1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Những đóng góp của vương triều Lý trong lịch sử dân tộc

31 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 358,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà Lý hoặc Lý triều còn được gọi là nhà Hậu Lý (để phân biệt với nhà Tiền Lý của Lý Nam Đế), là một triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam. Triều đại này bắt đầu khi Thái Tổ Thần Vũ hoàng đế Lý Công Uẩn lên ngôi vào tháng 10 âm lịch năm 1009, sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Tiền Lê. Triều đại này trải qua 9 vị hoàng đế và chấm dứt khi Nữ hoàng đế Lý Chiêu Hoàng, lúc đó mới có 7 tuổi, bị ép thoái vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh vào năm 1225 – tổng cộng là 216 năm.

Trang 1

Những đóng góp của vương triều Lý

trong lịch sử dân tộc

Nhà Lý hoặc Lý triều còn được gọi là nhà Hậu Lý (để phân biệt

với nhà Tiền Lý của Lý Nam Đế), là một triều đại phong kiến trong lịch sử ViệtNam Triều đại này bắt đầu khi Thái Tổ Thần Vũ hoàng đế Lý Công Uẩn lênngôi vào tháng 10 âm lịch năm 1009, sau khi giành được quyền lực từ tay nhàTiền Lê Triều đại này trải qua 9 vị hoàng đế và chấm dứt khi Nữ hoàng đế LýChiêu Hoàng, lúc đó mới có 7 tuổi, bị ép thoái vị để nhường ngôi cho chồng

là Trần Cảnh vào năm 1225 – tổng cộng là 216 năm

Trong thời đại này, lần đầu tiên nhà Lý đã giữ vững được chính quyền mộtcách lâu dài đến hơn 200 năm, khác với các vương triều cũ trước đó chỉ tồn tạihơn vài chục năm Vào năm 1054, hoàng đế Lý Thánh Tông đã đổi quốc hiệu

từ Đại Cồ Việt thành Đại Việt ,để lại nhiều đóng góp và mở ra kỷ nguyên Đại

Việt rực rỡ trong lịch sử Việt Nam

Dời đô về Thăng Long

Hơn 1 năm sau khi lên ngôi vua, tháng 7 âm lịch năm 1010,Lý Thái Tổ tiếnhành dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La (Hà Nội) Ông đã ban hành Chiếudời đô vào mùa xuân năm 1010

Quyết định dời đô ra Thăng Long của Lý Thái Tổ được xem là sự kiệntrọng đại, đánh dấu bước phát triển vượt bậc của vương triều Lý Trong vòng 8thế kỷ tiếp theo, hầu hết các triều đại phong kiến kế tục nhà Lý như nhàTrần, nhà Mạc, nhà Hậu Lê đều tiếp tục dùng Thăng Long làm kinh đô và cóthời gian tồn tại tương đối lâu dài

2.1 Về tư tưởng: Đưa Phật giáo phát triển trở thành quốc giáo trong thiên hạ

Phật giáo thời kỳ này giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, nó đượcgiai cấp phong kiến Việt Nam sử dụng vào việc ổn định trật tự xã hội, phát triểnchế độ phong kiến, dựng nước và giữ nước

Trang 2

 Các vua Lý đều tôn sùng Phật giáo Do nhận thấy được những giá trị màPhật giáo đã và sẽ đem lại cho đất nước nên ngay từ khi lên ngôi, vua Lý CôngUẩn đã cho xây dựng một chính quyền sùng Phật và thân dân, đề cao tư tưởng từ

bi, bác ái

 Ông cho xây dựng chùa trong cả nước, độ dân làm sư, cử sứ thần sangnước Tống xin kinh Tam tạng… Từ đó các tín đồ Phật giáo phát triển cả về sốlượng và chất lượng, hình thành nhiều trung tâm Phật giáo lớn như Đại La, HoaLư

 Nhận thức được vai trò to lớn của những nhân sỹ Phật giáo như vậy nêncác vị vua nhà Lý luôn tìm cách để trọng dụng, tranh thủ đức tài của họ vàocông cuộc trị nước Những vị như thiền sư Vạn Hạnh, Đa Bảo, Giác Hải, MãnGiác, Viên Chiếu, Quốc sư Minh Không, Viên Thông, Thông Biện… không chỉlàm rạng danh Phật giáo đồ mà còn là những bậc quân sự lỗi lạc, phò trợ các bậcquân vương gìn giữ vương quyền chính thể, để lại tiếng thơm lưu danh muônđời Chính vì vậy mà chùa chiền còn là nơi đào tạo trí thức của đất nước

⇨ Có thể nói đây là đóng góp quan trọng nhất của vương triều Lý bởi

đóng góp này đã có nhiều tác động tích cực đến tất cả mọi lĩnh vực của đất nước ta từ chính trị - xã hội đến kinh tế, văn hóa, và quân sự.

