Mục đích nghiên cứu của Luận án nhằm làm sáng tỏ một số đặc điểm của cặp thoại thông báo hồi đáp trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh trên phương diện cấu tạo và ngữ nghĩa. Đồng thời hướng đến việc chỉ ra một số đặc trưng văn hóa ứng xử của người Nghệ Tĩnh khi hiện thực hoá cặp thoại này. Từ đó, định hướng việc sử dụng hành động thông báo - hồi đáp trong giao tiếp một cách có cơ sở lý thuyết và thực tiễn. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2Người hướng dẫn khoa học:
1 GS TS Đỗ Thị Kim Liên
2 PGS TS Hoàng Trọng Canh
Phản biện 1
Phản biện 2
Phản biện 3
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường
họp tại: Trường Đại học Vinh
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2020
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Trung tâm Tư liệu - Thư viện Nguyễn Thúc Hào, Trường Đại học Vinh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
Chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Cặp thoại chứa hành động thông báo -
hồi đáp trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh” vì những lí do sau:
1.1 Cặp thoại là đơn vị có cấu trúc quan trọng bậc nhất trong tổng thể hệ thống cấu trúc hội thoại, có khả năng biểu hiện đầy đủ và tập trung các đặc trưng cơ bản của quan hệ tương tác Do đó, lựa chọn đối tượng nghiên cứu là hành động thông báo và hồi đáp trong sự tương tác ở các cặp thoại đối ứng là một hướng nghiên cứu có ý nghĩa khoa học Và những điều rút ra từ đó sẽ có sức thuyết phục hơn so với khảo sát từng hành động độc lập trong chuỗi lời nói
1.2 Cặp hành động thông báo - hồi đáp là một trong những cặp hành động lời nói phổ biến trên thế giới và cả trong tiếng Việt Tuy nhiên, tuỳ vào hoàn cảnh giao tiếp, vai giao tiếp, nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp cũng như văn hoá ứng xử
mà cặp thoại chứa hành động ngôn ngữ thông báo - hồi đáp cũng có nhiều cách thức khác nhau, với những biểu hiện hết sức phong phú Do đó, việc nghiên cứu bản chất của hành động thông báo - hồi đáp; các phương tiện thể hiện chúng; ngữ nghĩa và tác nhân quyết định hiệu quả của hành động thông báo - hồi đáp… là những vấn đề
có quan hệ chặt chẽ và hết sức cần thiết Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu những vấn đề nói trên về cặp thoại thông báo - hồi đáp một cách hệ thống và toàn diện
1.3 Trong thực tế đời sống, người dân ở ba miền Bắc, Trung, Nam khi giao tiếp với nhau, không phải ai cũng dùng tiếng Việt toàn dân như một thứ ngôn ngữ văn hóa chung, mà có hiện tượng người dân ở mỗi vùng nói thứ ngôn ngữ mang màu sắc địa phương của vùng đó Cũng là hành động thông báo - hồi đáp, nhưng người ở vùng phương ngữ Nghệ Tĩnh có cách thức thực hiện không hoàn toàn giống với người ở các vùng phương ngữ Nam Bộ, Bắc Bộ Vì vậy, qua cách hiện thực hoá hành động thông báo - hồi đáp của người Nghệ Tĩnh (cách thức thể hiện, phương tiện thể hiện, ngữ nghĩa), chúng ta sẽ nhận thấy những nét đặc trưng văn hóa riêng Nghệ Tĩnh
1.4 Trong bức tranh Việt ngữ, phương ngữ Nghệ Tĩnh có một vị trí riêng, màu sắc riêng không thể lẫn lộn Vì vậy, đặt vấn đề nghiên cứu cặp thoại chứa hành động thông báo - hồi đáp trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh, chúng tôi không chỉ nhằm làm sáng tỏ cấu tạo; ngữ nghĩa và tác nhân quyết định hiệu quả của hành động thông báo - hồi đáp trên bình diện dụng học, mà còn làm sáng tỏ những nét văn hóa trong giao tiếp của con người ở vùng đất này
Trang 42 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ:
- Điểm lại lịch sử vấn đề, hệ thống hoá những vấn đề lí thuyết có liên quan đến
đề tài, đó là những vấn đề lí luận làm cơ sở phù hợp cho việc đi sâu phân tích các chương chính 2, 3, 4
