Mục đích nghiên cứu của Luận án này nhằm làm rõ thực trạng quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa từ năm 1986 đến năm 2017, trên cơ sở đó, rút ra những thành tựu, hạn chế, đặc trưng và một số bài học kinh nghiệm nhằm góp phần tăng cường quan hệ của hai bên trong những năm tiếp theo. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LƯU THỊ KIM
QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA TỈNH HỦA PHĂN (LÀO)
VÀ TỈNH THANH HÓA (VIỆT NAM)
Trang 2TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS BÙI VĂN HÀO
2 GS.TS ĐỖ THANH BÌNH
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp Trường
tại Trường Đại học Vinh
Vào hồi giờ 00 ngày tháng năm 2021
Có thể tìm hiểu Luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam;
- Trung tâm Thông tin - Thư viện Nguyễn Thúc Hào, Trường Đại học Vinh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lào và Việt Nam là láng giềng, núi liền núi, sông liền sông Mối quan hệ truyền thống lâu đời giữa hai nước được nhân dân dày công vun đắp và đã trở thành tài sản vô giá của cả hai dân tộc Mối quan hệ giữa Lào và Việt Nam hiện đang diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, các ngành; từ trung ương cho đến các địa phương (nhất là các địa phương
có chung đường biên giới giữa hai nước)
Tỉnh Hủa Phăn của Lào tiếp giáp với các tỉnh: Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An của Việt Nam và có quan hệ với cả ba tỉnh này Tuy nhiên, tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa không chỉ gần gũi về địa lý, có nhiều điểm tương đồng về tự nhiên, văn hoá và xã hội Hai tỉnh không những có vị trí địa - chiến lược, nhiều tiềm năng, điều kiện thuận lợi để phát triển kinh
tế và đẩy mạnh sự hợp tác, mà còn có lịch sử kết nghĩa với nhau từ những năm 60 của thế kỷ
XX Chính vì vậy, trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, quan hệ giữa hai tỉnh luôn giữ vị trí quan trọng và có tác động to lớn đến tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá của mỗi nước cũng như quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai nước Từ năm 1986 đến năm 2017, theo dòng chảy của quan hệ Lào - Việt Nam, tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa không ngừng củng cố, tăng cường “quan hệ hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện” để giữ vững sự ổn định chính trị, củng cố quốc phòng - an ninh, làm tốt công tác biên giới, phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế và các lĩnh vực khác
Trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi, quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh
mẽ, còn Lào cũng như Việt Nam đang nỗ lực mở cửa để hội nhập khu vực và quốc tế, quan hệ giữa Hủa Phăn và Thanh Hóa có nhiều cơ hội để phát triển, song cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức Trong tình hình đó, tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa tiếp tục nâng cao hiệu quả quan hệ chính trị - đối ngoại, an ninh quốc phòng, công tác biên giới, kinh tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo, y tế cũng như các lĩnh vực khác đã trở thành nhu cầu cấp bách Vì vậy, đi sâu làm rõ những cơ sở, nhân tố tác động; thực trạng của quan hệ toàn diện giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa từ năm 1986 đến năm 2017, trên cơ sở đó, rút ra những thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm nhằm tiếp tục tăng cường sự hợp tác giữa hai bên trong các giai đoạn tiếp theo có ý nghĩa cả về khoa học lẫn thực tiễn
Về khoa học, nghiên cứu quan hệ giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa từ năm
1986 đến năm 2017 không chỉ làm sáng tỏ những nội dung quan trọng trong hợp tác giữa hai bên, mà còn làm phong phú thêm tư liệu cụ thể, minh chứng cho quan hệ hữu nghị đặc biệt, sự hợp tác toàn diện giữa hai nước trong thời kỳ đổi mới
