hệ ủy quyền được hiểu như một hợp đồng giữa bên ủy quyền (Principal) và bên đại diện (Agent), trong đó bên ủy quyền cam kết giao cho bên đại diện thực hiện một số công việc và đưa ra quyết định kinh tế thay cho mình.
Trong mô hình công ty cổ phần, chủ sở hữu là các cổ đông, trong khi nhà quản lý công ty đại diện cho họ Các cổ đông thuê nhà quản lý để thực hiện các quyết định kinh tế nhằm tối đa hóa lợi ích cho mình Tuy nhiên, nhà quản lý đôi khi có thể đưa ra những quyết định vì lợi ích cá nhân, quên đi lợi ích của cổ đông, đặc biệt khi họ đạt được một mức lợi nhuận nhất định (Jensen và Meckling, 1976).
Nhà quản lý thường có kiến thức chuyên môn vượt trội hơn cổ đông, nhờ vào kinh nghiệm trong quản lý và thực hiện các hoạt động kinh doanh hàng ngày Khi trình độ của nhà quản lý cao, họ có khả năng ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đông, đặc biệt khi hệ thống giám sát không hiệu quả (Miller and Sardais, 2011) Vì vậy, việc thiết lập hệ thống giám sát thích hợp là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của cổ đông và giảm thiểu xung đột lợi ích giữa hai bên, đồng thời yêu cầu nhà quản lý cung cấp báo cáo tài chính đảm bảo chất lượng.
Mối quan hệ giữa lý thuyết ủy quyền với chất lƣợng thông tin trên BCTC
Từ lý thuyết ủy quyền, có hai giả thuyết chính: sự xung đột mục tiêu giữa chủ sở hữu và nhà quản lý, cùng với thông tin bất cân xứng giữa hai bên Hành vi của nhà quản lý bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ sở hữu trong công ty; khi tỷ lệ này thấp, nhà quản lý có xu hướng tìm kiếm thù lao cao hơn thay vì tối đa hóa lợi ích cho cổ đông Jensen và Meckling (1976) chỉ ra rằng nếu nhà quản lý sở hữu toàn bộ công ty, họ sẽ đưa ra quyết định nhằm tối đa hóa lợi ích của cả bản thân và công ty Tuy nhiên, khi tỷ lệ sở hữu giảm, quyền lợi của nhà quản lý trong kết quả công ty cũng giảm, dẫn đến xung đột về lợi ích giữa hai bên Việc xử lý thông tin kế toán của nhà quản lý sẽ quyết định khoản lợi ích mà họ nhận được, tùy thuộc vào mục tiêu riêng của họ.
Chất lƣợng thông tin kế toán
Về chất lƣợng có rất nhiều định nghĩa khác nhau:
Theo ISO 9000:2005, chất lượng được định nghĩa là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp với những đặc tính vốn có.
Chất lƣợng có một số đặc trƣng cơ bản sau:
Chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ được xác định bởi khả năng đáp ứng nhu cầu của người sử dụng Một sản phẩm dù có công nghệ tiên tiến nhưng không thỏa mãn nhu cầu khách hàng vẫn bị xem là kém chất lượng Do đó, việc đánh giá chất lượng cần dựa trên quan điểm của người tiêu dùng.
Chất lượng được xác định bởi mức độ phù hợp với các nhu cầu khác nhau Để đánh giá chất lượng của một đối tượng, cần xem xét tất cả các đặc tính liên quan đến việc đáp ứng những nhu cầu cụ thể Trong cùng một mục đích sử dụng, sản phẩm nào đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tốt hơn sẽ được coi là có chất lượng cao hơn.
- Chất lượng được tiêu chuẩn hóa cụ thể Một số chất lƣợng của các đối tƣợng đƣợc quy định cụ thể, rõ ràng
Theo Juran, chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu Theo Crosby, chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu
Chất lượng của một đối tượng được đánh giá dựa trên khả năng đáp ứng nhu cầu của người sử dụng, các đặc tính phù hợp với nhu cầu cụ thể và tiêu chuẩn hóa chất lượng một cách rõ ràng.