2.2 Về chính trị - xã hội

2.2.1 Đổi mới triều đại

 Cuối thời tiền Lê ( tức thời Lê Ngọa Triều), đất nước rơi vào tình thếkhủng hoảng, vua và quan ăn chơi sa đọa, nhân dân sống trong cảnh lầm than,cực khổ Điều này báo hiệu cho sự sụp đổ của triều đại Tiền Lê và thay thế làmột vương triều mới

 Sau khi vua Lê Long Đĩnh mất (Lê Ngọa Triều mất), không có con trainối ngôi, Lý Công Uẩn lên ngôi và lập ra nhà Lý (1010) Việc nhà Lý thành lậpkhông những không gây ra sự bất đồng trong triều đình, sự phản đối trong nhândân mà ngược lại nhân dân hết lòng ủng hộ, quan lại trong triều đều quy phục,

Trang 3

như đánh giá của của những người xưa “Giành ngôi một cách hòa bình ngaytrong khủng hoảng, tránh được can qua”.

 Sự thành lập của vương triều Lý đã chấm dứt thời kì khủng hoảng vàocuối thời Tiền Lê, đưa đất nước bước sang một thời kì mới – thời kì phát triểnthịnh vượng

2.2.2 Đổi mới đế đô

Mùa thu năm 1010, Lý Thái Tổ có một quyết định lịch sử, chọn thành Đại

La kinh đô cũ do Cao Biền xây dựng nằm ven sông Tô Lịch, làm kinh đô mớicho vương triều Lý Bởi Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) nằm trong miền núi nonhiểm trở, mang tính phòng thủ cao đã hoàn thành vai trò lịch sử của mình trongbuổi đầu dựng nước Còn "…thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vươngở vào nơitrung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, đúng vị trí các hướng nam bắcđông tây, rất tiện cho sự nhìn sông dựa núi; địa thế vừa rộng vừa bằng phẳng,đất đai lại cao và thoáng; dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vậtcũng rất mực phong phú, tốt tươi Ngắm khắp nước Việt ta, chỉ có nơi đây là

"thắng địa" Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, xứng đáng

là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời" (Trích "Chiếu dời đô" của vua

Lý Công Uẩn Đó là một sự kiện quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình củavận mệnh dân tộc) Sự phát triển không ngừng của Đại La - Thăng Long - HàNội hơn 1000 năm lịch sử đã minh chứng sự đúng đắn và sáng suốt cho quyếtđịnh dời đô của vua Lý Công Uẩn

2.2.3 Chính sách đối nội:

 Đối với dân: vì dân, thương dân, gần dân

Khi đang tại vị, Lý Thái Tổ - vị vua đầu triều nhà Lý đã cho xây cung LongĐức ở phía đông thành Thăng Long, giữa khu vực dân cư sinh sống và buôn bán

để Thái tử Lý Phật Mã ở, tạo cho Thái tử có điều kiện tìm hiểu đời sống dânsinh, với mong muốn người kế nghiệp tương lai sẽ gần dân, hiểu dân và sau này

có những chính sách thân dân, vì dân

Trang 4

Năm 1029, vua Lý Thái Tông (Lý Phật Mã) cho sửa sang điện CànNguyên và đổi tên là điện Thiên An Hai bên tả hữu đặt hai lầu chuông đối xứngnhau, tạo điều kiện cho dân ai có việc kiện tụng, oan uổng thì đến đánh chuông,nhà vua sẽ đích thân xem xét xử lý Năm 1033, nhà vua lại cho đúc quả chuôngnặng một vạn cân (khoảng 6 tấn), treo ở lầu chuông, để tiếng chuông vang thấutai vua Ngoài ra vào lễ cày Tịch Điền, vua còn trực tiếp xuống cày ruộng để hòamình vào dân, làm gương cho dân chúng Việc làm đó là một minh chứng chochính sách thân dân của vị vua thứ hai của Nhà Lý.

Lý Thánh Tông nổi tiếng là một minh quân Ngài có lòng thương dân nhưcon Sử gia còn chép: "Nhân một năm trời rét đậm, Thánh Tông bảo các quan

hầu cận rằng: Trẫm ở trong cung ngự sưởi than thú, mặc áo hồ cừu mà còn rét

thế này Huống chi những tù phạm giam trong ngục, phải trói buộc, cơm không

có mà ăn, áo không có mà mặc; vả lại có người xét hỏi chưa xong, gian ngay chưa rõ, nhỡ rét quá mà chết thì thật thương tâm lắm Nói rồi vua truyền cho lấy chăn chiếu cho tù nằm, và mỗi ngày cho hai bữa ăn".

