địa hình nghiệng theo hướng TB – ĐN... – Địa hình ở đây khá cao và bằng phẳng nhưng hiếm nước. T iếp theo là cánh cung Ngân Sơn cũng với hướng á kinh tuyến. Là dãy núi quan trọng vì nó l[r]
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP THI TỐT NGHIỆP MÔN : ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VIỆT NAM CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VIỆT
– Bao gồm vng nội thủy ( từ bờ biển đến đường cơ sở )
– Từ đường cơ sở ra 12 hải lí l vng lnh hải, thm 12 hải lí nữa l vng chuyển tiếp
– Từ đường cơ sờ ra 200 hải lí là vùng đặc quyền kinh tế ( 1 hải lí = 1852 m )
– Nếu tính từ 2 quần đảo Hoàng Sa và trường Sa thì giới hạm phía đông của Việt Nam đến
1170 Đ, phía nam xuống đến 60B
→ Việt Nam nằm gọn trong vng nội chí tuyến Bắc bn cầu cĩ chế độ khí hậu nĩng ẩm quanh
năm, là trung tâm của Đông Nam Á với hai mặt gip biển vừa gắn liền với lục địa – u vừathơng ra Thi Bình Dương
2. Diện tích:
Phần đất liền :
Diện tích 330.991 km2, trải dài theo hường Bắc – Nam hơn 2000km chiều ngang tuỳ nơirộng nhất là 600km ( Bắc Bộ ), hẹp nhất là 50km ( Quảng Bình ) Riệng đường bờ biển dài3260km ( chưa tính các đảo )
Phần trên biển :
– Riệng phần mặt nước thuộc lãnh hải Việt Nam rộng khoảng 1 triệu km2 trong đó có hàngnghìn đảo lớn nhỏ, tập trung nhiều nhất là ở vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan
– Một số đảo lớn: cái Bầu, Cái Bàn, Cát Bà, Phú Quốc, Côn Sơn
– Có hai quần đảo chính là Hoàng Sa, Trường Sa
3. Biên giới:
Việt Nam có đường biên giới tiếp giáp với nhiều nước trên đất liền kể cả biển
Trên đất liền :
– Phía bắc giáp Trung Quốc đường biên giới dài 1400km
– Phía tây giáp Lào đường biên giới dài 2067km; Campuchia có đường biên giới dài 1080km
Trên biển : Việt Nam tiếp giáp với nhiều nước.
– Tiếp giáp với Trung Quốc, Đài Loan, Philippin, Indonesia, Brunây, Malaysia, Thái Lan,Campuchia
– Đến nay về phân biệt ranh giới trên biển chưa rõ ràng trừ Trung Quốc ( tại vịnh Bắc Bộ ViệtNam chiếm 53,3% diệb tích, Trung Quốc chiếm 46,7% diện tích), đối với các quốc gia còn
Trang 2lại vẫn còn tranh chấp mặc dù VN có đủ chứng cứ về LS chứng minh nguồn gốc 2 quần đảoHoàng Sa và Trường Sa là của VN
II ĐẶC ĐIỂM CHUNG
1 Việt Nam có tính biển ( Hải dương) lớn nhất so với các nước trên bán đảo Trung An:
– Với hình dạng chữ S hai mặt giáp biển, nếu lấy diện tích chia cho chiều dài đường bờ biển thì cứ100km2 thì có 1km bờ biển ( gấp 6 lần trung bình TG ), nếu lấy diện tích đất liền so với diện tíchbiển của VN thì cứ 1 km2 đất liền có 4km2 biển ( gấp 1,7 lần trung bình TG )→ Qua đó có thểgiải thích được tại sao thực vật ở Việt Nam lại xanh tươi quanh năm
– Biển Đông là một biển kín với diện tích 3,447 triệu km2 chứa 4 triệu m3 nước, đay là vùng dựtrữ ẩm và nước lớn ( thứ 2 TBD và thứ 3 TG ) Vì vậy các loại gió thổi vào VN mang lượng ẩmkhá lớn và gây mưa to vào mùa hạ làm cho độ ẩm không khí luôn trên 80% nên cây cối xanhtươi quanh năm cũng như quá trình phong hoá diễn ra nhanh → Các tầng đất tương đối dầy– Biển Đông rất giàu về tài nguyên:
+ Có nhiều loại thủy hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, mực, cua,rong biển, đồi mồi, yến xào và nhiều loại cá
+ Ngoài ra thềm lục địa còn có nhiều khoáng sản nhất là dầu mỏ và kí đốt
+ Trên biển có nhiều cảnh đẹp, khí hậu trong lành thuận lợi phát triển nhiều khu du lịch nổi tiếng như: vịnh Hã Long, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Hà Tiên…
+ Ngoài ra biển còn có giá trị rất lớn về giao thông hàng hải nội địa và quốc tế , cũng như nhiều nơi có địa hình thuận lợi để xây dựng cảng lớn ( Quảng Ninh, Đà Nẵng, Cam Ranh, Vũng Tàu… )