Về thực tiễn, nghiên cứu quan hệ giữa giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa
Trang 4trong những năm từ 1986 đến năm 2017giúp mọi tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhận thức sâu sắc mối quan hệ đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai nước cũng như hai tỉnh Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo cho các cấp lãnh đạo của tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa trong việc hoạch định chiến lược hợp tác giữa hai bên những năm tiếp theo cũng như các nhà nghiên cứu, giáo viên và học sinh, sinh viên tìm hiểu, giảng dạy, học tập lịch sử hai nước, hai tỉnh
Với những ý nghĩa nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề “Quan hệ hợp tác giữa tỉnh
Hủa Phăn (Lào) và tỉnh Thanh Hóa (Việt Nam) từ năm 1986 đến năm 2017” làm đề
tài Luận án Tiến sĩ Lịch sử
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan hệ giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh
Hóa từ năm 1986 đến năm 2017
sự kiện quan trọng, có ý nghĩa đối với quan hệ Lào - Việt Nam nói chung và các tỉnh Hủa Phăn, Thanh Hóa nói riêng
Về không gian, đề tài chủ yếu nghiên cứu các vấn đề diễn ra ở tỉnh Hủa Phăn
và tỉnh Thanh Hóa từ năm 1986 đến năm 2017 Ngoài ra, để có cứ liệu nhận xét và
so sánh, đề tài còn đề cập đến quan hệ giữa một số tỉnh khác của Lào và Việt Nam
Về nội dung, đề tài tập trung nghiên cứu quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực: chính trị - đối ngoại; an ninh - quốc phòng và công tác biên giới; kinh tế; văn hóa, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa từ năm
Trang 53.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ đề tài được xác định như sau:
- Phân tích những cơ sở và nhân tố tác động đến quan hệ giữa tỉnh Hủa Phăn và Thanh Hóa
- Phân tích thực trạng quan hệ giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa từ năm
1986 đến năm 2017 trên các lĩnh vực: Chính trị - đối ngoại; an ninh - quốc phòng và công tác biên giới; kinh tế; văn hóa, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác
- Làm rõ những thành tựu, hạn chế; đặc trưng và rút ra một số bài học kinh nghiệm của quan hệ giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa từ năm 1986 đến năm 2017
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
- Tài liệu gốc: Các văn kiện của Đảng NDCM Lào và Đảng CSVN; các bài viết,
bài phát biểu của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ Lào và Việt Nam; các văn kiện của Đảng bộ, Chính quyền tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa từ năm 1986 đến năm 2017; các hiệp định hợp tác giữa Lào và Việt Nam; các biên bản ghi nhớ, biên bản hội đàm, biên bản làm việc, thỏa thuận giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa từ năm 1986 đến năm 2017; các báo cáo tổng kết, sơ kết quá trình hợp tác giữa các ban, ngành và địa phương của tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa
- Tài liệu tham khảo: Cùng với nguồn tài liệu gốc nêu trên, trong quá trình thực
hiện luận án, chúng tôi đã khai thác các nguồn tài liệu bổ trợ khác như: các công trình nghiên cứu chuyên khảo về Lào, Việt Nam và quan hệ giữa hai nước cũng như quan hệ giữa các địa phương của của hai bên; các tạp chí chuyên ngành; một số báo in, báo điện tử và các trang Website uy tín có liên quan đến đề tài; tài liệu thu thập được qua các đợt điền dã, phỏng vấn sâu
4.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến luận án chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng CSVN
về các vấn đề quốc tế, nhất là quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam
về quan hệ Lào - Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, trong quá trình khai thác, xử lý tư liệu, còn sử dụng một
số phương pháp bổ trợ khác như: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, lập biểu đồ, xây dựng biểu bảng, điền dã, phỏng vấn
5 Đóng góp của luận án
- Luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống đầu tiên về quan hệ giữa tỉnh
Trang 6Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa từ năm 1986 đến năm 2017 Nội dung của luận án đã làm sáng rõ những cơ sở, nhân tố tác động, thực trạng quan hệ hợp tác toàn diện giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa, từ đó rút ra đặc trưng, bài học kinh nghiệm của mối quan hệ này
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp lãnh đạo của tỉnh Hủa Phăn, tỉnh Thanh Hóa trong việc hoạch định chiến lược hợp tác giữa hai bên và là tài liệu tham khảo để giảng dạy, học tập lịch sử hai nước, hai tỉnh
6 Bố cục luận án
Ngoài Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án
được trình bày trong 4 chương
Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chương 2 Những cơ sở và nhân tố tác động đến quan hệ giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh
Thanh Hóa từ năm 1986 đến năm 2017
Chương 3 Nội dung quan hệ hợp tác toàn diện giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa
từ năm 1986 đến năm 2017
Chương 4 Nhận xét về quan hệ giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa từ năm 1986
đến năm 2017
NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về Lào, Việt Nam và quan hệ giữa hai nước
có đề cập đến sự hợp tác giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa
1.1.1.1 Các công trình của các tác giả Lào
Quan hệ Lào - Việt, Việt - Lào là vấn đề được nhiều vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và giới nghiên cứu Lào quan tâm Có thể điểm qua một số bài viết và công trình
nghiên cứu tiêu biếu của các tác giả Lào như: Lịch sử Đảng NDCM Lào của Ban Chỉ đạo lý luận và thực tiễn Đảng NDCM Lào (xuất bản năm 2005); Tình đoàn kết đặc
biệt, sự hợp tác toàn diện và liên minh chiến đấu Lào - Việt Nam trong thời kỳ cách mạng mới của Khămtày Xiphănđon, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 1/1995; Gắn bó keo sơn, hỗ trợ vô tư, hợp tác hiệu quả của Buaxỏn Búpphảvăn (Đặc san Báo Thế giới và
Việt Nam năm 2007);Đánh giá truyền thống quan hệ hợp tác Lào - Việt Nam của
Thoonglun Xixulít (Tạp chí của Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam, số 42,
tháng 6 năm 2007); Những nhân tố chi phối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam từ năm
Trang 71986 - 2011, Luận án Tiến sĩ của Nhótkhămmani Xuphanuvông, Học viện Ngoại
giao, năm 2016
Các bài viết, công trình nghiên cứu tiêu biểu nêu trên chủ yếu đề cập đến quan
hệ hữu nghị đặc biệt Lào - Việt Nam, nhưng cũng đã ít nhiều đề cập đến quan hệ giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa qua các thời kỳ lịch sử
1.1.1.2 Các công trình của các tác giả Việt Nam
Quan hệ Lào - Việt, Việt - Lào cũng là vấn đề được nhiều vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và giới nghiên cứu Việt Nam quan tâm
Trong số các bài viết về quan hệ hữu nghị đặc biệt Lào - Việt Nam của các vị
lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam có các bài tiêu biểu như: Mãi mãi trân
trọng mối quan hệ chí cốt có ý nghĩa chiến lược Việt - Lào của Đỗ Mười, Tạp chí Cộng
sản, số 7 năm 1996; Vun đắp cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào mãi mãi xanh
tươi, nở hoa kết trái của Phạm Gia Khiêm, Tạp chí của Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị
Việt Nam, số 42, tháng 6 năm 2007 Đây là những bài viết về tình hữu nghị đoàn kết,
sự gắn bó thủy chung, keo sơn giữa dân tộc Việt Nam và dân tộc Lào qua các thời