 Đối với tù trưởng dân tộc thiểu số miền núi:

Chính sách rằng ràng buộc tầng lớp thống trị miền núi là quan hệ hôn nhân (gảcon gái cho các châu mục, tù trưởng có thế lực để lôi kéo họ)

2.2.4 Chính sách đối ngoại:

 Đối với quân Tống ở phía Bắc:

Ngay sau khi mới lên ngôi, Lý Thái Tổ đã có chủ trương giao hảo với nhàTống Năm 1010, viên ngoại lang Lương Nhậm Văn và Lê Tài Nguyên được cử

đi sứ Tống, do đó quan hệ giữa hai nước tương đối hòa hảo

Từ năm 1075 - 1077, nước ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Tống xâmlược nên quan hệ hai bên trở nên căng thẳng Sau khi cuộc kháng chiến kết thúcthắng lợi, nhà Lý vẫn giữ tư thế một nước độc lập, tiếp tục giao hảo với nhàTống

 Đối với nước Chiêm Thành ở phía Nam:

Trang 5

Ở phía nam, nước Đại Việt giáp với Chiêm Thành, một tiểu vương quốcvốn có tiếng hung bạo, thường hay xua quân sang đánh phá miền duyên hảinước ta Buổi đầu thời nhà Lý, khi Lý Thái Tổ lên ngôi, Chiêm Thành vẫn cho

sứ thần sang cống Kể từ năm 1028, thái tử Phật Mã, tức lý Thái Tông lên làmvua, đã mười lăm năm Chiêm Thành không chịu thông sứ Do đó năm 1044, vuaThái Tông đích thân ngự giá đi đánh Chiêm Thành Quân ta kéo vào kinh đôVijaya, bắt sống vua nước ấy là Rudravarman III Từ đấy phía nam được tạmyên Vua nước Chiêm Thành hằng năm lại vẫn phải triều cống như cũ

 Đối với nhà Kim ở miền Bắc Trung Quốc:

Có điều rất thú vị là nước Kim (nhà Kim) khi đó đang rất hùng mạnh ởmiền bắc Trung Hoa, uy hiếp nước Nam Tống thường xuyên cũng rất tôn trọngĐại Việt Sau khi đã có hòa bình với Nam Tống, năm 1168, vua Kim ThếTông sai sứ giả vượt qua lãnh thổ Nam Tống đến nước Đại Việt và đó cũng làlần duy nhất nhà Kim có quan hệ ngoại giao với Đại Việt

=> Trong hơn hai thế kỷ, nhà Lý vẫn theo đuổi một chính sách ngoại giaolúc cương nghị, lúc uyển chuyển, thật linh động: nhằm mở rộng quan hệ ngànhthương nghiệp với các nước láng giềng, đồng thời bảo toàn được lãnh thổ và nền

tự chủ của dân tộc

.2.2.5 Về xã hội:

 Ngay từ khi Phật giáo du nhập vào nước ta khoảng đầu công nguyên đãđem theo tư tưởng bình đẳng và từ bi rất thích hợp với khối đại đoàn kết toàndân và mở rộng tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau của dân Việt

Nhờ tư tưởng coi trọng đạo Phật cùng những chính sách khích lệ sự phát triển của Phật giáo mà tinh thần vô ngã, vị tha, bình đẳng ấy càng thấm sâu vào tiềm thức của cư dân Đại Việt và tạo nên mối đoàn kết dân tộc sâu sắc giữa vua quan với người dân bình thường, giữa tướng lĩnh với binh lính.

 Biểu hiện:

Trang 6

Năm 1038 vua Lý Thái Tông tổ chức lễ cày tịch điền Vua sai hữu ti quétđất lập đàn, thân tế thần nông, sau đó cầm cày toan làm lễ cày ruộng thì tả hữucan rằng, đó là việc của bọn nông phu, bệ hạ làm việc ấy làm gì? Vua nói: trẫmkhông tự cày thì lấy xôi đâu mà tế, lại lấy gì nêu gương cho thiên hạ Vua đẩycày ba lần rồi ngừng Nhà vua tự thân cày tịch điền đầu năm, là để làm kiểu mẫucho dân của nhà Lý Đấy chính là một minh chứng biểu hiện tinh thần dân chủ

và đoàn kết giữa vua tôi Đại Việt

2.2.6 Về cơ cấu tổ chức hành chính

Năm 1098, nhà Lý định ra quan chế gồm quan văn, quan võ và mỗi banchia thành 9 bậc (cửu phẩm) với nhiệm kì 9 năm

