1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Đánh giá khả năng gian lận báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

115 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Việt Nam , các nghiên cứu về sự hữu ích của tỷ số tài chính đối với việc dự báo khả năng gian lận BCTC của các công ty niêm yết còn khá hạn chế. Luận văn này nhằm xem xét và khẳng định liệu rằng các tỷ số tài chính có thể đánh giá khả năng gian lận BCTC khi áp dụng vào dữ liệu thực tế của Việt Nam. Nếu nghiên cứu xác nhận điều này đúng thì việc sử dụng các tỷ số tài chính khuyến cáo trong nghiên cứu này sẽ có ích cho kiểm toán viên, các nhà lập quy và các bên quan tâm khác.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

-

GIANG THANH THỦY

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ

TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

-

GIANG THANH THỦY

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ

TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số : 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI VĂN DƯƠNG

TP Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài“Đánh giá khả năng gian lận báo cáo tài chính của

các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là công trình nghiên

cứu của tôi Tôi đã sử dụng những kiến thức học được cùng với sự hướng dẫn của Người hướng dẫn khoa học để thực hiện luận văn này

Tp.Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 05 năm 2017

Giang Thanh Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

3 Câu hỏi nghiên cứu 4

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp mới của nghiên cứu 6

7 Kết cấu của luận văn 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 7

1.1 Các nghiên cứu nước ngoài đã công bố 7

1.1.1 Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến gian lận BCTC 7

1.1.2 Nghiên cứu phát hiện và dự báo gian lận BCTC 9

1.2 Các nghiên cứu công bố trong nước 13

1.2.1 Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến gian lận BCTC 13

Trang 6

1.2.2 Nghiên cứu phát hiện và dự báo gian lận BCTC 14

1.3 Khe hổng nghiên cứu 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 18

2.1 Tổng quan về gian lận và gian lận BCTC 18

2.1.1 Tổng quan về gian lận 18

2.1.1.1 Định nghĩa gian lận 18

2.1.1.2 Phân loại gian lận 19

2.1.2 Tổng quan về gian lận BCTC 20

2.1.2.1 Định nghĩa gian lận BCTC 20

2.1.2.2 Những phương pháp thực hiện gian lận trên BCTC phổ biến 22

2.2 Tỷ số tài chính 24

2.2.1 Tỷ số tài chính và ý nghĩa 24

2.2.2 Phân nhóm tỷ số tài chính 24

2.3 Các mô hình phát hiện gian lận BCTC 25

2.3.1 Mô hình Logit và Probit 25

2.3.2 Mô hình khai phá dữ liê ̣u 26

2.4 Lý thuyết nền 27

2.4.1 Lý thuyết giải thích hành vi gian lận 27

2.4.1.1 Lý thuyết hợp đồng (Contractual theory) 27

2.4.1.2 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory) 28

2.4.1.3 Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory) 30

2.4.2 Lý thuyết nghiên cứu hành vi gian lận 31

2.4.2.1 Lý thuyết tam giác gian lận 31

Trang 7

2.4.2.2 Lý thuyết bàn cân gian lận 32

2.5 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 33

2.5.1 Mô hình nghiên cứu 33

2.5.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu 34

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

3.1 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 42

3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 42

3.1.2 Quy trình nghiên cứu 42

3.2 Mô hình hồi quy và đo lường biến trong mô hình 43

3.2.1 Mô hình hồi quy 43

3.2.2 Đo lường biến trong mô hình 43

3.2.2.1 Đo lường biến phụ thuộc 43

3.2.2.2 Đo lường biến đô ̣c lâ ̣p 44

3.3 Thiết kế nghiên cứu 50

3.3.1 Mẫu nghiên cứu 50

3.3.2 Thu thập dữ liệu 52

3.3.3 Quy trình phân tích dữ liệu 52

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 54

4.1 Phân tích thống kê mô tả 54

4.1.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 54

4.1.2 Thống kê mô tả biến phu ̣ thuô ̣c 55

4.1.3 Thống kê mô tả biến đô ̣c lâ ̣p 56

Trang 8

4.2 Phân tích tương quan 58

4.3 Kiểm định Paired t-test và Kiểm định Wilcoxon matched-pairs signed-ranks test 59

4.4 Phân tích hồi quy Binary logistic 61

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU 70

5.1 Kết luận 70

5.2 Các hàm ý chính sách 70

5.2.1 Đối với công ty kiểm toán 70

5.2.2 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 72

5.2.3 Đối với các nhà đầu tư 74

5.2.4 Đối với ban quản trị công ty 75

5.3 Hạn chế của đề tài 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ACFE: Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ

AICPA: Hiệp hội kế toán viên Công chứng Hoa Kỳ

BCTC: Báo cáo tài chính

FRAUD: Khả năng gian lận BCTC

HNX: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

HSX:

IOSCO:

Sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM

Ủy ban chứng khoán quốc tế

SEC: Ủy ban Chứng khoán và Thị trường Chứng khoán Mỹ VAS: Chuẩn mực kế toán Việt Nam

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2 1 Kết quả cuộc nghiên cứu của ACFE về tổn thất do gian lận (2012-2016) 19

Bảng 3 1 Danh sách biến độc lập và phương pháp đo lường 44

Bảng 3 2 Kết quả chọn mẫu 51

Bảng 4 1 Quy mô công ty 54

Bảng 4 2 Thống kê mẫu theo ngành công nghiê ̣p 55

Bảng 4 3 Thống kê mô tả khả năng gian lâ ̣n BCTC của các công ty niêm yết 56

Bảng 4 4 Thống kê mô tả các biến độc lập 56

Bảng 4 5 Kết quả kiểm định Paired t-test và Wilcoxon matched-pairs signed-ranks test 60

Bảng 4 6 Kết quả kiểm đi ̣nh Wald (Mô hình 2) 61

Bảng 4 7 Kết quả kiểm đi ̣nh Wald (Mô hình 3) 62

Bảng 4 8 Kết quả kiểm định mức độ giải thích của mô hình (Omnibus) 63

Bảng 4 9 Kết quả kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (-2LL) 64

Bảng 4 10 Kết quả dự báo của mô hình 64

Bảng 4 11 Kết quả kiểm định Hosmer and Lemeshow Test 65

Bảng 4 12 Tổng hợp vai trò ảnh hưởng của các biến 67

Bảng 4 13 Kết quả dự báo của các công ty ngoài mẫu nghiên cứu 68

Trang 11

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2 1: Tam giác gian lận 31 Hình 3 1: Quy trình nghiên cứu 42

Trang 12

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở lý thuyết giải thích và nghiên cứu hành vi gian lận cùng kết quả

từ các nghiên cứu liên quan, luận văn thực hiện nghiên cứu đánh giá khả năng gian lận BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Mẫu nghiên cứu thiết kế bắt cặp của 70 công ty có gian lận BCTC/không có gian lận BCTC trên cả 2 sàn HSX và HNX trong năm 2015 theo cùng quy mô và ngành công nghiệp Trong giai đoạn đầu của nghiên cứu, thống kê mô tả, phân tích tương quan được thực hiện để tìm kiếm mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa 16 biến tỷ

số tài chính với khả năng gian lận BCTC Sau đó, phân tích hồi quy Binary logistic được thực hiện để tìm ra mô hình có khả năng dự báo gian lận BCTC tốt nhất Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình hồi quy Binary logistic gồm 3 biến tỷ số tài chính

là GP/TA, SAL/TA và INV/TA có khả năng đánh giá gian lận BCTC với tỷ lệ dự báo đúng cho mẫu gian lận là 71,4% và 68,6% cho toàn bộ tổng thể nghiên cứu Dựa vào kết quả nghiên cứu được, tác giả đưa ra một số hàm ý chính sách cho các đối tượng liên quan bao gồm công ty kiểm toán, cơ quan quản lý Nhà nước, nhà đầu