Chất lượng thông tin là thuật ngữ dùng để mô tả giá trị và độ phù hợp của các thành phần trong hệ thống thông tin với nhu cầu của người sử dụng Đây là thước đo quan trọng giúp đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu thông tin của người dùng.
Theo Wang (1996), chất lượng thông tin được xác định qua các khía cạnh cơ bản như: tính chính xác, tính khách quan, độ tin cậy và uy tín của nguồn cung cấp thông tin Trong các tình huống cụ thể, chất lượng thông tin thể hiện qua sự phù hợp, giá trị gia tăng, tính kịp thời và độ đầy đủ Ngoài ra, tính đại diện của chất lượng thông tin bao gồm sự dễ hiểu, biểu mẫu quy định, tính phổ thông và khả năng so sánh Cuối cùng, khả năng tiếp cận thông tin phụ thuộc vào khả năng tiếp cận và tính bảo mật của thông tin.
Nguyễn Tố Tâm (2013) cho rằng chất lượng thông tin cần đảm bảo các đặc trưng như thỏa mãn nhu cầu, đáp ứng nhu cầu đa dạng và được tiêu chuẩn hóa Tiêu chuẩn hóa chất lượng thông tin giúp đảm bảo độ tin cậy, tính khách quan, tính kịp thời, sự phù hợp, tính dễ hiểu và khả năng so sánh của thông tin Trong đó, độ tin cậy được xem là tiêu chuẩn quan trọng nhất Đồng thời, chất lượng thông tin cần được lượng hóa phù hợp với đặc tính của thông tin và phải được kiểm soát từ nguồn phát đến nơi nhận để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả.
Chất lượng thông tin cần đảm bảo các đặc trưng cơ bản như thỏa mãn nhu cầu, đáp ứng đa dạng yêu cầu và được tiêu chuẩn hóa Các yếu tố quan trọng bao gồm độ tin cậy, tính khách quan, tính kịp thời, sự phù hợp, tính dễ hiểu và khả năng so sánh Để đảm bảo chất lượng thông tin, cần phải lượng hóa các đặc trưng này phù hợp với tính chất của thông tin và kiểm soát quy trình từ nơi phát đến nơi nhận.
2.2.3 Chất lƣợng thông tin kế toán
2.2.3.1 Chất lƣợng thông tin kế toán theo quan điểm của chuẩn mực kế toán quốc tế
Theo IASB (2010), thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) cần đảm bảo tính hữu ích cho người sử dụng bằng cách thỏa mãn các đặc tính chất lượng Hai đặc tính cơ bản là tính thích hợp và tính trình bày trung thực, trong khi bốn đặc tính bổ sung bao gồm khả năng so sánh, khả năng kiểm chứng, tính kịp thời và tính dễ hiểu Những đặc tính này không chỉ nâng cao tính hữu ích của thông tin mà còn đảm bảo rằng thông tin được xác định là thích hợp và trình bày một cách trung thực.
Các đặc tính chất lƣợng cơ bản:
Thông tin tài chính phù hợp có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyết định của người sử dụng Ngay cả khi một số người không sử dụng thông tin hoặc đã biết qua nguồn khác, thông tin vẫn có khả năng thay đổi quyết định Điều này xảy ra khi thông tin mang lại giá trị dự đoán, giá trị khẳng định hoặc cả hai.
BCTC trình bày hiện tượng kinh tế qua từ ngữ và số liệu, nhằm đạt được tính hữu ích và chất lượng Thông tin tài chính không chỉ cần thể hiện những hiện tượng phù hợp mà còn phải trung thực Để đảm bảo tính trung thực, thông tin cần có ba đặc tính: đầy đủ, trung lập và không sai sót Tuy nhiên, việc thể hiện thông tin một cách hoàn toàn trung thực là một thách thức Mục tiêu của IASB là tối đa hóa những đặc tính chất lượng này.