Hệ thống quan đại thần:

 Tam thái: Thái sư, Thái phó, Thái bảo

 Tam thiếu: Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo

 Các chức quan khác: Thái úy, Thiếu úy và Bình chương sự

 Cơ quan giúp việc cho hoàng đế:

 Các sảnh Thượng thư và Trung thư

 Hàn Lâm Viện

 Cơ quan đầu não triều đình: Khu mật sứ

 Các cơ quan giúp việc triều đình: viện, ty, cục, tiêu biểu là Quốc Tử giám

2.2.7 Về pháp luật: Ban bố Hình thư - Bộ luật đầu tiên trong lịch sử.

Sự kiện này được ghi lại trong Đại Việt sử ký toàn thư: "ngày 1 tháng10

năm 1042, ban Hình thư Trước kia việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan lại giữ pháp luật câu nệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt, thậm chí có người bị oan uổng quá đáng Vua lấy làm thương xót, sai Trung thư san định luật lệnh,

Trang 7

châm chước cho thích dụng với thời thế, chia ra môn loại, biên thành điều khoản, làm thành sách Hình thư của một triều đại, để cho người xem dễ hiểu Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện Đến đây phép xử án được bằng thẳng rõ ràng, cho nên mới đổi niên hiệu là Minh Đạo (làm sáng tỏ đạo)" Theo Lịch triều hiến chương loại chí thì, Hình thư gồm có ba quyển, đã bị

thất truyền Tuy nhiên qua sử sách để lại cho ta thấy đây là bộ luật thành vănđầu tiên trong lịch sử dân tộc, là mốc quan trọng trong lịch sử pháp quyền ViệtNam từ Hình thư cho thấy bộ máy chính quyền trung ương tập quyền nhà Lý

đã có đủ các thiết chế để quản lý, điều hành đất nước

 Đặc biệt, nhà Lý còn thi hành chính sách “Ngụ binh ư nông” vừa tăngsản xuất và vừa tập dượt binh lính => kết hợp xây dựng đất nước đi đôi với giữnước ( đến nay nước ta vẫn áp dụng chính sách này)

 “Tháng 2/1040, Lý Thái Tông đã xuống chiếu nói rõ ý định dùng hàng dệttrong nước để may lễ phục cho chính mình và cho bá quan văn võ”

2.3.2 Thủ công nghiệp:

Do những chính sách khuyến khích tăng cường sản xuất của các vua nhà

Lý đã tạo thêm điều kiện cho thủ công nghiệp phát triển

Nhà nước có công xưởng gọi là "Cục bách tác", chuyên chế tạo binh khí,

đồ trang sức, đóng thuyền, đúc tiền, đúc chuông, xây dựng cầu cống, cung điện

Trang 8

chùa đền v.v Thợ làm trong các xưởng này đều tuyển lựa những tay thợ giỏitrong dân gian Các thợ chế tạo vũ khí cũng rất tài năng, đã chế tạo nhiều loạisúng lớn nhỏ.

Nghề dệt lụa, nuôi tằm, ươm tơ vốn là nghề cổ truyền của dân tộc ta.Những thợ dệt giỏi, ngoài việc dệt lụa thường để cung cấp cho người dândùng, đã dệt gấm vóc, thảm gấm

Nghề làm đồ gốm cũng rất tinh xảo

Nghề làm đồ trang sức bằng vàng, bạc, thêu đan, đúc đồng, rèn sắt,nhuộm vải, làm giấy, khắc bản in gỗ v.v

Nghề khai mỏ cũng được phát triển

Riêng nghề in sách ở nước ta phải chờ đến cuối thế kỷ XI do thiền sư TínHọc sáng thiết và thực thiện

2.3.3 Thương nghiệp:

Thương nghiệp nước ta buổi ấy cũng rất phát đạt nhờ chính sách mở mang giao thông vận tải thủy bộ của nhà Lý như đào vét sông ngòi, đắp

đường, làm cầu

Năm 1051, đào kênh Lãm (thuộc Bắc Thái)

Năm 1192, khơi sâu sông Tô Lịch

Các đường giao thông vận tải thủy bộ và hệ thống trạm dịch được mởmang, phía bắc lên đến biên giới Trung Hoa, phía nam vào tận Chiêm Thành

⇨ "Việc lưu thông hàng hóa và trao đổi sản phẩm nhờ đó được mở rộng" Thăng Long, ngay từ khi Lý Thái Tổ mới dời đô về đây, nó không những chỉ là trung tâm của chính trị và văn hóa của cả nước, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế quan trọng, nơi cửa ngõ thu hút người ở khắp bốn phương lũ lượt kéo về tụ họp buôn bán tấp nập ở chợ cửa Đông.