- Phân tích, miêu tả để chỉ ra cấu tạo, ngữ nghĩa của cặp thoại chứa hành động thông báo - hồi đáp trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
- Rút ra những đặc trưng văn hóa - ngôn ngữ của người Nghệ Tĩnh qua cặp thoại chứa hành động thông báo - hồi đáp trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cặp thoại chứa hành động thông báo - hồi đáp trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh mà chúng tôi thống kê được
4 Phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
- Hành động thông báo có thể được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp Theo khảo sát của chúng tôi, hành động thông báo trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh chủ yếu được thực hiện trực tiếp, ít xuất hiện hình thức gián tiếp Do đó, luận án chỉ tập trung xem xét cách thực hiện hành động thông báo trực tiếp tức hành động thông báo
có những dấu hiệu tường minh
- Nội hàm khái niệm thông báo rất rộng, có thể do nhiều động từ ngữ vi biểu thị Những động từ ngữ vi được sử dụng phổ biến nhất để thực hiện hành động thông báo
là: thông báo, thông cáo, thông tin, báo Nhưng trong luận án này, hành động thông
báo được chúng tôi xem xét với tư cách là một hành động ngôn trung giúp người nói thực hiện được ý đồ, ý định cung cấp thông tin tới người nghe và hành động thông báo do động từ “thông báo” gọi tên Những sự tình do động từ “thông báo” biểu thị là những sự tình chưa xảy ra nhưng chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai gần
- Luận án chỉ xem xét cặp thoại chứa hành động thông báo - hồi đáp trong giao
Trang 5hướng đến chỉ ra một số đặc trưng văn hoá - ngôn ngữ của người Nghệ Tĩnh khi hiện thực hoá cặp thoại này Vấn đề so sánh, đối chiếu kết quả nghiên cứu cặp thoại chứa hành động thông báo - hồi đáp trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh với cặp thoại này khi được thực hiện ở các vùng miền khác cần được thực hiện bằng một công trình khác
có quy mô lớn hơn
4.2 Nguồn ngữ liệu
- Luận án sử dụng 1210 cặp thoại tương ứng với 2420 lời thoại chứa hành động thông báo - hồi đáp Địa điểm mà chúng tôi tiến hành khảo sát, thu thập ngữ liệu là hai địa bàn Nghệ An và Hà Tĩnh Tuy nhiên, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát tư liệu ở ba vùng: thành phố, nông thôn và miền biển Cụ thể, ở Nghệ An, chúng tôi khảo sát 8 huyện: Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương, Nghi Lộc, Cửa Lò, Diễn Châu, Quỳnh Lưu và thành phố Vinh; ở Hà Tĩnh, chúng tôi khảo sát 8 huyện: Nghi Xuân, Thị xã Hồng Lĩnh, Đức Thọ, Can Lộc, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Thành phố Hà Tĩnh
- Cách thu thập ngữ liệu: Bằng cách ghi âm, ghi chép trực tiếp trong suốt thời
gian thực hiện đề tài, chúng tôi thu được 1210 cặp thoại tương ứng với 2420 lời thoại
chứa hành động thông báo - hồi đáp Sau đó, tất cả các cặp thoại được chuyển thành văn bản Word Trong từng chương của luận án, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà chúng tôi lựa chọn ngữ liệu phù hợp với những vấn đề liên quan
5 Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp điều tra điền dã
Chúng tôi tiến hành thu thập ngữ liệu bằng hai cách: ghi âm và ghi chép trực tiếp các cuộc thoại trong cuộc sống hàng ngày của những đối tượng được khoanh vùng nghiên cứu là người Nghệ Tĩnh; phân biệt đối tượng theo những tiêu chí sau: a) Giới tính: nam - nữ; b) Quan hệ: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm, người mua
kẻ bán…; c) Độ tuổi: từ 17, 18 tuổi trở lên; d) Hoàn cảnh phát ngôn: các cuộc giao tiếp tự nhiên diễn ra trong gia đình và ngoài xã hội; đ) Nội dung phát ngôn: là những nội dung diễn ra trong cuộc sống như tình cảm gia đình, bạn bè, công việc…
b Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được vận dụng để miêu tả từ ngữ liệu đã thống kê được, sau
đó phân tích cấu trúc, cách thức, sự tương tác của các cặp thoại có hành động thông báo - hồi đáp của người Nghệ Tĩnh, đồng thời tổng hợp lại quá trình nghiên cứu để từ
đó đưa ra những kết luận mang giá trị thực tiễn phù hợp với mục đích nghiên cứu của luận án
Trang 6c Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp này được chúng tôi gắn những tham thoại cụ thể với những nhân tố liên quan như: không gian, thời gian, nhân vật giao tiếp đặt trong các tình huống, ngữ cảnh khác nhau, từ đó nhận ra đúng nội dung ngữ nghĩa mà vai giao tiếp hướng tới, qua đó rút ra vai trò của hành động thông báo - hồi đáp trong hành chức
5.2 Thủ pháp nghiên cứu
a Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp này được sử dụng để thống kê các dạng cấu tạo, ngữ nghĩa của cặp thoại thông báo - hồi đáp, sau đó phân loại thành các nhóm nhỏ phục vụ cho từng mục đích nghiên cứu cụ thể
b Thủ pháp mô hình hoá
Chúng tôi sử dụng thủ pháp này để cụ thể hoá các mô hình cấu tạo của tham
thoại chứa hành động thông báo - hồi đáp trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
6 Đóng góp của luận án
Khác với những tác giả khác chỉ nghiên cứu về hành động thông báo được sử dụng độc lập, do một vai giao tiếp - vai trao - sử dụng, còn với đề tài của chúng tôi, có thể xem đây là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu cặp tham thoại chứa hành động thông báo trao
- hồi đáp do hai vai (cả vai trao và vai đáp riêng) sử dụng gắn với ngữ cảnh, đặt trong quan
hệ tương tác khi giao tiếp của người Nghệ Tĩnh trên tư liệu điều tra điền dã
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung Luận án được triển khai thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của đề tài
Chương 2: Cấu tạo cặp thoại chứa hành động thông báo - hồi đáp trong giao
tiếp của người Nghệ Tĩnh Chương 3: Ngữ nghĩa cặp thoại chứa hành động thông báo - hồi đáp trong giao
tiếp của người Nghệ Tĩnh Chương 4: Một số đặc trưng văn hoá ngôn từ của người Nghệ Tĩnh qua cặp thoại
chứa hành động thông báo - hồi đáp
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Điểm lại lịch sử nghiên cứu về hành động động ngôn ngữ, có thể thấy, vấn đề hành động ngôn ngữ với tư cách là một trong những trụ cột của Ngữ dụng học hiện đại đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm gần 50 năm và khẳng định là một hướng tiếp cận ngôn ngữ mới trong giao tiếp
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX, Ngữ dụng học, trong đó có hành động ngôn ngữ cũng đã dành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, tập trung vào 2 hướng chính: hướng nghiên cứu lí thuyết và hướng ứng dụng lí thuyết hành động ngôn ngữ vào nghiên cứu các hành động ngôn ngữ cụ thể trong tiếng Việt
1.2 Cơ sở lí thuyết của đề tài
1.2.1 Lí thuyết hội thoại
1.2.1.1 Khái niệm hội thoại
Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một hoàn cảnh nhất định, giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định
1.2.1.2 Cấu trúc hội thoại
Trang 81.2.2 Lí thuyết về hành động ngôn ngữ
1.2.2.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ
Hành động ngôn ngữ là một dạng hành động đặc biệt của con người, chỉ có ở con người Hành động ngôn ngữ gắn liền với hành động nói năng của con người, là
hành động mang tính xã hội
1.2.2.2 Điều kiện thực hiện hành động ngôn ngữ
Ở đây, chúng tôi dựa vào bốn điều kiện của Searle để làm cơ sở tìm hiểu cặp
thoại chứa hành động thông báo - hồi đáp trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
1.2.2.3 Phân loại hành động ngôn ngữ