Các đặc tính chất lƣợng bổ sung:
Các đặc tính chất lượng bổ sung của báo cáo tài chính bao gồm khả năng so sánh, kiểm chứng, kịp thời và dễ hiểu, góp phần nâng cao tính hữu ích của thông tin đã được xác định là phù hợp và trình bày một cách trung thực.
Thông tin BCTC trở nên hữu ích khi có thể so sánh giữa các thời kỳ khác nhau của tổ chức hoặc giữa các tổ chức trong cùng một thời gian Tính có thể so sánh giúp người đọc nhận diện và hiểu rõ sự tương đồng và khác biệt giữa các khoản mục Để đạt được tính so sánh, thông tin giống nhau cần được trình bày một cách nhất quán, trong khi thông tin khác nhau phải có cách trình bày khác biệt Việc trình bày đồng nhất thông tin khác nhau không nâng cao tính so sánh Tính có thể so sánh cũng có thể đạt được khi các chỉ tiêu chất lượng cơ bản được đáp ứng.
Có thể kiểm chứng được
Tính có thể kiểm chứng đảm bảo rằng thông tin phản ánh trung thực hiện tượng kinh tế mà nó đề cập Điều này có nghĩa là những người quan sát độc lập, dù có ý kiến khác nhau, vẫn có thể đồng thuận rằng thông tin được trình bày là chính xác Không chỉ các thông tin định lượng mới có thể kiểm chứng, mà các khoảng giá trị và khả năng liên quan cũng có thể được xác minh.
Kịp thời nghĩa là thông tin phải được cung cấp cho người dùng đúng lúc và là thông tin mới nhất Thông tin cũ thường thiếu tính hữu ích, nhưng một số thông tin vẫn có thể duy trì tính kịp thời lâu dài sau khi niên độ kế toán kết thúc, vì người dùng cần phân tích và đánh giá xu hướng.
Các nhân tố ảnh hưởng đên chất lượng thông tin BCTC
Nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất và kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính (BCTC) nhằm nâng cao chất lượng này Các nghiên cứu trước cho thấy có hai nhóm nhân tố chính tác động đến chất lượng thông tin BCTC: nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài Việc xây dựng các tiêu chuẩn để lượng hóa chất lượng thông tin BCTC là cần thiết để thúc đẩy sự cải thiện liên tục trong lĩnh vực này.
Các nghiên cứu của Võ Văn Nhị (2013), Nguyễn Ánh Tuyết (2013), và Phan Đức Dũng (2014) chỉ ra rằng chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ hai nhóm nhân tố chính: công tác kế toán và khung pháp lý cho kế toán.
Nghiên cứu của Nguyễn Ánh Tuyết (2013) xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kế toán tại doanh nghiệp, bao gồm tổ chức công tác kế toán, bộ máy kế toán, bản chất công việc kế toán thuê ngoài, và mục tiêu của kế toán trong DNNVV Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đưa ra mô hình xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC Tương tự, nghiên cứu của Võ Văn Nhị và Trần Thị Thanh Hải (2013) cũng chỉ ra rằng cách thức tổ chức quản lý và triết lý quản trị của ban giám đốc có tác động trực tiếp đến chất lượng BCTC Thực trạng hiện nay cho thấy, nhân viên kế toán thường chỉ thực hiện việc ghi chép sổ sách mà không tiến hành kiểm tra và phân tích hoạt động kinh doanh, dẫn đến việc phát hiện và xử lý sai sót trở nên khó khăn và kém hiệu quả.
Trong nghiên cứu của Phan Đức Dũng (2014), tác giả đã đo lường và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) của các công ty Cổ phần Các nhân tố được đề xuất và kiểm định bao gồm: nhận thức của nhà quản trị, công cụ hỗ trợ, hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán, hình thức sổ sách kế toán và hệ thống BCTC.
