Nghiên cứu này xác định các nhân tố (bao gồm yếu tố tài chính và phi tài chính) ảnh hưởng đến việc hình thành ý kiến kiểm toán về BCTC của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
PHẠM ANH THƯ
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý KIẾN KIỂM TOÁN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN VĂN TÙNG
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về
Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh” là kết quả nghiên cứu độc lập của tôi, do chính tôi hoàn thành
Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2017
Phạm Anh Thư
Trang 4LỜI CAM ĐOAN 0
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ 5
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 4
5.1 Về nội dung 4
5.2 Về không gian và thời gian 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài 4
8 Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 6
1.1 Các nghiên cứu liên quan trên thế giới 6
1.2 Các nghiên cứu liên quan tại Việt Nam 11
1.3 Khoảng trống nghiên cứu 13
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 14
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 15
2.1 Báo cáo tài chính và mục đích của báo cáo tài chính 15
Trang 52.2 Kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến của kiểm toán viên 17
2.2.1 Kiểm toán báo cáo tài chính 17
2.2.2 Ý kiến của kiểm toán viên trên báo cáo kiểm toán 17
2.2.3 Phân loại ý kiến kiểm toán 18
2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 33
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Lựa chọn các biến đưa vào mô hình và giả thuyết nghiên cứu 34
3.1.1 Biến phản ánh khả năng thanh toán 34
3.1.2 Biến phản ánh khả năng sinh lợi 36
3.1.3 Biến phản ánh khả năng hoạt động 36
3.1.4 Biến phản ánh cơ cấu tài chính 37
3.1.5 Biến phản ánh quy mô doanh nghiệp được kiểm toán 38
3.1.6 Biến ý kiến kiểm toán năm trước 41
3.1.7 Biến loại công ty kiểm toán 41
3.1.8 Biến thời gian niêm yết 42
3.1.9 Biến phụ thuộc – Ý kiến kiểm toán 44
3.2 Phương pháp nghiên cứu 44
3.2.1 Quy trình nghiên cứu 44
3.2.2 Phương pháp chọn mẫu 45
3.2.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 51
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52
4.1 Thống kê mô tả mẫu và các biến của nghiên cứu 52
Trang 64.2.2 Kết quả kiểm định Chi-Square 56
4.3 Phân tích hồi quy nhị phân logistic cho các biến được chọn ban đầu 61
4.3.1 Xây dựng mô hình hồi quy và giải thích ý nghĩa các hệ số 61
4.3.2 Kết quả phân tích hồi quy nhị phân với các biến được lựa chọn ban đầu 62
4.3.3 Kết quả phân tích hồi quy nhị phân logistic với các biến còn lại 64
4.4 Thảo luận kết quả 67
4.4.1 Nhóm các biến tài chính 67
4.4.2 Nhóm các biến phi tài chính 70
4.5 Ứng dụng mô hình cho mục đích dự báo 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 74
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
5.1 Kết luận 75
5.2 Kiến nghị 77
5.3 Hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai 79
5.3.1 Hạn chế của nghiên cứu 79
5.3.2 Đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai 80
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 1
Trang 7BCĐKT Bảng cân đối kế toán
BCTC Báo cáo tài chính
CNTP Chấp nhận toàn phần
EBIT Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
HĐLT Hoạt động liên tục
HSX/HOSE Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
KQKD Kết quả kinh doanh
LNTT Lợi nhuận trước thuế
LNST Lợi nhuận sau thuế
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
UTADIS Phương pháp phân loại đa tiêu chí
YKKT Ý kiến kiểm toán
Trang 8Bảng 2.1 Các trường hợp được phân loại là ý kiến không phải ý kiến chấp
nhận toàn phần 21
Bảng 3.1 Các biến tài chính trong mô hình nghiên cứu 40
Bảng 3.2 Các biến phi tài chính trong mô hình nghiên cứu 44
Bảng 4.1 Số lượng ý kiến kiểm toán trong giai đoạn nghiên cứu 52
Bảng 4.2 Thống kê mô tả các biến của toàn mẫu 53
Bảng 4.4 Xếp hạng các tỷ số tài chính 55
Bảng 4.5 Kết quả kiểm định Kruskal Wallis 56
Bảng 4.6 Phân loại ý kiến kiểm toán theo biến ý kiến kiểm toán năm trước 57
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định Chi-Square đối với biến YKKT năm trước 57
Bảng 4.8 Phân loại ý kiến kiểm toán theo biến loại công ty kiểm toán 58
Bảng 4.9 Kết quả kiểm định Chi-Square đối với biến loại công ty kiểm toán 59
Bảng 4.10 Phân loại ý kiến kiểm toán theo biến thời gian niêm yết 60
Bảng 4.11 Kết quả kiểm định Chi-Square đối với biến thời gian niêm yết 60
Bảng 4.12 Kết quả kiểm định Chi-square về độ phù hợp của mô hình 62
Bảng 4.13 Kết quả kiểm định độ phù hợp tổng quát của mô hình theo đại lượng -2LL 62
Bảng 4.14 Phân loại ý kiến kiểm toán được dự đoán từ mô hình 63
Bảng 4.15 Kết quả kiểm định Wald về ý nghĩa của các hệ số hồi quy tổng thể 63 Bảng 4.16 Kết quả kiểm định Chi-square về độ phù hợp của mô hình 64
Bảng 4.17 Kết quả kiểm định độ phù hợp tổng quát của mô hình theo đại lượng -2LL 64
Bảng 4.18 Phân loại ý kiến kiểm toán được dự đoán từ mô hình 65
Bảng 4.19 Kết quả kiểm định Wald về ý nghĩa của các hệ số hồi quy tổng thể 65 Bảng 4.20 Hệ số hồi quy của các biến 77
Trang 9
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thị trường chứng khoán đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy tiến bộ
và phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với một nước đang phát triển như Việt Nam Đây luôn được xem là một kênh quan trọng để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời là nơi luân chuyển vốn giúp nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp BCTC là một trong những nguồn thông tin quan trọng hàng đầu cung cấp cho người sử dụng thông tin về tình trạng tài chính của một công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tuy nhiên, theo lý thuyết đại diện, luôn tồn tại sự mâu thuẫn lợi ích giữa quản lý doanh nghiệp và các bên liên quan sử dụng BCTC Lý thuyết bất cân xứng cũng chỉ ra rằng nhà quản lý thường có xu hướng cung cấp thông tin có lợi cho họ, và các đối tượng khác không
có điều kiện tiếp cận thông tin gốc nên khả năng sẽ đưa ra quyết định sai Chính vì những lý do trên dẫn đến nhu cầu luôn cần một bên thứ ba độc lập để đánh giá sự trung thực và minh bạch của các thông tin được trình bày trên BCTC thể hiện tình hình tài chính của công ty (DeAngelo, 1981) Bên thứ ba này được biết đến như là các kiểm toán viên Mục tiêu cuối cùng của kiểm toán viên là đảm bảo sự trung thực và hợp lý của một BCTC của một công ty thông qua việc phát hành một ý kiến kiểm toán đáng tin cậy Như vậy, báo cáo kiểm toán về BCTC là sản phẩm cuối cùng của quá trình kiểm toán Đây là thông báo về kết quả làm việc của kiểm toán viên; trong đó, kiểm toán viên phải nêu được những đánh giá của mình về sự phù hợp và tính đúng đắn, trung thực của BCTC cũng như sự tuân thủ các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành khi lập BCTC của doanh nghiệp
Thực tế cho thấy mức độ tin cậy của BCTC được kiểm toán luôn là vấn đề trọng yếu do mức độ lan tỏa của thông tin, ảnh hưởng tới nhiều đối tượng và cộng đồng nhà đầu tư Chính vì vậy, vai trò của kiểm toán đối với các bên liên quan sử dụng BCTC ngày càng được khẳng định Thông qua BCTC đã được kiểm toán, người sử dụng BCTC được đảm bảo rằng các thông tin trên BCTC khi công khai
có được độ tin cậy cao để làm căn cứ cho các quyết định đầu tư kinh tế hoặc thực
Trang 10thi trách nhiệm điều hành, quản lý và giám sát Bên cạnh đó, ý kiến kiểm toán về BCTC cũng có những tác động nhất định đến tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Ý kiến của kiểm toán viên trên báo cáo kiểm toán mà một công ty nhận được là
cả một quá trình được hình thành từ nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố đến từ các đặc trưng tài chính của doanh nghiệp được kiểm toán, các yếu tố thuộc về đặc điểm của kiểm toán viên và công ty kiểm toán và cả các yếu tố tác động từ thị trường, môi trường hoạt động Từ thực tiễn tầm quan trọng của ý kiến kiểm toán, cần thiết phải xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành loại ý kiến kiểm toán mà một doanh nghiệp nhận được, từ đó có thể xây dựng một mô hình dựa trên các yếu
tố được xác định để dự đoán loại ý kiến kiểm toán Mô hình dự đoán này đã được nghiên cứu tại nhiều quốc gia, trở thành công cụ hỗ trợ hữu ích cho kiểm toán viên trong thực tế công việc, góp phần giúp cho công tác lập kế hoạch kiểm toán cũng như quá trình thực hiện kiểm toán hiệu quả, mang lại kết quả kiểm toán nhanh chóng và chính xác hơn
Tại Việt Nam, Nguyễn Thiên Tú (2012) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và các tỷ số tài chính Hà Thị Thủy (2013) tiếp tục kết hợp thêm ba biến phi tài chính: quy mô công ty, loại công ty kiểm toán và ý kiến kiểm toán năm trước vào mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán Tuy nhiên, luận văn này cũng chỉ nghiên cứu trong phạm vi các công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và bất động sản Hà Thị Thủy và cộng sự (2016) tiếp tục sử dụng mô hình này để dự đoán
ý kiến kiểm toán liên quan đến khả năng hoạt động liên tục Với mong muốn đóng góp một mô hình thực nghiệm về dự đoán ý kiến kiểm toán hoàn thiện hơn, có thể
áp dụng cho các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau (trừ các ngân hàng và công ty tài chính); tác giả quyết
định chọn vấn đề “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về Báo cáo tài
chính của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM” làm đề
tài nghiên cứu cho Luận văn thạc sĩ
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Luận văn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về BCTC của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM, từ đó xây dựng mô hình dự đoán loại ý kiến kiểm toán và đưa ra một số gợi ý cho thực tiễn công việc của kiểm toán viên
2.2 Mục tiêu cụ thể
Từ mục tiêu tổng quát nêu trên, nghiên cứu đặt ra các mục tiêu cụ thể như sau:
- Tìm ra một số nhân tố cơ bản (tài chính và phi tài chính) ảnh hưởng đến việc hình thành loại ý kiến kiểm toán về BCTC của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM
- Đưa ra mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán về BCTC của các công ty niêm yết tại
Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM dựa trên các nhân tố được lựa chọn
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, nghiên cứu cần trả lời các câu hỏi sau:
(i) Các nhân tố (tài chính và phi tài chính) nào ảnh hưởng đến việc hình thành loại ý
kiến kiểm toán về BCTC?