2 Việt Nam là nước có nhiều đồi núi, đồng bằng chỉ là những châu thổ ven biển với tổng diện tích không quá ¼ lãnh thổ.
– Đồi núi chiếm ¾ diện tích làm ảnh hưởng rất lớn đến các đặc điểm tự nhiên khác của VN:– Tính ¾ đồi núi khiến cho cảnh quan tự nhiên rất đa dạng, với nhiều nền địa chất, nhiều kiểu địahình, nhiều kiểu khí hậu
– Hệ thống núi ở VN đa dạng và phân bậc ( thời gian nâng khác nhau, cường độ nâng khácnhau…) 70% diên tích dưới 500m, từ 500 – 1000m chiếm 15% diện tích, từ 1000 – 2000mchiếm 14% diện tích, trên 2000m chiếm 1% diện tích → đồi núi thấp, sự phân bậc này đã hìnhthành các đai cao trong tự nhiên: khởi đầu là đai nhiệt đới trên núi, Á nhiệt đới và ôn đới trênnúi ( từ 500m trở xuống là nhiệt đới, từ 500 – 2600m là á nhiệt đới trên núi, từ 2600m trở lên làđai ôn đới trên núi )
– Đồi núi VN tuy thấp nhưng rất hiểm trở, giao thông khó khăn do địa hình bị chia cắt bởi mạnglưới sông ngòi dày đặc ( TB cứ 1km2 có 1km sông ) làm cho địa hình đồi núi VN có nhiều sườndốc ảnh hường đến việc khai thác nông nghiệp, GTVT và đặc biệt là chống xói mòn
→ Tuy nhiên chính địa hình đồi núi đã mang lại cho VN nhiều nguồn lợi lớn về kinh tế:
khoáng sản, thủy điện, khí hậu đồi núi mát mẻ phong cảnh đẹp đem đến nguồn lợi du lich rấtlớn
– Đồng bằng tuy nhỏ nhưng phì nhiêu, thuận tiện đi lại, tập trung nhiều dân cư, đô thị
3 Việt Nam là nước nhiệt đới gió mùa ẩm:
– Do vị trí nằm trong vùng nhiệt đới nên VN có bức xạ mặt trời cao ( 130kcal/cm2/năm), cân bằngbức xạ nhiệt luôn luôn dương ( 75kcal/cm2/năm ) Tổng nhiệt độ năm cao khoảng 90000C/năm,nhiệt độ trung bình năm cao trên 200C và có tính t ng d n t B c vào Namă ầ ừ ắ
Trang 3Vị trí Nhiệt độ trung bình năm Tổng nhiệt độ năm
Hà NộiHuếQui NhơnTPHCM
23,40C25,10C26,40C26,90C
– Đại bộ phận lãnh thổ có mưa vào mùa hạ ( tháng 5 đến tháng 10 ) do gió mùa Tây Nam và ĐôngNam mang lại Mùa khô từ tháng 11 – 4 do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc lạnh khô, đồngthời làm cho miền bắc hình thành mùa Đông lạnh có nhiệt độ trung bình từ 15 – 160C, có khi 5 –
60C, vùng núi có thể 00C, nên hiệb tượng sương múi, băng giá khá phộ biến Từ thực vật tựnhiên ở miền Bắc chủ yếu là các loài cây chịu lạnh vào mùa đông thuộc họ đậu và vang Ơ miềnNam do nòng quanh năm nên thực vật tự nhiên chủ yếu là thuộc họ dầu Ơ vùng núi cao khí hậulạnh có thông, dẻ re, samu, pơmu
4 Việt Nam có sự phân hoá theo không gian lớn :
Tự nhiên VN có sự thay đổ lớn từ Bắc – Nam, từ Đông – Tây và từ thấp lên cao
a Từ Bắc vào Nam
Nguyên nhân của sự phân hoá là do gió mùa Đông Bắc, làm cho miền Bắc hình thành đớigió mùa chí tuyến có tổng nhiệt độ năm khoảng 75000C ( từ 160B trở ra ) – phát triển đới rừnggió mùa chí tuyến Ranh giới là đèo Hải Vân Phía nam đèo Hải Vân là đới rừng á xích đạo vớitổng nhiệt độ năm khoảng 90000C Trong đó có nhiều á đới:
– A đới có mùa đông rõ rệt: nằm ở phía Bắc vĩ độ 180B ( dãy Hoành Sơn )
– A đới không có mùa đông rõ rệt: nằm từ vĩ độ 180B → 160B ( dãy Bạch Mã )
– A đới không có mùa khô rõ rệt: từ vĩ độ 160B đến 140B ( dãy Ngọc Lĩnh mưa do gió mùaĐông Bắc vào mùa đông và gió mùa Tây Nam vào mùa hè )
– A đới có mùa khô rõ rệt: phía nam vĩ độ 140B
b Từ Đông sang Tây
Gồm 3 vùng: biễn và thềm lục địa, đồng bằng, đồi núi và cao nguyên
– Vùng biển và thềm lục địa : thềm lục địa được tính từ bờ biển đến độ sâu 200m thềm lục địa
ở VN có hình dạng giống như trê đất liền, vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan là những vịnh nông
có độ sâu trung bình 50m, ở Trung Bộ đường đẳng sâu 200m cách bờ biển 30km
– Vùng đồng bằng : VN có hệ thống đồng bằng trải dài từ Móng Cái đến Hà tiên tuy nhiên bị
chia cắt thành nhiều đồng bằng nhỏ hẹp do các nhánh đồi núi lan ra sát biển
– Vùng đồi núi : có sự phân hoá rất lớn
+ Phía bắc Sông Hồng gồm các dãy núi có dạng cánh cung qui tụ về phía Tam Đảo + Từ Sông Hồng đến dãy Bạch Mã đèo Hải Vân núi có dạng dải ( kéo dài không liên
tục ) theo hướng Tây bắc – Đông Nam với nhiều đỉnh cao trên 3000m
+ Phía nam Hải Vân núi toả rộng ( dạng toả rộng ) và lan ra sát biển với nhiều hướng
khác nhau ôm lấy dãy cao nguyên bazan ở phía tây
Trang 4 Miền Bắc có mùa đông lạnh, nhiệt độ < 180C
Miền Nam nóng quanh năm+ Từ 100 – 300m
Miện Bắc có mùa đông rét , nhiệt độ < 150C
Miền Nam nóng giảm+ Từ 300 – 600m
Miền Bắc đa số có mùa đông rét
Miền Nam nóng giảm đi một nửa
