Nội dung Luận án này nghiên cứu về định ngữ nghệ thuật nhằm làm rõ các đặc điểm về ngữ pháp, ngữ nghĩa và vai trò của thành phần này trong câu văn tiếng Việt. Để hiểu rõ hơn mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của Luận án này.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2
Người hướng dẫn khoa học:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp Trường
Địa điểm: Trường Đại học Vinh Thời gian: Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2021
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Trung tâm Thông tin - Thư viện Nguyễn Thúc Hào, Trường Đại học Vinh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Về cấu tạo ngữ pháp, câu trong tiếng Việt gồm thành phần chính (nòng cốt câu)
và các thành phần phụ; việc phân loại các kiểu câu về mặt ngữ pháp cơ bản là dựa vào các thành phần đó Thành phần chính giữ vai trò quan trọng, quyết định và chi phối sự xuất hiện của các thành phần phụ trong câu Thành phần phụ với vai trò bổ sung thông tin nhưng trong nhiều trường hợp nó có khả năng làm biến đổi ý nghĩa, nâng cấp chất lượng thông tin
và tình thái của câu Định ngữ (ĐN) trong tiếng Việt là một trong những thành phần phụ có vai trò như vậy Tìm hiểu, khảo sát định ngữ theo hướng gắn liền với sự hành chức trong thực tế giao tiếp vừa góp phần vào việc phân tích ngữ pháp vừa làm rõ sự hoạt động của các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp
1.2 Trong tổ chức lời nói, nội dung thông báo thường được thể hiện rõ ở các thành phần chính, việc bổ sung, làm rõ nội dung nào đó cho vị trí trung tâm thường là do các thành phần phụ đảm nhiệm Trong tác phẩm văn học, câu văn có xu hướng mở rộng thành phần với nhiều cách diễn đạt linh hoạt, sinh động, có tính thẩm mĩ Một trong những thành
phần mở rộng thể hiện rõ tính thẩm mĩ trong tác phẩm văn học là định ngữ nghệ thuật
(ĐNNT)
Có thể nói, ĐNNT là một trong những yếu tố đã góp phần làm nên vẻ đẹp văn chương, thể hiện một phần phong cách ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách tác giả Ở mỗi giai đoạn của văn học Việt Nam, chúng ta đều có thể nhận thấy các dấu ấn sáng tạo của các nhà văn thông qua việc sử dụng ngôn từ và định hình phong cách tác giả
1.3 Trong các công trình nghiên cứu ngữ pháp, định ngữ được xếp vào thành tố phụ của từ hoặc thành phần phụ của câu, là thành phần mở rộng nằm ngoài trung tâm kiến trúc của câu Khi phân tích thành phần câu từ góc độ phong cách học hay từ góc nhìn lý luận phê bình văn học, tên gọi “định ngữ”, “định ngữ nghệ thuật” cũng là một trong những thuật ngữ được nhắc đến để phân tích, bình giá Như vậy, có thể thấy, ĐN (trong đó có ĐNNT) trong tiếng Việt vẫn là một vấn đề thú vị cần được tiếp tục tìm hiểu, phân tích thấu đáo để thấy rõ hơn vai trò chuyển tải thông tin, tính chất nghệ thuật của đơn vị thông báo
Việc tiếp tục hệ thống hoá, làm sáng tỏ các khía cạnh chưa được khảo cứu đầy đủ (về cấu tạo, ý nghĩa, vai trò) của ĐNNT là thiết thực góp phần vào việc nghiên cứu lí thuyết về thành phần câu và trong một phạm vi nhất định, còn giúp ích cho việc tìm hiểu phong cách ngôn ngữ văn chương và phong cách tác giả Thêm nữa, tìm hiểu về ĐNNT còn góp phần vào việc thực hành tiếng Việt, tập làm văn và dạy học ngữ văn trong nhà trường
Từ các lí do chính trên đây, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài luận án: Định ngữ
nghệ thuật trong tiếng Việt (qua một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam)
