Mục tiêu của đề tài là xem xét sự tác động của các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB đến hiệu quả hoạt động của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị để hoàn thiện hệ thống KSNB nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho các DN nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
Kết cấu nghiên cứu
Các nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1 Các bài báo, nghiên cứu chung về hệ thống KSNB
Nghiên cứu của Kewo (2017) phân tích tác động của việc thực hiện Kiểm soát nội bộ (KSNB) và hiệu quả quản lý đến trách nhiệm giải trình tài chính tại các địa phương ở Indonesia Mục tiêu của nghiên cứu là kiểm tra mối quan hệ giữa KSNB, hoạt động quản lý và trách nhiệm giải trình tài chính ở các khu vực này.
Nghiên cứu này dựa trên dữ liệu từ 226 đơn vị chính quyền địa phương tỉnh Bắc Sulawesi, Indonesia, với mẫu gồm 115 đơn vị và 345 công chức tham gia Dữ liệu được thu thập là sơ cấp và được kiểm tra về tính hợp lệ và độ tin cậy Kết quả cho thấy sự thực hiện kiểm soát nội bộ (KSNB) và hiệu quả quản lý có ảnh hưởng đáng kể đến trách nhiệm giải trình tài chính tại các địa phương ở Indonesia Những phát hiện này sẽ hỗ trợ các địa phương trong việc xây dựng chính sách nhằm cải thiện KSNB, nâng cao hiệu quả quản lý và tăng cường trách nhiệm giải trình tài chính.
Nghiên cứu của Rini và Yessi Fitri (2015) phân tích tác động của ủy ban kiểm toán và kiểm toán viên nội bộ đối với hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) tại các ngân hàng Indonesia Dữ liệu được thu thập từ 72 ngân hàng qua bảng khảo sát với 27 câu hỏi, trong đó có 9 câu hỏi về vai trò của ban kiểm toán, 8 câu hỏi về vai trò kiểm toán viên nội bộ và 10 câu hỏi về hiệu quả của KSNB Phân tích dữ liệu sử dụng mô hình hồi quy cho thấy cả ủy ban kiểm toán và kiểm toán viên nội bộ đều có ảnh hưởng đến hiệu quả của KSNB, trong đó vai trò của ủy ban kiểm toán có ảnh hưởng không đáng kể, trong khi vai trò của kiểm toán viên nội bộ lại có tác động mạnh hơn.
6 bộ ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của KSNB
Nghiên cứu của Shabri (2013) đã khảo sát tác động của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) đối với lợi nhuận của Koperasi Pekan Rabu Alor Setar Berhad tại Malaysia Sử dụng khuôn mẫu COSO 1992, nghiên cứu tập trung vào 5 thành phần chính của hệ thống KSNB: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, cùng với giám sát Phương pháp nghiên cứu định tính được áp dụng, với dữ liệu thu thập từ tài liệu và phỏng vấn Kết quả cho thấy hệ thống KSNB tại Koperasi Pekan Rabu Alor Setar Berhad không chỉ hiệu quả mà còn đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo tiêu chuẩn COSO 1992.
Nghiên cứu của Amudo và Inanga (2009) đã phát triển một mô hình thực nghiệm để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) trong các dự án khu vực công ở Uganda, dựa trên khuôn mẫu KSNB theo COSO 1992 với năm thành phần chính: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát, cùng với biến công nghệ thông tin theo COBIT Kết quả nghiên cứu cho thấy một số thành phần của KSNB, đặc biệt là đánh giá rủi ro và giám sát, gặp phải khiếm khuyết, dẫn đến sự thiếu hiệu quả của hệ thống KSNB trong các dự án khu vực công ở Uganda.
1.1.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của HTKSNB đến hiệu quả hoạt động
Nghiên cứu của Eniola và cộng sự (2016) đã chỉ ra rằng kiểm soát nội bộ (KSNB) ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả tài chính của các công ty tại Nigeria Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi gửi đến các công ty được chọn, sử dụng phương pháp lấy mẫu phi xác suất và phân tích bằng công cụ thống kê hồi quy trong SPSS Kết quả cho thấy KSNB có mối liên hệ rõ ràng với gian lận trong tổ chức Dựa trên những phát hiện này, nghiên cứu khuyến nghị ban giám đốc cần xây dựng các chiến lược hiệu quả hơn để đảm bảo KSNB hoạt động hiệu quả, từ đó giảm thiểu hành vi gian lận trong tổ chức.
Nghiên cứu của Zipporah (2015) đã phân tích tác động của các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp sản xuất tại Nairobi, Kenya, với hiệu quả tài chính được đo bằng chỉ số ROA (lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản) Kết quả cho thấy có mối quan hệ thống kê đáng kể giữa các yếu tố KSNB và hiệu quả tài chính; cụ thể, các yếu tố như môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, thông tin và truyền thông, cùng hoạt động kiểm soát có tác động tích cực, trong khi yếu tố giám sát lại có tác động tiêu cực đến hiệu quả tài chính.
Nghiên cứu của Njeri (2014) phân tích ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) đến hiệu quả tài chính của 20 công ty sản xuất ở Kenya, được chọn từ 65 công ty đã đăng ký Sử dụng kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng, nghiên cứu kết hợp dữ liệu sơ cấp từ bảng câu hỏi và dữ liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính Kết quả cho thấy môi trường kiểm soát là một chức năng quan trọng của KSNB, có tác động lớn đến hiệu quả tài chính Phân tích hồi quy chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa KSNB và hiệu quả tài chính, với các yếu tố độc lập giải thích 75,7% sự thay đổi trong hiệu quả tài chính Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung vào 20 công ty, không phản ánh đầy đủ tình hình của hơn 500 công ty sản xuất ở Kenya.
Nghiên cứu của Nyakundi và cộng sự (2014) đã xem xét ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) đối với hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Kisumu, Kenya Mẫu nghiên cứu được chọn thông qua phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng, sử dụng cả dữ liệu sơ cấp và thứ cấp Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua bảng câu hỏi phỏng vấn, trong khi dữ liệu thứ cấp được lấy từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp trong mẫu Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng các phương pháp thống kê.
Các nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu chỉ ra rằng hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Đồng thời, nghiên cứu cũng khuyến nghị cần tổ chức đào tạo nhằm nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của KSNB đối với các doanh nghiệp này.
Fanta, A.B và cộng sự (2013) đã áp dụng lý thuyết đại diện để nghiên cứu các cơ chế quản trị doanh nghiệp và ảnh hưởng của chúng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại tại Ethiopia Nghiên cứu này đánh giá mối quan hệ giữa cơ chế kiểm soát nội bộ (KSNB) và các công cụ quản trị bên ngoài, đồng thời đo lường hiệu quả hoạt động ngân hàng thông qua các chỉ số ROE và ROA.
Nghiên cứu của Magara (2013) đã phân tích mối quan hệ giữa hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) và hiệu quả tài chính tại các hợp tác xã tín dụng (SACCOs) ở Kenya, dựa trên 122 mẫu SACCOs cùng dữ liệu sơ cấp và thứ cấp từ báo cáo hàng năm Phương pháp phân tích hồi quy được sử dụng để kiểm tra ảnh hưởng của hệ thống KSNB đến hiệu quả tài chính Kết quả cho thấy hai thành phần của hệ thống KSNB, bao gồm hoạt động kiểm soát và giám sát, có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của các SACCOs ở Kenya.
Nghiên cứu của Manwanda (2011) đã khám phá mối quan hệ giữa hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) và hiệu quả tài chính tại Viện đào tạo sau đại học ở Uganda Các biến độc lập bao gồm môi trường kiểm soát, kiểm toán nội bộ và hoạt động kiểm soát, trong khi biến phụ thuộc là hiệu quả tài chính, được đo lường qua tính thanh khoản và tính trách nhiệm trong thanh toán Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa hệ thống KSNB và hiệu quả hoạt động tài chính.
1 2 ác nghiên cứu trong nước
1.2.1 Các bài báo, nghiên cứu chung về hệ thống KSNB
Nguyễn Thị Lan Phương (2016) đã nghiên cứu tác động của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) đến hiệu quả quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp du lịch ở Khánh Hòa Nghiên cứu này không chỉ xem xét mối quan hệ giữa KSNB và quản trị rủi ro, mà còn đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB, từ đó nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro cho các doanh nghiệp du lịch trong khu vực Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện chất lượng quản lý rủi ro tại các doanh nghiệp này.
Nghiên cứu chỉ ra rằng các doanh nghiệp du lịch tại Khánh Hòa đã xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) theo hướng quản trị rủi ro, tuy nhiên hệ thống này vẫn chưa hoàn thiện và đầy đủ Trong đó, chỉ có bốn yếu tố trong hệ thống KSNB theo COSO 2004 có ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị rủi ro, với mức độ tác động giảm dần là: môi trường nội bộ, thông tin và truyền thông, hoạt động kiểm soát, và phản ứng với rủi ro Các yếu tố còn lại như thiết lập mục tiêu, nhận dạng sự kiện tiềm tàng, đánh giá rủi ro và giám sát không có tác động đáng kể.
Trần Thị Bích Duyên (2014) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) tại các doanh nghiệp du lịch ở tỉnh Bình Định, dựa trên khuôn mẫu COSO 2013 Qua khảo sát 133 doanh nghiệp du lịch, kết quả cho thấy các thành phần của hệ thống KSNB, bao gồm môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro và hoạt động kiểm soát, vẫn còn yếu kém.
Huỳnh Xuân Lợi (2013) đã thực hiện một nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh Bình Định, trong đó khảo sát 30 doanh nghiệp để đánh giá hiệu quả và thực trạng của hệ thống này.
Tại tỉnh Bình Định, có 4.310 doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm 0,7% tổng số doanh nghiệp Nghiên cứu cho thấy hầu hết các doanh nghiệp này đã thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) dựa trên năm yếu tố chính: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát Tuy nhiên, do chú trọng vào lợi nhuận, nhiều doanh nghiệp ít đầu tư vào việc tuyển dụng lao động và sợ chi phí tăng cao, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến mục tiêu kiểm soát chung Gần 50% doanh nghiệp không chú trọng đến việc nhận diện và phân tích rủi ro trong hoạt động kinh doanh và môi trường hoạt động, và rất ít doanh nghiệp xây dựng nội quy, quy chế làm việc, quy tắc ứng xử, cũng như phân công nhiệm vụ và quyền hạn cho từng bộ phận.
Tạ Thị Thùy Mai (2008) đã tiến hành nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh Lâm Đồng Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích và đánh giá hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp này để đề xuất các giải pháp cải thiện Tác giả đã khảo sát 15 doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tỉnh Lâm Đồng, sử dụng bảng câu hỏi gồm 108 câu hỏi được thiết kế lại để thu thập thông tin.
10 câu hỏi của COSO đánh giá năm yếu tố chính của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB): môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát Kết quả khảo sát cho thấy các doanh nghiệp đang nỗ lực áp dụng lý thuyết vào thực tiễn để kiểm soát và quản lý hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra Tuy nhiên, thiết kế hệ thống KSNB hiện tại chủ yếu mang tính tự phát và thiếu tính hệ thống, dẫn đến mức độ thành công chưa cao Vẫn còn nhiều vấn đề cần cải thiện, đặc biệt là trong tổ chức nhân sự, phân định trách nhiệm và quyền hạn, kiểm soát hệ thống máy tính, cũng như đánh giá và phân tích rủi ro trong doanh nghiệp.