kỳ lịch sử cũng như tầm quan trọng của mối quan hệ này trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước
Đặc biệt, Ban Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và Ban Bí thư Đảng Nhân dân
Cách mạng Lào đã hợp tác biên soạn bộ sách Lịch sử Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào,
Lào - Việt Nam (1930-2007) công trình này gồm có 6 sản phẩm: “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào; Lào - Việt Nam 1930 -2007”; Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007) - Bài viết của lãnh đạo Đảng, nhà nước; Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007)-Văn kiện Đảng và Nhà nước; Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào -Việt Nam (1930 - 2007) - Biên niên sự kiện; Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007) - Hồi ký; Sách ảnh tư liệu và bộ phim “Bản anh hùng ca quan hệ Việt - Lào” Đây là
công trình đã được Nhà xuất bản CTQG Sự thật, Hà Nội xuất bản năm 2011, 2012
Giới nghiên cứu Việt Nam cũng đã có nhiều công trình viết về Lào và quan hệ Lào - Việt Nam
Về lịch sử Lào, có các công trình tiêu biểu như: Lịch sử Lào của Trung tâm KHXH & NV Quốc gia, năm 1997; Lịch sử Lào hiện đại (2 tập) của Nguyễn Hùng Phi
- Buasi Chalơnsuc, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội, năm 2006
Về quan hệ giữa Lào và Việt Nam, có các công trình tiêu biểu như: “Quan hệ
đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào trong giai đoạn 1954 - 2000” của Lê Đình
Chỉnh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội, năm 2007; Vai trò và những đóng góp
của cộng đồng người gốc Việt ở Campuchia, Lào, Thái Lan trong giai đoạn hiện nay,
Trang 8Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, năm 2018; Hợp tác và kết nghĩa giữa
các địa phương hai nước Việt Nam - Lào: Một hình thức ngoại giao nhân dân hiệu quả của
Đỗ Thị Thảo, Tạp chí Cộng sản điện tử, số ra ngày 08/01/2013
Quan hệ Lào - Việt, Việt - Lào cũng là đề tài thu hút nhiều nghiên cứu sinh Việt Nam quan tâm Cho đến nay, đã có nhiều luận án đề cập đến quan hệ giữa hai nước
như: Luận án Tiến sĩ Quan hệ Việt Nam - Lào từ 1975 đến 2005 của Nguyễn Thị Phương Nam, Trường ĐHSP HN, năm 2008; Quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân
tộc của CHDCND Lào trên lĩnh vực đối ngoại từ năm 1975 đến năm 2010” của Uông
Minh Long, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2012; Quá
trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào từ 1962 đến 2012 của Lê Quang Mạnh, Học viện KHXH, Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam,
năm 2017
Quan hệ Lào - Việt, Việt - Lào cònlà chủ đề của nhiều hội thảo khoa học ở Lào
và Việt Nam Năm 1991, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tổ chức hội thảo Quan hệ
Việt - Lào, Lào - Việt Năm 1995,Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức hội thảo Tình đoàn kết đặc biệt Việt - Lào Năm 2002, Viện KHXH Việt Nam phối hợp với
UBND tỉnh Nghệ An tổ chức hội thảo Tình hữu nghị, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào:
Truyền thống và triển vọng Năm 2007,Viện KHXH Việt Nam và Viện KHXH Quốc
gia Lào phối hợp tổ chức hội thảo Tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu và sự
hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào tại Viêng Chăn.Năm 2017, Học viện CTQG
Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam phối hợp với Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Lào, Viện KHXH quốc gia Lào tổ chức hội thảo 55 năm quan hệ hữu
nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào Cũng trong năm 2017, Trường Đại học
Tây Bắc tổ chức Hội thảo kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt
Nam - Lào 18/7/1977 - 18/7/2017