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu định ngữ nghệ thuật nhằm làm rõ các đặc điểm về ngữ pháp, ngữ nghĩa
và vai trò của thành phần này trong câu văn tiếng Việt
Trang 42.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án đề ra các nhiệm vụ cụ thể như sau:
a) Tổng quan tình hình và kết quả nghiên cứu về ĐNNT; làm rõ cơ sở lí luận và hướng tiếp cận của đề tài;
b) Phân tích, miêu tả cách thức tổ chức cấu tạo và cách thức tổ chức ngữ nghĩa của ĐNNT trong tiếng Việt;
c) Phân tích vai trò của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Các ĐNNT sẽ được tìm hiểu ở các phương diện ngữ pháp (cấu tạo, từ loại), ngữ nghĩa và vai trò của nó trong tiếng Việt Đơn vị làm đối tượng phân tích và miêu tả của luận
án giới hạn trong phạm vi là các câu có cụm danh từ chứa ĐNNT trong tiếng Việt (khảo sát
trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam)
4 Nguồn ngữ liệu
Định hướng lựa chọn ngữ liệu của luận án là những tác phẩm văn xuôi có xu hướng thiên về lối văn miêu tả (tiểu thuyết, truyện ngắn) và giàu tính biểu cảm (tùy bút, ký) Các câu văn có cụm danh từ (DT) chứa ĐNNT trong 14 công trình của các tác giả thuộc 3 thể loại như sau: tiểu thuyết, tùy bút và truyện ngắn
Số lượng đơn vị được thống kê dùng trong luận án là 2.000 đơn vị (câu có cụm DT chứa ĐNNT)
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp miêu tả
Phương pháp này dùng để miêu tả đặc điểm của ĐNNT xét trong ngữ cảnh những câu văn nghệ thuật trên các bình diện cấu tạo và bình diện chức năng - ngữ nghĩa
- Một số thủ pháp đi kèm:
+ Thủ pháp phân tích ngữ nghĩa, ngữ cảnh, ngôn cảnh
+ Thủ pháp thử nghiệm: thay thế, lược bỏ, cải biến, so sánh, đối chiếu
+ Thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp
5.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp phân tích diễn ngôn phân xuất các đơn vị trong văn bản thành các thành tố; chúng được trích xuất, trừu tượng hoá để thống kê, phân loại, phân tích các loại ĐNNT xuất hiện trong câu, đoạn văn, tác phẩm; xem xét vai trò, hiệu quả, các mối liên hệ, tác động qua lại của ĐN với các thành phần khác cũng lấy các tác phẩm, với tư cách là các diễn ngôn độc lập để đánh giá Cơ cấu hành chức của tổ hợp từ chứa ĐNNT xuất phát từ tác phẩm để rút ra đặc điểm và ảnh hưởng của đặc điểm đó đến hệ thống chung
5.3 Thủ pháp thống kê - phân loại
Thủ pháp thống kê - phân loại dùng để thống kê các ngữ liệu thu thập, nhằm phục vụ
cho quá trình nghiên cứu của luận án Các ngữ liệu có nguồn gốc, xuất xứ và độ tin cậy cao,
Trang 5được mô tả và phân tích thông qua những tiêu chí rõ ràng, cụ thể Sau khi thống kê, các ngữ liệu sẽ được phân loại và tập hợp theo một hệ thống nhất định để sử dụng cho từng chương, từng luận điểm của luận án
phẩm văn học nói chung
- Góp phần bổ sung những khía cạnh lí thuyết về ĐN và ĐNNT trong hành chức; nêu
rõ các giá trị và hiệu quả nghệ thuật của ĐNNT trong tác phẩm văn học
6.2 Về thực tiễn
- Nguồn ngữ liệu ĐNNT sử dụng trong luận án được chọn lọc và phân loại dựa trên những tiêu chí nhất định đủ tin cậy để phân tích, miêu tả đặc điểm của ĐNNT, là nguồn tham khảo tin cậy để có thể thực hiện các công trình nghiên cứu tiếp theo;
- Kết quả nghiên cứu ĐNNT có thể ứng dụng vào việc dạy học ngữ văn trong trường phổ thông: các giờ tiếng Việt (thực hành viết câu văn, phân tích ngữ pháp) và các tiết học đọc - hiểu (phân tích tác phẩm, tìm hiểu phong cách ngôn ngữ văn chương và phong cách tác giả) trong các nhà trường