1.2.2 Các bài báo, nghiên cứu về hệ thống KSNB ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động DN
Nguyễn Tuấn và Đường Nguyễn Hưng (2017) đã nghiên cứu ảnh hưởng của KSNB đến hiệu quả hoạt động và rủi ro phá sản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, xây dựng hai mô hình nghiên cứu với biến độc lập là 5 thành phần của KSNB: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát, cùng với biến phụ thuộc là ROA và chỉ số Z-score Kết quả cho thấy một số thành phần của KSNB có tác động đến hiệu quả hoạt động và rủi ro phá sản của các ngân hàng thương mại Nghiên cứu cũng đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ thống KSNB tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, hướng tới việc tuân thủ các chuẩn mực quốc tế trong bối cảnh hội nhập.
Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Nga (2016) đã phân tích ảnh hưởng của KSNB đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thương mại nhỏ và vừa tại tỉnh Vĩnh Long, thông qua khảo sát 124 doanh nghiệp với 24 câu hỏi Các biến độc lập bao gồm 5 thành phần trong hệ thống KSNB theo COSO 2013: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát Hiệu quả hoạt động được đo lường dựa trên mức độ sử dụng tài sản, nguồn vốn và đầu tư để tạo ra lợi nhuận, đồng thời dựa vào nhận thức của người trả lời thay vì số liệu từ báo cáo tài chính Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng
Nhận xét và xác định khe trống nghiên cứu
Các nhân tố môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro và hoạt động kiểm soát có ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thương mại nhỏ và vừa tại tỉnh Vĩnh Long Trong khi đó, nhân tố đánh giá rủi ro lại tác động tỷ lệ nghịch đến hiệu suất này Nghiên cứu tập trung xác định mức độ ảnh hưởng chung của các thành phần trong hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
DN, chưa đo lường được ảnh hưởng của từng nhân tố
Nghiên cứu của Nguyễn Tuấn và Đường Nguyễn Hưng (2015) đã tổng quan các công trình nghiên cứu và thực nghiệm về tác động của kiểm soát nội bộ (KSNB) đến hiệu quả hoạt động và rủi ro của ngân hàng thương mại Bài báo tổng hợp khái niệm về KSNB, áp dụng khuôn khổ KSNB của COSO và Basel, nhằm gợi ý hướng nghiên cứu và mô hình thực nghiệm về ảnh hưởng của KSNB đến hiệu quả và rủi ro trong các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
1 3 hận xét và xác định khe trống nghiên cứu
Trong nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) và hiệu quả hoạt động Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào kiểm định mối quan hệ này cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp ở Lâm Đồng.
Nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) tại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam chủ yếu dựa vào khuôn khổ báo cáo COSO, tập trung vào việc phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp cải thiện, nhưng các giải pháp thường thiếu tính thực tiễn và độ tin cậy chưa cao Mặc dù đã có một số nghiên cứu định lượng về ảnh hưởng của KSNB đến hiệu quả hoạt động, nhưng chúng vẫn còn hạn chế Đặc biệt, tại tỉnh Lâm Đồng, chưa có nghiên cứu nào đánh giá tác động của các yếu tố cấu thành KSNB đến hiệu quả hoạt động Do đó, cần thực hiện thêm các nghiên cứu để đưa ra các kiến nghị phù hợp với đặc thù của từng loại hình doanh nghiệp, ngành nghề và khu vực.
1.3.2 Xác định khe trống nghiên cứu
Qua tổng quan các nghiên cứu trước đây, tác giả nhận thấy chưa có đề tài nào đánh giá tác động của các nhân tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) theo COSO 2013 đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng Do đó, nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng là cần thiết, nhằm đưa ra các hàm ý chính sách để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này.
Trong chương 1, tác giả đã tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước về hệ thống Kiểm soát nội bộ (KSNB) và tác động của nó đến hiệu quả hoạt động Qua đó, tác giả nhận diện các khoảng trống trong nghiên cứu trước, từ đó xác định hướng nghiên cứu cho mình và kế thừa phương pháp nghiên cứu như xây dựng mô hình, thang đo và thiết kế bảng hỏi Mục tiêu là đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB đối với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng.
2.1.1 Lược sử về quá trình hình thành và phát triển của KSNB
Trong lịch sử hình thành và phát triển KSNB có thể chia thành các giai đoạn chính nhƣ sau:
Năm 1929, Cục Dự trữ Liên Bang Hoa Kỳ đã chính thức công bố về KSNB, được định nghĩa là công cụ bảo vệ tiền và tài sản, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động.
Vào năm 1936, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã đưa ra định nghĩa về Kiểm soát nội bộ (KSNB) như là các biện pháp và phương pháp được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức nhằm bảo vệ tiền và tài sản khác, đồng thời kiểm tra tính chính xác trong việc ghi chép sổ sách.
Vào năm 1949, AICPA đã công bố nghiên cứu đầu tiên về Kiểm soát Nội bộ (KSNB), trong đó KSNB được định nghĩa là hệ thống tổ chức và các biện pháp, phương pháp được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức nhằm bảo vệ tài sản, kiểm tra độ chính xác và độ tin cậy của thông tin kế toán, nâng cao hiệu quả hoạt động và khuyến khích tuân thủ các chính sách của quản lý.
- Sau đó, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP) ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán SAP 29 (1958), SAP 33 (1962), SAP 54 (1972)
- Tiếp đó, AICPA đã ban hành chuẩn mực kiểm toán SAS 1(1973)
Ủy ban COSO được thành lập dưới sự bảo trợ của năm tổ chức nghề nghiệp kế toán hàng đầu tại Hoa Kỳ, bao gồm Hiệp hội Kế toán viên Công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội Quản trị viên Tài chính (FEI), Hiệp hội Kiểm toán viên Nội bộ (IIA) và Hiệp hội Kế toán viên Quản trị (IMA).
Sau một thời gian dài nghiên cứu và làm việc, báo cáo COSO chính thức được phát hành vào năm 1992 COSO đã áp dụng thuật ngữ KSNB (Kiểm soát Nội bộ) thay vì KSNB về kế toán, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực này.
Báo cáo COSO 1992 được phát hành, giới thiệu năm thành phần chính của Kiểm soát Nội bộ (KSNB) bao gồm: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, cùng với giám sát.
Báo cáo COSO được phát hành vào năm 1992, mặc dù chưa hoàn chỉnh, nhưng đã thiết lập nền tảng lý thuyết quan trọng cho kiểm soát nội bộ (KSNB) Kể từ đó, nhiều nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau đã được thực hiện, góp phần làm phong phú thêm kiến thức về KSNB.
- Phát triển về quản trị rủi ro
Năm 2001, COSO bắt đầu nghiên cứu khuôn mẫu quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM) dựa trên Báo cáo COSO 1992 Dự thảo hoàn thành và được công bố vào tháng 7 năm 2003, chính thức ban hành vào năm 2004 Khuôn mẫu ERM bao gồm 8 bộ phận: môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát.
- Phát triển cho các DN nhỏ
Năm 2006, COSO đã ban hành hướng dẫn “KSNB đối với báo cáo tài chính – Hướng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ” (COSO Guidance 2006), nhằm cung cấp hướng dẫn phù hợp với điều kiện của các doanh nghiệp nhỏ, thay vì chỉ tập trung vào việc tuân thủ đạo luật SOX 2002.
- Phát triển theo hướng công nghệ thông tin
Các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB
- Tạo ra cơ chế vận hành minh bạch và hiệu quả trong công tác quản lý điều hành
Tạo ra một môi trường làm việc chuyên nghiệp và quy củ không chỉ giúp hình thành văn hóa doanh nghiệp mà còn tối ưu hóa nguồn nhân lực, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của công ty.
- Là nền tảng để cải tiến hệ thống quản lý khi DN tăng trưởng về quy mô hoặc mở rộng ngành nghề
2.1.4 Những hạn chế vốn có của hệ thống KSNB
Bên cạnh những lợi ích, hệ thống KSNB cũng tiềm ẩn nhiều hạn chế vốn có
- Hệ thống KSNB chịu tác động nhiều bởi các nhà quản lý
Hệ thống Kiểm soát Nội bộ (KSNB) chủ yếu tập trung vào việc thiết lập các quy trình kiểm soát bên trong đơn vị, trong khi ảnh hưởng đến các nghiệp vụ bên ngoài thường bị hạn chế.
- Hệ thống KSNB thường bị xem xét trong mối quan hệ giữa lợi ích mang lại và chi phí bỏ ra
- Các thủ tục kiểm soát thường tác động đến những nghiệp vụ xảy ra thường xuyên mà ít có tác động với những nghiệp vụ bất thường
2 2 ác bộ phận cấu thành hệ thống S
Theo báo cáo COSO 2013, hệ thống Kiểm soát Nội bộ (KSNB) bao gồm 5 bộ phận liên kết chặt chẽ, được trình bày qua 17 nguyên tắc Những nguyên tắc này giải thích các khái niệm cơ bản liên quan đến 5 yếu tố cấu thành hệ thống KSNB: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, cùng với giám sát.
Môi trường kiểm soát là tập hợp các tiêu chuẩn, quy trình và cấu trúc nền tảng cho thiết kế và vận hành kiểm soát nội bộ (KSNB) trong tổ chức Nó bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài, cung cấp hướng dẫn cho quyết định của cá nhân trong tổ chức Một môi trường kiểm soát tốt giúp tổ chức dễ dàng thích nghi và phản ứng với thay đổi Năm nguyên tắc liên quan đến môi trường kiểm soát được giới thiệu trong khuôn mẫu COSO 2013.
Nguyên tắc 1 : Đơn vị phải chứng tỏ sự cam kết về tính chính trực và các giá
18 trị đạo đức Để thể hiện sự cam kết về tính chính trực và các giá trị đạo đức cần chú ý các nội dung quan trọng sau:
+ Thiết lập phong cách điều hành của hội đồng quản trị và nhà quản lý cấp cao trong đơn vị
+ Thiết lập các tiêu chuẩn ứng xử
Đánh giá tính tuân thủ các tiêu chuẩn ứng xử là quá trình quan trọng nhằm kiểm tra sự trung thực và các giá trị đạo đức của cá nhân trong đơn vị Việc phát hiện kịp thời các vi phạm và áp dụng biện pháp xử lý phù hợp là cần thiết để duy trì môi trường làm việc tích cực và đáng tin cậy.
Hội đồng quản trị cần thể hiện sự độc lập với nhà quản lý và thực hiện chức năng giám sát hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) Để đảm bảo vai trò giám sát và sự độc lập này, đơn vị cần chú ý đến các yếu tố quan trọng khi xây dựng hệ thống KSNB.
+ Thiết lập quyền hạn và trách nhiệm của hội đồng quản trị
+ Hội đồng quản trị phải độc lập và có chuyên môn phù hợp
+ Thiết lập trách nhiệm giám sát của Hội đồng quản trị
Nguyên tắc 3 yêu cầu nhà quản lý, dưới sự giám sát của Hội đồng quản trị, xây dựng cơ cấu tổ chức rõ ràng, xác định cấp bậc báo cáo và phân định quyền hạn, trách nhiệm một cách hợp lý để đạt được các mục tiêu của đơn vị Để thực hiện nguyên tắc này, đơn vị cần chú trọng đến việc thiết lập một hệ thống quản lý hiệu quả và phân công công việc hợp lý.
Nhà quản lý cấp cao đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cơ cấu tổ chức và các cấp bậc báo cáo của đơn vị, nhằm lập kế hoạch, thực hiện và giám sát hiệu quả các hoạt động.