Các hội thảo khoa học đã đề cập đến quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam từ nhiều góc
độ khác nhau Nhiều bài viết đề cập đến những cơ sở và nhân tố tác động đến quan hệ Lào
- Việt Nam Nhiều bài viết đề cập đến những thành tựu trong quan hệ hợp tác giữa hai nước qua các thời kỳ lịch sử Một số bài viết lại đi sâu phân tích quan hệ hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực, từ chính trị, an ninh quốc phòng đến kinh tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo, y tế Bên cạnh đó, cũng đã có nhiều bài viết đề cập đến quan hệ hợp tác giữa các địa phương của hai nước, trong đó có quan hệ giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa
1.1.2 Các bài viết, công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp đến quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa
1.1.2.1 Các công trình nghiên cứu của các tác giả Lào
Trang 9Đề cập trực tiếp đến quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa từ năm
1986 đến năm 2017 đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả Lào như cuốn:
ງຄະນະພັກແຂວງຫົວພັນ(ປີ1999),ປະຫວັດສາດມນເຊືອການຕໍ ສ້ປະຕິວັດອງແຂວງຫົວພັນູ ້ ່ ູເຫັ ມທີຼ້ I, ໂຮງພິມຈໍາຫນ່າຍ ຊໍາເໜື ອ (Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng tỉnh
Hủa Phăn, tập I) do Tỉnh ủy Hủa Phăn chỉ đạo biên soạn, nhà xuất bản Sầm Nưa, năm
1999; Mong muốn đẩy mạnh hợp tác kinh tế với các tỉnh Việt Nam của Phankham Viphavan, Đặc san Báo Thế giới và Việt Nam, năm 2007; Tổ chức xã hội truyền thống
của người Phu Thay ở tỉnh Hủa Phăn, Luận án tiến sĩ của Khămpheng Thipsmuntaly
Trường Đại học KHXH &NV, Đại học Quốc gia Hà Nội; Việc làm cho người lao động
nông thôn ở tỉnh Hủa Phăn nước CHDCND Lào, Luận án tiến sĩ của Khămpheng
Phêngphắcđy, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2018
Các công trình, bài viết nêu trên không chỉ đề cập đến điều kiện tự nhiên, dân cư, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Hủa Phăn, mà còn đề cập đến sự hợp tác và giúp đỡ giữa tỉnh nay với một số tỉnh của Việt Nam, nhất là Thanh Hóa
1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam
Ở Việt Nam, đề cập trực tiếp đến quan hệ giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa chủ yếu là các công trình nghiên cứu lịch sử Đảng bộ tỉnh, huyện, lịch sử quân đội và một số luận án tiến sĩ
Về lịch sử Đảng bộ tỉnh, huyện và lịch sử quân đội có các công trình tiêu biểu
như: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, tập 1 (1930 - 1954),Nhà xuất bản Thanh Hóa;
Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, tập 2 (1954 - 1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội,năm 1996; Thanh Hóa với cách mạng Lào và tỉnh Hủa Phăn (1930 - 2010), Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2012; Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
(1975 - 2005), Nhà xuất bản QĐND, Hà Nội 2005; Lịch sử Đảng bộ huyện Như Xuân (1949 - 2010), Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2014; Lịch sử Đảng bộ huyện Thường Xuân (1949 - 2010), Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2014; Lịch sử Đảng bộ huyện Thọ Xuân, Nhà xuất bản Thanh Hóa - 2010
Trong số các luận án Tiến sĩ nghiên cứu về Lào và quan hệ giữa hai nước, có các
công trình sau đề cập đến quan hệ giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa: Tri thức
bản địa của người Thái ở Miền núi Thanh Hóa, Luận án tiến sĩ của Vũ Trường Giang,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, năm 2009; Quan hệ giữa các tỉnh Hủa
Phăn, Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay, Khăm Muộn của Lào với Nghệ An, Hà Tĩnh của Việt Nam từ năm 1976 đến năm 2007, Luận án Tiến sĩ của Bùi Văn Hào, Học viện
KHXH Việt Nam, năm 2011; Quan hệ Hủa Phăn (Lào) - Sơn La (Việt Nam) từ 1975