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án gồm
có 3 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của đề tài
Chương 2 Cách thức tổ chức của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt (qua một
số tác phẩm văn xuôi Việt Nam) Chương 3 Vai trò của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt (qua một số tác phẩm
văn xuôi Việt Nam)
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu định ngữ và định ngữ nghệ thuật
1.1.1 Tình hình nghiên cứu định ngữ ở ngoài nước
Thuật ngữ định ngữ (Atribute) được dùng trong nghiên cứu của Ngữ pháp học, liên
quan đến việc miêu tả cấu tạo ngữ pháp, phân loại và phân tích thành phần câu
Các nhà ngôn ngữ học Nga (A.A Potebnja, A.A Shakhmatov, F.I Buslaev ) coi định ngữ là thành phần bị hợp dạng JU.X Xtepanop đưa ra mô hình: A+N N (trong đó, A: tính từ - định ngữ, N: danh từ Các nhà nghiên cứu của Mỹ, Đức, Anh không hoặc ít
quan tâm đến định ngữ M Halliday đưa ra các khái niệm tính ngữ (epithet) và phân loại tố
Trang 6(classifier) Beatrice Warren cho rằng ngoài chức năng miêu tả, phân loại, định ngữ còn có chức năng định dạng
1.1.2 Tình hình nghiên cứu định ngữ ở Việt Nam
1.1.2.1 Định ngữ trong mối quan hệ với câu
Hiện nay có hai loại ý kiến phân tích về ĐN tiếng Việt Loại ý kiến thứ nhất xem ĐN thuộc thành phần của câu; tiêu biểu cho loại ý kiến này là: Phan Khôi (1955), Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (1981, 1992)
Loại ý kiến thứ hai xem ĐN là thành phần phụ thuộc của từ (từ tổ, cụm từ); tiêu biểu cho loại ý kiến này là: Hoàng Tuệ (1962), Nguyễn Kim Thản (1964), các tác giả I.S Bưstrov, Nguyễn Tài Cẩn, N.V Stankevich (1975), Cao Xuân Hạo (1999)…
Trong luận án, chúng tôi theo quan niệm coi ĐN là thành phần phụ trong cụm danh
từ (còn gọi là danh ngữ - DN), có chức năng và ý nghĩa phụ thuộc, liên quan trực tiếp đến danh từ trung tâm
1.1.2.2 Định ngữ trong mối quan hệ với cụm danh từ
a Vị trí của định ngữ trong cụm danh từ
Hầu hết, các tác giả đều thống nhất gọi các thành phần phụ đứng trước hoặc sau danh
từ trung tâm (DTTT) là ĐN (còn gọi là định tố, phụ tố, bổ tố…) Tiêu biểu là các tác giả: M.B Emeneau (1951), Nguyễn Tài Cẩn (1975), Đái Xuân Ninh (1978)…
b Về vai trò của định ngữ trong cụm danh từ
Nhiều nhà Việt ngữ học thống nhất quan điểm của tác giả Nguyễn Tài Cẩn (1975) coi
ĐN là “thành phần phụ bổ sung ý nghĩa cho DTTT trong cụm DT”
Tuy nhiên, khi bàn đến các chức năng khác của ĐN như ĐN tiểu cú, ĐN chỉ loại… quan điểm của các nhà nghiên cứu có những điểm khác biệt nhau, các tiêu chí phân loại và nhận diện chưa nhất quán, ranh giới phân loại chưa rõ ràng
Tóm lại, thành tố phụ sau của cụm DT (vị trí 1 trong sơ đồ cụm DT của Nguyễn Tài Cẩn) phong phú về số lượng, đa dạng về kiểu cấu tạo và ngữ nghĩa nên việc phân loại chúng khá phức tạp và thiếu đồng nhất trong quan điểm của các nhà nghiên cứu
1.1.3 Tình hình nghiên cứu định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt
a Từ góc độ thi pháp học, văn học
Khái niệm ĐNNT đã được nhắc đến trong công trình nghiên cứu của tác giả Trần Đình
Sử (1998), Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi chủ biên (2004) cho rằng định ngữ nghệ thuật là kết quả sự phát hiện của nhà văn
Khi tiếp nhận tác phẩm văn học, mặc dù không gọi tên chính danh định ngữ nghệ thuật, nhưng qua phân tích, có thể thấy rõ vai trò của nó trong việc “tu sức” cho câu văn