Nhà quản lý và Hội đồng quản trị có nhiệm vụ xác định và phân công quyền hạn cũng như trách nhiệm một cách hợp lý ở các cấp khác nhau trong tổ chức.
+ Giới hạn việc ủy quyền: Nhà quản lý cần xác định giới hạn của việc ủy uyền để đảm bảo tính hiệu quả của việc ủy quyền
Nguyên tắc 4 yêu cầu đơn vị chứng tỏ cam kết trong việc sử dụng nguồn nhân lực chất lượng bằng cách thu hút, phát triển và giữ chân nhân viên có năng lực phù hợp với mục tiêu của mình Để thực hiện nguyên tắc này, đơn vị cần tập trung vào việc thiết lập và áp dụng chính sách nguồn nhân lực vào thực tế.
+ Thu hút, phát triển và giữ chân nhân viên
+ Lập kế hoạch và chuẩn bị cho sự kế nhiệm
Nguyên tắc 5 yêu cầu đơn vị xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân trong việc kiểm soát và đạt được các mục tiêu của tổ chức Để thực hiện nguyên tắc này, tổ chức cần chú ý đến những điểm quan trọng sau đây.
Để xác lập trách nhiệm trong tổ chức, cần xây dựng một cơ cấu rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm Đồng thời, việc thiết lập các tiêu chí đo lường hiệu quả hoạt động là rất quan trọng, bao gồm cả các biện pháp khuyến khích và khen thưởng phù hợp nhằm thúc đẩy hiệu suất làm việc.
+ Xem xét những áp lực quá mức
+ Đánh giá hiệu quả làm việc, khen thưởng hoặc kỷ luật nhân viên
Tất cả các đơn vị, không phân biệt quy mô hay ngành nghề, đều phải đối mặt với rủi ro từ cả bên trong lẫn bên ngoài Rủi ro được hiểu là khả năng xảy ra của một sự kiện có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc đạt được mục tiêu Đánh giá rủi ro là quá trình nhận diện và phân tích các yếu tố có thể đe dọa đến mục tiêu của tổ chức, từ đó giúp quản trị rủi ro hiệu quả Bốn nguyên tắc liên quan đến đánh giá rủi ro đã được giới thiệu trong khuôn mẫu COSO.
Nguyên tắc 6 yêu cầu các đơn vị thiết lập mục tiêu cụ thể nhằm nhận diện và đánh giá các rủi ro liên quan đến việc đạt được những mục tiêu đó Việc xác định rõ ràng các mục tiêu giúp đơn vị có cái nhìn tổng quan về các thách thức có thể gặp phải trong quá trình thực hiện.
Mục tiêu hoạt động của đơn vị tập trung vào việc hoàn thành các nhiệm vụ cơ bản, với các mục tiêu cụ thể nhằm nâng cao tính hiệu quả và hiệu suất trong việc đạt được các mục tiêu đã đề ra.
+ Mục tiêu báo cáo: Liên quan đến việc lập các báo cáo tin cậy, kịp thời,
Tổng quan về DN nhỏ và vừa, hiệu quả hoạt động DN
Nguyên tắc 16 yêu cầu các đơn vị phải lựa chọn và thiết lập hệ thống giám sát thường xuyên, định kỳ để đảm bảo các bộ phận kiểm soát nội bộ hoạt động hiệu quả Việc thực hiện giám sát này là cần thiết nhằm nâng cao tính hiệu quả và độ tin cậy của quy trình kiểm soát.
Giám sát thường xuyên là các hoạt động gắn liền với quy trình kinh doanh, được thực hiện đồng thời với các hoạt động trong quy trình Hoạt động này thường do nhà quản lý thực hiện để đảm bảo tính hiệu quả và chất lượng của quy trình.
Giám sát định kỳ là hoạt động do nhân viên độc lập hoặc kiểm toán viên nội bộ thực hiện, nhằm phát hiện nhanh chóng các vấn đề hơn so với giám sát thường xuyên Phạm vi và mức độ thực hiện giám sát định kỳ thường phụ thuộc vào xét đoán của nhà quản lý.
Nguyên tắc 17 yêu cầu các đơn vị phải kịp thời đánh giá và công bố các điểm yếu của kiểm soát nội bộ (KSNB) cho những đối tượng có trách nhiệm như nhà quản lý cấp cao và hội đồng quản trị, nhằm thực hiện các hành động sửa chữa cần thiết Để tuân thủ nguyên tắc này, các đơn vị cần chú ý đến việc đánh giá kết quả hoạt động giám sát thông qua cả giám sát thường xuyên và giám sát định kỳ.
Thông báo về khiếm khuyết trong hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) là một quy trình quan trọng, trong đó các khiếm khuyết thường được báo cáo cho người chịu trách nhiệm sửa chữa và cấp trên của họ Việc này giúp đảm bảo rằng các vấn đề được giải quyết kịp thời và hiệu quả, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý.
+ Giám sát các biện pháp khắc phục, sửa chữa: Nhà quản lý cần theo dõi việc sữa chữa đƣợc thực hiện kịp thời hay không
2 3 ổng quan về nhỏ và vừa, hiệu quả hoạt động DN
2.3.1 Khái niệm DN nhỏ và vừa
Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, thường được gọi là doanh nghiệp vừa và nhỏ, là những doanh nghiệp có quy mô hạn chế về vốn, lao động và doanh thu Chúng được phân loại thành ba loại: doanh nghiệp siêu nhỏ (dưới 10 lao động), doanh nghiệp nhỏ (từ 10 đến dưới 200 lao động và vốn dưới 20 tỷ) và doanh nghiệp vừa (từ 200 đến 300 lao động) Các tiêu chí này được xác định theo nhóm Ngân hàng Thế giới.
Các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa khác nhau giữa các quốc gia, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và quy định cụ thể của từng giai đoạn Chẳng hạn, tại Indonesia, doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định dựa trên số lao động dưới 100 hoặc tổng nguồn vốn trên 0,6 tỷ Rupi Ở Mexico, tiêu chí là số lao động dưới 250 hoặc nguồn vốn dưới 7 triệu USD, trong khi ở Mỹ, doanh nghiệp nhỏ và vừa có số lao động dưới 500 và tổng nguồn vốn dưới 20 triệu USD.
Theo Điều 3 Nghị định 56/2009, doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam được định nghĩa là các cơ sở kinh doanh đã đăng ký theo quy định pháp luật, và được phân loại thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa Sự phân loại này dựa trên quy mô tổng nguồn vốn (tương đương tổng tài sản trong bảng cân đối kế toán) hoặc số lao động bình quân hàng năm, trong đó tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên.
Số lao động Tổng nguồn vốn
Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng
Công nghiệp và xây dựng
Từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng
Thương mại và dịch vụ
Từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng
50 người đến 100 người ( Nguồn: Chính phủ, 2009)
2.3.2 Khái niệm hiệu quả hoạt động của DN
Theo Yamamoto & Watanabe (1989), O'Leary (1996), Nath (2011) cho rằng tính hiệu quả là việc so sánh giữa các nhân tố đầu vào và đầu ra, mục đích chính là
Quản lý các nguồn lực nhằm tối đa hóa kết quả đầu ra với nguồn lực không đổi là một nhiệm vụ quan trọng Theo Yamamoto & Watanabe (1989), tính hiệu quả được xem là trách nhiệm của người quản lý trong việc sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý và hiệu quả khi được giao nhiệm vụ kiểm soát chúng.
Hiệu quả hoạt động là một chỉ số kinh tế quan trọng, phản ánh lợi ích từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc so sánh lợi ích thu được và chi phí bỏ ra Chỉ số này không chỉ thể hiện mức độ phát triển của doanh nghiệp mà còn phản ánh khả năng khai thác nguồn lực để đạt được mục tiêu kinh doanh Đối với các bên liên quan như cổ đông, ban quản trị, chủ nợ, nhà cung cấp và khách hàng, hiệu quả hoạt động là yếu tố quyết định trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh và đầu tư.
2.3.3 Đo lường hiệu quả hoạt động của DN
Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về việc đánh giá và đo lường hiệu quả hoạt động của DN Cụ thể nhƣ:
Nghiên cứu của Nyakundi và các cộng sự (2014) cùng với Zipporah (2015) chỉ ra rằng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có thể được đánh giá thông qua các chỉ số như lợi nhuận, doanh thu, tỷ số tài chính, ROI và ROA.
Theo Karl, M.Z (1991), để đánh giá hiệu quả hoạt động tổng thể của doanh nghiệp, cần đo lường qua 13 chỉ tiêu tài chính, được phân thành 3 nhóm chính: tỷ lệ điều hành, tỷ lệ nợ và tỷ lệ chi phí vốn (tỷ lệ chi phí đầu tư).
Theo Walsh C (2006), để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, cần xem xét các chỉ tiêu sau: nhóm chỉ số thanh khoản, tỷ lệ khả năng thanh toán, tỷ lệ hoạt động và tỷ suất lợi nhuận.
Tương tự, Palepu K.G và cộng sự (1999) đồng quan điểm khi đánh giá hiệu quả hoạt động công ty qua 2 nhóm chỉ tiêu:
Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng sử dụng nguồn lực trong sản xuất kinh doanh bao gồm vòng quay hàng tồn kho, vòng quay vốn lưu động, vòng quay tài sản cố định và vòng quay các khoản phải thu Trong số đó, vòng quay hàng tồn kho và vòng quay các khoản phải thu được xem là hai chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả hoạt động của đơn vị.
27 giá khả năng sử dụng nguồn lực của đơn vị
Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi bao gồm ROA (tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản) và ROE (tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu) Công thức tính toán hai chỉ tiêu này là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản và vốn của doanh nghiệp.
ROA = Lợi nhuận sau thuế × 100 Tổng tài sản
ROE = Lợi nhuận sau thuế × 100 Vốn chủ sở hữu
Các lý thuyết nền có liên quan
2.5.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory)
Lý thuyết đại diện, được phát triển bởi Jensen và Meckling (1976), nghiên cứu các mối quan hệ giữa các bên hợp tác có mục tiêu và phân công lao động khác nhau Trong đó, một bên là người chủ và bên kia là người quản lý doanh nghiệp (người đại diện) Theo định nghĩa của Jensen và Meckling cùng các tác giả khác như Fama và Jensen (1983), mối quan hệ đại diện là hợp đồng trong đó người chủ thuê người khác để thực hiện các hoạt động thay mặt họ Trong doanh nghiệp, điều này thể hiện qua mối quan hệ giữa cổ đông (chủ sở hữu) và người quản lý (người đại diện), với mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho cả hai bên.
Quản trị doanh nghiệp (DN) là yếu tố quan trọng giúp đồng bộ hóa lợi ích và chia sẻ rủi ro giữa các thành viên (Hart, 1995) Cơ chế quản trị DN được phân thành hai loại: cơ chế nội bộ và cơ chế bên ngoài (Gillan, 2006; Rezaee, 2007) Cơ chế nội bộ bao gồm các thành viên hội đồng quản trị, ban giám đốc điều hành, kiểm soát nội bộ và các chức năng kiểm toán nội bộ Ngược lại, cơ chế bên ngoài liên quan đến thị trường vốn, thị trường lao động, tình trạng nhà nước, chủ sở hữu chứng khoán và hoạt động đầu tư (Nguyễn Tuấn và ctg, 2015).