(ii) Từ các nhân tố được tìm ra ở câu hỏi nghiên cứu (i), mô hình dự đoán ý kiến
kiểm toán về BCTC của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM sẽ bao gồm những nhân tố nào?
4 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về các nhân tố tài chính và phi tài chính cơ bản ảnh hưởng đến việc hình thành ý kiến kiểm toán về BCTC của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM
Trang 125 Phạm vi nghiên cứu
5.1 Về nội dung
Nghiên cứu này xác định các nhân tố (bao gồm yếu tố tài chính và phi tài chính) ảnh hưởng đến việc hình thành ý kiến kiểm toán về BCTC của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM
5.2 Về không gian và thời gian
- Về không gian: Các công ty hoạt động trong lĩnh vực phi tài chính, niêm yết tại Sở
giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE)
- Về thời gian: Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu từ tháng 6/2017 đến tháng 9/2017,
dữ liệu nghiên cứu trong giai đoạn từ 2014 đến 2016
6 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được kết quả nghiên cứu theo mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích định lượng Các nghiên cứu trên thế giới hiện tại về vấn đề này cũng đã sử dụng khá nhiều kỹ thuật thống kê hiện đại, tuy nhiên các kỹ thuật này đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và khó thực hiện Do giới hạn về thời gian nên nghiên cứu này tác giả vẫn sử dụng một phương pháp truyền thống là phương pháp phân tích hồi quy Cụ thể như sau:
- Sử dụng phương pháp kiểm định phi tham số Kruskal Wallis và phương pháp Square để kiểm tra mối liên hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc
Chi Sử dụng phân tích hồi quy nhị phân logistic để đưa ra mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán
Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu nhằm khái quát lý thuyết về các vấn đề nghiên cứu liên quan, làm cơ sở để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành ý kiến kiểm toán và xây dựng mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán về BCTC
7 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài
- Đóng góp về mặt lý thuyết: Tìm hiểu về một số nhân tố cơ bản (bao gồm cả tài
chính và phi tài chính) có ảnh hưởng đến việc hình thành ý kiến kiểm toán từ việc
Trang 13tổng kết các nghiên cứu liên quan trong nước và trên thế giới Từ đó, đóng góp một
mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán về BCTC trong bối cảnh Việt Nam, cụ thể là đối với các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP.HCM
- Đóng góp về mặt thực tiễn: Cung cấp một công cụ có thể ứng dụng trong thực tế
công việc, góp phần hỗ trợ kiểm toán viên trong quá trình thực hiện kiểm toán
8 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, nghiên cứu được thiết kế gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan
Nội dung chương 1 trình bày tóm lược các nghiên cứu liên quan đến các nhân
tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán viên về BCTC và mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán đã được thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam Qua đó tác giả chỉ ra khe hổng làm cơ sở cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương này trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết về kiểm toán BCTC, ý kiến kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành ý kiến kiểm toán về BCTC
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày việc lựa chọn các biến đưa vào mô hình nghiên cứu và xây dựng các giải thuyết Đồng thời trình bày về phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trình bày kết quả phân tích dữ liệu và thảo luận về kết quả thu được
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Tóm tắt và trình bày kết luận của nghiên cứu, đưa ra một số gợi ý từ mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán viên về BCTC Tác giả cũng nêu ra những điểm hạn chế của nghiên cứu và đề xuất các hướng nghiên cứu mới trong tương lai
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1.1 Các nghiên cứu liên quan trên thế giới
Vấn đề các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về BCTC đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu từ khá sớm trên thế giới Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu của
McKee (1976) McKee xây dựng một mô hình mục tiêu dựa trên các tỷ số tài chính
để giúp các kiểm toán viên trong thực hiện các xét đoán về hoạt động liên tục Đây
là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên đề xuất sử dụng phương pháp phân tích biệt số để dự đoán tình trạng hoạt động liên tục của các công ty Phương pháp này báo cáo một tỷ lệ dự đoán chính xác đến 87,18% Dựa trên nghiên cứu của McKee, Kida (1980) tiếp tục điều tra mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến các xét đoán liên quan đến khả năng hoạt động liên tục (HĐLT) và việc phát hành YKKT không chấp nhận toàn phần của KTV dựa trên dữ liệu BCTC Một tập hợp con gồm
5 biến được chọn giúp phân biệt một cách chính xác các công ty gặp vấn đề với các công ty khác Đó là các biến (1) Thu nhập thuần/Tổng TS; (2) TS ròng/Tổng nợ; (3)
TS ngắn hạn/Nợ hiện hành; (4) Doanh thu/Tổng TS và (5) Tiền mặt/Tổng TS Tỷ lệ
dự đoán chính xác của mô hình lên đến 90%
Với mong muốn nâng cao khả năng của mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán, một
vài nghiên cứu được thực hiện nhằm kiểm tra kết hợp cả các biến định tính cũng
như định lượng trong nghiên cứu mối quan hệ này Mutchler (1985) điều tra mở
rộng đến các ý kiến về HĐLT có thể được dự đoán chỉ dựa trên các thông tin sẵn có công khai (cả định tính và định lượng) Tác giả sử dụng phương pháp phân tích biệt
số để nghiên cứu, và đưa vào mô hình 6 tỷ số tài chính được sắp xếp theo từng nhóm: (1) Tỷ số dòng tiền/Tổng nợ phải trả; (2) Tỷ số tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn; (3) Tỷ số tài sản thuần/Tổng nợ phải trả; (4) Tỷ số nợ dài hạn/Tổng tài sản; (5)
Tỷ số tổng nợ/Tổng tài sản; (6) Tỷ số LNTT/Doanh thu thuần Bên cạnh đó Mutchler còn kết hợp một số biến phi tài chính, đó là biến thông tin tốt và thông tin xấu, biến sự cải thiện của công ty (tỷ lệ Thu nhập thuần/Tổng TS năm nay so với năm trước) và ý kiến kiểm toán năm trước Kết quả nghiên cứu cho thấy, với mô hình chỉ sử dụng các tỷ số tài chính, khả năng dự đoán đúng trong khoảng 83% Khi
Trang 15kết hợp các tỷ số tài chính với biến thông tin tốt và thông tin xấu, xác suất dự đoán đúng của mô hình giảm xuống còn 80%; khả năng dự đoán khi kết hợp với sự cải thiện của công ty là 82%; và mô hình với các tỷ số tài chính và biến ý kiến kiểm toán năm trước có độ chính xác cao nhất, xấp xỉ 90% Mutchler (1986) tiếp tục mở rộng nghiên cứu khi đưa thêm biến về đặc điểm kiểm toán viên và quy mô công ty khách hàng vào mô hình Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty kiểm toán không thuộc Big 8 thường có khuynh hướng không đưa ra các ý kiến kiểm toán về khả năng hoạt động liên tục đối với các công ty nhỏ có tình hình tài chính sa sút
Mở rộng ra từ các nghiên cứu trước đó, Dopuch et al (1987) sử dụng mô hình
probit để dự đoán ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần dựa trên các biến tài
chính và kết hợp thêm các biến thị trường Các biến tài chính được đưa vào mô hình
bao gồm: (1) Sự thay đổi tổng nợ/sự thay đổi tổng tài sản; (2) Sự thay đổi tổng phải thu/sự thay đổi tổng tài sản; (3) Sự thay đổi hàng tồn kho/sự thay đổi tổng tài sản; (4) Giá trị sổ sách của tổng tài sản; (5) Lãi/lỗ năm hiện tại Các biến thị trường bao gồm: (1) Thời gian niêm yết; (2) Sự thay đổi chỉ số Beta; (3) Sự thay đổi của độ lệch giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận; (4) Sự thay đổi lợi nhuận công ty trừ đi lợi nhuận trung bình ngành Kết quả chỉ ra rằng các biến quan trọng nhất trong dự đoán YKKT là lỗ năm hiện hành, sự thay đổi lợi nhuận công ty trừ đi lợi nhuận trung bình ngành, và sự thay đổi trong tỷ số tổng nợ/tổng tài sản Hơn nữa, trong 3 loại ý kiến không chấp nhận toàn phần, ý kiến HĐLT có tỷ lệ được dự đoán chính xác cao nhất Kết quả cũng chỉ ra xác suất của ý kiến chấp nhận từng phần dạng tùy thuộc vào có mối quan hệ nghịch biến với các khoản lỗ kế toán trong năm kiểm toán