– Đai á nhiệt đới trên núi ( 600 – 2600m): tổng nhiệt độ năm chỉ đạt trên 45000C Mùa hè mát,nhiệt độ trung bình khoảng 250C Thực vật chủ yếu là các loại cây á nhiệt đới và ôn đới chânnúi
+ Đai từ 600 – 1000m mang tính chuyển tiếp
+ 1000 – 1600m mang tính điển hình á nhiệt+ 1600m trở lên mang tính pha ôn đới
– Đai ôn đới trên núi ( trên 2600m ) : có tổng nhiệt độ năm dưới 45000C, quanh năm rét nhiệt
độ trung bình dưới 150C, mùa đông dưới 100C thực vật chủ yếu là các loài cây lá kim và cácloài cây thấp ( càng lên cao gió càng nhiều ) như là đổ quyên, lãnh sam, thiết sam
CHƯƠNG II : LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TỰ NHIÊN VIỆT NAM
I GIAI ĐOẠN TIỀN CAMBRI
- Cách nay 2 – 3 tỷ năm, kết thúc cách nay 570 triệu năm
- Qua thời gian dài hàng tỷ năm với nhiều vận động kiến tạo ( nâng lên, hạ xuống ) nối tiếp nhau đã biến vỏ lục địa Đông Nam Á từ vỏ đại dương thành lục địa bao gồm các vận động
+ Nâng lên làm cho đại dương trở thành lục địa
+ Tách giãn biến lục địa thành đại dương
- Kết quả : làm cho vỏ lục địa Đông Nam Á bị xáo trộn, bị macma xâm nhập, trầm tích và biến chất nhiều lần làm cho ngày nay vỏ lục địa Đông Nam Á rất phức tạp Lớp phủ địa chất dày và được sắp xếp cơ bản
+ Cuối cùng là lớp đá Gnai
+ Tầng giữa là đá hoa và diệp thạch kết tinh
+ Trên cùng là đá biến chất yếu và granit
II GIAI ĐOẠN CỔ KIẾN TẠO
Cách nay khoảng 570 triệu năm và kết thúc cách nay 65 triệu năm bao gồm các thời kì nâng và sụp với nhiều pha xâm nhập phun trào Chia ra 4 chu kì
1 Chu kì Calêdoni:
Trang 5Chu kì này diện ra từ Cambri đến Silua dài 175 triệu năm và kết thúc cách nay 395 triệu năm Gồm 2 phần:
– Pha trầm tích ( sụp võng trầm tích lắng đọng ): xảy ra vào Cambri đến Ođovic trung Kết
quả: hình thành lớp trầm tích vôi và chứa vôi
– Pha uốn nếp ( nậng lên ): xảy ra từ Odovic trung đến Silua thượng Kết quả: mở rộng khu
Việt Bắc và hình thành cánh cung duyên hải Riêng ở địa máng Trường Sơn bị sụp võng vàlắng đọng trầm tích hình thành các loại đá trầm tích như : đá sét ( diệp thạch ), cát kết, đávôi Riêng Trung và Nam bộ hình thành đứt gẫy Xêcông và rãnh Nam Bộ
2 Chu kì Hecxini
– Diễn ra từ Devon hạ đếm Permi thượng cách nay 395 triệu năm trải 170 triệu năm và kết thúc cách nay 225 triệu năm
– Kết quả :
+ Miền Bắc có hiện tượng sụp lún và biển tiến vào, từ đó hình thành các loại đá sét, cát
kết, đá vôi, dẫn đến hình thành các khu vực núi đá vôi và địa hình Karst ở miền Bắc ViệtNam Tập trung nhiều nhất ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Việt bắc…
+ Miền nam chu kì Hecxini diễn ra xung quanh khối nho Kontum Ơ phía Bắc tạo thành
những uốn nếp tiền đề để hình thành nên dãy TS bắc Phía nam uốn nếp hình thành vùngnúi cao của cực nam trung bộ trong đó có nhiều đỉnh trên 2000m cấu tạo chủ yếu là đágranit và riôlit
3 Chu kí Indosini
– Kéo dài 40 triệu năm suốt từ Triat hạ đ61n thượng là chu kì quan trọng nhất vì kết thúc chu
kì này địa hình VN cơ bản đã hình thành xong, chấm dứt chế độ địa tào, địa máng ở VN– Kết quả :
+ Ơ miền Bắc : chu kì Indosini không mạnh lắm, chỉ một vài sụt lún nhỏ hình thành một ít
trầm tích ờ Sông Hiến và An Châu Song song đó là một ít phun trào Riolit ở Việt Bắc
và Đông Bắc
+ Ơ Tây Bắc và Bắc Trung Bộ : chu kì Indosini hoạt động mạnh nhất tập trung ở địa máng
sông Đà, Cả, hình thành nên lớp trầm tích dày 6000m Trong đó nhiều nhất là trầm tíchcát kết và đá vôi
+ Ơ miền Nam : ở khu vực Kontum và cực Nam Trung Bộ diễn ra các hoạt động rất mạnh
như nâng lên, đứt gẫy, sụp võng… Trong đó chủ yếu là nâng lên ở Kontum và cực NTB,sụp võng ở An Điềm và Đông Nam Bộ, hình thành đứt gẫy Xê Công, tách lục địa ĐôngNam Á thành 2 phần khác nhau
4 Chu kì Kimêri
– Xảy ra từ Jura đế Creta: là chu kì bổ khuyết cho 3 chu kì trên với những uốn nếp nhẹ kèmtheo macma như là phun trào rioli ở Cao Bằng, Lộc bình, Tam Đảo và xâm nhập granit ởPhiaya, phia – uắt Miền Nam có phun trào riolit ở Qui Nhơn, Vũng Tàu, Langbian
– Như vậy chu kì Kimêri diễn ra từ bắc vào Nam nhằm hoàn thiện các chu kì trước đó, đánhdấu sự chấm dứt chế độ địa tào, địa máng và chuyển sang giai đoạn mới : giai đoạn lục địa
III GIAI ĐOẠN TÂN KIẾN TẠO
1 Giai đoạn bán bình nguyên:
Trang 6Bắt đầu từ Paleogen đến Oleogen qua 40 triệu năm cách nay 25 triệu năm Chủ yếu là quátrình ngoại lực như: xâm thực, bốc mòn, rửa trôi làm hạ thấp địa hình, biến địa hình cổ kiến tạothành địa hình bán bình nguyên gợn sóng.