Chất lượng cơ chế quản trị nội bộ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Kiểm soát nội bộ (KSNB) là một trong những cơ chế giúp doanh nghiệp quản lý tốt xung đột lợi ích, chia sẻ rủi ro và cải thiện hiệu suất làm việc.
Tác giả áp dụng mô hình trong luận văn để giải thích rằng việc quản trị hiệu quả thông qua kiểm soát nội bộ (KSNB) giúp tiết kiệm chi phí và tối ưu hóa nguồn lực, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của toàn doanh nghiệp.
2.5.2 Lý thuyết đối phó ngẫu nhiên (Contingency theory)
Các lý thuyết phù hợp giữa cơ cấu tổ chức và các biến theo ngữ cảnh đƣợc gọi chung là lý thuyết đối phó ngẫu nhiên
Lý thuyết đối phó ngẫu nhiên đã thu hút sự chú ý của nhiều tác giả với những cách giải thích đa dạng Theo Fiedler (1964), quản lý doanh nghiệp tối ưu phải chịu áp lực từ các yếu tố nội bộ và bên ngoài Scott (1992) nhấn mạnh rằng cách tổ chức tốt nhất phụ thuộc vào môi trường tổ chức hoạt động của doanh nghiệp Galbraith (1973) cho rằng tính hiệu quả của các chính sách phụ thuộc vào điều kiện thực hiện tại doanh nghiệp Nghiên cứu của Drazin và Van De Ven (1985) chỉ ra rằng bối cảnh và cơ cấu tổ chức cần phải phù hợp để hoạt động hiệu quả Donaldson (2001) đã có những đóng góp sớm trong lý thuyết tổ chức với ba nhân tố cốt lõi trong mô hình nghiên cứu KSNB: kết nối giữa đặc điểm đối phó ngẫu nhiên và cấu trúc KSNB, cùng với việc đặc điểm này xác định cấu trúc.
30 trúc KSNB; (iii) Có sự phù hợp về mức độ của cấu trúc KSNB với mỗi cấp độ của đặc tính đối phó ngẫu nhiên
Các khuôn khổ về Kiểm soát nội bộ (KSNB) nhấn mạnh rằng sự cần thiết của KSNB có sự khác biệt tùy thuộc vào đặc điểm tổ chức của từng doanh nghiệp Sự khác biệt này xuất phát từ quy mô doanh nghiệp, văn hóa, triết lý quản lý, mục tiêu của doanh nghiệp và môi trường hoạt động mà doanh nghiệp đang hoạt động (Lakis & Giriunas, 2012).
Tác giả áp dụng lý thuyết vào nghiên cứu để giải thích sự đa dạng trong hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) thực tế Mỗi doanh nghiệp (DN) lựa chọn hệ thống kiểm soát phù hợp bằng cách xem xét các đặc điểm ngẫu nhiên Tác giả kỳ vọng rằng các DN nhỏ và vừa tại từng tỉnh sẽ xây dựng hệ thống KSNB hiệu quả, tương thích với quy mô, mục tiêu và văn hóa riêng của từng DN, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.
Trong chương 2, tác giả trình bày các lý thuyết cơ bản về hệ thống Kiểm soát Nội bộ (KSNB) theo tiêu chuẩn COSO 2013 Tác giả tập trung phân tích chi tiết các thành phần cấu thành hệ thống KSNB dựa trên khuôn mẫu Báo cáo COSO.
Trong chương này, tác giả trình bày các lý thuyết liên quan đến nghiên cứu, bao gồm lý thuyết đại diện và lý thuyết đối phó ngẫu nhiên, nhằm xây dựng nền tảng lý thuyết cho mô hình và giả thuyết nghiên cứu Kết quả tìm hiểu giúp tác giả xác định các thang đo cho biến phụ thuộc và biến độc lập trong mô hình nghiên cứu Biến độc lập bao gồm 5 nhân tố cấu thành hệ thống KSNB theo khuôn mẫu COSO 2013: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát; trong khi biến phụ thuộc là hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Khung nghiên cứu luận văn
Hình 3.1 Khung nghiên cứu luận văn
( Nguồn: Tác giả thiết kế )
Dựa trên lý thuyết về hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, tác giả đã thiết kế một mô hình nghiên cứu nhằm phân tích ảnh hưởng của các yếu tố liên quan.
Thảo luận kết quả và đƣa ra hàm ý quản trị
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu trước
Thiết kế mô hình nghiên cứu và bảng câu hỏi khảo sát thử
Nghiên cứu định tính Thảo luận với chuyên gia chuychuyên
- Phân tích nhân tố EFA
- Phân tích thống kê mô tả
- Phân tích hệ số tương quan (Correlation)
- Phân tích hồi quy Bảng câu hỏi chính thức
Mô hình nghiên cứu và giả thuyết
Bài viết phân tích mối quan hệ giữa cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Dựa trên lý thuyết báo cáo COSO 2013, tác giả thiết kế bảng câu hỏi khảo sát thử liên quan đến năm biến độc lập tương ứng với năm bộ phận cấu thành hệ thống KSNB Bảng câu hỏi này được gửi tới nhóm chuyên gia, bao gồm giảng viên đại học, kiểm toán viên và nhà quản lý doanh nghiệp, để thu thập ý kiến phản hồi về tính dễ hiểu và sự phù hợp của các câu hỏi và thang đo Sau khi điều chỉnh dựa trên góp ý, bảng khảo sát chính thức được gửi tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng qua hình thức trực tiếp và email Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0, tiến hành kiểm định độ tin cậy bằng Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Kết quả từ mô hình hồi quy đa biến sẽ cho thấy tác động của từng biến độc lập đến biến phụ thuộc, từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
3.2 ô hình nghiên cứu và giả thuyết
Dựa trên khuôn mẫu KSNB 2013 và các nghiên cứu thực nghiệm trước đó của Fanta, A.B và Zipporah Njoki, tác giả nhận thấy mô hình nghiên cứu phù hợp với nghiên cứu của mình Do đó, tác giả đã kế thừa và phát triển mô hình nghiên cứu để phân tích ảnh hưởng của KSNB đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng.
Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu trước)
Từ mô hình nghiên cứu, tác giả xây dựng các giả thuyết nghiên cứu cụ thể nhƣ sau:
H 1 : Môi trường kiểm soát có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động củacác DN nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
H 2 : Đánh giá rủi ro có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của các
DN nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
H 3 : Hoạt động kiểm soát đến có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
H 4 : Thông tin và truyền thông có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
H 5 : Giám sát có ảnh hưởng tích cực đến đến hiệu quả hoạt động của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Môi trường kiểm soát (+) Đánh giá rủi ro (+)
Thông tin và truyền thông (+)
Xây dựng thang đo và thiết kế bảng câu hỏi
Trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng thang đo Likert 5 điểm (Nguyễn Đình Thọ, 2011) để thu thập dữ liệu sơ cấp từ bảng câu hỏi khảo sát Thang đo này được sử dụng để đánh giá 5 nhân tố KSNB với các mức độ từ “Không đồng ý” = 1, “Ít đồng ý” = 2, “Bình thường” = 3, đến “Đồng ý nhiều” = 4.
Bảng câu hỏi khảo sát gồm 26 câu hỏi tương ứng với 26 biến quan sát, nhằm giải thích 5 nhân tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) Các biến này được xác định dựa trên nội dung 5 thành phần KSNB theo báo cáo COSO năm 1992, được cập nhật thành 17 nguyên tắc trong COSO 2013 Sau khi hoàn thành thiết kế, bảng câu hỏi đã được thử nghiệm thông qua ý kiến của 6 chuyên gia, bao gồm 3 giám đốc công ty nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng, 2 kiểm toán viên và 1 giảng viên đại học chuyên ngành kế toán.
Để thu thập ý kiến chính xác và đầy đủ cho bảng khảo sát thử, tác giả đã thảo luận với 6 chuyên gia am hiểu về kế toán và kiểm toán, đặc biệt là trong thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp Mục tiêu của các cuộc thảo luận là đánh giá tính dễ hiểu và độ chính xác của các thang đo mà tác giả đề xuất, đồng thời nhận được những góp ý quý báu nhằm hoàn thiện bảng câu hỏi khảo sát.
Kết quả khảo sát cho thấy đa số chuyên gia đồng ý với bảng hỏi, nhưng một số ý kiến cho rằng một số câu hỏi có nhiều ý cùng lúc gây khó khăn cho người trả lời Tác giả nên tách các câu hỏi ra thành từng ý riêng biệt hoặc loại bỏ những ý trùng lặp Ngoài ra, cần xem xét loại bỏ một số biến quan sát trùng lặp và bổ sung thêm biến quan sát khác Cuối cùng, bảng câu hỏi sẽ được chỉnh sửa dựa trên ý kiến đóng góp của chuyên gia để hoàn thiện hơn.
Bài khảo sát chính thức bao gồm 35 câu hỏi nhằm thu thập và xử lý dữ liệu một cách hiệu quả Các biến quan sát đo lường hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) sẽ được mã hóa tương ứng với các yếu tố cấu thành hệ thống này.
Nhân tố môi trường kiểm soát (CE) được đánh giá thông qua 7 biến quan sát từ CE1 đến CE7, dựa trên 5 nguyên tắc của COSO 2013 Các nguyên tắc này bao gồm nguyên tắc 1, 2, 3, 4 và 5, tạo nên cơ sở vững chắc cho việc thiết lập và duy trì một môi trường kiểm soát hiệu quả.
CE1 Nhà quản lý thiết lập các chuẩn mực đạo đức và phổ biến đến tất cả các thành viên trong DN (dựa vào nguyên tắc 1)
CE2 Thông tin về sự không tuân thủ đƣợc báo cáo một cách kịp thời (dựa vào nguyên tắc 1)
CE3 Nhà quản lý phân công chuyên môn phù hợp cho các nhân viên trong
DN (dựa vào nguyên tắc 2)
CE4 Nhà quản lý phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn cho mọi thành viên trong DN (dựa vào nguyên tắc 3)
CE5 DN có các chính sách thu hút, phát triển và giữ chân các nhân viên có năng lực (dựa vào nguyên tắc 4)
Nhà quản lý cần thiết kế các báo cáo phù hợp theo nguyên tắc 3, nhằm đảm bảo thông tin được truyền đạt hiệu quả Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần tổ chức đánh giá hiệu quả công việc, áp dụng các hình thức khen thưởng và kỷ luật theo nguyên tắc 5 để thúc đẩy động lực làm việc của nhân viên.
Nhân tố đánh giá rủi ro (RA) được đo lường thông qua 5 biến quan sát từ RA1 đến RA5, dựa trên 4 nguyên tắc của COSO 2013, cụ thể là nguyên tắc 6, 7, 8 và 9.
Để đạt được hiệu quả cao trong quản lý, DN cần xác định mục tiêu một cách cụ thể và rõ ràng, tuân theo nguyên tắc 6 Đồng thời, nhà quản lý cũng phải thường xuyên phân tích và đánh giá các rủi ro từ cả bên trong lẫn bên ngoài, dựa trên nguyên tắc 7.
RA3 Nhà quản lý ƣớc tính mức trọng yếu của các rủi ro đƣợc nhận diện.( dựa vào nguyên tắc 7)
RA4 DN cân nhắc khả năng có gian lận và sai sót trong đánh giá rủi ro (dựa vào nguyên tắc 8)
DN cần thường xuyên nhận diện và đánh giá các yếu tố bên ngoài và bên trong có thể tác động đến việc đạt được các mục tiêu của mình, theo nguyên tắc 9 Việc này giúp DN duy trì sự linh hoạt và điều chỉnh chiến lược kịp thời trước những thay đổi.