J.R Searle là người hoàn chỉnh cách phân loại hành động ở lời Tác giả phân loại các hành vi tại lời thành 5 nhóm lớn Trong đó hành động thông báo thuộc nhóm tái hiện
1.2.2.4 Hành động ngôn ngữ trực tiếp và gián tiếp
Hành động ngôn ngữ trực tiếp là hành động được thực hiện đúng với đích ở lời,
có sự tương ứng giữa cấu trúc bề mặt với hiệu lực mà nó gây nên
Hành động ngôn ngữ gián tiếp là hành động trong đó người nói thực hiện một hành động ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết về ngôn ngữ chung cho hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành động khác
1.2.3 Hành động ngôn ngữ thông báo
1.2.3.1 Khái niệm hành động thông báo
Theo J.L.Austin, hành động thông báo nằm trong nhóm trình bày (expositives); J.R.Searle (1977), xếp hành động thông báo vào nhóm tái hiện (representatives); còn
A.Wierzbica (1987), hành động “thông báo” được bà vào nhóm thông tin (Inform)
Quan điểm của tác giả luận án về hành động thông báo trong tiếng Việt như
sau: Thông báo là hành động mà trong một ngữ cảnh nhất định, người phát ngôn Sp1
cung cấp thông tin gây hiệu lực đối với người tiếp nhận Sp2 về nội dung sự tình
Trang 9Theo Đại từ điển tiếng Việt, động từ “thông báo” có nghĩa: I đgt Báo cho mọi người biết: thông báo cho các cán bộ trong cơ quan biết II dt Bản thông báo: thông
báo của nhà trường - đọc thông báo viết ở bảng tin [tr.1524] Trong luận án, chúng
tôi dùng nghĩa I
1.2.3.2 Điều kiện sử dụng
a Điều kiện nội dung mệnh đề: Là một sự tình đang được nói đến; có thể được
đánh giá theo tiêu chuẩn đúng - sai logic
b Điều kiện chuẩn bị: 1) Hiểu biết của người nói Sp1 về sự tình sẽ cung cấp;
gây hiệu lực với người nghe Sp2; 2) Người nói không chắc rằng người nghe biết nội dung thông tin nếu người nói không nói ra
c Điều kiện chân thành: Sp1 thực sự chân thành mong muốn Sp2 tiếp nhận
thông tin; Sp2 có tâm thế sẵn sàng tiếp nhận nội dung thông báo
d Điều kiện căn bản: Khi đưa ra nội dung thông báo, người nói phải chịu trách
nhiệm về những điều mình nói ra và phải nói như thế nào để nhằm dẫn Sp2 tin tưởng vào nội dung sự tình Sp1 cung cấp
1.2.3.3 Cơ sở nhận diện hành động thông báo - hồi đáp
Để nhận diện cặp hành động thông báo - hồi đáp trong giao tiếp nói chung trong đó có giao tiếp của người Nghệ Tĩnh, chúng ta có thể dựa vào:
- Dựa vào việc người nói Sp1 sử dụng động từ ngữ vi “thông báo” trong phát ngôn thông báo; người nghe Sp2 có phản ứng hồi đáp bằng ngôn ngữ
- Dựa vào các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời - IFIDs: sử dụng các yếu tố dẫn nhập trong thành phần mở rộng của tham thoại thông báo; sử dụng các từ ngữ chỉ nơi chốn, thời gian cụ thể sự tình diễn ra trong phát ngôn thông báo; sử dụng các tiểu
từ tình thái gắn với nội dung mệnh đề
1.2.4 Khái quát về Nghệ Tĩnh và phương ngữ Nghệ Tĩnh
1.2.4.1 Khái quát về Nghệ Tĩnh
Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, lịch sử văn hoá Nghệ Tĩnh
đã tạo cho người Nghệ những đặc trưng tâm lí, cốt cách riêng và điều này cũng được thể hiện trong cách sử dụng ngôn ngữ trong đó có việc hiện thực hoá cặp thoại thông báo - hồi đáp
1.2.4.2 Phương ngữ Nghệ Tĩnh
a Khái niệm phương ngữ
Phương ngữ là tiếng nói riêng của một vùng lãnh thổ, một khu vực địa phương Phương ngữ là biến thể của ngôn ngữ toàn dân, chúng có nét khác biệt so với ngôn ngữ toàn dân về các mặt ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp và cách
Trang 10b Để tìm hiểu đặc điểm của cặp thoại chứa hành động thông báo - hồi đáp trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh, chúng tôi trình bày một số vấn đề về lí thuyết giao tiếp; lí thuyết hội thoại; lí thuyết hành động ngôn từ; vài nét về Nghệ Tĩnh và phương ngữ Nghệ Tĩnh làm tiền đề lí thuyết quan trọng cho luận án