2 Tân kiến tạo : ( TKT )
– Bắt đầu từ Neogen cách nay 26 triệu năm cụ thể là từ Mioxen là một giai đoạn cực kì quantrọng vì địa hình VN và TG ngày nay do Tân Kiến Tạo hình thành
– Qua 40 triệu năm được củng cố vững chắc bởi quá trình bán bình nguyên hoá sang giai đoạnTKT địa hình ít bị biến đổi mà chủ yếu là kế thừa và nâng cao thêm dựa trên cơ sở địa hình
cũ là chủ yếu ( Địa hình VN mang tính cổ kiến tạo và TKT vì địa hình được hình thành qua hàng loạt giai đoạn từ cổ kiến tạo đến Mioxen diễn ra quá trình TKT dựa trên nền
cổ kiến tạo cũ ).
– Vai trò :
+ TKT đã tạo nên tính chất phân bậc của địa hình VN
+ TKT hình thành nên các vùng sụp võng là tiền đề hình thành các đồng bằng châu thổ.+ TKT đã hồi sinh các đứt gẫy cũ là tiền đề để hình thành các hệ thống sông lớn ở VN.+ Tạo nên các hiện tượng phun trào bazan hình thành các cao nguyên bazan màu mỡ ởVN
+ TKT nâng cao địa hình cao lên thành địa hình trẻ ( đỉnh nhọn sườn dốc ), làm trẻ hoá hệthống sông ngòi, làm cho địa hình bị chia cắt sâu sắc Ta có thể chia TKT thành các chu
kì :
a Chu kì 1:
– Bắt đầu từ Mioxen hạ có hai quá trình hoạt động
– Hình thành một số đứt gẫy mới và tái sinh một số đứt gẫy cũ dọc theo sông Hồng, Chảy,
Lô cũng như ở Tây Nguyên và Tây Bắc, bồi đắp trầm tích Mioxen
– Nâng địa hình cao lên 1500 – 1800m làm cho Phansipăng đạt độ cao 2100 – 2200m và
ngày nay người ta thấy nhiều trầm tích Mioxen ở Sapa ( Sapa – Chu kì 1 ).
theo phun trào dung nham bazan ở Tây Nguyên ( Đồng bằng Bắc Bộ – Tây Nguyên – Chu
Trang 7f Chu kì 6:
Bắt đầu từ Pleixtoxen thượng kéo dài đến Holoxen ngày nay gồm các vận động:
– Nâng nhẹ địa hình tạo thành các thềm phù sa cổ ( Củ Chi, Hóc Môn, Tây Ninh, LongThành,…), kèm theo phun trào bazan trẻ ở La Bảo, La Ngà, Định Quán, Quảng Ngãi.– Có hiện tượng kiến tạo ở ngoài khơi hình thành các hố sụp sâu đến 4000m, trung bình là2000m và 1 núi lửa yếu hoạt động ở ngoài khơi Nha Trang ( 1923 ) hình thành đảo HònTro
– Có hiện tượng biển tiến do băng tan làm một số vùng ven biển biến thành đảo, bán đảo,quần đảo, vịnh biển
→ Qua đó ta thấy chu kì 6 hoạt động chủ yếu là ở ngoài khơi biển Đông, trong đất liền rạt yếu Ngày nay, vần còn đang hoạt động bằng những trận động đất nhẹ ở ngoài khơi, trong lục địa, các suối nước nóng ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Duyên Hải, chứng tỏ các hoạt động của dung nham trong lòng đất vẫn còn ảnh hưởng đến lớp vỏ địa lí VN.
CHƯƠNG III: ĐỊA HÌNH VIỆT NAM
I ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỊA HÌNH VIỆT NAM
– Địa hình là một yếu tố quan trọng trong tự nhiên ví nó có hình dáng nổi bật nhất và chi phối mạnh
mẽ đến các yếu tố tự nhiên khác, là nơi diễn biến các yếu tố tự nhiên, riêng bản thân nó thì khábền vững và ít thay đổi
– VN nằm ở vùng nội chí tuyến đáng lẽ ít có sự phân hoá theo không gian, nhưng sự phân hoá ĐôngTây, Bắc – Nam, thấp lên cao làm cho tự nhiên Việt Nam vốn đã phức tạp lại càng phức tạp hơn
do có sự đóng góp của địa hình
– Địa hình là nơi diễn ra mọi hoạt động sản xuất của xã hội, làm cho địa hình ngày càng thay đổi,làm mất đi vẻ nguyên sinh, hình thành nên dạng địa hình mới là dạng nhân sinh, phần lớn địa hình
VN ngày nay là dạng địa hình nhân sinh
Đồi núi là một bộ phận quan trọng của địa hình Việt Nam
– Chiếm ¾ diện tích địa hình và trở thành yếu tố quan trọng trong tự nhiên, cụ thể miền đồi núiViệt Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn Bắc, Trường Sơn Nam và Tây Nguyên Còn lại ¼
– Đị a máng : quá trình sụp võng bồi trầm tích sau đó được nâng lên nên đá chủ yếu là trầm tích
– Sự khác nhau của đá bazan ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
+ Bazan Tây Nguyên: có tuổi đời lâu ( chu kì 4 ), phẩu diện phong hoá triệt để ( không còn lẫn đá sỏi )
+ Bazan Đông Nam Bộ: có tuổi muộn hơn ( chu kì 5 ), phẩu diện chưa phong hoá triệt để.
– Phun trào bazan qua 3 giai đoạn: Tây Nguyên ( Chu kì 4 ), Đông Nam Bộ ( Chu kì 5 ), Định Quán ( Chu kì
6 )
Trang 8là đồng bằng: bao gồm 2 đồng bằng châu thổ là đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ, tiếptheo là đồng bằng duyên hải và một số ít đồng bằng chân núi, chân các cao nguyên.