Keasey et al (1988) kiểm tra các biến tài chính kết hợp với các biến về đặc
điểm tổ chức và đặc điểm công ty kiểm toán nhằm giải thích ý kiến kiểm toán không
chấp nhận toàn phần trong các công ty nhỏ bằng mô hình hồi quy logistic đa biến bối cảnh tại Anh giai đoạn 1980 – 1982 Nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn, nhận được ý kiến không chấp nhận toàn phần trong năm trước, có một khoản vay được đảm bảo, lợi nhuận sụt giảm, có sự chậm trễ trong báo cáo kiểm toán cao và ít cổ đông không điều hành sẽ có nhiều
Trang 16khả năng nhận một ý kiến không chấp nhận toàn phần Ngoài ra, khả năng dự đoán của mô hình này tuy được đánh giá là tốt hơn nhưng không đáng kể so với mô hình
chỉ sử dụng các tỷ số tài chính Thêm một nghiên cứu khác cũng sử dụng kết hợp
các yếu tố tài chính với đặc điểm kiểm toán viên và công ty kiểm toán là Bartov et
al (2001) Nghiên cứu này cũng cho rằng các công ty Big 6 được xem như có chất lượng KTV cao hơn, do khả năng phát hiện hành vi điều chỉnh thu nhập, và một khi phát hiện sẽ có khả năng cao hơn trong việc báo cáo hành vi này thông qua ý kiến kiểm toán Bên cạnh đó, các kiểm toán viên có nhiều khả năng phát hành ý kiến không chấp nhận toàn phần cho các công ty với lợi nhuận không tốt
Khá nhiều nghiên cứu cũng sử dụng các tỷ số tài chính để dự đoán ý kiến kiểm toán liên quan đến vấn đề hoạt động liên tục hay dự đoán sự phá sản của một công
ty Điều này chứng tỏ mối quan hệ mật thiết giữa các tỷ số tài chính với tình hình
hoạt động của công ty và khả năng phân biệt ý kiến kiểm toán Altman (1968) là
người tiên phong sử dụng phương pháp phân biệt đa biến (multiple discriminant analysis – MDA) để xây dựng mô hình dự báo phá sản cho các công ty Hoa Kỳ Kết quả thu được hệ số dự đoán Z-score bao gồm 5 tỷ số tài chính, đó là: Vốn lưu động/Tổng TS, LN giữ lại/Tổng TS, EBIT/Tổng TS, Giá trị thị trường của VCSH/Giá trị sổ sách nợ phải trả và Tổng doanh thu/Tổng TS Z-score càng thấp thì rủi ro tài chính càng cao Mô hình này dự báo chính xác 95% tình trạng của các công ty trong mẫu ở thời điểm một năm trước phá sản Đây là một mô hình nổi tiếng được sử dụng phổ biến trong dự báo phá sản Koh và Killought (1990) cũng xây dựng một mô hình dự đoán phá sản sử dụng phương pháp phân tích MDA, dựa trên 21 tỷ số tài chính Kết quả chỉ ra rằng mô hình này có thể phát hiện vấn đề HĐLT với sự chính xác lên đến 88,25%, cao hơn một chút so với tỷ lệ chính xác của kiểm toán viên là 86,5% Hopewood et al (1989) đã điều tra về khả năng ý kiến không chấp nhận toàn phần là một tín hiệu cảnh báo phá sản Nghiên cứu dựa trên các tỷ số tài chính và sử dụng mô hình tuyến tính logarit để phân tích Kết quả cho thấy các công ty bị phá sản có nhiều hơn đáng kể khả năng nhận một ý kiến không chấp nhận toàn phần trong năm trước khi bị phá sản Laitinen và Laitinen (1998) chỉ
Trang 17ra rằng các ý kiến không chấp nhận toàn phần liên quan phần lớn với khả năng sinh lợi kém, nợ nần tăng cao và tốc độ tăng trưởng thấp
Spathis (2003) cũng phát triển một mô hình dựa trên thông tin tài chính và kết hợp thêm các yếu tố dự đoán khác để giải thích cho ý kiến không chấp nhận toàn phần trong báo cáo kiểm toán của 100 công ty tại Hi Lạp Thông tin tài chính bao gồm: Tỷ số HTK và nợ phải thu/Tổng TS, Lỗ năm hiện tại, TS ngắn hạn/Nợ ngắn hạn và Vốn lưu động/Tổng TS Các yếu tố khác bao gồm các vụ kiện tụng và khủng hoảng tài chính Kết quả chỉ ra rằng các vụ kiện tụng, khủng hoảng tài chính và các khoản lỗ năm hiện tại là nguyên nhân chính dẫn đến ý kiến không chấp nhận toàn phần Với mẫu gồm 50 ý kiến không chấp nhận toàn phần và 50 ý kiến chấp nhận toàn phần, khả năng dự đoán chính xác của mô hình xấp xỉ 78% đối với mô hình hồi quy logistic và phương pháp bình phương bé nhất OLS là 75%
Caramanis và Spathis (2006) tiếp tục phát triển nghiên cứu khi kết hợp thông tin tài chính bao gồm khả năng hoạt động (LN hoạt động/Tổng TS và LN thuần/Doanh thu), sự khó khăn trong kiểm toán (Khoản phải thu/Doanh thu) và khả năng thanh khoản (TS ngắn hạn/Nợ ngắn hạn); và các biến phi tài chính mới là phí kiểm toán và loại công ty kiểm toán (Big 5/ non Big 5) Tác giả dựa trên một mẫu gồm 185 công ty Hy Lạp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Athens, sử dụng
mô hình hồi quy logistic và OLS nhằm kiểm định mức độ dự báo các ý kiến không chấp nhận toàn phần Kết quả cho thấy phí kiểm toán và loại công ty kiểm toán không ảnh hưởng đến quyết định về ý kiến kiểm toán Thay vào đó, các dự báo tốt vẫn là các biến tài chính (Lợi nhuận hoạt động/Tổng tài sản và Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn) Xác suất dự đoán đúng của hai mô hình này xấp xỉ 90%
Bên cạnh các phương pháp phân tích truyền thống như phân tích biệt số, phân tích hồi quy, nhờ sự phát triển của các kỹ thuật thống kê nên các nghiên cứu gần
đây thường áp dụng các phương pháp thống kê hiện đại vào trong phân tích Các
nghiên cứu có thể kể đến là Doumpos et al (2005) sử dụng máy vector hỗ trợ (support vector machine) để phát triển của các mô hình tuyến tính và phi tuyến tính Cùng sử dụng phương pháp này còn có Martens et al (2008), Saif et al (2012)
Trang 18Pasiouras et al (2006) cũng đưa ra mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán với kỹ thuật phân tích là phương pháp UTADIS và phương pháp hierachical MHDIS Cả hai mô hình đều có khả năng dự đoán với xác suất đúng khá cao
Một số nghiên cứu được xây dựng kết hợp cả các phương pháp truyền thống và
các kỹ thuật thống kê hiện đại vào xây dựng mô hình và so sánh kết quả thu được
giữa các phương pháp Đầu tiên phải kể đến Spathis et al (2003) xây dựng mô hình
dự đoán mở rộng kết hợp giữa các thông tin tài chính và phi tài chính Nghiên cứu
sử dụng phương pháp phân loại hỗ trợ ra quyết định đa tiêu chuẩn (UTADIS – Utilites’s Addictives Discriminates) và so sánh nó với các kỹ thuật thống kê đa biến khác như phân tích biệt số và phân tích hồi quy logit Kết quả chỉ ra rằng biến tài chính có ảnh hưởng quan trọng nhất là Tỷ số LN/Tổng TS; Doanh thu/Tổng TS và Vốn lưu chuyển/Tổng TS Biến phi tài chính có khả năng dự đoán ý kiến kiểm toán
là thông tin về kiện tụng của công ty khách hàng So sánh giữa các phương pháp,
mô hình sử dụng phương pháp phân loại UTADIS có khả năng dự đoán cao nhất với tỷ lệ chính xác gần 80%
Gaganis et al (2007) đưa ra một mô hình với các biến được chọn phản ánh từng mặt tình hình tài chính của công ty: khả năng thanh toán (tỷ số thanh toán nhanh), khả năng sinh lời (tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản – ROA), sự phát triển về quy mô công ty (sự thay đổi tài sản hàng năm/tổng tài sản năm trước), cơ cấu tài chính (vốn
cổ phần trên tổng tài sản) Hai biến phi tài chính được đưa vào mô hình là rủi ro tín dụng và ngành nghề hoạt động của công ty Phương pháp được sử dụng là hệ số k láng giềng gần nhất (nearest neighbor), phân tích biệt số và phân tích hồi quy Mẫu nghiên cứu bao gồm 5,276 BCTC kiểm toán của các công ty tại Anh (980 báo cáo nhận ý kiến chấp nhận từng phần và 4,296 báo cáo nhận ý kiến chấp nhận toàn phần Kết quả chỉ ra rằng mô hình có khả năng dự đoán chính xác nhất là mô hình
sử dụng phương pháp hệ số láng giềng gần nhất (72%), trong khi đó với hai mô hình còn lại, xác suất dự đoán đúng là hơn 60%
Yasar et al (2015) thực hiện nghiên cứu dự đoán ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần sử dụng ba phương pháp là phân tích biệt số, phân tích hồi quy