2.3.4 Tiền tệ

Các vua nhà Lý cho đúc tiền để tiện việc trao đổi Hiện nay khảo cổ họctìm thấy đủ các loại tiền từ Thuận Thiên Thông Bảo của Lý Thái Tổ Tiền tệ đãthay dần vật đổi lấy vật: “Năm 1016 được mùa to, 30 bó lúa giá 70 tiền”

Trang 9

2.4 Về Văn hóa

2.4.1 Giáo dục: Triều Lý là triều đại đầu tiên xây dựng trường học ở nước ta

 Trước khi xây dựng trường học:

Một đặc điểm phổ biến của hệ thống giáo dục Việt Nam, đặc biệt là thời Lýchùa chiền giống như một trường học Mỗi ngôi chùa thời ấy là một diễn đàn,một chốn học đường với số người theo học không chỉ có thường dân mà cả bộphận quý tộc Sự học hỏi giữa mọi người diễn ra bình đẳng không phân biệtsang hèn Ở thời Lý, các bâch danh thần như Thái úy Tô Hiến Thành và Tháibảo Ngô Hòa Nghĩa từng thụ giáo học với Thiền sư núi Cao Dã

Nhiều ngôi chùa trở thành các thiền viện nổi tiếng không chỉ phổ biến kinhsách đạo Phật mà còn là diễn đàn của các nhà thơ và tầng lớp trí thức Nho giáobấy giờ Tiêu biểu nhất có lẽ là ngôi chùa Quỳnh Lâm

 Triều Lý xây dựng trường học đầu tiên "Văn Miếu - Quốc tử giám"

Năm 1070, vua Lý Thánh Tông chọn khu đất ở phía Nam hoàng thànhThăng Long để xây Văn Miếu Ngoài chức năng thờ các bậc Tiên thánh, Tiênnho, Văn Miếu còn mang chức năng của một trường học Hoàng gia

Năm 1075, Nhà Lý mở khoa thi đầu tiên trong lịch sử khoa cử Việt Nam đểchọn người tài

Tới năm 1076, Người đứng đầu nhà Lý đã quyết định xây nhà Quốc Tửgiám kề sau Văn Miếu, để làm nơi cho các hoàng tử và con các vị đại thần đếnhọc Việc mở trường dạy học, cho dù ý tưởng ban đầu chỉ là để con cái hoànggia có nơi "nấu sử sôi kinh" cũng đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong sựnghiệp giáo dục của Nhà Lý, của đất nước

Sau này các triều vua Trần, Lê đã tiếp tục phát triển Văn Miếu - Quốc TửGiám thành trường Đại học đầu tiên, là trung tâm giáo dục của cả nước

2.4.2 Văn học

Các tác phẩm văn học:

Trang 10

Nhờ những chính sách phát triển Phật giáo của những vị vua nhà Lý giúpđất nước thái bình đã tạo điều kiện cho nhân dân sáng tác ra các tác phẩm vănhọc Đặc biệt trong thời kì này đội ngũ sang tác chủ yếu là những nhà sư và cáctác phẩm chủ yếu là các bài kinh kệ, thơ nổi tiếng mà ta không thể không nhắcđến như:

 Sư Vạn Hạnh với các tác phẩm để lại có "Thị đệ tử" và một số bài kệ inđậm màu sắc của sấm ngôn

 Lý Thái Tổ với "Thiên đô chiếu" và 1 số bài thơ được chép lại trong Công

dư tiệp kí

 Thiền Sư Mãn Giác với tác phẩm Cáo tất thị chúng (có bệnh, báo cho mọingười)

 Lý Thường Kiệt với bài thờ thần “Nam Quốc Sơn Hà” và "Phạt Tống lộ

bố văn" (Bài văn nói rõ lý do đánh Tống)

Đáng chú ý nhất là 2 tác phẩm:

" Thiên đô chiếu" (Vua Lý Thái Tổ)

"Chiếu dời đô" của vua Lý Thái Tổ, là chiếu lệnh, một lời hịch, tự tay vua

viết, ban ra để nói rõ cho quần thần, trăm họ biết về một về một quyết sách lớncủa triều đình là dời đô, và kêu gọi sự đồng lòng Đây là một văn kiện mang ýnghĩa vô cùng to lớn, là tác phẩm bất hủ về nhiều mặt: văn chương, lịch sử,chính trị, địa lý, triết học…"