– Thung lụng sông Hồng là ranh giới giữa hai khu vực núi có hương khác nhau
– Phía bắc sông Hồng: núi có dạng cánh cung, qui tụ về dãy Tam Đảo, dạng nan quạt, núi khôngcao lắm và hơi nghiêng theo hướng TB – ĐN
– Vùng đồi núi phía nam sông Hồng: hướng núi dạng dải ( kéo dài không liên tục ), bao gồmcác dãy núi thuộc Tây Bắc, Trường Sơn Bắc, Trường Sơn Nam với các hướng TB – ĐN, B-N,hay ĐB – TN tạo thành một vòng cung nối tiếp nhau, lưng quay ra biển và ôm lấy dải caonguyên bazan ở phía tây
– Hai cấu trức dang dải và vòng cung nối tiếp nhau tạo thành hình chữ S riêng ĐNB và Bắc Bộhình thành trên miền võng uốn nếp nên dủ khá bằng phẳng nhưng xung quanh vẫn còn nhiềuđồi núi sót
Đồi núi Việt Nam thuộc loại già được Tân Kiến Tạo làm trẻ lại
– Trong thời kì Cổ Sinh và Trung Sinh các vận động kiến tạo như Celodoni, Hecxini, Indosini,Kimeri đã tạo nên địa hình đồi núi cổ có độ cao khác nhau và hướng khác nhau Sau đó sanggiai đoạn TKT bắt đầu giai đoạn bán bình nguyên hoá làm san bằng địa hình cổ hình thànhdạng địa hình mới là dạng bán bình nguyên gợn sóng
– Về sau bán bình nguyên bị tác động mạnh mẽ bởi TKT làm thay đổi toàn bộ bề mặt địa hìnhnhưng mang tính kế thừa, phục hồi các uốn nếp, đứt gẫy và sụt lún cũ và hình thành dạng địahình trẻ ngày nay
– Sau khi địa hình được nâng lên quá trình ngoại lực phát huy tác dụng , chia cắt địa hình thànhmạng lưới sông ngòi trẻ dày đặc làm cho địa hình đồi núi chia thành nhiều dãy, nhiều đỉnhkhác nhau
– Do đó địa hình ngày nay chưa hẳn là do TKT với nhửng uốn nếp mới mà có mang tính kế thừa
và tham gia tích cực của quá trình ngoại lực, nếu quan sát kĩ địa hình VN ngày nay cúng tathấy chúng có độ cao sàn sàn như nhau
– Tính chất cổ của địa hình VN được TKT làm trẻ lại được thể hiện qua các đặc điểm sau:– Dạng cánh cung ở miền Bắc có liên quan đến các khối núi cổ thuộc thượng nguồn sông Chảy.– Hướng song song và so le nhau có liên quan đến các uốn nếp cổ hình thành trong thời cổ sinh
Tóm lại địa hình VN có sự thống nhất giữa CKT và TKT cũng như sự kết hợp giữa nội lực
và ngoại lực, từ đó hình thành nên tính phức tạp và đa dạng của địa hình VN
Tân Kiến Tạo đã tạo nên dạng phân bậc của địa hình Việt Nam
– TKT với những pha nâng lên sụp xuống với cường độ và thời gian khác nhau xen vào đó là những pha yên tĩnh song song là các quá trình phun trào bazan và xâm thực bào mòn tạo nên tính chất phân bậc của địa hình VN ngày nay Gồm các bậc địa hình chính sau:
+ Bậc 2500 – 2600m: là những đỉnh núi còn sót lại, ít bị xâm thực
+ Bậc 2100 – 2200m: là bậc địa hình bán bình nguyên cổ Paleogen
Trang 9– Bậc địa hình chiếm diện tích lớn nhất là 200 – 600m, bị chia cắt thành nhiều đỉnh đồi và núi nhỏ Địa hình cao trên 1000m chiếm 15% diện tích
Tính chất nội chí tuyến nóng ẩm mang tính bao trùm trong địa hình Việt Nam
– Do VN nằm gọn trong vùng nội chí tuyến BBC và là một bộ phận của á địa ô gió mùa Trung
An làm cho VN có nền nhiệt đô cao và độ ẩm lớn, vì vậy địahình VN mang sắc thái miềnnhiệt đới nóng ẩm
– Địa hình Vn ngày nay là kết quả trực tiếp của sự bồi tụ và xâm thực của chế độ gió, mưa, nhiệt
và hệ thống sông ngòi Địa hình VN bị xâm thực, phong hoá nhanh chóng theo thời gian làmcho dạng địa hình mỗi ngày một thay đổi nhanh chóng theo thời gian Vì vậy, tính chất khúckhỉu, gập ghềnh của địa hình ngày nay vừa là kết quả của quá trình xâm thực bào mòn vứa làkết quả của sự san bằng địa hình làm cho địa hình miền núi bị chia cắt sâu sắc còn đồng bằngđược bồi tụ nhanh chóng
– Do khí hậu mang sắc thái nhiệt đới nóng ẩm làm cho lớp thực bì phát triển nhanh, che phủ hầuhết bề mặt địa hình Nó vừa là tấm gương phản ánh tính chất nội chí tuyến nóng ẩm, vừa làmgiảm bớt tính sắc nhọn, khúc khuỷu của địa hình
Địa hình đồng bằng – đồi núi vừa mang tính tương phản vừa phù hợp
Trang 10– Men theo rìa phía tây là dãy cao nguyên đá vôi: khởi đầu là cao nguyên Mường Khương có độcao 772m; kế đến là Bắc Hà ( 974m ); Simacaia, Quảng Bạ cao 870m, cao nguyên Đồng Văn (1482m), Mèo Vạc ( 950m )