Trang 19logistic và mô hình cây quyết định C5.0, dựa trên 12 tỷ số tài chính Mẫu nghiên cứu bao gồm dữ liệu của 110 công ty niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán Istanbul, bao gồm 55 quan sát nhận ý kiến chấp nhận toàn phần và 55 ý kiến không chấp nhận toàn phần trong giai đoạn 2010-2013 Kết quả chỉ ra rằng LN giữ lại/Tổng TS là biến có ảnh hưởng quan trọng nhất việc xác định ý kiến kiểm toán đối với cả ba phương pháp Các biến khác được tìm thấy có ảnh hưởng là VCSH/Tổng nợ, Tổng nợ/Tổng TS, Thu nhập thuần/VCSH, Thu nhập thuần/Tổng
TS, Vốn lưu động/Tổng TS) và Doanh thu thuần/Tổng TS Trong ba phương pháp,
mô hình cây quyết định C5.0 cho ra kết quả dự đoán chính xác nhất (98,2%), so với phương pháp hồi quy (92,7%) và phân tích biệt số (87,3%)
Như vậy, ta có thể thấy các mô hình áp dụng kỹ thuật thống kê hiện đại được chứng minh có khả năng dự đoán chính xác hơn so với các kỹ thuật phân tích truyền thống Tuy nhiên các phương pháp này lại có khá nhiều yêu cầu khắt khe, đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian, công sức và khá phức tạp để thực hiện
1.2 Các nghiên cứu liên quan tại Việt Nam
Tại Việt Nam cũng đã có một vài nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về BCTC Nghiên cứu đầu tiên là Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thiên Tú (2012), nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán đối với BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010 và tỷ
số tài chính Mẫu nghiên cứu bao gồm 201 quan sát (76 ý kiến chấp nhận toàn phần
và 125 ý kiến chấp nhận từng phần) Tác giả đưa vào mô hình 8 tỷ số tài chính, đại diện cho 5 nhóm đo lường tình hình hoạt động của công ty bao gồm: nhóm tỷ số phân tích khả năng thanh toán, phân tích khả năng sinh lời, phân tích khả năng hoạt động, phân tích cơ cấu tài chính và phân tích sự phát triển về quy mô của công ty Phương pháp thống kê truyền thống là phân tích biệt số đã được dùng để dự đoán ý kiến kiểm toán Kết quả cho thấy biến thể hiện khả năng thanh toán - vốn lưu động trên tổng tài sản và biến thể hiện khả năng hoạt động - doanh thu thuần trên tổng tài sản và hai biến có đóng góp quan trọng nhất cho hàm phân biệt Kết quả cuối cùng,
Trang 20mô hình có khả năng dự đoán ý kiến kiểm toán với xác suất đoán đúng với mẫu phân tích là 84% và với mẫu kiểm tra là 82%
Hà Thị Thủy (2013) nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của các nhân tố đến ý kiến kiểm toán đối với BCTC của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng và bất động sản được niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2008-2010 Dữ liệu mẫu ngẫu nhiên bao gồm 133 quan sát (30 ý kiến không chấp nhận toàn phần và 103 ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần) Các biến được chọn được chia thành hai nhóm bao gồm nhóm biến phi tài chính có 3 biến là: biến ý kiến kiểm toán năm trước, biến công ty kiểm toán và biến quy mô công ty được kiểm toán Các biến thuộc nhóm thứ hai là các tỷ số tài chính, nghiên cứu này bước đầu chọn 8 tỷ số tài chính bao gồm: tỷ số đòn bẩy tài chính, tỷ số khả năng thanh toán hiện hành, tỷ số khả năng thanh toán nhanh, tỷ suất LNST trên doanh thu, tỷ suất LNTT trên doanh thu, biến tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản và biến vòng quay hàng tồn kho Kết quả thu được khi chạy mô hình hồi quy Binary logistic cho thấy khả năng dự đoán chính xác của mô hình trung bình là 94% Trong các biến có khả năng dự đoán thì tỷ suất LNST trên doanh thu có tác động mạnh nhất đến ý kiến chấp nhận toàn phần, trong khi đó tỷ suất LNTT trên doanh thu lại có tác động ngược chiều với ý kiến chấp nhận toàn phần
Ha Thi Thuy et al (2016) tiếp tục phát triển mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về khả năng hoạt động liên tục của kiểm toán viên Mẫu được chọn là 133 công ty niêm yết trên sàn HNX giai đoạn 2011-2014 Các biến được sử dụng trong mô hình tương tự như nghiên cứu trước đó của Hà Thị Thủy (2013), trừ biến ý kiến kiểm toán năm trước được thay thế bằng biến ý kiến kiểm toán năm trước liên quan đến khả năng hoạt động liên tục Kết quả chỉ ra rằng
ý kiến kiểm toán về hoạt động liên tục trong năm trước, tỷ số đòn bẩy tài chính và
tỷ lệ thu nhập trước thuế là các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến của kiểm toán viên
Tóm tắt một số nghiên cứu chính liên quan được trình bày trong Phụ lục 1
Trang 211.3 Khoảng trống nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu sơ bộ các nghiên cứu trước đây, cả trong nước và trên thế
giới liên quan đến đề tài của luận văn, tác giả nhận thấy một số khoảng trống mà
các nghiên cứu trước đây còn hạn chế, đó là:
- Đa phần các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành ý kiến kiểm toán về BCTC đều được thực hiện ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Hy Lạp, trong khi các nghiên cứu liên quan ở các thị trường các nước đang phát triển, đặc biệt là tại Việt Nam còn rất hạn chế Do đó, tác giả nhận thấy cần có thêm các nghiên cứu để kiểm định thực nghiệm mối quan hệ này trong bối cảnh thị trường Việt Nam
- Tại Việt Nam, mặc dù đã có các nghiên cứu liên quan được trình bày ở mục 1.2, tuy nhiên những nghiên cứu này mới chỉ được thực hiện với kích thước mẫu khá hạn chế, giới hạn các biến được xem xét (Nguyễn Thiên Tú, 2012 chỉ xem xét nhân
tố ảnh hưởng là các tỷ số tài chính) hoặc giới hạn về phạm vi nghiên cứu (Hà Thị Thủy, 2013 chỉ nghiên cứu trên mẫu các công ty hoạt động trong lĩnh vực bất động sản niêm yết trên thị trường; Ha Thi Thuy et al., 2016 chỉ xem xét ý kiến kiểm toán liên quan đến vấn đề hoạt động liên tục) Do đó, để đạt được kết quả nghiên cứu tốt hơn, cần thiết phải phát triển mô hình cũng như mở rộng cỡ mẫu
Trong nghiên cứu này, tác giả có kế thừa một số vấn đề từ các nghiên cứu trước
như sau:
- Bằng chứng về ảnh hưởng của các nhân tố tài chính và các nhân tố phi tài chính đến việc hình thành loại ý kiến kiểm toán về BCTC Các nhân tố tài chính và phi tài chính nào ảnh hưởng đến việc hình thành loại ý kiến kiểm toán về BCTC, đồng thời
kế thừa dấu kỳ vọng (xu hướng tác động) của các biến được đưa mô hình
- Kỹ thuật phân tích mô hình hồi quy từ các nghiên cứu trước đây
Bên cạnh đó, tác giả bổ sung thêm những điểm mới trong nghiên cứu như sau:
- Sử dụng mô hình kết hợp các biến tài chính và phi tài chính vào trong xem xét mối quan hệ với ý kiến kiểm toán về BCTC Trong đó, tác giả bổ sung thêm một số biến
Trang 22là các tỷ số tài chính; đồng thời đối với nhóm biến phi tài chính, tác giả cũng đưa thêm một biến mới vào xem xét, đó là biến thời gian niêm yết (TIME) nhằm tăng thêm ý nghĩa cho mô hình Biến thời gian niêm yết tuy đã được sử dụng trong một
số nghiên cứu trước đó trên thế giới, nhưng tại Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu nào đưa vào mô hình nghiên cứu
- Nghiên cứu thực nghiệm trên các công ty hoạt động trong lĩnh vực phi tài chính, niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM, với dữ liệu nghiên cứu trong thời gian gần nhất là giai đoạn 2014 – 2016
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 trình bày tóm tắt các nghiên cứu tiêu biểu trên thế giới và tại Việt Nam liên quan đến đề tài nghiên cứu Qua đó, tác giả nhận thấy được khoảng trống của các nghiên cứu trước và dựa trên nền tảng này để thực hiện các bước nghiên cứu tiếp theo Kết quả từ các công trình nghiên cứu trên đã tìm ra những nhân tố tài chính và phi tài chính thật sự có vai trò trong việc phân biệt loại ý kiến kiểm toán,
từ đó xây dựng các mô hình dự đoán có ý nghĩa trong thực tiễn thực hiện công việc của kiểm toán viên
Tại Việt Nam, mặc dù cũng đã có một số nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế về giới hạn cỡ mẫu và phạm vi nghiên cứu Đây chính là khoảng trống để tác giả thực hiện đề tài tìm hiểu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về BCTC Từ đó, bổ sung thêm một bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của các nhân tố đến việc hình thành ý kiến kiểm toán về BCTC tại Việt Nam,
cụ thể là đối với các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM
Trang 23CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Báo cáo tài chính và mục đích của báo cáo tài chính