Công tác kế toán hiện nay vẫn còn nhiều yếu kém, điều này đã được các nhà nghiên cứu tổng hợp và đánh giá Kết quả cho thấy, chất lượng thông tin kế toán chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những vấn đề này.
Nghiên cứu về báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hiện nay chủ yếu dừng lại ở phương pháp định tính và cỡ mẫu hạn chế trong nghiên cứu định lượng Hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung vào các doanh nghiệp lớn mà chưa kiểm định được các yếu tố công tác kế toán ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC tại DNNVV Để lấp đầy khoảng trống này, luận văn đề xuất và kiểm định các yếu tố liên quan đến công tác kế toán, bao gồm: hệ thống chứng từ kế toán, yêu cầu chứng từ phải được lập đầy đủ và kịp thời, cũng như được tổ chức luân chuyển và lưu trữ hợp lý; hình thức sổ sách kế toán phải tuân thủ quy định, với số liệu ghi chép đúng và kịp thời, phù hợp với loại hình và lĩnh vực kinh doanh; và hệ thống tài khoản kế toán được áp dụng theo chế độ kế toán, phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp (DN) cần có nhà quản lý hiểu biết về kế toán tài chính, có khả năng đọc và hiểu báo cáo tài chính (BCTC) để ra quyết định kinh tế Bộ máy kế toán cần được xây dựng hoàn thiện, với một bộ phận kế toán riêng biệt và đầu tư công nghệ thông tin nhằm nâng cao trách nhiệm của từng cá nhân Nhân viên kế toán phải ký hợp đồng lao động để đảm bảo trách nhiệm trong việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin Mục tiêu lập BCTC cần được xác định rõ ràng, đồng thời đa dạng hóa đối tượng sử dụng thông tin.
2.3.2 Khung pháp lý cho kế toán
Các nhân tố từ khung pháp lý cho kế toán cũng ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính (BCTC) Nghiên cứu của N.Klai (2011) chỉ ra rằng sự kiểm soát từ nhà nước và các tổ chức tài chính có tác động tích cực đến chất lượng thông tin kế toán Ngoài ra, nghiên cứu của Stoderstrom và cộng sự cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố pháp lý trong việc nâng cao chất lượng thông tin kế toán.
Chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính (BCTC) khi áp dụng IFRS bị ảnh hưởng bởi chuẩn mực kế toán, hệ thống pháp luật và chính trị, như đã chỉ ra trong nghiên cứu của K.Naser (2003) và Ferdy van Beest cùng cộng sự (2009) Nghiên cứu của Võ Văn Nhị và Trần Thị Thanh Hải (2013) cũng nhấn mạnh rằng khung pháp lý hiện tại cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) còn nhiều hạn chế, và khuyến nghị Bộ Tài chính cần ban hành chế độ kế toán chung cho tất cả loại hình doanh nghiệp, đồng thời cơ quan thuế nên có các chính sách hỗ trợ cho DNNVV và yêu cầu về chất lượng thông tin Kết quả này cũng nhất quán với nghiên cứu của Phan Minh Nguyệt (2014), cho thấy việc tuân thủ tốt chính sách thuế có thể nâng cao chất lượng thông tin BCTC.
Luận văn kiểm định ảnh hưởng của các nhân tố khung pháp lý đến chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), đề xuất hai nhân tố chính: Thứ nhất, thuế, yêu cầu doanh nghiệp tuân thủ chính sách thuế từ khi phát sinh nghiệp vụ đến khi lập BCTC, đồng thời cơ quan thuế cần ban hành các chính sách hỗ trợ nhằm giảm thiểu khó khăn cho doanh nghiệp Thứ hai, chế độ kế toán, cần tăng cường tính pháp lý và hợp nhất hai chế độ kế toán hiện tại để áp dụng chung cho tất cả loại hình doanh nghiệp, nhằm nâng cao chất lượng và tính minh bạch trong lập BCTC.