– Địa hình ở đây khá cao và bằng phẳng nhưng hiếm nước Những nơi có sông cắt qua tạo thànhnhững hẻm vực sâu như hẻm vực sông Chảy, sông Nho Quế…Xen vào đó là các đỉnh núi caotrên 2000m như: Tây Côn Lĩnh ( 2431m ), Kiều Liêu Ti ( 2403m ), Puthaca ( 2274m ) đượccấu tạo chủ yếu từ đá granit
– Phía nam khu vực này là các dãy núi cánh cung qui tụ về phía Tam Đảo Khởi đầu là dãy ConVoi ( 1450m ) có hướng TB – ĐN nằm giữa sông Hồng và sông Chảy, cấu tạo chủ yếu là đádiệp thạch gnai và granit Kế đến là cánh cung Sông Gâm có hướng á kinh tuyến nằm kẹpgiữa sông Lô và sông Cầu với 2 đỉnh núi quan trọng là Phia Ya ( 1977m ) và Phia Biooc( 1578m ), cấu tạo chủ yếu là đá granit Tiếp theo là cánh cung Ngân Sơn cũng với hướng ákinh tuyến Là dãy núi quan trọng vì nó là đường phân thủy giữa các sông đổ vào đồng bằngBắc Bộ và các con sông chảy sang TQ Trên đó có 2 đỉnh quan trọng là Phia Uắc, Ngân Sơn,cấu tạo chủ yếu là đá granit Cuối cùng là cánh cung Bắc Sơn với đỉnh cao 779m, có hướng
ĐB – TN nằm men theo lưu vực sông Thương
– Từ lưu vực sông Thương ra tới vịnh Bắc Bộ địa hình có phần thấp dần:
+ Phía Bắc có máng trũng Cao Bằng, Lạng Sơn cấu tạo chủ yếu là đá vôi và nhiều địa hìnhKarst
+ Ra gần đến biển địa hình cao hẳn lên đó là cánh cung Duyên Hải với 3 đỉnh quan trọng
là Yên Tử ( 1068m ), Am Vap ( 1054m ), Nam Châu Lãnh ( 1507m ), cấu tạo chủ yếu là
đá trầm tích và riolit
+ Tiếp theo là vùng đồi lan ra sát biển tạo thành một quần đảo và bán đảo ven biển trong
đó có các đảo lớn nổi tiếng như Cái Bầu, Cái Bàn, Cát Bà …)
– Còn lại là các vùng đồi núi thuộc trung du Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Hà Bắc Địahình chủ yếu là đồi núi thấp, đỉnh tròn, cao từ 300 – 500m xen vào đó là một vài thung lũngrộng, sườn thoải vốn là những hố đệ tam cũ, đây là khu vực chuyển tiếp giữa miền thượng du
Dãy Hoàng Liên Sơn:
– Đây là sơn thạch hùnh vĩ nhất VN, chạy theo hướng TB – ĐN ( dài 180km ) vớinhiều đỉnh cao trên 3000m nhưng hẹp ngang và cấu tạo chủ yếu là đá granit vàgriolit
– Đoạn từ biên giới Việt Trung – đèo Khau Cọ là đoạn cao nhất và hẹp ngang và cónhiều đèo ( đèo Mây, đèo Hoàng Liên Sơn…), với một số đỉnh cao trên 3000m nhưPhanxipăng ( 3143m ), Tayang Pinh ( 3096m ), Na-Kang-Ho Tao ( 2876m), Pu –
Khao Lương ( 2816m ), cấu tạo chủ yếu là đá granit nên còn gọi là dài Granit Phanxipăng.
Trang 11– Từ đèo Khau Cọ về phía nam địa hình thấp hơn và hiểm trở, mở rộng hơn Cấu tạochủ yếu là đá griolit với các đỉnh núi cao như Pu – Luông ( 2983m), Sà – Phìn
( 2879m ) Người ta còn gọi đoạn này là đoạn Griolit Pu Luông – Sà Phìn
– Hoàng Liên Sơn là dãy núi hùng vĩ, sống núi rõ đỉnh nhọn, sườn dốc, nhiều khe sâu,một số mặt bằng cổ bằng phẳng nằm ở độ cao 2100 – 2200m, 1600 – 1800m, 1300
– 1400m trong đó rộng và nổi tiếng nhất là Sapa ( 1800m ) Dưới chân núi có một
vài bồn địa rộng Than Uyên, Nghĩa Lộ,… Hoàng Liên Sơn là một bức bình phongngăn gió mùa Đông Bắc và Tây Nam làm cho sườn đông và sườn tây có chế độ khíhậu và thời tiết khác nhau trong năm
Cao nguyên đá vôi Tây Bắc
– Chạy song song với Hoàng Liên Sơn suốt từ Phong Thổ đến Mộv Châu là dải caonguyên đá vôi lớn nhất VN, có bề ngang 25 – 40km, dài 300km, cao trung bình1000m
– Xuống đến khu vực Hoà Bình – Thanh Hoá độ cao giảm rất nhanh và bị chia cắtmạnh mẽ bởi hệ thống sông ngòi Trên mặt cao nguyên khá bằng phẳng, dạng lượnsóng, sườn thoải dễ khai thác nông nghiệp
– Từ B – N gồm các cao nguyên như: Ma Lu Thăng, Tà Phình, Sìn Chải ( cao trungbình 1600 – 1700m ), Tủa Chùa ( 1583m ), Sơn La ( 600m), Mộc Châu ( 1000m )
Vùng núi biên giới:
– Chạy dọc theo biên giới Việt – Trung và Việt – Lào, vừa là biên giới, vừa là đườngphân thủy bao gồm các dãy núi:
– Biên giới Việt – Trung có dãy Pu si Lung cao 3076m
– Biên giới Việt – Lào có dãy Pu Lasan cao 1853m, Pu Đen Đnh ( 1886m ), Pu SamSao ( 1897m )
– Lưu vực sông Mã có dãy: Xu Xung Chảo Chai ( 1817m )
b Khu vực đồi núi Hoà Bình – Thanh Hoá:
– Thuộc chân núi và cao nguyên của vùng Tây Bắc, là bộ phận chuyển tiếp từ vùng núi caoxuống đồng bằng duyên hải → mang tính chất đồi núi thấp cao trung bình 500m cấu tạochủ yếu là đá vôi, sa diệp thạch và bị chia cắt mạnh bởi mạng lưới sông ngòi Có đỉnh núiquan trọng là Pu Pha Luông ( 1884m )