Nhân tố hoạt động kiểm soát (CA) được đánh giá thông qua 5 biến quan sát từ CA1 đến CA5, được xây dựng dựa trên ba nguyên tắc của COSO 2013, cụ thể là nguyên tắc 10, 11 và 12.
CA1 Nhà quản lý xác định các quy trình kinh doanh chủ chốt của đơn vị cần kiểm soát (dựa vào nguyên tắc 10)
CA2 Các hoạt động kiểm soát đƣợc thiết lập phù hợp ở các cấp trong đơn vị.(dựa vào nguyên tắc 10)
CA3 DN cần thiết lập các hoạt động kiểm soát công nghệ nhằm bảo mật thông tin và quản lý việc truy cập vào phần mềm, dữ liệu, báo cáo cũng như thay đổi hệ thống, dựa trên nguyên tắc 11.
Nhà quản lý cần xác định rõ ràng phạm vi trách nhiệm và giải trình của các bên liên quan trong việc thực hiện chính sách và thủ tục kiểm soát, dựa trên nguyên tắc 12.
Nhà quản lý cần thực hiện việc đánh giá định kỳ các chính sách và thủ tục kiểm soát để đảm bảo chúng luôn phù hợp và hiệu quả, theo nguyên tắc 12 Việc này giúp tổ chức kịp thời điều chỉnh các quy định khi cần thiết, nhằm nâng cao hiệu suất hoạt động và đáp ứng tốt hơn với các thay đổi trong môi trường kinh doanh.
Nhân tố thông tin và truyền thông (IC) được đánh giá qua 5 biến quan sát từ IC1 đến IC5, dựa trên 3 nguyên tắc của COSO 2013, cụ thể là nguyên tắc 13, 14 và 15.
Chọn mẫu
DN nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng được nghiên cứu với việc sử dụng Ln(ROA) và Ln(ROE) nhằm tăng cường tính tương quan giữa biến phụ thuộc và biến độc lập Thang đo KSNB được áp dụng theo thang Likert từ 1-5, trong khi thang đo ROA và ROE có giá trị từ 0 đến vô cực Việc sử dụng Ln giúp cải thiện kỳ vọng kết quả của mô hình nghiên cứu.
3.4 ô hình hồi quy tổng quát
Từ việc xây dựng và phân tích các biến sử dụng trong mô hình, tác giả đƣa ra
Hai mô hình hồi quy được sử dụng để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng Nghiên cứu này nhằm cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa KSNB và hiệu suất của các DN, từ đó đưa ra những khuyến nghị cải thiện hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả hoạt động ( LnROA ) = ò 0 +ò 1 *CE+ò 2 *RA+ò 3 *CA+ò 4 *IC+ò 5 *MA+e Hiệu quả hoạt động ( LnROE ) = ò 0 +ò 1 *CE+ò 2 *RA+ò 3 *CA+ò 4 *IC+ò 5 *MA+e
Trong đó: LnROA, LnROE là biến phụ thuộc, 5 biến độc lập là CE, RA, CA,
ROA: lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản
ROE: Lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu
CE : Môi trường kiểm soát
RA : Đánh giá rủi ro
CA: Hoạt động kiểm soát
IC: Thông tin và truyền thông
Tác giả áp dụng hai mô hình nghiên cứu với chỉ tiêu ROA và ROE nhằm làm rõ tác động của các yếu tố trong hệ thống kiểm soát nội bộ đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng.
3.5.1 Xác định kích thước mẫu
Theo Tabachnick & Fidell (1996), để đạt được kết quả tối ưu trong phân tích hồi quy, kích thước mẫu cần thỏa mãn công thức n >= 8m + 50, trong đó n là kích thước mẫu tối thiểu và m là số biến độc lập Với 5 biến độc lập trong nghiên cứu, kích thước mẫu tối thiểu cần thiết là 90 mẫu (8*5 + 50) Đối với phân tích nhân tố khám phá EFA, việc tuân thủ quy định này là rất quan trọng.
Kích thước mẫu trong nghiên cứu nên đạt ít nhất 5 lần số biến quan sát (Hair & ctg, 1998) hoặc tối thiểu 4 đến 5 lần số biến trong phân tích nhân tố (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2005) Theo đó, công thức tính kích thước mẫu là n.
Để đảm bảo tính chính xác trong phân tích EFA, kích thước mẫu tối thiểu cần đạt là 5*m, với n là kích thước mẫu và m là số biến thang đo Cụ thể, với m = 260, cỡ mẫu tối thiểu sẽ là 130 Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng mẫu nghiên cứu chính thức n = 160, đáp ứng yêu cầu cho cả phân tích EFA và hồi quy bội.
3.5.2 Phương pháp chọn mẫu và thu thập dữ liệu a Phương pháp chọn mẫu:
Trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, một hình thức chọn mẫu phi xác suất, cho phép nhà nghiên cứu tiếp cận các phần tử mẫu một cách dễ dàng (Nguyễn Đình Thọ, 2011) Để tránh tình trạng bảng trả lời không hợp lệ làm giảm số lượng mẫu khảo sát, tác giả đã gửi bảng khảo sát đến 190 doanh nghiệp nhỏ và vừa, với mỗi doanh nghiệp nhận một bảng khảo sát.
Dữ liệu trong nghiên cứu bao gồm dữ liệu sơ cấp và thứ cấp Đối với dữ liệu sơ cấp, tác giả sử dụng phương pháp khảo sát với bảng câu hỏi được thiết kế gửi trực tiếp hoặc qua email đến nhân viên kế toán và nhà quản lý các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng Mỗi doanh nghiệp chỉ định một đại diện từ ban giám đốc, trưởng hoặc phó phòng ban, hoặc nhân viên kế toán để tham gia khảo sát Mục đích của dữ liệu sơ cấp là để đo lường các biến của nhân tố độc lập Về dữ liệu thứ cấp, tác giả thu thập thông qua báo cáo tài chính của các doanh nghiệp trong mẫu, bao gồm cả một số dữ liệu do chính doanh nghiệp khảo sát cung cấp.
40 cung cấp, một số thông qua cơ quan cục thuế tỉnh Lâm Đồng cung cấp Dữ liệu thứ cấp nhằm đo lường các biến của nhân tố phụ thuộc
Quá trình thu thập dữ liệu của tác giả kéo dài 2,5 tháng, trong đó dữ liệu báo cáo tài chính của các doanh nghiệp năm 2016 được sử dụng do các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có báo cáo tài chính năm 2017 Dữ liệu sơ cấp được khảo sát vào năm 2017, thời điểm tác giả thực hiện đề tài Tác giả nhận thấy rằng khoảng thời gian khảo sát và thời gian đo lường hiệu quả hoạt động là phù hợp, đáp ứng yêu cầu về dữ liệu cho nghiên cứu.
3.6 hương pháp xử lý dữ liệu
Sau khi thu thập, dữ liệu đƣợc tiến hành xử lý theo trình tự sau:
Bước đầu tiên trong quá trình phân tích là loại bỏ các bảng có câu trả lời trùng lặp và những bảng không trả lời đầy đủ câu hỏi, dẫn đến việc còn lại 161 bảng Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích, tác giả đã quyết định loại bỏ thêm một bảng khảo sát từ các doanh nghiệp siêu nhỏ, kết quả cuối cùng là 160 bảng khảo sát hợp lệ được đưa vào phân tích.
Tác giả tiến hành mã hóa dữ liệu và nhập dữ liệu thô vào phần mềm Microsoft Excel, sau đó chuyển các dữ liệu này vào phần mềm SPSS 20.0 để thực hiện phân tích.
Để đánh giá độ tin cậy của thang đo, cần sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha Sau khi có kết quả từ bước này, tiếp theo là đánh giá giá trị của thang đo thông qua phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA.
Bước 5: Sử dụng kết quả từ bước 4 để thực hiện phân tích hồi quy đa biến, nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Trong chương 3, tác giả đã trình bày phương pháp nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng Tác giả đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu, cùng với tóm tắt quy trình xây dựng bảng câu hỏi, phương pháp chọn mẫu và thu thập dữ liệu Sau khi hoàn tất việc thu thập và xử lý dữ liệu, tác giả đã tiến hành đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo.
Nghiên cứu sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, kết hợp với thống kê mô tả để đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Lâm Đồng Tác giả cũng xây dựng ma trận tương quan giữa các biến và thực hiện mô hình hồi quy đa biến nhằm xác định mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tỉnh Lâm Đồng.
HƯƠ G 4: K T QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
4.1 hực trạng hoạt động kinh doanh của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Lâm ồng
Kết quả nghiên cứu theo phương pháp định lượng
Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Lâm Đồng đang gặp khó khăn do phẩm chất sản phẩm thấp và năng lực cạnh tranh kém, cùng với tình trạng thiếu vốn mở rộng sản xuất Hầu hết các doanh nghiệp chưa đủ uy tín trong kinh doanh, trong khi hơn 60% doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và thương mại Nhiều doanh nghiệp phải thuê đất từ các tổ chức nhà nước với giá cao nhưng không thể đầu tư dài hạn do thiếu đảm bảo pháp lý Hơn nữa, khả năng tiếp cận thị trường nước ngoài của các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn hạn chế do sản phẩm sản xuất ra manh mún, chất lượng thấp và không ổn định, chủ yếu phục vụ tiêu dùng nội địa.
4 2 ết quả hiệu chỉnh thang đo sau khi phỏng vấn chuyên gia
Sau khi thảo luận với các chuyên gia, ý kiến chung cho thấy sự đồng thuận về các biến quan sát trong hệ thống KSNB mà tác giả đề xuất Tuy nhiên, các chuyên gia khuyến nghị tác giả cần loại bỏ một số biến quan sát và bổ sung thêm để tránh trùng lặp nội dung Ngoài ra, nhiều câu hỏi trong khảo sát chứa quá nhiều ý, gây khó khăn cho người trả lời, vì vậy cần rút gọn và đơn giản hóa Cuối cùng, tác giả đã điều chỉnh thang đo cho biến độc lập, biến phụ thuộc và hoàn thiện bảng khảo sát chính thức dựa trên ý kiến của các chuyên gia.
Biến độc lập bao gồm 26 câu hỏi tương ứng với 26 biến quan sát, giải thích 5 nhân tố cấu thành hệ thống Kiểm soát Nội bộ (KSNB) theo COSO 2013, bao gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, cùng với giám sát (Xem phụ lục 3 – Phiếu khảo sát).