b Từ góc độ ngôn ngữ học
Chức năng thẩm mỹ của ĐNNT đã được nhắc đến trong một số công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Cao Đàm, Cao Xuân Hạo, Bùi Tất Tươm, Hoàng Dũng, Nguyễn Thị Ly Kha,… Chức năng thẩm mỹ của ĐNNT thể hiện bằng việc tạo hình nghệ thuật, mang lại những hiệu quả nghệ thuật và góp phần tạo nên nhạc điệu cho câu văn
Khi phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, nhiều người đã nêu rõ vai trò của ĐNNT trong bài văn, câu văn Tiêu biểu là công trình nghiên cứu của Đinh Trọng Lạc,
Trang 7Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đặng Lưu, Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Thị Nhung…
Trong luận án này, ĐNNT sẽ được xem xét một cách hệ thống cả về cấu trúc lẫn chức năng (trên cả bình diện ngữ nghĩa và bình diện phong cách) Từ đó cho thấy ĐNNT không chỉ làm rõ hơn về ý nghĩa cho danh từ mà còn có vai trò tác động, ảnh hưởng đến cả hệ thống mà
nó hiện hữu trong các tác phẩm văn học và thể hiện giá trị thẩm mĩ của tác phẩm
1.2 Cơ sở lí thuyết của đề tài
1.2.1 Câu và cụm từ tiếng Việt
1.2.1.1 Câu trong tiếng Việt
a Về khái niệm câu
Câu là đơn vị giao tiếp nhỏ nhất có tính thông báo, do từ cấu tạo nên theo quy tắc ngữ pháp nhất định
b Các loại câu và thành phần câu
- Về các loại câu trong giao tiếp, xét về cấu tạo gồm có: câu đơn, câu ghép; về dung lượng: câu tối giản, câu mở rộng (câu dài/ câu ngắn) Đối tượng của luận án chính là những câu có hiện tượng mở rộng khai triển các thành phần câu, mà trọng tâm là loại mở rộng từ trung tâm của cụm danh từ trong câu
- Về thành phần câu, các nhà Việt ngữ học phân loại thành: nòng cốt câu, các thành phần phụ của câu và thành phần phụ của từ Mỗi thành phần câu giữ một chức vụ cú pháp nhất định, đảm nhiệm một chức năng nhất định trong câu
c Về ngữ nghĩa của câu
Trong ngữ pháp học hiện nay, việc nghiên cứu câu được quan tâm ở cả ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học Khi nghiên cứu câu không thể tách rời việc phân tích và miêu tả ngữ nghĩa của câu và cụm từ (CT)
1.2.1.2 Cụm từ trong tiếng Việt
a Khái niệm cụm từ
Cụm từ theo (nghĩa rộng) là một tổ hợp từ tự do, gồm có ba loại quan hệ: chính phụ, chủ vị và đẳng lập
b Về cấu tạo của cụm danh từ
Cụm DT là một cụm từ do danh từ làm thành tố trung tâm, có cấu tạo ở dạng đầy đủ gồm: thành tố phụ trước, thành tố chính, thành tố phụ sau, được phân bố thành 6 vị trí Cụm từ
là một thành phần của câu (loại câu mở rộng); dạng tối giản của cụm từ (CT) là một từ, giữ một chức vụ cú pháp nào đó trong câu
1.2.2 Một số khái niệm lí thuyết về Phong cách học và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
1.2.2.1 Phong cách học
a Khái niệm phong cách học
Thuật ngữ Phong cách học được dùng để chỉ bộ môn nghiên cứu những cách sử dụng
có tính chất mĩ học của ngôn ngữ, đặc biệt là cách sử dụng ngôn ngữ trong văn học
b Phương tiện tu từ
Phương tiện tu từ là những phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản ra chúng còn có ý nghĩa bổ sung, có màu sắc tu từ
c Các biện pháp tu từ thường gặp
Trang 8Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong lời nói các phương tiện ngôn ngữ (không kể trung hoà hay diễn cảm) để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gợi hình, gợi cảm, nhấn mạnh, làm nổi bật ) do sự tác động qua lại của các yếu tố trong một ngữ cảnh rộng