đến năm 2012”, Luận án tiến sĩ của Đặng Thị Hồng Liên, Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội, năm 2018
Trang 10Từ những góc độ khác nhau, các công trình nghiên cứu nêu trên đã bước đầu phác họa cơ sở, thực trạng và những thành tựu của quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa qua các thời kỳ lịch sử
1.2 Nhận xét chung về tình hình cứu nghiên cứu đề tài và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
1.2.1 Nhận xét về tình hình nghiên cứu đề tài
Từ quá trình tham khảo, phân tích các bài viết, công trình nghiên cứu về quan hệ
hợp tác giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa trong những năm 1986 - 2017, có thể
rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất về phương pháp tiếp cận:Mối quan hệ Lào - Việt Nam và sự hợp tác
giữa các địa phương của hai nước, trong đó có tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa được nhiều vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, giới nghiên cứu của hai nước quan tâm Xuất phát từ những góc độ cụ thể, khi đề cập đến vấn đề này, các tác giả cũng đã có nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau Có nhiều tác giả xuất phát từ góc độ chính trị học, kinh tế học, địa lý học Nhưng cũng có nhiều tác giả xuất phát từ góc độ sử học để nghiên cứu Trong số các phương pháp tiếp cận nêu trên, phương pháp tiếp cận từ góc
độ sử học được nhiều người quan tâm nhất
Thứ hai, về nội dung nghiên cứu: Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên
cứu, bài viết của các tác giả Lào, Việt Nam và một số nước khác đề cập đến mối quan
hệ đặc biệt Lào - Việt Nam Một số công trình đã đi sâu nghiên cứu quan hệ hợp tác giữa các địa phương của hai nước (như quan hệ Hủa Phăn - Sơn La, quan hệ Xiêng Khoảng - Nghệ An, quan hệ Bôlykhăm xay - Hà Tĩnh ) Thông qua các công trình nghiên cứu nêu trên, những cơ sở, nhân tố tác động; thực trạng; thành tựu và hạn chế, của quan hệ Lào - Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã tương đối sáng rõ
Quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa từ năm 1986 đến năm
2017 cũng đã có nhiều công trình và bài viết đề cập đến Tuy nhiên, các bài viết, công trình này chỉ đề cập ở một số khía cạnh cụ thể, chưa làm sáng rõ được đầy đủ các cơ sở
và nhân tố tác động; thực trạng quan hệ hợp tác toàn diện; thành tựu và hạn chế; đặc trưng của mối quan hệ giữa hai tỉnh trong thời kỳ đổi mới
Thứ ba, xét riêng trong các công trình nghiên cứu ở Việt Nam, có thể nhận thấy
chưa có công trình nào từ góc độ lịch sử nghiên cứu toàn diện quan hệ tỉnh Hủa Phăn
và tỉnh Thanh Hóa từ năm 1986 đến năm 2017
Những thành tựu nghiên cứu quan hệ giữa Lào và Việt Nam cũng như quan hệ giữa các địa phương của hai nước, nhất là quan hệ giữa tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Hủa Phăn là nguồn tư liệu quan trọng để chúng tôi tham khảo thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của mình
Trang 111.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của những người đi trước, kết hợp với việc khai thác tư liệu từ các trung tâm lưu trữ và tư liệu điền dã, chúng tôi xác định những vấn đề sau luận án cần tập trung giải quyết:
Thứ nhất, phân tích những cơ sở và nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa tỉnh
Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa (bao gồm: Cơ sở địa - chính trị, kinh tế; Cơ sở dân cư, văn hóa; Cơ sở lịch sử; Cơ sở lợi ích; Tình hình Lào, Việt Nam và đường lối, chính sách của hai nước trong những năm từ 1986 đến 2017; Tình hình kinh tế - xã hội, chủ trương đối ngoại của tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa từ năm 1986 đến năm 2017; Bối cảnh quốc tế và khu vực)
Thứ hai, bằng các tư liệu, số liệu cụ thể, luận án phục dựng bức tranh quan hệ