 Về văn chương: Chiếu dời đô là áng văn lớn, giàu hình tượng, có trí tưởngtượng phong phú và có tính dự báo rất xa

 Về mặt địa lý: Chiếu dời đô đã thể hiện được cái lợi về mặt địa thế củathành Đại La - Thăng Long - Hà Nội qua những kiến thức về long mạch đất

 Về mặt chính trị, lịch sử: Chiếu dời đô gắn liền với một quyết định vôcùng sáng suốt của vua Lý Công Uẩn, đó là dời đo từ Hoa Lư về thành Đại La

để có thể dễ dàng phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa

 Về mặt triết lý, Lý Công Uẩn dựa vào để lý giải việc đời đô là “Chỉ vìmuốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con

Trang 11

cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi".Mệnh trời là cái tất yếu, không thể cưỡng lại Còn ý của dân - đó là chỗ dựa bềnvững nhất của mọi triều đại (Tư tưởng "thiên thời - địa lợi - nhân hòa")

" Nam quốc sơn hà" (khuyết danh).

Bài thơ thần “Nam Quốc Sơn Hà” không chỉ là một bài thơ cổ vũ tinh thầnchiến đấu của quân lính nhà Lý trong cuộc kháng chống quân Tống xâm lược

mà đây còn được coi là một bản “Tuyên ngôn lần thứ nhất” khẳng định về chủquyễn lãnh thổ nước ta, vì vậy nó mang ý nghĩa cả về văn học và chính trị sâusắc

2.4.3 Địa lý: Lần đầu tiên Vẽ bản đồ đất nước

Lý Anh Tông là vị vua thứ sáu của Nhà Lý, trị vì Đại Việt từ năm 1138

-1175 Trong hai năm:1171 -1172, nhà vua xa giá đi tới nhiều vùng núi non hiểm

trở của đất nước, tìm hiểu đời sống sinh hoạt của người dân Sai người làm tập bản đồ nước Đại Việt, và soạn sách "Nam Bắc Phiên giới đồ" Đây là lần đầu

tiên trong lịch sử Việt Nam, một vị vua nhà Lý đã quan tâm đến việc vẽ bản đồđất nước, vẽ lại hình thế núi sông, phân định rạch ròi biên giới Đại Việt với cácnước lân bang Việc làm có ý nghĩa to lớn ấy của vua Lý Anh Tông đã đặt nềnmóng cho ý thức giáo dục, xây dựng, và bảo vệ biên cương tổ quốc cho các thế

hệ sau Tiếc rằng tập bản đồ đó đã thất lạc trong dân gian

2.4.4 Nghệ thuật:

 Về nghệ thuật kiến trúc

Xây dựng kinh thành Thăng Long (thành Đại La cũ): các nhà khảo cổ

nhận diện mặt bằng kiến trúc tại đây: Chân cột bằng đá, móng trụ sỏi, nền nhàlát gạch vuông, có cống thoát nước Mặt bằng kiến trúc kiểu chữ nhật nhiềugian, có từ 3 cột đến 6 cột, bên cạnh các mặt bằng kiểu lục giác, bát giác

⇨ Các sử gia đánh giá kiến trúc hoàng thành Thăng Long đánh dấu bước chuyển biến vượt bậc của nghệ thuật kiến trúc và quy hoạch kinh thành Thăng Long.

Trang 12

 Do sùng bái đạo Phật và trọng dụng đức tài của các vị thiền sư nên các

vua thời Lý đã cho xây dựng rất nhiều chùa: 8 ngôi chùa ở Bắc Ninh, chùa

Thiên Quang, Thiên Đức, Thiên Vương, chùa Một Cột, chùa Báo Thiên… tạođiều kiện cho nền kiến trúc Phật giáo phát triển trong đó chùa Một Cột được xếpvào di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia với nghệ thuật kiến trúc vô cùng độcđáo

⇨ Những công trình nghệ thuật kiến trúc thời Lý mang những đặc trưng sau:

 Đẹp và công phu

 Phong phú về loại hình (từ 3 hàng chân cột tới 6 hàng chân cột một vì)

 Quy mô rộng lớn (có kiến trúc dài 13 gian vẫn chưa kết thúc trong hố khaiquật)

 Trang trí rất tinh xảo, kết hợp hài hòa giữa các chấtliệu gỗ - đá - gạch - đất nung