– Xuống phía nam sông Chu địa hình có phần cao hơn và thấp dần từ T – Đ, đình cao nhất
là Pu Hoat 2452m và cấu tạo chủ yếu là granit và griolit
– Ở Nghi Xuân, Phủ Quì có một bán bình nguyên bazan khá màu mỡ
c Khu vực Trường Sơn Bắc:
– Kéo dài từ phía nam sông Cả đến đèo Hải Vân , địa hình khá đơn giản: núi tập trung ởphía tây và thấp dần về phía đông Dãy núi này chạy dọc theo biên giới Việt – Lào, vừa làđường biên giới vừa là đường phân thủy của Việt Nam và Lào
– TSB là dãy núi chạy tương đối liên tục, sống núi rõ, 2 sườn không đối xứng: phía đôngdốc, phía tây thoải → Làm cho đồng bằng duyên hải nhỏ hẹp
Từ sông Cả đến đèo Mụ Giạ :
– Khởi đầu là dải Pu Lai Leng ( 2711m ) và kết thúc ở đèo Keo Nưa
– Phía nam đèo Keo Nưa địa hình cao hẳn lên, đó là dãy Rào Cỏ ( 2335m ) Phíanam Rào Cỏ có dãy núi chạy ngang ra biển đó là dãy Hoành Sơn ( 1044m ), là dãynúi ngăn cách hai đồng bằng Hà Tĩnh và Bình – Trị – Thiên ở phía nam
Trang 12– Phía nam Hoành Sơn là dãy Phu Cô Pi ( 2017m ) và kết thúc ở đèo Mụ Giạ
Từ đèo Mụ Giạ đến đèo Hải Vân :
– Khởi đầu là vùng núi đá vôi Kẻ Bàng – Khe Ngang Kẻ Bàng cao 900m và KheNgang cao 600m là một bộ phận của vùng núi đá vôi Sê Păng Phai bên Lào, địahình bị chia cắt mạnh tạo thành nhiều hang động
– Tiếp Kẻ Bàng – Khe Ngang về phía nam là vùng đồi núi sa diệp thạch toả rộng vảhiểm trở Khởi đầu là dãy Côtarun ( 1624m ), tiếp là Pusavia ( 1272m ), ĐộngChâu ( 1257m ), bên cạnh đó còn có một số đỉnh núi granit đỉnh nhon sườn dốcnhư là Ba Rền ( 1137m ), Cồn Cỏ ( 1700m ) Các dãy núi này đều có hường TB –
ĐN hoặc T – Đ và phía đông có dãy cao nguyên bazan khá màu mỡ chạy từ VìnhLinh đến La Bảo
– Kết thúc vùng núi sa diệp thạch là đèo La Bảo, địa hình cao hẳn lên và hẹp ngangvới những đỉnh đá hoa cương cao trên 1000m: cao nhất là Động Ngài ( 1774m ).Đây là dãy núi cuối cùng còn giữ hướng TB – ĐN và kết thúc TSB bằng dãy núichạy ngang ra biển, đó là dãy Bạch Mã ( 1444m ) và tạo thành bán đảo nổi tiếng
là bán đảo Sơn Trà và đèo Hải Vân
3 Miền đồi núi Trường Sơn Nam và Đông Nam Bộ :
– Chịu tác động mạnh mẽ của cổ kiến tạo lẫn tân kiến tạo nên địa hình ở đây khá phức tạp.Nhìn chung phát triển xung quanh khối nhô Kon Tum được hình thành vào thời kì Cổ Sinh vàngày nay chưa thật sự ổn định
– TKT với những pha nâng, sụp với cường độ và thời gian khác nhau đã hình thành nên tínhchất phân bậc của địa hình TSN và ĐNB kèm theo đó là phun trào bazan ở Tây Nguyên vàĐNB hình thành các cao nguyên bazan dạng khung mai rùa khá bằng phẳng và màu mỡ nhưcao nguyên Gia Lai – Kon Tum, Đắk Lắk, Di Linh – Bảo Lộc và Mơ Nông
a Vùng đồi núi sông Thu Bồn:
Bao gồm dãy địa lũy Đà Nẵng – Sêpôn với các đỉnh núi quan trọng như A Tuất( 2500m ), núi Mạng ( 1708m ) và núi Bà Nà ( 1467m), phía bắc địa hình tương đối cao vìgiáp với vùng núi Bạch Mã, phía nam thấp dần về phía lưu vực sông Thu Bồn
b Vùng đồi núi thuộc khối nhô Kon Tum
Bao gồm toàn bộ khối nhô Kon Tum được hình thành trong quá trình bốc mòn của mộtnền cổ thuộc địa khối Indosini để lại một số đỉnh núi đá rắn cao trên 1000m trong đó quantrọng nhất là đỉnh Ngọc Linh ( 2598m ), một số đỉnh khác như Ngọc Rinh, Ngọc Pan cao trên2000m
c Dãy cao nguyên phía tây
Cao nguyên Gia Lai – Đắk Lắk :
– Là cao nguyên bazan điển hình, có nơi dày đến 400m ở độ cao TB 700 – 800m ở Gialai và 400 – 500m ở Đắk Lắk
– Bề mặt địa hình có dạng chảo úp, dễ khai thác nông nghiệp, nhất là các cây côngnghiệp lâu năm như cà phê, cao su
– Phía đông là các dãy núi Bình Định – Phú Yên là một bộ phận nối tiếp về phía nam vàđông nam của khối nhô Kon Tum
Trang 13 Cao nguyên cực Nam Trung Bộ:
– Nằm ở phía nam cao nguyên Đắk Lắk, phần lớn được phủ bazan trừ Đà Lạt, caonguyên này thuộc đường viền Hecsini được TKT làm trẻ lại và phủ một lớp bazantương đối dày gồm 3 cao nguyên: Đà Lạt – Lâm Viên ( 1500m ), Di Linh ( 1000m ),Bảo Lộc ( 800m )
– Phía bắc và đông bắc có một số dải núi cao trên 2000m như : Vọng Phu ( 2051m ),Chư Yangsin ( 2405m ), LangPiang ( 2153m ), Biđup ( 2297m )
III ĐỊA HÌNH KHU VỰC ĐỒNG BẰNG