c Một số vấn đề lí thuyết cơ bản liên quan đến hành động trao - đáp trong hội thoại cũng được trình bày: khái niệm hành động ngôn ngữ, các loại hành động ngôn ngữ, phân loại hành động ở lời, điều kiện sử dụng hành động ở lời, phát ngôn ngữ
vi, biểu thức ngữ vi, động từ ngữ vi và các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời
d Kế thừa quan điểm của một số tác giả đi trước về giao tiếp, các nhân tố giao tiếp, các đơn vị hội thoại, quan hệ liên cá nhân trong hội thoại, luận án hướng đến chỉ
rõ sự chi phối của mối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại, sự phụ thuộc vào các nhân tố giao tiếp như: nhân vật giao tiếp, nội dung giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, cách thức giao tiếp đối với việc thực hiện và tiếp nhận hành động thông báo
đ Luận án cũng đề cập đến cơ sở để nhận diện cặp hành động thông báo - hồi đáp trong giao tiếp nói chung và của người Nghệ Tĩnh làm cơ sở để chúng tôi đi sâu phân tích, mô tả cấu tạo, ngữ nghĩa của chúng ở chương 2, chương 3
Trang 11Chương 2 CẤU TẠO CẶP THOẠI CHỨA HÀNH ĐỘNG THÔNG BÁO - HỒI ĐÁP
TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH
2.1 Cấu tạo của cặp thoại và tham thoại
2.1.1 Cấu tạo của cặp thoại
Các cặp thoại chứa hành động ngôn ngữ thông báo - hồi đáp trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh đa dạng, linh hoạt về kết cấu Tuy nhiên, do kết quả tư liệu, chúng tôi chỉ đi vào phân tích cặp thoại có hai tham thoại: tham thoại trao chứa hành động thông báo và tham thoại hồi đáp chứa các hành động đáp lại hành động thông báo
2.1.2 Cấu tạo của tham thoại
Qua thống kê cấu tạo tham thoại dẫn nhập thông báo và tham thoại hồi đáp trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh, chúng tôi thấy: Tham thoại dẫn nhập thông báo
có 2 dạng: a) Tham thoại chỉ có hành động thông báo đứng độc lập và b) Tham thoại
có hành động thông báo và các thành phần phụ đi kèm Tham thoại hồi đáp cũng có 2 dạng: a) 1 hành động và b) 2 hoặc nhiều hơn 2 hành động
2.2 Thống kê và mô tả cấu tạo cặp thoại thông báo - hồi đáp trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
2.2.1 Cấu tạo của tham thoại trao chứa hành động thông báo
2.2.2.1 Thống kê định lượng
Trong 1210 cặp thoại ngữ liệu thu thập được, tham thoại chứa hành động thông báo trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh xuất hiện dưới 2 dạng: (1) Tham thoại thông báo có hành động thông báo đứng độc lập xuất hiện 325/1210 lần, chiếm 26,86%; (2) Tham thoại thông báo có hành động thông báo và các thành phần phụ đi kèm xuất hiện 885/1210 lần, chiếm 73,14%
2.2.2.2 Mô tả hành động thông báo và thành phần phụ đi kèm
a Hành động thông báo
Biểu thức ngữ vi (BTNV) thông báo được thể hiện ở hai dạng: nguyên cấp và tường minh Mô tả hành động thông báo đứng độc lập chính là mô tả các thành tố cấu tạo nên BTNV thông báo tường minh và nguyên cấp BTNV thông báo tường minh ở dạng đầy đủ gồm 4 thành tố: động từ ngữ vi thông báo (kí hiệu là Đg); người nói - chủ thể thông báo (kí hiệu là Sp1); người nghe - đối tượng tiếp nhận nội dung thông báo (kí hiệu là Sp2); nội dung mệnh đề - nội dung thông báo: thông tin nhất định
về người hay sự vật, sự việc, hiện tượng được Sp1 nói đến (kí hiệu là P) Tùy vào tình huống giao tiếp, quan hệ liên cá nhân, thành tố Sp1 và Sp2 có thể vắng mặt
Trang 12Mô hình đầy đủ của BTNV thông báo tường minh được xác định như sau:
± Sp1 + Đg ± Sp2 + P
(Chú thích: + luôn xuất hiện; ± có thể xuất hiện hoặc có thể không)
Chúng tôi nhận thấy BTNV thông báo nguyên cấp ứng với thành tố nội dung mệnh đề - nội dung thông báo của BTNV thông báo tường minh Vì có sự trùng lặp như vậy nên khi phân tích cấu tạo của BTNV thông báo tường minh, chúng tôi coi việc mô tả các đặc điểm của thành tố nội dung mệnh đề - nội dung thông báo, cũng chính là mô tả các đặc điểm của BTNV thông báo nguyên cấp