2.1.1 Khái quát về báo cáo tài chính
Theo khuôn mẫu về Báo cáo tài chính (IASB, 2010), BCTC là sự trình bày có
hệ thống về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp Các thông tin về tình hình tài chính được trình bày thông qua hệ thống các BCTC gồm: báo cáo về tính hình tài chính tại thời điểm cuối kỳ kế toán, báo cáo thu nhập toàn diện trong một thời kỳ, báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu trong một thời kỳ, báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong một thời kỳ và thuyết minh BCTC
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 21 về “Trình bày báo cáo tài chính”, BCTC phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp BCTC phải cung cấp thông tin của một doanh nghiệp về: Tài sản; Nợ phải trả; Vốn chủ sở hữu; Doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ; và các luồng tiền thông qua hệ thống các BCTC
Hệ thống BCTC của doanh nghiệp bao gồm 4 loại báo cáo như sau:
+ Báo cáo tình hình tài chính: báo cáo về tình hình tài sản, nợ phải trả và nguồn vốn của doanh nghiệp hiện có tại một thời điểm cụ thể
+ Báo cáo kết quả kinh doanh: cung cấp thông tin về tình hình doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: nhằm cung cấp thông tin về tình hình thu, chi tiền từ các hoạt động kinh doanh
+ Thuyết minh BCTC: trình bày chi tiết các nội dung cần phải làm rõ kèm theo những thông tin tài chính quan trọng có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp Ngoài bốn báo cáo chủ yếu như trên, khuôn mẫu về BCTC của Chuẩn mực kế toán quốc tế còn có báo cáo về sự thay đổi vốn chủ sở hữu Tuy nhiên ở Việt Nam thì báo cáo về sự thay đổi này được trình bày kết hợp trong bản thuyết minh BCTC
Trang 242.1.2 Mục đích của báo cáo tài chính
Theo IASB (2010), BCTC là sản phẩm của công tác hạch toán kế toán của doanh nghiệp, nhằm cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, thành quả kinh doanh và các dòng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin trong việc ra quyết định kinh tế cho người sử dụng; đồng thời BCTC là công cụ báo cáo thành quả quản lý của nhà quản trị về những nguồn lực được ủy thác cho họ Theo VAS 21-Trình bày BCTC, BCTC được lập nhằm mục đích cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tính hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu cho người sử dụng BCTC trong việc đưa ra các quyết định kinh tế
Đối với doanh nghiệp: BCTC cung cấp các thông tin hữu ích cho việc đưa ra
các quyết định quản lý đúng đắn, các cổ đông có thể sử dụng BCTC để theo dõi tình hình quản lý vốn đầu tư, các nhà quản lý có thể dựa vào thông tin tài chính cung cấp
để phân bổ nguồn lực một cách hợp lý Ngoài ra BCTC còn phản ánh được bộ mặt tài chính của doanh nghiệp, qua đó nếu bộ mặt tài chính tốt sẽ góp phần giúp doanh nghiệp huy động vốn đầu tư dễ dàng
Đối với các nhà đầu tư: BCTC giúp cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước
tiếp cận thông tin về tình hình hoạt động và tình hình tài chính của doanh nghiệp một cách dễ dàng BCTC cho phép các nhà đầu tư đánh giá về khả năng phát triển của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định đầu tư hiệu quả
Đối với các cơ quan chức năng: BCTC giúp các cơ quan chức năng nắm bắt
được tình hình biến động của nền kinh tế thông qua các bức tranh tài chính của các doanh nghiệp được cung cấp, qua đó có các biện pháp quản lý thị trường kịp thời cũng như có các chính sách thích hợp để hỗ trợ cũng như xử lý các doanh nghiệp trong từng tình huống cụ thể được phản ánh trên BCTC được cung cấp
Mặc dù mỗi nhóm đối tượng khác nhau sử dụng BCTC để phục vụ cho các mục đích khác nhau Tuy nhiên tất cả các nhóm đối tượng này đều có một nhu cầu chung
là muốn được cung cấp các BCTC phản ánh các thông tin một cách minh bạch,
Trang 25trung thực và hợp lý Để có được những BCTC có độ tin cậy cao, đặc biệt là BCTC được cung cấp bởi các doanh nghiệp niêm yết thì không thể thiếu sự tham gia của các công ty kiểm toán trong việc đưa ra ý kiến xác nhận về tính trung thực và hợp lý cũng như sự tuân thủ các quy định và chuẩn mực hiện hành của các BCTC được cung cấp
2.2 Kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến của kiểm toán viên
2.2.1 Kiểm toán báo cáo tài chính
Theo Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12, “Kiểm toán BCTC là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của BCTC của đơn vị được kiểm toán theo quy định của Chuẩn mực kiểm toán”
Theo ISA 200, mục đích của kiểm toán BCTC là làm tăng độ tin cậy của người
sử dụng đối với BCTC, thông qua việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu BCTC có được lập trên các khía cạnh trọng yếu phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng hay không
2.2.2 Ý kiến của kiểm toán viên trên báo cáo kiểm toán
Tất cả các cuộc kiểm toán đều phải kết thúc bằng một báo cáo để xác nhận những thông tin được kiểm toán có phù hợp với những chuẩn mực đã được thiết lập hay không Kiểm toán viên cần trình bày ý kiến của mình rõ ràng bằng văn bản, trong đó nêu rõ cơ sở của ý kiến kiểm toán, văn bản này chính là báo cáo kiểm toán Theo VSA 700, báo cáo kiểm toán về BCTC là loại báo cáo bằng văn bản do kiểm toán viên và công ty kiểm toán lập và công bố để nêu rõ ý kiến chính thức của mình về BCTC của một đơn vị đã được kiểm toán Như vậy, ý kiến kiểm toán thể hiện trên Báo cáo kiểm toán là mục đích sau cùng của một cuộc kiểm toán BCTC, phản ánh tổng hợp kết quả công việc kiểm toán và cung cấp cho người sử dụng BCTC một sự đảm bảo hợp lý về độ tin cậy của BCTC được lập bởi đơn vị được kiểm toán
Trang 262.2.3 Phân loại ý kiến kiểm toán
2.2.3.1 Theo Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế
Theo ISA 700, ý kiến kiểm toán về BCTC bao gồm hai dạng chính, cụ thể là:
- Ý kiến chấp nhận toàn phần (unqualified opinion)
- Ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần (qualified opinion)
Ý kiến chấp nhận toàn phần (unqualified opinion): được đưa ra trong trường
hợp BCTC không chứa đựng các sai sót trọng yếu, việc trình bày BCTC là trung thực và hợp lý, tuân thủ các quy định liên quan Ngoài ra ý kiến chấp nhận toàn phần còn có thể bao gồm đoạn nhấn mạnh để làm sáng tỏ một số vấn đề nhưng không ảnh hưởng đến ý kiến của kiểm toán viên
Ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần (qualified opinion): được trình
bày trong trường hợp BCTC được kiểm toán có chứa đựng các sai sót trọng yếu, hoặc kiểm toán viên bị giới hạn về phạm vi kiểm toán và sự giới hạn này ảnh hưởng trọng yếu đến kết quả kiểm toán, hoặc có những bất đồng về những vấn đề quan trọng giữa kiểm toán viên và người quản lý đơn vị được kiểm toán làm ảnh hưởng đến kết quả kiểm toán
2.2.3.2 Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành
Nhằm mục tiêu hướng đến sự hài hòa và hội tụ với quốc tế trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán, Bộ Tài chính đã ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam mới kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06/12, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014 Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của tác giả là các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán từ 2013-2016 nên báo cáo kiểm toán được thu thập cho bài nghiên cứu chịu sự chi phối của chuẩn mực kiểm toán trước đây và chuẩn mực kiểm toán hiện hành Phần này trình bày các loại ý kiến của báo cáo kiểm toán theo hai hệ thống chuẩn mực kiểm toán:
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam trước đây (Quyết định 120/1999/QĐ-BTC
ngày 27/09/1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014)
Trang 27VSA 700, Đoạn 34 trước đây quy định, căn cứ kết quả kiểm toán, kiểm toán viên đưa ra một trong các loại ý kiến về BCTC, như sau:
- Ý kiến chấp nhận toàn phần;
- Ý kiến chấp nhận từng phần;
- Ý kiến từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến);
- Ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược)
Đối với những BCTC đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán, phù hợp với chuẩn mực và chế
độ kế toán Việt Nam hiện hành, kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần Kiểm toán viên không thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần trong trường hợp xảy ra một trong các tình huống có thể ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, như:
- Phạm vi công việc kiểm toán bị giới hạn;
- Bất đồng ý kiến với ban giám đốc;
- Tình huống chưa rõ ràng
a) Trong trường hợp KTV không thể thu thập đầy đủ và thích hợp các bằng chứng kiểm toán và không thực hiện được thủ tục thay thế phù hợp, nếu ảnh hưởng của việc giới hạn phạm vi kiểm toán nêu trên được xem là trọng yếu nhưng:
+ Chưa ảnh hưởng đến tổng thể BCTC thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần dạng ngoại trừ (do giới hạn phạm vi kiểm toán);
+ Ảnh hưởng đến tổng thể BCTC thì kiểm toán viên xem xét để đưa ra ý kiến từ chối (ý kiến không thể đưa ra ý kiến)
b) Trong trường hợp KTV và ban giám đốc bất đồng ý kiến về việc lựa chọn, áp dụng chuẩn mực và chế độ kế toán hoặc về sự không phù hợp của các thông tin trong BCTC hoặc phần thuyết minh BCTC dẫn đến sai lệch trọng yếu nhưng:
+ Chưa ảnh hưởng đến tổng thể BCTC thì kiểm toán việc đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần dạng ngoại trừ (do không thống nhất với ban giám đốc);
+ Ảnh hưởng đến tổng thể BCTC thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến không chấp nhận
Trang 28c) Đối với trường hợp tồn tại sự kiện không chắc chắn xảy ra trong tương lai, nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị được kiểm toán và kiểm toán viên, nếu sự kiện
đó được xem là có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần dạng tùy thuộc vào
Bên cạnh việc đưa ra ý kiến về BCTC, kiểm toán viên cũng có thể trình bày đoạn nhấn mạnh về một số yếu tố ảnh hưởng không trọng yếu đến BCTC nhưng không làm thay đổi ý kiến của kiểm toán viên Các vấn đề thường được kiểm toán viên lưu ý là khi thông tin đính kèm với BCTC không nhất quán với BCTC, hoặc khi khách hàng còn tồn tại yếu tố không chắc chắn trọng yếu liên quan đến các sự kiện hoặc điều kiện gây ra nghi ngờ về giả định hoạt động liên tục và thông tin này
đã được công bố đầy đủ trong phần thuyết minh BCTC
Chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành (Ban hành kèm theo Thông tư
214/2012/TT-BTC ngày 06/12/2012 của Bộ Tài chính, có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 01/01/2014)
Chuẩn mực kiểm toán hiện hành gồm 37 chuẩn mực, trong đó có ba chuẩn mực quy định về báo cáo kiểm toán và ý kiến kiểm toán:
- VSA 700: Hình thành ý kiến kiểm toán và báo cáo kiểm toán về BCTC
- VSA 705: Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần
- VSA 706: Đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” và “Vấn đề khác” trong báo cáo kiểm toán về BCTC
VSA 700 hiện hành quy định ý kiến kiểm toán gồm hai dạng:
- Ý kiến chấp nhận toàn phần khi KTV kết luận rằng BCTC được lập trên các khía
cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng
- Ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần trong báo cáo kiểm toán được
đưa ra trong các trường hợp:
+ Dựa trên bằng chứng kiểm toán đã thu thập được, kiểm toán viên kết luận là tổng thể BCTC vẫn còn sai sót trọng yếu, hoặc
Trang 29+ Kiểm toán viên không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp
để kết luận rằng tổng thể BCTC không còn sai sót trọng yếu
Cụ thể hơn về việc xác định các dạng ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần được minh họa trong bảng dưới đây
Bảng 2.1 Các trường hợp được phân loại là ý kiến không phải
không lan tỏa
Trọng yếu và lan tỏa
ngoại trừ
Ý kiến kiểm toán trái ngược Không thể thu thập được đầy đủ
bằng chứng kiểm toán thích hợp
Ý kiến kiểm toán ngoại trừ
Từ chối đưa ra ý kiến
Ngoài VSA 700 và VSA 705, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam còn đề cập đến
“Vấn đề cần nhấn mạnh” và “Vấn đề khác” trong báo cáo kiểm toán về BCTC trong VSA 706
Vấn đề cần nhấn mạnh
Theo VSA 706, nếu kiểm toán viên thấy cần phải thu hút sự chú ý của người sử dụng đối với một vấn đề đã được trình bày hoặc thuyết minh trong BCTC, mà theo xét đoán của kiểm toán viên, vấn đề đó là đặc biệt quan trọng để người sử dụng hiểu được BCTC thì kiểm toán viên phải trình bày thêm đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh”,
để thể hiện là kiểm toán viên đã thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp cho thấy vấn đề đó không bị sai sót trọng yếu trong BCTC
Đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” chỉ được đề cập đến các thông tin đã được trình bày hoặc thuyết minh trong BCTC Vì nếu sử dụng rộng rãi đoạn “Vấn đề cần nhấn
Trang 30mạnh” sẽ làm giảm tính hữu hiệu của việc kiểm toán viên trao đổi về vấn đề đó Ngoài ra, việc đưa thêm thông tin vào đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” so với các thông tin đã được trình bày hoặc thuyết minh trong BCTC có thể làm người sử dụng hiểu rằng vấn đề đó đã không được trình bày hoặc thuyết minh phù hợp trong BCTC Ví dụ về các trường hợp kiểm toán viên có thể thấy cần phải trình bày đoạn
Nếu kiểm toán viên thấy cần phải trao đổi về một vấn đề khác ngoài các vấn đề
đã được trình bày hoặc thuyết minh trong BCTC, mà theo xét đoán của kiểm toán viên, vấn đề khác đó là thích hợp để người sử dụng hiểu rõ hơn về cuộc kiểm toán,
về trách nhiệm của kiểm toán viên hoặc về báo cáo kiểm toán, đồng thời pháp luật
và các quy định cũng không cấm việc này thì kiểm toán viên phải trình bày về vấn
đề đó trong báo cáo kiểm toán, với tiêu đề “Vấn đề khác” hoặc “Các vấn đề khác”
Như vậy, so sánh hai hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam trước đây và hiện hành về phương diện ý kiến kiểm toán, ta thấy có hai thay đổi cơ bản:
- Thứ nhất, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành đã gộp các loại ý kiến bao
gồm: ý kiến ngoại trừ, ý kiến không chấp nhận và từ chối đưa ra ý kiến thành một dạng là ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần Theo đó, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành phân loại ý kiến kiểm toán thành hai loại chính là ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần và ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần
Trang 31- Thứ hai, trong trường hợp tồn tại các yếu tố trọng yếu nhưng không chắc chắn liên
quan đến các sự kiện có thể xảy ra trong tương lai, nằm ngoài tầm kiểm soát của đơn vị và kiểm toán viên thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần kèm theo đoạn nhấn mạnh thay vì dạng ý kiến chấp nhận từng phần dạng tùy thuộc vào như trước đây Như vậy, chuẩn mực kiểm toán hiện hành đã loại bỏ ý kiến chấp nhận từng phận dạng tùy thuộc vào Sở dĩ có sự loại bỏ này là vì các xử lý kế toán cho các yếu tố không chắc chắn đã được quy định trong VAS 18 – Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng Nếu doanh nghiệp áp dụng đúng theo chuẩn mực thì kiểm toán viên không cần đưa ra ý kiến ngoại trừ dạng tùy thuộc vào nữa
Như vậy, với những điều chỉnh này Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đã ngày càng tiến gần hơn với Chuẩn mực kiểm toán quốc tế Đây là một minh chứng cho sự
nỗ lực của các nhà làm chính sách trên con đường hội nhập
Trong nghiên cứu này, tác giả chia các loại ý kiến kiểm toán thành hai loại chính theo như VSA 700 hiện hành là ý kiến chấp nhận toàn phần và ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần Theo đó, tất cả các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM giai đoạn 2013-2016 có đầy đủ số liệu được thu thập trong nghiên cứu này, nếu nhận được ý kiến kiểm toán về BCTC thuộc một trong 3 dạng: ý kiến ngoại trừ, ý kiến trái ngược và từ chối đưa ra ý kiến sẽ được gọi chung
là ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần Ngoài ra, ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần với đoạn vấn đề nhấn mạnh, vấn đề khác vẫn được phân loại là ý kiến chấp nhận toàn phần theo VSA hiện hành
2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700 quy định, kiểm toán viên và công ty kiểm toán sẽ đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần nếu BCTC sau khi kiểm toán phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán, và phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận tại Việt Nam Hay nói cách khác, ý kiến kiểm toán về BCTC của doanh nghiệp được kiểm toán viên xem xét và đưa ra quyết định dựa trên việc xem xét tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện thông qua các BCTC
Trang 32mà doanh nghiệp công bố có được phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không
Như vậy, rõ ràng tình hình tài chính của doanh nghiệp có ảnh hưởng quyết định đến ý kiến mà kiểm toán viên ban hành sau khi kiểm toán BCTC Tuy nhiên, không phải lúc nào doanh nghiệp cũng chọn cách trình bày trung thực và hợp lý tình hình hoạt động kinh doanh của mình thông qua các BCTC Bởi xung đột lợi ích luôn tồn tại, và lý thuyết thông tin bất cân xứng đã chỉ ra rằng nhà quản lý thường có xu hướng cung cấp thông tin có lợi cho họ, và các đối tượng khác không có điều kiện tiếp cận thông tin gốc nên khả năng sẽ đưa ra quyết định sai lầm (DeAngelo, 1981) Đặc biệt, khi doanh nghiệp hoạt động không tốt, với sức ép rất lớn từ phía các cổ đông, chủ nợ, nhà đầu tư, nhà quản lý doanh nghiệp thường có xu hướng sử dụng các thủ thuật kế toán, hoặc có các hành động gian lận để “làm đẹp” BCTC, biến lỗ thành lãi, khai khống lợi nhuận nhằm che mắt các bên liên quan, giữ giá trị doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn Ngay cả khi một doanh nghiệp đang hoạt động tốt, vẫn tồn tại các khả năng này vì các mục đích cá nhân hoặc lợi nhuận không bền vững Trong các trường hợp này, khi thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên cần hết sức thận trọng và cân nhắc kỹ lưỡng để có thể đưa ra quyết định chính xác, đảm bảo mức độ tin cậy hợp lý của các BCTC đã được kiểm toán thông qua ý kiến kiểm toán cuối cùng
Như vậy, tình hình tài chính của doanh nghiệp có ảnh hưởng quyết định đến ý kiến kiểm toán Câu hỏi đặt ra là các yếu tố nào sẽ phản ánh tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp Đầu tiên, tình hình hoạt động của doanh
nghiệp được thể hiện khá rõ nét thông qua các tỷ số tài chính Có rất nhiều nghiên
cứu trên thế giới đã đưa ra nhiều mô hình dự đoán tình hình hoạt động của doanh nghiệp dựa trên các tỷ số tài chính, như mô hình dự báo kiệt quệ tài chính Beaver (1966), mô hình dự đoán phá sản của Altman (1968), Các nghiên cứu này đều chứng minh các tỷ số tài chính có khả năng phản ánh và dự báo tình hình tài chính của một doanh nghiệp Dựa trên tính chất bắc cầu: tình hình tài chính của một doanh nghiệp ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán mà doanh nghiệp nhận được, các tỷ
Trang 33số tài chính lại có mối quan hệ mật thiết với tình hình tài chính của doanh nghiệp,
do đó các tỷ số tài chính cũng có ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành loại ý kiến kiểm toán được kiểm toán viên ban hành
2.2.4.1 Các chỉ số tài chính
Tỷ số tài chính là tỷ số biểu hiện mối quan hệ giữa hai hay nhiều số liệu tài chính với nhau Tỷ số tài chính thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của một doanh nghiệp Các tỷ số tài chính khi đứng một mình cung cấp thông tin khá hạn chế Chúng chỉ thực sự hữu ích khi được so sánh với nhau, giữa các thời kỳ, các doanh nghiệp và ngành hoạt động
Tỷ số tài chính giúp người sử dụng nhìn nhận khái quát được xu hướng phát triển của doanh nghiệp, giúp nhà đầu tư xem xét liệu doanh nghiệp có đang hoạt động tốt hay không, có tiềm năng để đầu tư hay không; hoặc giúp các chủ nợ kiểm tra tình hình hoạt động của doanh nghiệp, có khả năng hoàn trả nợ và có nên tiếp tục cho doanh nghiệp vay vốn trong tương lai hay không
Vấn đề đặt ra là tại sao không sử dụng số liệu từ các khoản mục sẵn có trên BCTC để xem xét mà lại sử dụng các tỷ số tài chính Lý do là bởi vì các doanh nghiệp khác nhau sẽ có đặc điểm khác nhau về quy mô, cơ cấu tài chính, ngành hoạt động Nếu chỉ đơn thuần đem so sánh các chỉ tiêu riêng lẻ trên BCTC giữa các doanh nghiệp khác nhau thì có thể là một sự so sánh khập khiễng và không mang nhiều ý nghĩa Các tỷ số tài chính là các chỉ số tương đối và khi được so sánh sẽ mang lại ý nghĩa thông tin nhiều hơn
Tình hình hoạt động của doanh nghiệp có thể được phản ánh thông qua một số nhóm tỷ số tài chính chủ yếu như sau:
Chỉ số phản ánh khả năng thanh toán
Tình trạng tài chính của doanh nghiệp thể hiện khá rõ nét qua khả năng thanh toán Thông qua khả năng thanh toán theo thời gian, ta có thể thấy được năng lực tài chính trước mắt và lâu dài của một doanh nghiệp Khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng được đảm bảo thì năng lực tài chính của doanh nghiệp càng lớn, an
Trang 34ninh tài chính càng vững vàng Ngược lại nếu khả năng thanh toán không đảm bảo thể hiện năng lực tài chính yếu và an ninh tài chính kém bền vững, thậm chí doanh nghiệp có đối mặt với nguy cơ phá sản
Có nhiều chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp, mỗi chỉ tiêu sẽ phán ánh tình trạng và khả năng thanh toán trên một góc độ khác nhau Thông qua việc xác định và phân tích các chỉ tiêu về khả năng thanh toán sẽ phần nào xác định được tình trạng tài chính của doanh nghiệp là tốt hay không Sau đây là một số tỷ số cơ bản phản ánh khả năng thanh toán:
- Tỷ số khả năng thanh toán tổng quát
Tæng nî ph¶i tr¶
Là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo Chỉ tiêu này cho biết với tổng số tài sản hiện có, doanh nghiệp có đảm bảo trang trải được các khoản nợ phải trả hay không Tỷ số này lớn hơn hoặc bằng 1 thì
khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp được đánh giá là tốt và ngược lại
- Tỷ số thanh toán hiện hành
- Tỷ số thanh toán nhanh
Trang 35ngắn hạn), doanh nghiệp cú khả năng trang trải toàn bộ nợ ngắn hạn hay khụng Bởi
vỡ một doanh nghiệp cú thể cú thừa khả năng thanh toỏn chung và thanh toỏn nợ ngắn hạn, nhưng cú những giai đoạn nhất định trong năm, khi cần thiết phải thanh toỏn nhanh cỏc khoản nợ cú thể doanh nghiệp sẽ khụng đảm bảo được Tỷ số này càng lớn chứng tỏ khả năng thanh toỏn nhanh càng đảm bảo Tuy nhiờn, nếu tỷ số thanh toỏn nhanh quỏ lớn lại dẫn đến tỡnh trạng mất cõn đối vốn lưu động
- Tỷ số thanh toỏn tức thời
Ngoài tỷ số thanh toỏn nhanh, để đỏnh giỏ khả năng thanh toỏn khắt khe hơn, người ta cú thể sử dụng chỉ tiờu khả năng thanh toỏn tức thời Chỉ tiờu này chỉ xem xột đến khoản cú thể sử dụng để thanh toỏn nhanh nhất, đú là vốn bằng tiền
Nợ ngắn hạn đến hạn trả
- Tỷ số vốn lưu động trờn tổng tài sản
Vốn lưu động là phần tài sản lưu động vượt quỏ cỏc khoản nợ ngắn hạn, là một chỉ tiờu quan trọng để đỏnh giỏ năng lực thanh toỏn của doanh nghiệp Vốn lưu động phản ỏnh số tiền hiện được tài trợ từ cỏc nguồn lõu dài mà khụng đũi hỏi chi trả trong thời gian ngắn Trong thực tế, ta cú nhu cầu so sỏnh vốn lưu động giữa cỏc thời kỳ, hoặc giữa cỏc doanh nghiệp khỏc nhau để xỏc định lượng vốn cú hợp lý hay khụng Tuy nhiờn, vỡ quy mụ giữa cỏc doanh nghiệp là khỏc nhau nờn sự so sỏnh này khụng cú ý nghĩa Do đú, để so sỏnh cú ý nghĩa người ta sử dụng chỉ tiờu tỷ số vốn lưu động trờn tổng tài sản
Tổng tài sản
Chỉ số phản ánh khả năng sinh lời
Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là chỉ tiờu phản ỏnh mức lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được trờn một đơn vị chi phớ hay yếu tố đầu vào hay trờn một đơn
vị đầu ra phản ỏnh kết quả sản xuất Mức lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được tớnh trờn một đơn vị càng cao, thể hiện tỡnh hỡnh hoạt động của doanh nghiệp là tốt và cú