hợp tác toàn diện giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa từ năm 1986 đến năm 2017 (bao gồm các lĩnh vực: Chính trị đối ngoại; An ninh quốc phòng và công tác biên giới; Kinh tế; Văn hóa, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác)
Thứ ba, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu nêu trên, luận án khái quát lại một
số thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế; đặc trưng; rút ra bài học kinh nghiệm của quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa từ năm 1986 đến năm 2017
Chương 2 NHỮNG CƠ SỞ VÀ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ GIỮA TỈNH HỦA PHĂN VÀ TỈNH THANH HÓA
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2017 2.1 Cơ sở địa - chính trị, kinh tế
Tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa có chung đường biên giới dài 192 km Khu vực giáp giới có11 xã thuộc 3 huyện của tỉnh Hủa Phăn và 53 bản thuộc 16 xã, 5 huyện của tỉnh Thanh Hóa Không chỉ gần gũi về địa lý, tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa còn có vị trí địa - chính trị, kinh tế chiến lược đối với mỗi nước và đối với bán đảo Đông Dương Nối liền giữa hai tỉnh có cửa khẩu Quốc tế Nà Mèo và nhiều đường mòn, lối mở, nên Hủa Phăn là cửa ngõ để Thanh Hóa mở rộng giao thương với các tỉnh của Lào và các nước Đông Nam Á khác, còn Thanh Hóa là cửa ngõ để Hủa Phăn nói riêng và các tỉnh của Lào
mở rộng giao thương qua biển Đông
2.2 Cơ sở dân cư, văn hóa
Tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa là địa bàn cư trú của nhiều tộc người Hầu hết các tộc người định cư trên địa bàn ở hai tỉnh đều có nguồn gốc từ chủng Cổ Mã Lai của vùng Đông Nam Á Chính đều đó đã tạo nên tính thống nhất của con người và văn hóa
Trang 12khu vực Đông Nam Á nói chung, Lào, Việt Nam nói riêng Hầu hết các tộc người sinh sống ở hai tỉnh có mối quan hệ gần gũi, thân thuộc, nhất là tộc người Thái Người Thái
ở Thanh Hóa và người Lào Lùm ở Hủa Phăn có chung một nguồn gốc Tuy chỉ chiếm 7,16% dân số, nhưng địa bàn sinh sống của người Thái ở Thanh Hóa chủ yếu ở các huyện có chung đường biên giới với tỉnh Hủa Phăn Sự gần gũi về địa lý, sự gắn kết về tộc người, địa bàn sinh sống đan xen, lại cùng khai thác, chia sẻ các nguồn lợi tự nhiên tương đồng là cơ sở để cư dân tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa sớm xác lập mối quan hệ trong lao động sản xuất cũng như trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước
Mặt khác, cư dân tỉnh Hủa Phăn và cư dân tỉnh Thanh Hóa đều tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Phật giáo, nên có lối sống trọng tình, trọng nghĩa, đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau trong cuộc sống Tín ngưỡng Phật giáo được bản địa hóa, dung hòa với tín ngưỡng dân giantrở thành nét văn hóa tâm linh độc đáo trong đời sống hằng ngày của cư dân của hai tỉnh Đây cũng là một trong những cơ sở quan trọng để cư dân hai bên dễ dàng hiểu biết lẫn nhau, xích lại gần nhau trong quá trình hợp tác và phát triển
2.3 Cơ sở lịch sử
Mối quan hệ giữa cư dân tỉnh Hủa Phăn và cư dân tỉnh Thanh Hóa đã được xác lập từ rất sớm, ngay từ buổi đầu dựng nước Từ đó đến nay, nhân dân hai tỉnh luôn hỗ trợ lẫn nhau trong lao động sản xuất cũng như trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ quê hương, đất nước Sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời (năm 1930), nhân dân Hủa Phăn và nhân dân Thanh Hóa đã cùng chung chiến hào để giải phóng dân tộc Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) Thanh Hóa