tư và ban quản trị công ty

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Báo cáo tài chính (BCTC) là những tài liệu cơ bản của một công ty để phản ánh tình hình tài chính của mình (Beaver, 1966) BCTC rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp và đồng thời là nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với những người ngoài doanh nghiệp Bằng việc xem xét, phân tích BCTC, người sử dụng thông tin có thể đánh giá sức mạnh tài chính, khả năng sinh lợi và triển vọng của doanh nghiệp Do đó, BCTC của doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng chính, những người cho vay, các nhân viên ngân hàng, các nhà quản lý, các nhà bảo hiểm, các đại lý , kể cả các cơ quan Chính phủ và bản thân người lao động Cũng chính bởi vậy mà tính minh bạch, tính trung thực của thông tin trình bày trên BCTC đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc tạo dựng niềm tin, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội

Trong những năm gần đây, thị trường chứng khoán thế giới đã chứng kiến hàng loạt trường hợp BCTC của các công ty niêm yết có gian lận mà rất nhiều công

ty sau đó đã phá sản Các sự cố lớn ở Mỹ (Enron, WorldCom), Úc (Harris Scarfe và HIH), Ý (Parmalat), Pháp (Vivendi), Hà Lan (Royal Ahold), Hàn Quốc, (SKGlobal), Trung Quốc (YGX), Nhật Bản (Công ty Livedoor), và Ấn Độ (Satyam) chỉ ra rằng gian lận tài chính đang diễn ra trên toàn thế giới (Albrecht, Albrecht & Albrecht, 2008) Theo hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE) ước tính rằng mỗi năm tổn thất gian lận tài chính trên toàn thế giới vượt quá một nghìn tỷ USD Ước tính này được dựa trên hàng trăm tài liệu các trường hợp gian lận tài chính ở châu Âu, châu Á, châu Phi, Nam Mỹ, và châu Đại Dương, cùng với thực tế rằng còn nhiều gian lận không bị phát hiện

Tại Việt Nam, thực tế những năm qua trên thị trường chứng khoán cho thấy tỷ

lệ sai lệch số liệu kế toán sau kiểm toán rất cao Xét riêng cho chỉ tiêu lợi nhuận, số

Trang 14

liệu thống kê của Vietstock từ năm 2012 đến 6 tháng đầu năm 2015 cho thấy mỗi năm tỷ lệ doanh nghiệp niêm yết có điều chỉnh sau kiểm toán đều trên mức 70%, còn 6 tháng đầu năm 2015 cũng chiếm quá bán 52% Trong đó, số lượng doanh nghiệp phải điều chỉnh giảm lợi nhuận sau kiểm toán cũng luôn cao hơn điều chỉnh tăng Đặc biệt, các ngành như xây dựng, bất động sản, thực phẩm và kim loại luôn

có tỷ lệ phải điều chỉnh số liệu khi kiểm toán cao nhất1.Điều này cho thấy một cảnh báo rất lớn về chất lượng BCTC, độ trung thực, minh bạch của số liệu kế toán do doanh nghiệp tự lập

Ngoài các tác động về mặt kinh tế, ba bên liên quan trong đó đ ặc biệt được hưởng lợi từ khả năng tăng cường phát hiện gian lận BCTC bao gồm: các nhà đầu

tư, các công ty kiểm toán, và quan chức chính phủ (Cecchini & cô ̣ng sự, 2010) Các nhà đầu tư thường có rất ít thông tin về nguy cơ gian lận tiềm năng Công cụ phát hiện và dự báo gian lận có thể giúp các nhà đ ầu tư đưa ra quyết định tốt hơn (Albrecht, Albrecht & Dunn, 2001) Các công ty kiểm toán có thể có lợi bằng cách

sử dụng một đánh giá rủi ro gian lận trong suốt th ời gian tiếp nh ận khách hàng, cũng như trong quá trình kiểm toán thường xuyên (Albrecht, Albrecht & Albrecht, 2008; Cecchini & cộng sự, 2010) Cuối cùng, viê ̣c tăng cường các công cụ phát hiện gian lận hiệu quả có th ể giúp các quan ch ức chính phủ ưu tiên và tập trung nỗ lực điều tra, quản lý của họ tốt hơn (Albrecht, Albrecht & Dunn, 2001; Dechow & cô ̣ng sự, 2011) Bởi vậy mà việc nghiên cứu các thủ tục, công cụ nhận diện và phát hiện gian lận BCTC vẫn luôn được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Tại Hoa Kỳ, vào năm 1998 AICPA2 đã ban hành chuẩn mực kiểm toán SAS533 đưa ra hướng dẫn chi tiết về các thủ tục giúp phát hiện gian lận trên BCTC