Biến phụ thuộc được xác định qua hai chỉ số quan trọng là lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), dựa trên các thông tin từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
4.3 ết quả nghiên cứu theo phương pháp định lượng
4.3.1 Thống kê mô tả mẫu
- Thống kê mẫu theo nguồn vốn của doanh nghiệp ảng 4 3 guồn vốn của các doanh nghiệp tham gia khảo sát
STT Nguồn vốn DN Số lƣợng DN Tỷ lệ ( %)
(Nguồn: Dữ liệu khảo sát của tác giả)
- Thống kê mẫu theo loại hình doanh nghiệp ảng 4 4 Loại hình công ty của các doanh nghiệp tham gia khảo sát
STT Loại hình doanh nghiệp Số lƣợng DN Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Dữ liệu khảo sát của tác giả)
- Thống kê mẫu theo số lƣợng lao động ảng 4 5 Số lƣợng lao động của các tham gia khảo sát
STT Số lao động trong DN Số lƣợng DN Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Dữ liệu khảo sát của tác giả)
- Thống kê mẫu theo thời gian hoạt động ảng 4 6 hời gian hoạt động của các tham gia khảo sát
STT Thời gian hoạt động Số lƣợng DN Tỷ lệ ( %)
(Nguồn: Dữ liệu khảo sát của tác giả) 4.3.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha
4.3.2.1 Đánh giá độ tin cậy thang đo của nhân tố Môi trường kiểm soát ảng 4 7 ết quả đánh giá độ tin cậy thang đo nhân tố ôi trường kiểm soát
Trung bình thang đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Thang đo Môi trường kiểm soát (CE), Cronbach’s Alpha=0.839
(Nguồn: Kết quả phân tích từ phần mềm SPSS 20.0)
Kết quả kiểm tra độ tin cậy của thang đo nhân tố Môi trường kiểm soát cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0,839, vượt mức tối thiểu 0,6 Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến – tổng lớn hơn 0,3 Hơn nữa, hệ số Cronbach’s Alpha nếu loại biến quan sát đều nhỏ hơn 0,839, cho thấy thang đo này có độ tin cậy cần thiết (Xem phụ lục 5)
4.3.2.2 Đánh giá độ tin cậy thang đo của nhân tố Đánh giá rủi ro ảng 4 8 ết quả đánh giá độ tin cậy thang đo nhân tố ánh giá rủi ro
Trung bình thang đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Alpha nếu loại biến Thang đo Đánh giá rủi ro (RA), Cronbach’salpha= 0.788
(Nguồn: Kết quả phân tích từ phần mềm SPSS 20.0)
Thang đo đánh giá rủi ro có độ tin cậy cao với hệ số Cronbach’s alpha đạt 0,788, vượt mức tối thiểu 0,6 Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến – tổng lớn hơn 0,3, và hệ số Cronbach’s Alpha nếu loại biến quan sát cũng nhỏ hơn 0,788 Do đó, thang đo này đáp ứng yêu cầu về độ tin cậy cần thiết (Xem phụ lục 5)
4.3.2.3 Đánh giá độ tin cậy thang đo của nhân tố Hoạt động kiểm soát
Bảng 4.9 Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo nhân tố Hoạt động kiểm soát
Trung bình thang đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Thang đo Hoạt động kiểm soát (CA), Cronbach’salpha= 0.810
(Nguồn: Kết quả phân tích từ phần mềm SPSS 20.0)
Thang đo hoạt động kiểm soát đạt độ tin cậy cao với hệ số Cronbach’s alpha là 0,810, vượt ngưỡng 0,6 Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến – tổng lớn hơn 0,3 Hệ số Cronbach’s Alpha nếu loại từng biến quan sát đều nhỏ hơn 0,810, chứng tỏ thang đo này thỏa mãn yêu cầu về độ tin cậy (Xem phụ lục 5)
4.3.2.4 Đánh giá độ tin cậy thang đo của nhân tố Thông tin và truyền thông ảng 4 10 ết quả đánh giá độ tin cậy thang đo nhân tố Thông tin và truyền thông
Trung bình thang đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Thang đo Thông tin và truyền thông (IC), Cronbach’s alpha= 0.772
(Nguồn: Kết quả phân tích từ phần mềm SPSS 20.0)
Kết quả phân tích cho thấy thang đo nhân tố thông tin và truyền thông có hệ số Cronbach’s alpha đạt 0,772, vượt qua ngưỡng 0,6, đồng thời tất cả các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến – tổng lớn hơn 0,3 Hệ số Cronbach’s Alpha nếu loại bất kỳ biến quan sát nào đều nhỏ hơn hệ số Cronbach’s Alpha tổng là 0,772.
Vì vậy, thang đo thông tin và truyền thông có độ tin cậy cần thiết (Xem phụ lục 5)
4.3.2.5 Đánh giá độ tin cậy thang đo của nhân tố Giám sát ảng 4 11 ết quả đánh giá độ tin cậy thang đo nhân tố Giám sát
Trung bình thang đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Thang đo Giám sát (MA), Cronbach’s alpha= 0.687
(Nguồn: Kết quả phân tích từ phần mềm SPSS 20.0)
Thang đo giám sát có hệ số Cronbach’s alpha là 0,687, vượt ngưỡng 0,6, với tất cả các biến quan sát có hệ số tương quan biến - tổng lớn hơn 0,3 Hệ số Cronbach’s Alpha nếu loại biến quan sát đều nhỏ hơn 0,687, cho thấy thang đo này đạt độ tin cậy cần thiết Tóm lại, phân tích hệ số Cronbach Alpha cho thấy tất cả các thành phần nhân tố của hệ thống KSNB đều có hệ số tin cậy lớn hơn 0,6, cho phép 26 biến được đưa vào phân tích nhân tố tiếp theo.
4.3.3 Đánh giá giá trị thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá EFA Để đánh giá sự phù hợp của phân tích nhân tố khám phá, chỉ số KMO (Kaiser- Mayer – Olkin) phải từ 0.5 trở lên và giả thuyết về ma trận tương quan tổng thể là ma trận đồng nhất bị bác bỏ, tức là các biến có tương quan với nhau Các biến có hệ số chuyển tải nhỏ hơn 0.5 sẽ bị loại (tùy theo trường hợp cụ thể), điểm dừng khi trích các yếu tố có Eingenvalue là lớn hơn hoặc bằng 1, thang đo đƣợc chấp nhận khi tổng phương sai trích bằng hoặc lớn hơn 50 Phương pháp trích Principal Components Analysis với phép xoay Varimax (Orthogonal) đƣợc sử dụng trong phân tích nhân tố khám phá để tối thiểu hóa số lƣợng biến có hệ số lớn tại cùng một nhân tố (Nguyễn Đình Thọ, 2011)
Bảng 4.12 Kiểm định điều kiện thực hiện của EFA
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling
51 ảng 4.13 ảng ma trận nhân tố sau khi xoay
Kết quả kiểm định KMO và Bartlett's cho thấy hệ số KMO đạt 0.893, vượt mức 0.50, với Sig = 0.000, thể hiện mức ý nghĩa cao, cho thấy phân tích nhân tố là phù hợp Từ 26 biến quan sát, có thể rút ra 6 nhân tố dựa trên tiêu chí Eigenvalue > 1, với tổng phương sai giải thích đạt 60.79%, vượt qua ngưỡng 50% Điều này chứng tỏ rằng các thang đo này giải thích tốt khái niệm các thành phần.
Kết quả ở bảng 4.13 cho thấy có sự tồn tại của các biến trong các thang đo với mức tải nhân tố dưới 0,5, bao gồm CA3, IC4 và MA3, do đó cần loại bỏ các biến quan sát này Biến RA2 có hệ số tải lần lượt là 0.556 và 0.614 ở cả hai nhóm, với giá trị phân biệt dưới 0.3 Tuy nhiên, do đóng góp của biến này vào giá trị nội dung của nhân tố, tác giả quyết định giữ lại biến RA2 để tiếp tục phân tích EFA.
Bảng 4.14 Kiểm định điều kiện thực hiện của EFA sau khi loại biến
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling
(Nguồn: Kết quả phân tích từ phần mềm SPSS 20.0 ) ảng 4.15 ảng ma trận nhân tố sau khi xoay sau khi loại biến
(Nguồn: Kết quả phân tích từ phần mềm SPSS 20.0)
Bàn luận
4.4.1 Bàn luận về thực trạng hệ thống KSNB tại các DN nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Kết quả thống kê cho thấy rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng đã xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) tương đối tốt, mặc dù chưa hoàn thiện và đầy đủ Hầu hết các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB được đánh giá ở mức khá, với giá trị trung bình khoảng 4/5 Tuy nhiên, qua phân tích bảng thống kê, có thể nhận thấy rằng trong từng thành phần của hệ thống KSNB vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần khắc phục.
Môi trường kiểm soát tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh Lâm Đồng đã được xây dựng tương đối đầy đủ, với sự phân công chuyên môn hợp lý và báo cáo kịp thời các hành vi không tuân thủ Tuy nhiên, chính sách nhân sự để thu hút, phát triển và giữ chân nhân viên có trình độ vẫn chưa được chú trọng, chủ yếu do quy mô nhỏ và nguồn vốn hạn chế Mặc dù các nhà quản lý đã quan tâm đến việc khuyến khích và khen thưởng dựa trên hiệu quả công việc, nhưng mức độ quan tâm chưa đủ để phát huy tinh thần làm việc của nhân viên Điều này dẫn đến tình trạng một số nhân viên không được đền đáp xứng đáng cho nỗ lực của họ, trong khi các hành vi vi phạm không được xử lý kịp thời, gây ra sự bất mãn Kết quả khảo sát cho thấy các doanh nghiệp đang cố gắng xây dựng văn hóa doanh nghiệp nhằm nâng cao tính chính trực và giá trị đạo đức, nhưng việc truyền đạt các yêu cầu về đạo đức vẫn chưa được chú trọng, khiến nhân viên không hiểu rõ hậu quả của hành động của mình.
Tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh Lâm Đồng, việc phân tích và xác định các rủi ro nội bộ và ngoại vi vẫn chưa được chú trọng đúng mức Trong bối cảnh hiện nay, môi trường kinh doanh liên tục thay đổi, chịu ảnh hưởng từ các yếu tố như kinh tế, công nghệ, thông tin và pháp luật, tạo ra áp lực cạnh tranh ngày càng lớn.
Việc phân tích và xác định rủi ro là rất cần thiết để các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Lâm Đồng thích ứng và tồn tại, nhưng hiện tại họ chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề này, dẫn đến sự thụ động trong kinh doanh và ảnh hưởng đến mục tiêu tổ chức Đặc biệt, rủi ro nội bộ khi thay đổi nhân sự mới cần được chú trọng, vì số lượng nhân viên ít và thường kiêm nhiệm Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa chú ý đến vấn đề này do trình độ quản lý còn hạn chế và thiếu kinh nghiệm Hơn nữa, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường tập trung vào lợi nhuận hiện tại mà không chú trọng đến sự tăng trưởng lâu dài Dù vậy, họ đã xác định mục tiêu cụ thể và cân nhắc khả năng có gian lận và sai sót trong đánh giá rủi ro.
Nhân tố Hoạt động kiểm soát cũng khá đƣợc quan tâm xây dựng trong các
Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng đã thiết lập các thủ tục kiểm soát để xác định rõ trách nhiệm của cá nhân trong việc thực hiện các chính sách Tuy nhiên, khảo sát cho thấy hoạt động kiểm soát hệ thống máy tính của các doanh nghiệp này chưa hiệu quả Mặc dù họ sử dụng máy tính cho hạch toán kế toán và lập báo cáo tài chính, nhưng với số lượng nhân viên kế toán ít, họ phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau và không sử dụng mật khẩu truy cập Điều này gây khó khăn trong việc kiểm soát thông tin và dữ liệu kế toán.
Các doanh nghiệp (DN) không phân quyền rõ ràng cho việc xem, sửa, xóa và thêm thông tin, đồng thời không thiết kế các chức năng hỗ trợ, dẫn đến khó khăn trong việc kiểm tra và phát hiện sai sót cũng như gian lận Điều này cũng ảnh hưởng đến trách nhiệm của các cá nhân liên quan Hơn nữa, tại các DN nhỏ và vừa ở Lâm Đồng, việc thiết lập các thủ tục kiểm soát nhà nước là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý.