Trang 36triển vọng trong tương lai; ngược lại mức lợi nhuận thu được trên một đơn vị càng nhỏ thể hiện hiệu quả kinh doanh càng thấp Có thể nói khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là biểu hiện cao nhất và tập trung nhất của hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Hơn nữa, lợi nhuận thu được này có thể dùng để tái đầu tư, chi trả cổ tức, trả nợ vay nên các chỉ số này nhận được sự quan tâm đặc biệt từ các bên liên quan Một số chỉ số cơ bản phản ánh khả năng sinh lời bao gồm:
- Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROE)
Vèn chñ së h÷u b×nh qu©n
Khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu thể hiện qua mối quan hệ giữa lợi nhuận của doanh nghiệp với vốn chủ sở hữu, vốn thực có của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cuối cùng (LNST) Trị số của của chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu càng cao, và ngược lại Có thể nói, biểu hiện rõ nét và cao độ nhất
về khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu; bởi
vì mọi hoạt động mà doanh nghiệp tiến hành suy cho cùng cũng nhằm mục đích
nâng cao hiệu quả vốn đầu tư của chủ sở hữu
Tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu bình quân (ROE) liên quan đến chi phí lãi vay, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp; vì vậy đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu dưới tác động của đòn bẩy tài chính
Trang 37- Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản bình quân (ROA)
Tæng tµi s¶n b×nh qu©n
Khả năng sinh lời của tài sản được thể hiện qua mối quan hệ giữa lợi nhuận so với tài sản của doanh nghiệp Chỉ tiêu này phản ánh, cứ 100 đồng đầu tư vào doanh nghiệp sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Trị số của chỉ tiêu này càng lớn thể hiện khả năng sinh lời của tài sản càng cao, hiệu quả hoạt động kinh doanh càng cao và ngược lại
Chỉ số phản ánh khả năng hoạt động
Các chỉ số tài chính phân tích khả năng hoạt động của doanh nghiệp được dùng
để đo lường khả năng tổ chức và điều hành doanh nghiệp, đồng thời cho thấy tình hình sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Một số chỉ số phản ánh khả năng hoạt động của doanh nghiệp:
- Vòng quay tổng tài sản (Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản)
Tæng tµi s¶n b×nh qu©n
Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp đều mong muốn tài sản vận động không ngừng, để đẩy mạnh tăng doanh thu, là nhân tố góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ báo cáo tài sản quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu và là điều kiện nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ các tài sản vận động chậm, khiến cho doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp sụt giảm
Trang 38doanh thu Hoặc cho biết trong kỳ báo cáo vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp quay được bao nhiêu vòng Chỉ số này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
- Vòng quay hàng tồn kho
Gi¸ trÞ hµng tån kho b×nh qu©n
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, vốn đầu tư cho hàng tồn kho quay được bao nhiêu vòng Nếu chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hàng tồn kho được giải phóng nhanh, góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp Điểm cần lưu ý là chỉ tiêu này chỉ có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất
Chỉ số phản ánh cơ cấu tài chính
Các chỉ số đòn bẩy tài chính phản ánh phương thức mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các hoạt động, chủ yếu là dựa vào vốn vay hay vốn chủ sở hữu Đối với nguồn vốn vay nợ, nếu được sử dụng hiệu quả sẽ đẩy lợi nhuận doanh nghiệp tăng cao, nhưng đồng thời doanh nghiệp cũng gặp rủi ro tài chính cao hơn Nguồn vốn chủ sở hữu lại thể hiện năng lực vốn có, sự tự chủ của người chủ doanh nghiệp trong tài trợ các hoạt động kinh doanh Một số tỷ số trong nhóm bao gồm:
- Tỷ số nợ trên tổng tài sản (Tỷ suất nợ)
- Tỷ số vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (Tỷ suất tự tài trợ)
Tæng tµi s¶n
Trang 39Chỉ tiêu này cho biết trong tổng số vốn tài trợ tài sản của doanh nghiệp vốn chủ
sở hữu chiếm bao nhiêu phần trăm Tỷ số này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao
- Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu
Vèn chñ së h÷u
Chỉ tiêu này thể hiện mức độ đảm bảo nợ bởi vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp càng thấp khi nguồn tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp đa phần là đến từ các khoản nợ
Trên đây là các nhóm tỷ số tài chính cơ bản phản ánh các đặc trưng tài chính của một doanh nghiệp Ngoài ra, khi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành ý kiến của kiểm toán viên về BCTC, nhiều nghiên cứu trước đó còn chỉ
ra một số nhân tố phi tài chính có đóng góp quan trọng trong việc hình thành ý kiến của kiểm toán viên Phần sau đây sẽ nêu ra một số nhân tố phi tài chính được xem là
có ảnh hưởng đến việc phân biệt ý kiến kiểm toán về BCTC
2.2.4.2 Các nhân tố phi tài chính
Một số các nhân tố phi tài chính tiêu biểu được xem xét đến trong các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành loại ý kiến kiểm toán bao gồm:
Loại công ty kiểm toán: Một nhân tố phi tài chính khá phổ biến trong các nghiên
cứu về mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán là loại công ty kiểm toán Một số nghiên cứu chỉ ra quy mô của công ty kiểm toán có mối quan hệ với xác suất nhận được ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần (Gul et al., 1992; Krishnan, 1996)
Ý kiến kiểm toán năm trước: Ý kiến kiểm toán năm trước là một công cụ tốt để dự
đoán ý kiến kiểm toán năm hiện hành trong các điều kiện tương tự (Mutchler, 1985; Bell và Tabor, 1991) Ý kiến kiểm toán năm trước được đưa vào nghiên cứu trong nhiều mô hình và được chứng minh có ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành
loại ý kiến kiểm toán năm hiện tại
Trang 40 Thời gian niêm yết : Mutchler (1985) và Dopuch et al (1987) đã đưa biến thời
gian niêm yết vào trong mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán, kết hợp với các tỷ số tài chính và một số biến phi tài chính khác Trong các nghiên cứu về mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng nhận được ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần, thời gian niêm yết cũng là một trong những biến kiểm soát phổ biến được xem xét (Johl et al., 2007), (Omid, 2015) Kết quả các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thời gian niêm yết có ảnh hưởng đến khả năng nhận được ý kiến không chấp nhận toàn phần
Quy mô công ty được kiểm toán : Beasley et al (1999) đã kết luận rằng các công
ty phạm tội gian lận tại Hoa Kỳ nói chung là có quy mô nhỏ Trong một nghiên cứu khác, Palmrose (1986) cho thấy quy mô của một công ty càng lớn, việc giám sát và quản trị doanh nghiệp càng được coi trọng Vì vậy, khi kiểm toán cho các công ty này, kiểm toán viên cũng sẽ chú ý hơn khi đệ trình báo cáo kiểm toán Gaganis et al (2007) cho rằng công ty với tỷ lệ phát triển thấp hơn những công ty tương tự thì khả năng nhận ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần sẽ cao hơn Như vậy quy mô cũng là một nhân tố được cho là tác động đến ý kiến kiểm toán mà một
doanh nghiệp nhận được
Ngoài các nhân tố phổ biến nêu trên, còn có một số nhân tố phi tài chính khác
cũng được đưa vào xem xét trong các nghiên cứu liên quan Mức phí kiểm toán
cũng là một nhân tố có mối quan hệ với khả năng nhận được YK K CNTP Firth (1985) cho rằng các công ty được kiểm toán lớn hơn với mức phí kiểm toán cao hơn
sẽ ít có khả năng phải nhận một ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần Một
nhân tố khác, theo Spathis (2003) các vụ kiện tụng cũng là một nhân tố có ảnh
hưởng đến khả năng nhận được một ý kiến không chấp nhận toàn phần,
Như vậy, có rất nhiều nhân tố cả tài chính và phi tài chính ảnh hưởng đến việc hình thành ý kiến kiểm toán về BCTC Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu cũng như bối cảnh môi trường kinh tế cụ thể mà mỗi nghiên cứu sẽ lựa chọn các nhân tố khác nhau để đưa vào mô hình nghiên cứu