 Quy hoạch thống nhất và cân xứng

Bên cạnh đó nhiều tác phẩm nghệ thuật tạo hình đặc biệt là điêu khắc, tạc đúc thời Lý mang đậm yếu tố Phật giáo:

Hình tượng con rồng thời Lý hiền hòa, mềm mại trên đồ gốm, đồ trang sức,trong các đền, chùa…Các tác phẩm chạm khắc, tạc tượng Phật…hay đúcchuông bằng đồng… Cho đến ngày nay các tác phẩm này có vị trí đặc biệt quantrọng, mang giá trị lịch sử và văn hóa của một thời đại

Nước Đại Việt có 4 công trình nghệ thuật bằng đồng nổi tiếng được gọi là

"An Nam tứ đại khí" thì 3 trong số đó được tạo ra thời Lý:

 Tháp Báo Thiên

 Chuông Quy Điền ở chùa Một Cột

 Tượng Phật Di lặc ở chùa Quỳnh Lâm

giáo phát triển của vương triều Lý lại giúp cho việc làm phong phú thêm nền nghệ thuật nước nhà.

Trang 13

2.5 Về Quân sự - Quốc phòng

 Tổ chức quân đội:

Nhà Lý thi hành chính sách "ngụ binh ư nông" (gửi binh ở nhà nông), choquân sĩ luân phiên về cày ruộng và thanh niên đăng kí tên vào sổ nhưng vẫn ởnhà sản xuất, khi cần triều đình sẽ điều động Quân đội nhà Lý có quân bộ vàquân thuỷ, kỉ luật nghiêm minh, được huyấn luyện chu đáo; vũ khí trang bị choquan đội gồm giáo mác, đao kiếm, cung nỏ, mắy bắn đá…

 Các vị vua thời Lý đã trực tiếp lãnh đạo những trận chiến đấu với quângiặc giành nhiều thắng lợi không chỉ về mặt quân sự mà còn về chính trị

 Kháng chiến chống Tống (1075 - 1077) có ý nghĩa hết sức to lớn Nó đậptan âm mưu xâm lược của nhà Tống, bảo vệ nền độc lập chủ quyền và toàn vẹnlãnh thổ của đất nước, củng cố niềm tin vào chính quyền và xây dựng khối đạiđoàn kết toàn dân đánh giặc mà trong đó không thể không kể đến vai trò củaPhật giáo và lực lượng sư tăng, Phật tử

 Thắng lợi đối với Chiêm Thành: Trong triều đại nhà Lý, tổng cộng cókhoảng 10 lần các vua hay các quan lại cao cấp như Lý Thường Kiệt, Tô HiếnThành, Lý Thánh Tông đã đem quân đi đánh Chiêm Thành Sau mỗi lầnđánh,vua Chiêm Thành lại cầu hòa, cử người sang cống nhưng sau đó lại chốngđối

Sự kiện lớn nhất là vào năm 1069, Chiêm Thành đem quân ra cướp phávùng Nghệ An - Hà Tĩnh Vua Lý Thánh Tông thân chinh dẫn 10 vạn quân namchinh vào tận kinh đô Chiêm Thành đánh bại và bắt được vua Chiêm đưa vềThăng Long, để được tha vua Chiêm và triều đình Chiêm Thành đã cắt phần đấtphía Bắc dâng cho Đại Việt là vùng đất Quảng Bình và bắc Quảng Trị ngày nay,sau sự kiện này biên giới phía nam của Đại Việt lần đầu tiên tiến đến sôngThạch Hãn (Quảng Trị)

 Thắng lợi với Chân Lạp: Trong lịch sử có 4 lần tướng nước Chân Lạpsang định cướp châu Nghệ An nhưng đều thất bại, trong đó có 3 lần bị các tướng

Trang 14

nhà Lý đánh bại năm 1128, 1132,1136 Lần thứ tư do thời tiết khắc nghiệt nêntướng nước Chân Lạp vừa sang đã thất vọng quay về.

Kết luận: Nhờ những đóng góp trên, Đời sau xem sử ba đời vua Lý Thái

Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông kế tục nhau trong việc dựng nước và giữnước, những việc làm đó đều đặn thu được thành tựu, không hề thất bát, suy bại;vua sau đã thay nhưng vua trước như thể vẫn còn; nước Đại Cồ Việt trở thànhĐại Việt tuần tự đi lên không bị suy sút, thua thiệt Điều đó cho thấy một chínhsách, tư tưởng nhất quán của các vua Lý Cả ba vua đầu tiên của nhà Lý đều cótài văn võ kiêm toàn, kính Phật yêu dân Ba vị vua Lý này là những người đặtnền tảng cho một nhà Lý tồn tại bền vững hơn 200 năm, là triều đại đầu tiêntruyền nối được lâu dài trong lịch sử Việt Nam, đưa nhân dân vào cuộc sống quy