Nhiều quản lý thường thiếu tính khách quan và không thường xuyên xem xét, đánh giá lại các chính sách và thủ tục kiểm soát, dẫn đến việc không kịp thời điều chỉnh khi cần thiết.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng đang chú trọng xây dựng hệ thống thông tin và truyền thông Tuy nhiên, họ chưa quan tâm đúng mức đến các thông tin từ bên ngoài như phản hồi của khách hàng, nhà cung cấp và kết quả kiểm tra của các cơ quan quản lý Nguyên nhân có thể là do nhận thức của nhà quản lý chưa đầy đủ về tầm quan trọng của kênh thông tin này.
Nhân tố giám sát trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng đã được xây dựng nhưng chưa đầy đủ Mặc dù nhà quản lý đã thực hiện một số hoạt động giám sát để phát hiện khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ, hoạt động giám sát thường xuyên chủ yếu chỉ thông qua việc trao đổi thông tin phản hồi với nhân viên, trong khi giám sát định kỳ chưa được chú trọng Điều này dẫn đến khó khăn trong việc phát hiện và điều chỉnh kịp thời các gian lận hay sai phạm khi có biến động bất thường Hơn nữa, nhà quản lý chưa chú trọng đến việc theo dõi các hành động sửa chữa và đánh giá kết quả thực hiện của cá nhân, có thể do sự chủ quan và thiếu sự theo dõi thường xuyên để giải quyết triệt để các vấn đề tồn tại.
4.4.2 Bàn luận về kết quả tác động của từng nhân tố trong hệ thống KSNB đến hiệu quả hoạt động của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Kết quả phân tích hồi quy chỉ ra rằng có 5 nhân tố trong hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng, với tất cả đều tác động cùng chiều đến các chỉ tiêu ROA và ROE Cụ thể, đối với chỉ tiêu ROA, mức độ tác động giảm dần theo thứ tự là Môi trường kiểm soát, thông tin và truyền thông, hoạt động kiểm soát, đánh giá rủi ro và giám sát Trong khi đó, đối với chỉ tiêu ROE, thứ tự tác động giảm dần là Môi trường kiểm soát, hoạt động kiểm soát, đánh giá rủi ro, thông tin và truyền thông, giám sát Kết quả hồi quy đa biến cũng cho thấy
Hệ số R² hiệu chỉnh trong nghiên cứu cho thấy hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) giải thích từ 74.4% đến 96.5% sự thay đổi hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Lâm Đồng, dựa trên hai chỉ tiêu là ROE và ROA Phần còn lại của sự thay đổi hiệu quả hoạt động được giải thích bởi các nhân tố khác.
Kết quả phân tích cho thấy cả 5 nhân tố của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) đều ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (DN), tương tự như các nghiên cứu trước đây Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu được thực hiện ở các quốc gia và địa bàn khác nhau với quy mô khác nhau, nên có sự khác biệt về chiều tác động của một số nhân tố giữa nghiên cứu này và các nghiên cứu trước đó.
Nghiên cứu của Zipporah (2015) đã phân tích tác động của các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp sản xuất tại Nairobi, Kenya, với hiệu quả tài chính được đo lường qua tỷ lệ sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) Kết quả cho thấy có mối quan hệ thống kê đáng kể giữa các yếu tố KSNB và hiệu quả tài chính, trong đó các yếu tố như môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, thông tin và truyền thông, hoạt động kiểm soát đều có ảnh hưởng tích cực, trong khi yếu tố giám sát lại có tác động tiêu cực.
Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Nga (2016) phân tích tác động của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thương mại nhỏ và vừa tại tỉnh Vĩnh Long Kết quả cho thấy bốn yếu tố: môi trường kiểm soát, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động, trong khi yếu tố đánh giá rủi ro lại có tác động tiêu cực.
Kiến nghị hàm ý quản trị
Kết quả hồi quy cho thấy các yếu tố trong hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Lâm Đồng Để nâng cao hiệu quả hoạt động và thúc đẩy sự phát triển bền vững cho các doanh nghiệp này, tác giả đề xuất một số kiến nghị quản trị nhằm hoàn thiện các bộ phận cấu thành của hệ thống KSNB.
5.2.1 Nhân tố Môi trường kiểm soát
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Lâm Đồng cần xây dựng chính sách nhân sự hợp lý với kế hoạch cụ thể về tuyển dụng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Nhà quản lý nên áp dụng các chính sách hấp dẫn để thu hút nhân tài có trình độ chuyên môn cao Đồng thời, cần tổ chức thường xuyên các chương trình huấn luyện và khuyến khích nhân viên tham gia nhằm nâng cao kỹ năng và chuyên môn Doanh nghiệp cũng nên định kỳ tổ chức các cuộc thi để tạo cơ hội cho nhân viên trao đổi, học hỏi, từ đó xây dựng môi trường làm việc hiệu quả.
Doanh nghiệp cần thiết lập tiêu chuẩn rõ ràng về đánh giá, khen thưởng và kỷ luật nhân viên, công khai các quy định này để tăng cường trách nhiệm và nỗ lực của họ trong công việc Để khuyến khích nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ, các nhà quản lý nên tuyên dương và thưởng xứng đáng, đồng thời tạo cơ hội thăng tiến Ngược lại, những cá nhân thiếu trách nhiệm và thường xuyên vi phạm cần phải bị phê bình và kỷ luật nghiêm khắc.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Lâm Đồng cần chú trọng cải thiện cơ cấu tổ chức bên cạnh chính sách nhân sự Việc xây dựng cơ cấu tổ chức rõ ràng, phân định trách nhiệm và quyền hạn cụ thể thông qua bảng mô tả công việc là rất quan trọng Các cá nhân, bộ phận và phòng ban cần thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ của mình để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Khi xây dựng bảng mô tả công việc, nhà quản lý cần phân chia công việc phù hợp với chuyên môn và sở trường của từng cá nhân và bộ phận Điều này giúp tránh sự trùng lặp chồng chéo không hiệu quả và là cơ sở để đánh giá hiệu quả làm việc, từ đó đưa ra khen thưởng và kỷ luật hợp lý trong doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Lâm Đồng chưa chú trọng đến giá trị đạo đức và văn hóa doanh nghiệp, nhưng việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ và nâng cao hiệu quả hoạt động là rất cần thiết Doanh nghiệp cần phổ biến các quy định về tính trung thực và giá trị đạo đức đến toàn thể nhân viên Nhà quản lý phải là tấm gương cho nhân viên noi theo và cần có phẩm chất đạo đức tốt.
Doanh nghiệp cần ban hành quy tắc ứng xử rõ ràng, chỉ ra các hành vi đúng đắn và các hành động nên và không nên thực hiện Điều này nhằm tạo ra một môi trường làm việc tích cực cho toàn thể nhân viên.
5.2.2 Nhân tố Đánh giá rủi ro
Doanh nghiệp cần thiết lập các mục tiêu hoạt động cụ thể, rõ ràng và dễ hiểu, đồng thời phổ biến rộng rãi đến tất cả nhân viên Những mục tiêu này nên được xây dựng thông qua các cuộc họp với sự tham gia của nhiều cấp quản lý Ngoài ra, cần xác định các mục tiêu tổng thể cũng như chi tiết cho từng phòng ban, bộ phận để định hướng triển khai công việc hiệu quả Điều này cũng tạo cơ sở để đánh giá tiến độ hoàn thành công việc của cá nhân và bộ phận vào cuối quý hoặc cuối năm, từ đó đưa ra các chính sách khen thưởng và kỷ luật hợp lý.
Nhà quản lý cần chủ động trong việc nhận diện và đánh giá rủi ro, từ đó xây dựng quy trình phân tích nhằm phát triển các chiến lược hiệu quả để giảm thiểu tác hại của rủi ro đối với mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp.
DN có thể được thực hiện bằng nhiều công cụ và phương pháp khác nhau Các nhà quản lý có thể sử dụng dữ liệu lịch sử hoặc thu thập thông tin từ cả nguồn nội bộ và bên ngoài.
Đánh giá sự thay đổi của môi trường kinh doanh là rất quan trọng, đặc biệt tại Lâm Đồng, nơi có nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, du lịch, nhà hàng và khách sạn.
Các công ty du lịch cần chủ động nắm bắt sự thay đổi trong thị hiếu và nhu cầu của khách hàng Đồng thời, họ cũng phải thường xuyên theo dõi biến đổi môi trường tự nhiên và khí hậu để ứng phó kịp thời, giảm thiểu thiệt hại và đảm bảo an toàn cho khách hàng.
5.2.3 Nhân tố Hoạt động kiểm soát
Nhà quản lý cần thiết lập các chính sách và thủ tục kiểm soát, sau đó triển khai chúng đến toàn bộ doanh nghiệp Việc này có thể thực hiện thông qua văn bản hoặc truyền đạt bằng lời nói Các thủ tục kiểm soát phải được điều chỉnh phù hợp với từng bộ phận và quy trình trong công ty.
Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp (DN) đang trở nên phổ biến, giúp tiết kiệm thời gian và nâng cao năng suất làm việc Tuy nhiên, các DN nhỏ và vừa ở Lâm Đồng vẫn chưa đầu tư đầy đủ cho hạ tầng công nghệ Do đó, cần thiết phải xây dựng các hoạt động kiểm soát cụ thể để khắc phục vấn đề này Cụ thể, DN cần đầu tư vào việc mua sắm hệ thống máy tính hiện đại với nhiều chức năng phù hợp, nhằm hỗ trợ hiệu quả cho công việc của nhân viên.
Doanh nghiệp (DN) cần đảm bảo tính dễ dàng tiếp cận với khách hàng và nhà cung cấp, đồng thời duy trì hệ thống máy tính qua bảo trì định kỳ để tối ưu hiệu suất sử dụng Vấn đề bảo mật công nghệ cũng rất quan trọng; mỗi máy tính cần có mật khẩu và tên đăng nhập riêng, giới hạn quyền truy cập cho từng người dùng Mỗi cá nhân nên sử dụng máy tính riêng và chỉ được truy cập dữ liệu liên quan đến chức năng công việc của mình Trong trường hợp xảy ra sai phạm, cá nhân đó phải chịu trách nhiệm hoàn toàn DN cũng cần xây dựng chính sách tuyển dụng và giữ chân nhân viên công nghệ thông tin giỏi, đồng thời phát triển chương trình dự phòng để ứng phó với các sự cố mất thông tin có thể xảy ra.
Thứ ba, nhà quản lý cần định kỳ đánh giá lại các chính sách, thủ tục kiểm
78 soát ở từng bộ phận, phòng ban để xem có còn phù hợp hay không và đề ra các biện pháp điều chỉnh phù hợp, kịp thời
5.2.4 Nhân tố Thông tin và truyền thông
Hạn chế của đề tài
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện với phạm vi mẫu hạn chế, dẫn đến tính đại diện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng còn thấp Do đó, khả năng tổng quát hóa kết quả nghiên cứu chưa đạt yêu cầu cao.
Do thời gian hạn chế, quá trình thu thập dữ liệu chưa thể khám phá sâu về hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Lâm Đồng.
- Nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu tác động của hệ thống KSNB đến mục tiêu hiệu quả, chƣa đề cập đến các mục tiêu khác.
Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài
- Phạm vi khảo sát nên đƣợc mở rộng ra, nghiên cứu có thể thực hiện ở các
DN ở quy mô khác, địa bàn khác
- Nghiên cứu tác động của các nhân tố cấu thành hệ thống KSNB đến mục tiêu khác nhƣ mục tiêu tuân thủ, mục tiêu báo cáo tài chính Ó Ắ HƯƠ G 5
Dựa trên kết quả nghiên cứu và thảo luận ở chương 4, tác giả đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng Bên cạnh đó, chương này cũng chỉ ra một số hạn chế của nghiên cứu và gợi ý các hướng nghiên cứu cho tương lai.