1 “Liên tục chênh lệch sau kiểm toán: Doanh nghiệp đang vẽ gì?”, 1/10/2015,

http://vietstock.vn

2 The American Institute of Certified Public Accounttants (Hiệp hội kế toán viên Công chứng Hoa Kỳ)

3Statements on Auditing Standards No 53 (SAS 53) “The Auditor‟s Responsibility

to Detect and Report Errors and Irregularities”

Trang 15

Sau đó đến năm 1997, SAS824 được ban hành thay thế cho SAS53, trong đó đưa ra hướng dẫn rõ ràng hơn cách thức giúp kiểm toán viên phát hiện gian lận qua xem xét các vùng có rủi ro cao Năm 2002, SAS82 bị thay thế bởi SAS995 “Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận trên báo cáo tài chính”, chuẩn mực này phát triển thủ tục để phát hiện gian lận dựa trên lý thuyết tam giác gian lận của Cressey (1953)

Tại Việt Nam, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520 trình bày rõ quy trình phân tích trong kiểm toán BCTC là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ

có mâu thuẫn với các thông tin khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến Thủ tục này giúp kiểm toán viên tìm kiếm và phát hiện các gian lận sai sót trọng yếu trong BCTC thông qua việc phân tích các thông tin tài chính và thông tin phi tài chính

Trong một nghiên cứu về giấy tờ làm việc của kiểm toán viên do Hylas và Ashton thực hiện vào năm 1982 đã chỉ ra rằng 281 sai phạm được yêu cầu điều chỉnh trong BCTC thì có tới 27,1% sai sót được phát hiện khi sử dụng thủ tục phân tích Với vai trò và ý nghĩa như vậy, thủ tục này cần được coi trọng và thực hiện đầy đủ hơn nữa

Mặc dù đã có khá nhiều tác giả trong nước nghiên cứu về sai sót và gian lận BCTC Tuy nhiên, hầu như các nghiên cứu đều tập trung vào việc liệu có thể sử dụng được những thông tin tài chính, phi tài chính của các doanh nghiệp đang được niêm yết trên thịtrường chứng khoán để dự báo rủi ro BCTC có gian lận Hay những nghiên cứu tập trung vào việc phân tích các nhân tố giúp nhận diện rủi ro có gian lận thông tin trên BCTC Việc xây dựng những phương pháp tiếp cận nhằm dự báo

Trang 16

rủi ro có gian lận trên thật sự rất có ý nghĩa Tuy nhiên, các cách thức này lại bộc lộ một trở ngại lớn cho những nhà đầu tư, các bên liên quan hay những cá nhân đơn thuần có mối quan tâm đến BCTC của doanh nghiệp Bởi các phương pháp này rất khó để các bên thứ ba tiếp cận và ngoài ra còn đòi hỏi rất nhiều xét đoán mà ngay cả những kiểm toán viên cũng gặp khó khăn

Xuất phát từ những khó khăn, bất cập nêu trên, giả chọn đề tài “Đánh giá khả

năng gian lận báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để nghiên cứu Với kỳ vọng xây dựng được một mô hình đánh

giá khả năng gian lận BCTC của các công ty niêm yết dựa trên các tỷ số tài chính đơn giản nhưng vẫn có tỷ lệ dự báo chính xác cao Tác giả hy vọng rằng kết quả nghiên cứu này có thể giúp giúp các kiểm toán viên và những người sử dụng thông tin trên BCTC có thêm một công cụ hỗ trợ để ra quyết định dựa trên những thông tin tài chính đơn thuần

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng và kiểm định mô hình dự báo khả năng gian lận BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đặt ra ở trên, nội dung chính của luận văn cần phải trả lời được các câu hỏi sau:

Câu hỏi nghiên cứu 1: Các tỷ số tài chính nào được sử dụng để đánh giá khả

năng gian lận BCTC

Câu hỏi nghiên cứu 2: Tỷ lệ dự báo chính xác của mô hình hồi quy Logistic

trong việc dự báo khả năng gian lận BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam là bao nhiêu?