Biện pháp tu từ từ vựng - ngữ nghĩa: là những cách phối hợp sử dụng các đơn vị từ vựng trong phạm vi của một đơn vị khác thuộc bậc cao hơn, có khả năng mang lại hiệu quả
tu từ do mối quan hệ giữa các đơn vị trong ngữ cảnh Các biện pháp tu từ từ vựng - ngữ nghĩa gồm: ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, điệp ngữ,…
1.2.2.2 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
a Các phong cách chức năng
Ngôn ngữ có các chức năng cơ bản là phương tiện giao tiếp và là công cụ tư duy, trên
cơ sở đó, người ta phân loại ngôn ngữ thành các phong cách chức năng
b Khái niệm phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là một loại phong cách chức năng của ngôn ngữ được dùng để sáng tạo hình tượng nghệ thuật và các tác phẩm nghệ thuật nhằm phục vụ cho
nhu cầu về đời sống tinh thần của con người
c Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Các đơn vị ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có chức năng tác động hình tượng, có tính thẩm mĩ, từ đó, tác phẩm văn học mang tính sinh động và biểu cảm cao, làm nên chất trữ tình của văn bản nghệ thuật và tạo cầu nối cảm xúc giữa nhà văn và bạn đọc
d Màu sắc tu từ và tính thẩm mĩ trong ngôn ngữ nghệ thuật
- Màu sắc tu từ là chỉ phần thông tin có tính chất bổ sung bên cạnh phần thông tin cơ bản của một thực từ, thông tin bổ sung vốn hình thành từ những thành tố: biểu cảm, cảm xúc, bình giá và phong cách (còn gọi là tu từ học chức năng)
- Tính thẩm mĩ (chức năng thẩm mỹ) thể hiện trên hai phương diện: bổ sung thêm một nét “ý nghĩa mới”, một cách tiếp nhận mới về đối tượng được nói đến; “trang trí, làm đẹp” cho câu văn, ngôn bản, tạo nên tính nghệ thuật cho câu văn
Tóm lại, cả hai tính chất: màu sắc tu từ và tính thẩm mĩ có mối quan hệ tương liên;
chúng góp phần làm nên tính nghệ thuật của tác phẩm văn học
1.2.3 Định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt
1.2.3.1 Định ngữ trong tiếng Việt
a Về tên gọi, hiện có hai tên gọi được dùng: định tố (Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Thị Nhung) và định ngữ (Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp)
b Về cấu tạo, định ngữ có thể là một từ, cụm từ hay kết cấu chủ vị Về từ loại, định ngữ có thể là danh từ, động từ, tính từ, hoặc các đại từ xác định, các từ có ý nghĩa thời gian,
vị trí và số từ, từ chỉ trỏ, từ chỉ vị trí và từ chỉ con số, các số từ xác định, số từ thứ tự, đại từ, thời - vị từ
c Về phân loại vị trí định ngữ trong cụm từ, các nhà nghiên cứu căn cứ vào vị trí, chức năng để phân loại thành: định ngữ chỉ lượng (đứng trước danh từ) và định ngữ miêu tả (đứng sau danh từ); định ngữ hạn định, định ngữ miêu tả và định ngữ chỉ xuất…
Trang 9d Về chức năng của định ngữ, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng định
ngữ có chức năng hạn định, chức năng miêu tả Ngoài ra, còn một số ý kiến đề cập đến
chức năng chỉ xuất, chức năng trang trí… của ĐN
1.2.3.2 Định ngữ nghệ thuật
a Nhận xét chung
Hiện nay, việc nghiên cứu về ĐNNT của các nhà Việt ngữ học chưa nhiều; một số bài viết chỉ dừng lại ở định nghĩa và được điểm qua trong các công trình nghiên cứu về phong cách ngôn ngữ tác giả cụ thể
b Về định nghĩa
Định ngữ nghệ thuật là phương thức chuyển nghĩa, trong đó một từ (hoặc một cụm từ) đóng vai trò phụ nghĩa cho một từ (hoặc cụm từ) khác nhằm làm nổi bật một đặc điểm
nào đó của đối tượng để tạo ra ấn tượng thẩm mĩ
c Phân biệt định ngữ và định ngữ nghệ thuật
- Về vị trí:
ĐN có thể xuất hiện ở các vị trí: (-3), (-2), (-1), (1) (2) Ví dụ: Tất cả những cái con
mèo đen ấy
ĐNNT chỉ xuất hiện ở vị trí (1) ngay sau danh từ trung tâm Ví dụ: Tất cả những cái
con mèo đen tuyền, đáng yêu ấy
- Về cấu tạo và từ loại, định ngữ thường có các từ loại phụ thuộc vào các vị trí trước
và sau, có cấu tạo và ý nghĩa đơn giản
ĐNNT có cấu tạo đa dạng, từ, tiểu cụm từ, tiểu cú; các từ loại tham gia đa dạng, nhất
là tính từ và các cấu trúc so sánh có tính từ làm hạt nhân
- Về ý nghĩa, ĐN thường chỉ có ý nghĩa xác định đặc điểm vốn có của sự vật, hiện
tượng, mang tính khách quan Ví dụ: tóc dài, bàn vuông, mèo đen ĐNNT có màu sắc tu từ,
đem lại hiệu quả thẩm mỹ Ví dụ: Đầu xanh đã tội tình gì Rừng phong thu đã nhuốm màu
quan san
Có thể so sánh một số cụm danh từ để làm rõ sự khác biệt giữa định ngữ thông thường và định ngữ nghệ thuật Ví dụ:
Trong cụm DT những cuốn sách tôi đọc khi còn nhỏ đó, ở vị trí (1) có kiểu cấu tạo là
tiểu cú, nêu lên thời gian xảy ra sự kiện gắn liền với đối tượng được nói đến ở DTTT (cuốn
sách) Với cụm DT những cuốn sách đầy ắp kỉ niệm tuổi thơ ngọt ngào của tôi, ĐNNT
không chỉ nhắc đến thời gian mà còn chứa đựng trong đó những cảm xúc, những rung cảm mạnh mẽ của người viết đối với đối tượng
Như vậy, chúng tôi xác định: Định ngữ nghệ thuật là loại định ngữ nằm trong cấu
trúc của cụm danh từ, là thành phần mang màu sắc tu từ và tính thẩm mĩ cho câu văn thuộc văn bản nghệ thuật
d Các bình diện nghiên cứu định ngữ nghệ thuật
ĐNNT được xem xét một cách toàn diện cả về mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa và phong cách của nó đặt trong ngữ cảnh hẹp (CT) và ngữ cảnh rộng (câu, văn bản- tác phẩm văn học)
Trang 10- Bình diện cấu tạo của định ngữ nghệ thuật
Tìm hiểu vị trí, cấu tạo, số lượng và các thành tố có thể xuất hiện trong cụm DT và quan hệ của chúng
- Bình diện ngữ nghĩa của ĐNNT
ĐNNT là loại định ngữ không chỉ có chức năng hạn định và miêu tả cho danh từ mà
còn có chức năng thẩm mĩ (mang màu sắc tu từ và tính thẩm mĩ)
- Bình diện phong cách của định ngữ nghệ thuật
Thứ nhất, ĐNNT sẽ được đặt trong mối quan hệ với các đơn vị khác có liên quan như
DN, câu và ngôn bản (tức các ngữ cảnh hiện hữu bao quanh của ĐNNT) Thứ hai, ĐNNT thể hiện dấu ấn, thói quen của nhà văn trong việc chọn lựa và sử dụng từ ngữ trong câu nhằm đạt được hiệu quả nghệ thuật cao nhất trong sáng tác, thể hiện cả phong cách và đặc trưng thể loại của tác phẩm văn học
1.3 Tiểu kết chương 1
Trong các công trình của Ngôn ngữ học đại cương và Ngữ pháp học, khái niệm định
ngữ đã có khá nhiều tác giả bàn tới Tuy nhiên, các tài liệu ở ngoài nước hay trong nước viết rất ngắn gọn, sơ lược về cương vị, vai trò, đặc điểm của định ngữ trong tổ chức cú pháp của câu hoặc trong mối quan hệ với câu Hiện có hai loại ý kiến: hoặc là xếp định ngữ vào thành phần thứ yếu của câu hoặc không xem nó là thành phần của câu mà thuộc tổ chức của cụm
từ (hay từ tổ, đoản ngữ, ngữ) Trong luận án, chúng tôi theo quan niệm coi định ngữ là thành phần phụ trong cụm danh từ, có chức năng và ý nghĩa phụ thuộc, liên quan trực tiếp đến danh từ trung tâm
Để tìm hiểu định ngữ nghệ thuật, luận án làm rõ các cơ sở lí thuyết có liên quan trực
tiếp đến đề tài là: Ngữ pháp học (gồm các khái niệm về câu, thành phần câu, ngữ pháp, ngữ nghĩa của câu, tổ chức của cụm từ) và Phong cách học (gồm các biện pháp tu từ, ngôn ngữ
nghệ thuật, màu sắc tu từ, tính thẩm mĩ)