Đề tài "Đánh giá tác động của các nhân tố cấu thành hệ thống KSNB đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng" đã đạt được một số kết quả lý thuyết và thực tiễn, tuy nhiên vẫn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục.
1 hững kết quả đạt đƣợc
- Về nghiên cứu lý thuyết: Tổng hợp các lý luận về hệ thống KSNB theo
COSO 2013 cũng nhƣ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng năm yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ, bao gồm môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát, đều có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng Dựa trên kết quả này, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị quản trị nhằm cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong khu vực.
2 hững hạn chế còn tồn tại
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, tuy nhiên phạm vi mẫu còn hạn chế, chưa đủ lớn để có thể tổng quát về các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng.
Do thời gian hạn chế, quá trình thu thập dữ liệu chưa thể khám phá sâu về kiểm soát nội bộ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Lâm Đồng.
- Nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu tác động của hệ thống kiểm soát nội bộ đến mục tiêu hiệu quả, chƣa đề cập đến các mục tiêu khác
Dựa trên những kết quả và hạn chế đã nêu, luận văn này có thể làm nền tảng cho các hướng nghiên cứu sâu rộng và toàn diện hơn, nhằm khắc phục những thiếu sót và hoàn thiện vấn đề nghiên cứu trong tương lai.
I LIỆU HA HẢ iếng iệt
1 Bộ môn Kiểm toán, 2016 Kiểm soát nội bộ.Trường Đại học Kinh tế TP HCM: Nhà xuất bản Kinh Tế TP Hồ Chí Minh
2 Bộ môn Kiểm toán, 2014 Kiểm toán Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM: Nhà xuất bản Kinh Tế TP Hồ Chí Minh
3 Hoàng Trọng - Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2005 Phân tích dữ liệu nghiên cứu với
SPSS Hà Nội : NXB Thống Kê
4 Huỳnh Xuân Lợi, 2013 Nghiên cứu hệ thống KSNB trong các DN vừa và nhỏ tại Bình Định Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Đà Nẵng
5 Nguyễn Đình Thọ, 2011 Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh
NXB Lao động xã hội
6 Nguyễn Thị Lan Phương, 2016 Tác động của hệ thống KSNB đến tính hữu hiệu trong quản trị rủi ro tại các DN du lịch Khánh Hòa Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM
7 Nguyễn Tuấn và Đường Nguyễn Hưng, 2015 Tổng quan lý thuyết về tác động của KSNB đến hiệu quả hoạt động và rủi ro các ngân hàng thương mại Việt Nam Tạp chí Công nghệ ngân hàng, số 113 (tháng 08/2015), trang 50-62
8 Nguyễn Hồng Nga, 2016 Ảnh hưởng của KSNB đến hiệu quả hoạt động của các DN thương mại nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long Luận văn Thạc sỹ
Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM
9 Nguyễn Tuấn và Đường Nguyễn Hưng, 2017 Kiểm soát nội bộ đối với hiệu quả hoạt động và rủi ro phá sản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Tạp chí Công nghệ ngân hàng, số 132 ( tháng 3/2017), trang 20-30
10 Tạ Thị Thùy Mai, 2008 Thực trạng và giải pháp nâng cao tính hiệu quả của hệ thống KSNB tại các DN vừa và nhỏ ở tỉnh Lâm Đồng Luận văn Thạc sỹ
Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM
11 Trần Thị Bích Duyên, 2014 Đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các
DN du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Định Luận văn thạc sỹ Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM
12 Amudo, A., & Inanga, E L (2009) Evaluation of internal control systems: A case study from Uganda International Research Journal of Finance and
13 Singh, A J., & Schmidgall, R S (2002) Analysis of financial ratios commonly used by US lodging financial executives Journal of Retail & Leisure
14 Kewo, C L (2017) The Influence of Internal Control Implementation and Managerial Performance On Financial Accountability Local Government in Indonesiaf International Journal of Economics and Financial Issues, 7(1)
15 Donaldson, L (2001) The contingency theory of organizations Sage
16 Nyakundi, D O., Nyamita, M O., & Tinega, T M (2014) Effect of internal control systems on financial performance of small and medium scale business enterprises in Kisumu City, Kenya International Journal of Social Sciences and
17 Drazin, R., & Van de Ven, A H (1985) Alternative forms of fit in contingency theory Administrative science quarterly, 514-539
18 Eniola, Omoniyi Jacob , Akinselure, Oluwafemi Philip, 2016 Effect of Internal Control on Financial Performance of Firms in Nigeria: A Study of Selected Manufacturing Firms Journal of Business and Management, pp 80-85
19 Epstein, M J., & Manzoni, J F (Eds.) (2004) Performance Measurement and
Management Control: Superior Organization Performance (Vol 14) Elsevier
20 Fanta, A., Kemal, K., & Waka, Y K (2013) Corporate governance and impact on bank performance Journal of Finance and Accounting, 1(1), 19-26
21 Fama, E F., & Jensen, M C (1983) Agency problems and residual claims The
Journal of Law and Economics, 26(2), 327-349
22 Fama, E F., & Jensen, M C (1983) Separation of ownership and control The journal of law and Economics, 26(2), 301-325
23 Fiedler, F E (1964) A contingency model of leadership effectiveness Advances in experimental social psychology, 1, 149-190
24 Gillan, S L (2006) Recent developments in corporate governance: An overview Journal of corporate finance, 12(3), 381-402
25 Galbraith, J R (1973) Designing complex organizations Addison-Wesley Longman Publishing Co., Inc
26 Hult, G T M., Ketchen, D J., Griffith, D A., Chabowski, B R., Hamman, M K., Dykes, B J., & Cavusgil, S T (2008) An assessment of the measurement of performance in international business research Journal of International
27 Hart, O (1995) Corporate governance: some theory and implications The economic journal, 105(430), 678-689
28 Hair, J F., Black, W C., Babin, B J., Anderson, R E., & Tatham, R L (1998) Multivariate data analysis Uppersaddle River Multivariate Data Analysis (5th ed) Upper Saddle River
29 Internal Control Report, 2013 Internal Control - Intergrated framework,
30 Jensen, M C., & Meckling, W H (1976) Theory of the firm: Managerial behavior, agency costs and ownership structure Journal of financial economics, 3(4), 305-360
31 Jensen, M C., & Ruback, R S (1983) The market for corporate control: The scientific evidence Journal of Financial economics, 11(1-4), 5-50
32 Njeri, C K (2014) Effect of internal controls on the financial performance of manufacturing firms in Kenya unpublished thesis
33 Zehms, K M (1991) Proposed financial ratios for use in analysis of Municipal Annual Financial Reports The Journal of Government Financial Management, 40(3), 79
34 Lakis, V., & Giriunas, L (2012) The concept of internal control system: Theoretical aspect Ekonomika, 91(2), 142
35 Mawanda, S (2011) Effects of internal control systems on financial performance in an institution of Higher Learning in Uganda: A case of Uganda Martyrs University (Doctoral dissertation)
36 Magara, C N (2013) Effect of internal controls on financial performance of Deposit Taking Savings and Credit Cooperative Societies in Kenya A research project report submitted in partial fulfillment of the requirements for the award of Master of business administration degree, school of business, University of Nairobi
37 Nyakundi, D O., Nyamita, M O., & Tinega, T M (2014) Effect of internal control systems on financial performance of small and medium scale business enterprises in Kisumu City, Kenya International Journal of Social Sciences and
38 Nath, N D (2011) Public Sector Performance Auditing and Accountability: A
Fijian Case Study (Doctoral dissertation, University of Waikato)
39 Ndembu Zipporah Njoki, 2015 The effect of internal controls on the financial performance of manufacturing firms in Kenya A research project submitted in partial fulfillment of the requirement for the award of the degree of master of science in finance The University of Nairobi
40 O’Leary, C (1996) Performance audits: could they become mandatory for public companies? Managerial Auditing Journal, 11(1), 14-18
41 Palepu K.G, Healy P.M, Bernard V.L, 1999 Business analysis valuation using financial statements USA South – Wester Educational Publishing
42 Rezaee, Z (2007) Corporate governance post-Sarbanes-Oxley: Regulations, requirements, and integrated processes John Wiley & Sons
43 Rini & Yessi Fitri, 2015 The effect of audit Communitte role and internal control efectiveness at Islamic bank Indonsia The Journal of Tauhidinomics, pp 81- 92
44 Shabri, S M., Saad, R A J., & Bakar, A A (2016) The Effects of Internal Control Systems on Cooperative's Profi tability: A Case of Koperasi ABC Berhad International Review of Management and Marketing, 6(8S)
45 Scott, W R (1981) Rational, natural, and open systems
46 Tabachick B.G and Fidell L.S, 1996 Using multivariate statistics, 3rd edn
47 Walsh, C (2006) Key management ratios: the clearest guide to the critical numbers that drive your business Pearson Education
48 Yamamoto, K., & Watanabe, M (1989) Performance auditing in the central government of Japan Financial Accountability & Management, 5(4), 199-217
PHỤ LỤ 1: A H S H ỐI ƢỢNG THAM GIA GÓP Ý BẢNG KHẢO SÁT THỬ
1 Đỗ Ngọc Hiếu Giám Đốc Công Ty Cổ Phần Xây Lắp Điện Hồng Trường
2 Nguyễn Tiến Dũng Giám Đốc Công Ty Cổ Phần Thắng Đạt
3 Huỳnh Tấn Sơn Giám Đốc Công Ty Trách Nhiệm Hữu
4 Phạm Bảo An Kiểm toán viên KT Nhà nước Khu vực VIII
5 Nguyễn Minh Trí Phó giám đốc Công ty TNHH Kiểm toán
FAC chi nhánh Nha Trang
6 Nguyễn Tuấn Giảng viên kế toán ĐH Nha Trang
HỤ LỤ 2: I HẢ LUẬ AY ÔI
Tôi là Vương Thị Khánh Chi, học viên cao học chuyên ngành kế toán tại Đại Học Kinh tế TPHCM Hiện tại, tôi đang nghiên cứu về tác động của các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Lâm Đồng Tôi rất mong nhận được sự hỗ trợ từ Anh/Chị thông qua việc thảo luận một số câu hỏi, vì ý kiến của Anh/Chị sẽ là thông tin quý giá cho nghiên cứu của tôi Xin chân thành cảm ơn!
II ội dung thảo luận
Tác giả đã sử dụng khuôn mẫu COSO 2013 cùng với các nghiên cứu trước đó để xây dựng bảng câu hỏi khảo sát thử Rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ các Anh/chị nhằm hoàn thiện thang đo cho biến độc lập và biến phụ thuộc, từ đó phát triển bảng khảo sát chính thức phục vụ cho nghiên cứu định lượng về yếu tố môi trường kiểm soát.
Tác giả đề xuất thang đo nhân tố môi trường kiểm soát gồm 7 biến quan sát dưới đây:
1 Nhà quản lý thiết lập các chuẩn mực đạo đức và phổ biến đến tất cả các thành viên trong doanh nghiệp
2 Thông tin về sự không tuân thủ đƣợc báo cáo một cách kịp thời
3 Nhà quản lý phân công chuyên môn phù hợp cho các nhân viên trong doanh nghiệp