là căn cứ trực tiếp của cách mạng Lào, chi viện to lớn cho chiến trường và giúp thủ đô kháng chiến Lào (ở Sầm Nưa) phát triển toàn diện về chính trị, kinh tế và văn hóa - xã hội Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975), cùng với cả nước, nhân dân Thanh Hóa vừa là hậu phương vững chắc cho cách mạng miền Nam, vừa là hậu phương cho cách mạng Lào Trên nền tảng của tình đoàn kết giữa hai bên, ngày 2/5/1967, tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa đã ký kết văn bản, trở thành hai tỉnh kết nghĩa Những đóng góp cả về sức người lẫn sức của của nhân dân tỉnh Thanh Hóa không chỉ góp phần vào đại thắng mùa Xuân năm 1975 ở Việt Nam, mà còn góp phần vào thắng lợi của cách mạng Lào
2.4 Cơ sở lợi ích
Quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa được thực hiện trên cơ
sở đôi bên cùng có lợi Sự hợp tác chặt chẽ giữa hai bên không chỉ góp phần giúp các tỉnh ổn định về chính trị, củng cố, tăng cường an ninh - quốc phòng, mà còn tạo điều kiện giúp nhau phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục và các lĩnh vực khác
Trang 13Riêng trong lĩnh vực kinh tế, kể từ năm 1986 trở đi, với cơ chế hợp tác đôi bên cùng có lợi, các bên đã tạo điều kiện để khai thác thế mạnh của nhau, bổ sung cho nhau trong mọi lĩnh vực, từ nông - lâm nghiệp, công nghiệp, đầu tư, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải, thương mại, văn hóa, giáo dục - đào tạo,
2.5 Tình hình Lào, Việt Nam và đường lối, chính sách của hai nước trong những năm từ 1986 đến 2017
Từ năm 1986 đến năm 2017, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Lào, Việt Nam, nhân dân hai nước đã từng bước thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới
Trong thời kỳ này, tình hình chính trị và trật tự xã hội của Lào và Việt Nam được giữ vững; nền quốc phòng - an ninh được củng cố và tăng cường; từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; văn hóa, giáo dục, y tế và các lĩnh vực khác phát triển mạnh mẽ…
Trong lĩnh vực đối ngoại, Lào và Việt Nam đều thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa; tham gia nhiều tổ chức quốc tế và khu vực Đặc biệt, hai nước tiếp tục thắt chặt mối quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện Quan hệ giữa hai nước được thực hiện thông qua cácbản thỏa thuận ngắn hạn và dài hạn trên tinh thần bình đẳng, cùng có lợi, cùng thúc đẩy hội nhập để nâng cao vị thế c ủa mình trên trường quốc tế
2.6 Tình hình kinh tế - xã hội, chủ trương đối ngoại của tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa từ năm 1986 đến năm 2017
Từ năm 1986 đến năm 2017, tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa bước vào quá trình đổi mới toàn diện và đã gặt hái được nhiều thành quả quan trọng Tình hình chính trị xã hội ở Hủa Phăn và Thanh Hóa được ổn định, an ninh - quốc phòng được đảm bảo Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đóng vai trò chủ đạo và đang phát huy tích cực ở cả hai tỉnh Chính vì vậy, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao, văn hóa, giáo dục và các lĩnh vực khác thu được nhiều thành tựu,
bộ mặt nông thôn lẫn thành thị có nhiều đổi mới
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ Lào, Việt Nam, tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa đã chủ động hội nhập khu vực lẫn quốc tế Hai tỉnh đã và đang mở cửa để kêu gọi các doanh nghiệp trong và ngoài nước vào đầu tư để phát triển sản xuất Riêng quan hệ giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa, việc đẩy mạnh sự hợp tác toàn diện vừa là yêu cầu khách quan của mỗi tỉnh vừa là nhiệm vụ để góp phần vun đắp mối quan
hệ hữu nghị đặc biệt Lào - Việt Nam Mặc dù hợp tác giữa tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa được thực hiện theo cơ chế thị trường, nhưng cả hai bên vẫn giành sự ưu tiên đặc biệt cho nhau Đây là cơ sở thuận lợi để tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Thanh Hóa đẩy mạnh sự hợp tác toàn diện trong những năm từ 1986 đến 2017