củ, nề nếp, đưa đất nước vào thời kỳ phát triển ổn định

TƯ TƯỞNG PHAN BỘI CHÂU, PHAN CHÂU TRINH VÀ CUỘC VẬN ĐỘNG VĂN HÓA ĐẦU THẾ KỶ XX

Cuối thế kỷ XIX, phong trào Cần Vương chống Pháp thất bại Toàn bộđất nước ta bị đặt dưới sự thống trị của thực dân Pháp Chúng bắt đầu thực hiện

kế hoạch “khai thác thuộc địa” Xã hội phong kiến Việt Nam đình trệ từ lâu, nay

đã bị phá vỡ, chuyển thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến Quá trìnhchuyển biến này đã tạo ra một giai đoạn giao thời kéo dài trong khoảng vài chụcnăm đầu thế kỷ XX

Nhà nước “bảo hộ” thi hành nhiều chính sách thực dân nhằm biến nước tathành một thị trường tiêu thụ hàng hoá và bóc lột nhân công để thu về lợi nhuậncao nhất tư bản Pháp, đồng thời vẫn kìm hãm xã hội Việt Nam trong tình trạngtối tăm của một nước nông nghiệp lạc hậu để dễ bề thống trị

Trên lĩnh vực văn hoá, thực dân Pháp đã thực hiện một chính sách văn hoá

nô dịch, nhằm làm cho nhân dân Việt Nam đoạn tuyệt với những giá trị truyềnthống tốt đẹp, đồng thời phục hồi những mặt lạc hậu, phản động trong văn hoá

Trang 15

phong kiến Chúng khuyến khích việc truyền bá văn chương yêu đương uỷ mị,đưa văn hoá phương Tây, trước hết là văn hoá Pháp vào nước ta để chống lạivăn hoá truyền thống dân tộc Cùng với việc hạn chế đi tới sự thủ tiêu Nho học,thực dân Pháp đào tạo những người Tây học để phục vụ bộ máy thống trị củathực dân Pháp, đúng như nhận xét của một nhà chí sĩ yêu nước:

“Nó mở trường học Pháp Việt … chỉ dạy cho biết sơ sơ chữ Pháp, dịchđược qua loa tiếng Pháp, đã coi là đủ rồi Còn như điện học, hoá học, hình học,thương học người Pháp có đặt ra một khoa nào đâu … người Pháp chỉ khoái trá

về chỗ nó làm mất chí khí của người nước ta thôi … Cách làm cho ta ngu, ta yếu

nó chỉ sợ ta không càng ngày càng ngu hơn, càng ngày càng yếu hơn mà thôi” Tuy vậy, cùng với chế độ thuộc địa nửa phong kiến ra đời và thay thế chế

độ phong kiến vốn đã tàn lụi, xã hội Việt Nam cũng có những chuyển biến nhấtđịnh Sự thay đổi này không chỉ do hoàn cảnh lịch sử trong nước mà còn do ảnhhưởng tác động của trào lưu cách mạng trên thế giới

Ở châu Á vào đầu thế kỷ XX, sau khi Minh Trị Thiên Hoàng cải cách duytân, Nhật Bản trở thành một nước tư bản chủ nghĩa tương đối phát triển về mọimặt Đặc biệt, thắng lợi của Nhật trong cuộc chiến tranh với Nga năm 1904-

1905 càng làm cho thanh thế Nhật càng vang dội, và Nhật Bản được xem như làmột tấm gương đáng học tập

Còn ở Trung Quốc, cuối thế kỷ XIX, Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu tổchức Cường học hội, chủ trương duy tân Trong quá trình ấy, ở Trung Quốc xuấthiện nhiều tân thư, trong đó có một số sách dịch các tác phẩm của các nhà tưtưởng dân chủ tư sản và được đưa vào nước ta làm ảnh hưởng đến tư tưởng các

sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ

Nói về ảnh hưởng của các tác phẩm ấy, báo Thần Chung ở Sài Gòn ra ngày01-01-1929 viết: “Những “Thanh Nghị báo”, “Tân Dân tùng báo”, “Ẩm băngthất”, “Tự do thư”, “Trung Quốc hồn” đã đánh thức đám sĩ phu ta gần như trựctiếp, vì trong đó nói chuyện nước Tàu mà có nhiều chỗ trùng bệnh người mìnhlắm”

Ngày đăng: 26/05/2021, 15:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w