Đặc điểm DNNVV ở Việt Nam và mối quan hệ với CLTT trên BCTC
Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Việt Nam được định nghĩa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký theo quy định pháp luật, được phân loại thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa Phân loại này dựa trên quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm, trong đó tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên.
Bảng 2.1 Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Quy mô
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
I Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Từ trên 20 tỷ đồng đến
300 người II Công nghiệp và xây dựng
Từ trên 20 tỷ đồng đến
300 người III Thương mại và dịch vụ
Từ trên 10 tỷ đồng đến
Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ
2.4.2 Đặc điểm DNNVV và mối quan hệ thông tin trình bày trên BCTC
DNNVV tại Việt Nam hiện nay chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp hoạt động, đóng góp đáng kể vào GDP hàng năm và tạo ra nhiều việc làm Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, các DNNVV này vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn.
Là DN có quy mô vốn nhỏ việc tiếp cận nguồn vốn là một vướng mắc lớn của các
Doanh nghiệp này đang đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các doanh nghiệp và tập đoàn lớn, đặc biệt về nguồn lực, công nghệ sản xuất và trình độ quản lý còn yếu kém Điều này dẫn đến khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và quốc tế của doanh nghiệp thấp.
Theo nghiên cứu của Võ Văn Nhị (2013), DNNVV ở Việt Nam bao gồm kinh tế cá thể, tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đóng góp quan trọng vào ngân sách quốc gia và tạo việc làm Tuy nhiên, DNNVV vẫn gặp hạn chế về quy mô tài chính nhỏ và phụ thuộc vào vốn vay, dẫn đến thiếu tính chủ động trong chiến lược phát triển Ngoài ra, việc quản lý chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và thiếu hợp tác trong kinh doanh Các DNNVV không chỉ là phiên bản thu nhỏ của DN lớn mà còn có những đặc điểm khác biệt về nguồn lực, thị trường, mức độ linh hoạt, lãnh đạo và cơ cấu tổ chức.
Nghiên cứu của Võ Văn Nhị (2013) chỉ ra rằng, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có những đặc điểm riêng ảnh hưởng đến quy định kế toán, như không phải là công ty đại chúng và chủ yếu phục vụ thông tin cho chủ sở hữu, chủ nợ hiện tại và tiềm năng Do đó, nghĩa vụ công bố thông tin tài chính của DNNVV đơn giản hơn so với các công ty lớn Hơn nữa, nguồn lực hạn chế cũng như yêu cầu kế toán không cao khiến việc đầu tư vào trang thiết bị và nguồn lực cho kế toán gặp khó khăn DNNVV thường tập trung vào các ngành nghề kinh doanh chính với các nghiệp vụ kinh tế cơ bản, do đó quan hệ tài chính phức tạp ít xảy ra Những đặc điểm này ảnh hưởng đến việc ban hành và hoàn thiện các văn bản pháp lý về kế toán cho DNNVV, dẫn đến sự khác biệt trong thông tin trình bày trên báo cáo tài chính (BCTC) so với doanh nghiệp lớn, với thông tin thường đơn giản và ngắn gọn hơn Theo quy định hiện hành tại Việt Nam, BCTC của DNNVV phải tuân thủ mẫu biểu trong quyết định 48/2006/QĐ-BTC.
Chương này giới thiệu lý thuyết thông tin bất cân xứng và lý thuyết ủy quyền như nền tảng giải thích cho chất lượng thông tin báo cáo tài chính (BCTC) Nó cũng trình bày các quy định, khái niệm và quan điểm của một số nhà nghiên cứu tiêu biểu về chất lượng thông tin BCTC cùng những nhân tố ảnh hưởng đến nó Ngoài ra, đề tài đề xuất các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin BCTC tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) và các thước đo liên quan đến chất lượng thông tin này.