Định ngữ là một thành phần của cụm danh từ, đến lượt mình, cụm danh từ lại là một
bộ phận của câu, đương nhiên có ý nghĩa và vai trò nhất định Khi định ngữ nằm trong các câu thuộc văn bản nghệ thuật, mang đến màu sắc tu từ và chức năng thẩm mỹ cho câu văn thì chúng được xem là định ngữ nghệ thuật - đối tượng nghiên cứu của đề tài ĐNNT là loại
định ngữ không chỉ có chức năng hạn định và miêu tả cho danh từ như ĐN thông thường mà
còn có chức năng thẩm mĩ (mang màu sắc tu từ và tính thẩm mĩ)
CHƯƠNG 2 CÁCH THỨC TỔ CHỨC CỦA ĐỊNH NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TIẾNG VIỆT (QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI VIỆT NAM) 2.1 Cách thức tổ chức ngữ pháp của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt
2.1.1 Vị trí của định ngữ nghệ thuật trong cụm danh từ
Các ĐNNT có vị trí liền sau các DTTT như: Bàn tay nhỏ nhắn, cái đêm xa xăm ấy,
chén trà sương, một mớ tóc mây, làn nước ghen oán…
Trang 11Các ĐNNT đứng sau các ĐN khác: một ông giáo cấp tiểu học hiền lành chăm chỉ,
những khung cảnh chém giết cuồng dại, méo xệch tâm hồn và nhân dạng, con đường Tòa Án
ngan ngát mùi hoa sữa…
2.1.2 Số lượng các định ngữ nghệ thuật trong cụm danh từ
a Trường hợp có 1 đơn vị làm ĐNNT đứng sau DTTT: hai bờ vai tròn trĩnh, con chim cuốc đen trùi trũi, cuộc đời bừa bộn những oan trái…
Nhiệm vụ của các ĐNNT là bổ sung ý nghĩa cho DTTT trong cụm DT Đối với các cụm từ, sẽ có một yếu tố giữ vị trí là yếu tố chính trực tiếp phụ nghĩa cho DTTT, các thành
phần còn lại (đứng trước hoặc đứng sau) phụ cho yếu tố đó
b Trong trường hợp ĐNNT được cấu tạo bởi cụm đẳng lập, chúng tôi nhận thấy có hai hiện tượng:
Đối với các ĐNNT mà các từ có mối quan hệ đẳng lập, kiểu cấu tạo là:
Cái rét êm êm ngòn ngọt
Đối với các ĐNNT được tạo thành từ các cụm chính phụ có mối quan hệ đẳng lập, cấu tạo của chúng đa dạng và phức tạp
2.1.3 Cấu tạo của định ngữ nghệ thuật trong cụm danh từ
Cấu tạo của ĐNNT được phân loại thành các dạng là: các từ, các tiểu cụm từ, các tiểu cú,… Ta có:
Bảng 2.3 Bảng thống kê phân loại cấu tạo ĐNNT trong cụm DT
STT Cấu tạo Số lượng Tỉ lệ
2.1.3.1 Định ngữ nghệ thuật có cấu tạo là từ
a Đặc điểm về cấu tạo của từ trong định ngữ nghệ thuật
Trong 2.000 ngữ liệu được khảo sát, có 1.052 ĐNNT có hình thức là là từ, chiếm 52,6% Các ĐN này có thể là từ đơn, từ ghép và từ láy
Bảng 2.4 Bảng thống kê các kiểu cấu tạo từ của ĐNNT
STT Cấu tạo từ Số lượng Tỉ lệ
Trang 12- ĐNNT có cấu tạo là từ ghép như: các hồn ma rách nát, người đàn bà đức hạnh, căn
lều ẩm thấp…
- ĐNNT có cấu tạo là từ láy như: cái đau rùng rợn, anh bạn quay phim táo tợn nào,
những đám cỏ rậm rạp, mùi da thịt khắm lặm của mình…
Có thể thấy, ĐNNT có cấu tạo là từ rất phong phú và đa dạng; trong đó, kiểu cấu tạo
là từ ghép được sử dụng nhiều nhất (59,7%) nhờ khả năng linh hoạt trong miêu tả; các từ láy
có khả năng gợi hình và giá trị biểu cảm cao nên được dùng tương đối nhiều (26,7%); các từ đơn ít được sử dụng (13,6%) do khả năng miêu tả của nó có phần hạn chế so với từ ghép và
từ láy
b Đặc điểm của định ngữ nghệ thuật về từ loại
Trong 1.052 trường hợp ĐNNT có cấu tạo là từ có thể thuộc các dạng: danh từ, tính
từ, động từ,… Ta có bảng thống kê các kiểu từ loại của ĐNNT như sau:
Bảng 2.5 Bảng thống kê các từ loại của ĐNNT
- ĐNNT là danh từ như: các anh hùng rơm, một tiếng còi sương, tiếng cười ma quỷ,
mười năm xương máu… Mô hình cụm DT thường là: ĐN trước + DTTT + ĐNNT (DT)