– Việt Nam có hệ thống đồng bằng chạy suốt từ B- N, chiếm hầu hết mặt giáp biển Đồng bằng VNchủ yếu hình thành trên các vùng sụp võng hoặc các nơi trũng thấp, qua một thời gian dài hàngtriệu năm, quá trình lắng đọng trầm tích hay bồi tụ phù sa của hệ thống sông ngòi
– Đồng bằng VN tương đối bằng phẳng, độ dốc nhỏ với các loại đồng bằng sau
– Đồng bằng châu thổ: thường rộng lớn, được hình thành trong các sụp võng vào thời kì đệ tam, đệ
tứ Lúc đầu là những vịnh nông, sau đó được bồi trầm tích phù sa tạo thành đồng bằng
– Đồng bằng duyên hải ( đồng bằng chân núi ven biển ): thường nhỏ hẹp, nhiều đồi núi sót Đượchình thành trong những miền trũng, vịnh hẹp hay quá trình xâm thực sườn núi dọc theo bờ biểnsau đó sông ngòi ở nội địa chảy ra bồi đắp phù sa, kết hợp với sóng biển thuỷ triều, hải lưu.– Đồng bằng chân núi – cao nguyên: hình thành trên các vùng trũng hồ đệ tam cũ hay các thunglũng giữa núi → nhỏ hẹp, kém màu mỡ, có dạng địa hình bậc thang
1 Đồng bằng duyên hải Quảng Ninh:
Trải dài từ Móng Cái đến Quảng Yên, hẹp ngang, nhiều đồi núi sót, kém màu mỡ, bị cắt xénthành những đồng bằng nhỏ hẹp → Cấu tạo chủ yếu là phù sa, có một ít phù sa mới ở các cửa sông
2 Đồng bằng châu thổ Bắc Bộ:
– Là vùng đồng bằng châu thổ khá rộng lớn với diện tích 15.000km2 được bồi đắp bởi hai hệthống sông Hồng và sông Thái Bình, tạo thành một tam giác châu có đỉnh là Việt trì, cạnh đáychạy dài từ Yên Lập – Kim Sơn → Được hình thành trên vùng sụp võng Tân Sinh chu kì 4– Do chung quanh đồng bằng đều là núi cao từ đó các hệ thống sông tập trung đổ vào đồng bằnglàm cho hiện tương lũ lụt trở nên thường xuyên vì vậy nhân dân ta từ lâu đời đã đắp hệ thống
đê dọc theo các con sông để ngăn lũ Do đó đã làm mất đi tính chất bằng pha83ng của đồngbằng Đồng thời hạn chế đi sự bồi đắp phù sa cho đồng bằng Bù lại phù sa được chuyển rabiển và làm cho đồng bằng tiến ra biển khá nhanh khoảng 100m/năm
Trang 143 Đồng bằng Thanh Hoá:
Tiếp phía nam đồng bằng châu thổ Bắc Bộ có diện tích 3.100km2 được bồi đắp bởi hệ thốngsông Mã – Chu và thủy triều → đồng bằng Thanh Hoá vừa mang tính chất châu thổ vừa mang tínhchất duyên hải và cấu tạo vừa có phù sa mới vừa có phù sa cũ Đồng thời ven biển có nhiều cồn cátcũng như hình thành trong vùng sụp võng yếu nên trong lòng đồng bằng còn có nhiều đồi núi sót
4 Đồng bằng duyên hải miền Trung:
– Chạy từ Nghệ An đến Bình Thuận, là những đồng bằng chân núi ven biển, nhiều đồi núi sót,đầm phá, nhiều đụn cát, cồn cát nhỏ hẹp và kém màu mỡ, cấu tạo chủ yếu là phù sa cổ Nguyênnhân chính của những đặc điểm trên là do dãi TS lan ra sát biển và tác dụng của biển
– Về nguồn gốc đồng bằng duyên hải có ảnh hưởng của quá trình biển tiến mài mòn bở biển vàchân núi ven biển, sau đó được sóng biển và gió biển cộng với sông suối nội địa bồi đắp và mởrộng Tuy nhiên quá trình này rất chậm và rất ít phù sa, kém màu mỡ Cấu tạo của đồng bằngduyên hải được chia làm 3 phần :
+ Vùng gò đồi chân núi hay thềm phù sa cổ
+ Đồng bằng trung tâm chủ yếu là phù sa mới và nhiều sông suối
+ Dãy cồn cát – đầm phá bãi bồi ven biển
+ Đồng bằng Khánh Hoà – Ninh Thuận: diện tích 620 km2 từ Mũi Nại đến Mũi Dinh.+ Đồng bằng Bình Thuận: diện tích 800 km2 đi từ mũi Dinh đến ĐNB
5 Đồng bằng Nam Bộ:
Là đồng bằng lớn nhất VN 40.000 km2 được hệ thống sông Cửu Long và Đồng Nai bồi đắp trênmột miền sụp võng rộng lớn vào thời kì Plêixtoxen – chu kì 5 Tuy nhiên do đặc điểm nên chiathành 2 đồng bằng
– Đồng bằng Đông Nam Bộ: do ảnh hưởng của hoạt động tạo sơn được nâng nhẹ vào TKT làmthoát khỏi chế độ bồi tích phù sa mới, hình thành đồng bằng phù sa cổ cao trên dưới 100m, cónơi được phủ bazan tạo thành bán bình nguyên đất đỏ bazan có độ cao trên dười 200m đây làvùng đồng bằng cao nhất VN thuộc hệ thống sông Đồng Nai Trên đó có một vài đỉnh núi sót:
Bà Đen ( 986m ), Chứa Chan ( 830m )…
– Đồng bằng châu thổ Tây Nam Bộ: có địa hình khá bằng phẳng do được hình thành trên miềnsụp võng Tân Sinh Plêistoxen và được bồi đắp phù sa hàng năm bởi hệ thống sông Cửu Long.Ngày nay đồng bằng cao 2m trên mực nước biển và hàng năm đồng bằng tiến ra biển khánhanh 80m/năm Do quá trình tiến ra biển nhanh nên ngày nay trong lòng đồng bằng còn để lạinhiều đầm lầy ( Đồng Tháp Mười, Uminh, Hà Tiên,…)