b Mô tả hành động đi kèm hành động thông báo
b 1 ) Thống kê định lượng
Trong 885 tham thoại có thành phần phụ đi kèm hành động chủ hướng thông
báo xuất hiện 2 dạng: (1) Tham thoại thông báo có một thành phần phụ (587/885 lần,
chiếm 66,33%) và (2) Tham thoại chứa nhiều thành phần phụ (298/885 lần, chiếm 33,67%)
b 2 ) Đặc điểm các nhóm thành phần phụ đi kèm hành động thông báo trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
b2(1) Thành phần phụ có chức năng dẫn nhập, thu hút sự tập trung, chú ý của
người nghe SP2 vào nội dung thông báo như: hành động hô gọi (này/ nì, ê, Huệ này/
nì, mi ơi…); hành động hỏi (Biết/ nghe/ hay tin chi (gì) chưa?); hành động đánh giá
(Có tin/ tin + A (vui/buồn/ hot/ nóng/ khẩn cấp ) + đây (này, nè, nhé )!”, hoặc A!); hành động điều khiển (Chú ý nghe đầy này!, Cả lớp trật tự!…)
b2(2) Thành phần phụ là cụm từ liên kết vừa có vai trò dẫn nhập vào hành động chủ hướng thông báo vừa có chức năng nối kết tham thoại thông báo với các
tham thoại khác trong toàn bộ cuộc thoại Chẳng hạn: trước hết, đầu tiên, kết thúc
b2(3) Thành phần phụ có chức năng chú thích, bổ sung, làm rõ hơn thông tin trong nội dung thông báo: thông tin bổ sung, chú thích về thời gian, địa điểm diễn ra
sự việc, hiện tượng, hoạt động được nói tới trong nội dung thông báo; thông tin chú thích, nói rõ thêm về đối tượng được đề cập đến trong nội dung thông báo
b2(4) Thành phần phụ là hành động xác tín đi kèm khẳng định tính chân thực
của nội dung thông báo như: chính xác một trăm phần trăm, tuyệt đối chính xác
b2(5) Thành phần phụ là hành động giải thích đi kèm nêu lí do, nguyên nhân của sự việc, hiện tượng được nói tới trong nội dung thông báo
b2(6) Thành phần phụ là hành động biểu cảm đi kèm để bày tỏ cảm xúc, thái
độ, sự đánh giá đối với sự vật, sự việc, hiện tượng được nói đến trong nội dung
Trang 13thông báo Kiểu cấu trúc thường gặp là: “A quá đi mất!”; “A thế không biết!”, “A
ghê!” (A thường là từ ngữ bộc lộ tâm trạng như: vui, thích, buồn, chán, )
b2(7) Thành phần phụ là hành động cầu khiến đi kèm có chức năng định hướng hành động của người tiếp nhận nội dung thông báo
b2(8) Thành phần phụ là hành động đi kèm có chức năng liên nhân, thể hiện
phép lịch sự xã giao khi đưa ra nội dung thông báo như: khen ngợi, khích lệ, cảm ơn,
chúc mừng hay an ủi, động viên
b2(9) Thành phần phụ có chức năng kết thúc tham thoại như: thế nhé, rứa ung
2.2.2 Cấu tạo của tham thoại hồi đáp cho tham thoại trao chứa hành động thông báo
2.2.2.1 Thống kê định lượng
Ứng với 1210 tham thoại trao chứa hành động thông báo thì có 1210 tham thoại hồi đáp tương ứng, trong đó: tham thoại hồi đáp có nhiều hành động xuất hiện 753 lần, chiếm 62,23%; tham thoại hồi đáp có một hành động xuất hiện 457 lần, chiếm 37,77%
2.2.2.2 Mô tả cấu tạo của tham thoại hồi đáp trong quan hệ tương tác với tham thoại thông báo
a Cấu tạo của tham thoại hồi đáp chỉ có một hành động đứng độc lập
Chúng gồm 6 dạng sau: 1/ Hồi đáp cho hành động thông báo là hành động đồng ý, đồng tình; 2/ Hồi đáp cho hành động thông báo là các hành động lịch sự cảm ơn, chúc mừng ; 3/ Hồi đáp cho hành động thông báo là hành động biểu cảm; 4/ Hồi đáp cho hành động thông báo là hành động nhận xét, đánh giá; 5/ Hồi đáp cho hành động thông báo là hành động xác tín; 6/ Hồi đáp cho hành động thông báo là hành động cầu khiến
b Cấu tạo của tham thoại hồi đáp gồm nhiều hành động
Tham thoại hồi đáp nhiều hành động xuất hiện hai dạng: dạng tham thoại hồi đáp có hai hành động và dạng tham thoại hồi đáp có ba hành động Trong đó, người