- ĐNNT là động từ như: ánh sáng thức tỉnh, ánh sáng cứu rỗi của đời anh, cặp uyên
ương mất trí này, người tình mong đợi, bãi sông tiễn đưa… Mô hình cụm DT thường là:
DTTT + ĐNNT (ĐT)
- ĐNNT là tính từ như: câu chuyện đau thương này, tên vua dâm dật, cái thú vui ích
kỉ, cỗ xe tải đen ngòm,… Mô hình của các cụm DT thường là: ĐN trước + DTTT + ĐNNT
(TT) + ĐN sau
Kết quả khảo sát cho thấy, các TT làm ĐNNT trong DN chiếm tỉ lệ lớn (87,7%) Tỉ
lệ này cho thấy vai trò làm yếu tố mở rộng trong cụm DT (định ngữ) của TT được thể hiện
rõ nét Các từ loại DT, ĐT có số lượt xuất hiện ít hơn trong các ĐNNT do sự chi phối của ý nghĩa mà các từ biểu thị
2.1.3.2 Định ngữ nghệ thuật có cấu tạo là tiểu cụm từ
Trong tổng số 2.000 trường hợp được khảo sát, có 837 ĐNNT có cấu tạo là tiểu cụm
từ, chiếm tỉ lệ 41,9% Các ĐNNT cấu tạo là tiểu cụm từ này có thể là tiểu cụm chính phụ, tiểu cụm đẳng lập
Bảng 2.6 Bảng thống kê dạng cấu tạo của các ĐNNT là tiểu cụm từ
STT Tiểu cụm từ Số lượng Tỉ lệ
Trang 13a Định ngữ nghệ thuật có cấu tạo là tiểu cụm chính phụ
a1 Các kiểu cấu tạo của tiểu cụm chính phụ làm định ngữ nghệ thuật
Trong số 837 trường hợp ĐNNT có cấu tạo là tiểu cụm từ, có 563 tiểu cụm chính phụ, chiếm 67,3%
a2 Dạng cấu tạo của tiểu cụm chính phụ làm định ngữ nghệ thuật
Bảng 2.7 Bảng thống kê phân loại tiểu cụm chính phụ làm ĐNNT
b Định ngữ nghệ thuật có dạng cấu tạo là tiểu cụm đẳng lập
Có 274 trường hợp được cấu tạo bởi các tiểu cụm đẳng lập (chiếm tỉ lệ là 32,7%),
chủ yếu là các tính từ có quan hệ đồng đẳng hay đối lập sau DTTT Ví dụ: một cô gái
Di-gan phóng khoáng và man dại, con sông Tây Bắc hung bạo và trữ tình,…
Bảng tổng hợp cho thấy sự phong phú, đa dạng trong cách xây dựng ĐNNT của các nhà văn Trong đó, chiếm số lượng lớn nhất vẫn là tiểu cụm tính từ (44,1%) và tiểu cụm đẳng lập (32,7%), tiếp đến là tiểu cụm động từ Sử dụng ít nhất vẫn là các tiểu cụm danh từ (6,7%) Điều này một lần nữa khẳng định lợi thế của các tính từ trong việc bổ sung một phẩm chất, thể hiện một đặc trưng nào đó của đối tượng được nói đến trong cụm DT nói riêng và trong câu nói chung
2.1.3.3 Định ngữ nghệ thuật có cấu tạo là tiểu cụm hỗn hợp
Các ĐNNT là tiểu cụm hỗn hợp có thể có những dạng cấu tạo như sau: 1/ ĐN trước + DTTT + ĐNNT (từ, tiểu cụm đẳng lập, tiểu cụm chính phụ) + ĐN sau; 2/ ĐN trước + DTTT + ĐNNT (tiểu cụm đẳng lập; tiểu cụm chính phụ) + ĐN sau; 3/ ĐN trước + DTTT +
ĐNNT (tiểu cụm đẳng lập; tiểu cú) + ĐN sau…
2.1.3.4 Định ngữ nghệ thuật có cấu tạo là tiểu cú
Trong 2.000 ngữ liệu, có 27 ĐNNT là tiểu cú chiếm tỉ lệ 1,3% như: một cái nắp ấm
một ấm nước sôi khổng lồ, mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một cốc pha lê nước khổng
lồ vừa rút lên cái gậy đánh phèn, những người đàn bà mắt hơi hiêng hiếng lại đong đưa
* Tóm lại, cấu tạo ngữ pháp của các ĐNNT có sự đa dạng và phong phú, nhưng không đồng đều giữa các hình thức cấu tạo; trong đó, phổ biến nhất vẫn là kiểu cấu tạo là từ (52,6%) và tính từ chính là dạng từ loại được sử dụng nhiều hơn cả Tương đối phổ biến là kiểu cấu tạo bằng các tiểu cụm từ (chiếm 41,9%) và thấp nhất là các tiểu cú Các tiểu cụm hỗn hợp thường có sự kết hợp của nhiều dạng cấu tạo, trong đó, xuất hiện nhiều nhất vẫn là
sự xuất hiện của tiểu cụm chính phụ và tiểu cụm đẳng lập trong ĐNNT
2.1.4 Các dạng biểu hiện của định ngữ nghệ thuật trong cụm danh từ
Ngoài hình thức thông thường, ĐNNT có thể tồn tại dưới một số dạng thức đặc biệt