Trang 17

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mô hình đánh giá khả năng gian lận báo

cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu

Dữ liệu trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được công bố trước và sau kiểm toán trong hai năm 2014 – 2015 của các công ty phi tài chính niêm yết trên cả hai sàn HSX và HNX (không nghiên cứu về các công

ty tài chính như ngân hàng, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư và công ty bảo hiểm)

Do không có dữ liệu về BCTC gian lận được công bố, luận văn giả định các công ty

có chênh lệch lợi nhuận sau thuế trước và sau kiểm toán lớn hơn 10% là công ty có gian lận

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, bao gồm thống kê mô tả, phân tích tương quan, kiểm định Paired t-test, kiểm định Wilcoxon matched-pairs signed-ranks test và hồi quy logistic

Trong giai đoạn đầu, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tương quan, kiểm định Paired t-test, kiểm định Wilcoxon matched-pairs signed-ranks test để kiểm tra sự giống nhau về giá trị trung bình, sự giống nhau về phân phối chuẩn giữa hai nhóm mẫu BCTC gian lận và BCTC không gian lận Và lựa chọn các biến tỷ số tài chính có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với khả năng gian lận BCTC

Sau đó, mô hình hồi quy Binary logistic giữa khả năng gian lận BCTC và các biến tỷ số tài chính được xây dựng để đánh giá khả năng gian lận BCTC và chọn ra

mô hình thích hợp nhất

Cuối cùng, để kiểm tra khả năng dự báo của mô hình, tác giả sử dụng phương pháp phân loại sau hồi quy

Trang 18

6 Đóng góp mới của nghiên cứu

Trên thế giới, một vài nghiên cứu cho rằng tỷ số tài chính không có tác dụng trong việc phát hiện gian lận BCTC (Kaminski & cô ̣ng sự, 2004), trong khi một số nghiên cứu thì nói ngược lại (Spathis, 2002; Persons, 1995) Tại Việt Nam , các nghiên cứu về sự hữu ích của tỷ số tài chính đối với việc dự báo khả năng gian lận BCTC của các công ty niêm yết còn khá hạn chế Bài viết này nhằm xem xét và khẳng định liệu rằng các tỷ số tài chính có thể đánh giá khả năng gian lận BCTC khi

áp dụng vào dữ liệu thực tế của Việt Nam Nếu nghiên cứu xác nhận điều này đúng thì việc sử dụng các tỷ số tài chính khuyến cáo trong nghiên cứu này sẽ có ích cho kiểm toán viên, các nhà lập quy và các bên quan tâm khác

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, luận văn bao gồm 5 chương, cụ thể:

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5: Kết luận và hàm ý nghiên cứu

Trang 19

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

Nội dung chính của chương này, tác giả trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về gian lận BCTC và các mô hình phát hiện,

dự báo gian lận BCTC Trên cơ sở đó tác giả tìm ra khe hổng nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu của luận văn

1.1 Các nghiên cứu nước ngoài đã công bố

1.1.1 Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến gian lận BCTC

Abbot, Park, và Parker (2000) đã sử dụng phân tích hồi quy thống kê để kiểm tra xem sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán độc lập có làm giảm nhẹ khả năng gian lận Họ phát hiện ra rằng các công ty với các ủy ban kiểm toán, trong đó bao gồm các nhà quản lý độc lập, ít có khả năng bị xử phạt về báo cáo gian lận hoặc sai lệch Bell và Carcello (2000) đã phát triển và thử nghiệm một mô hình hồi quy logistic để ước lượng khả năng gian lận báo cáo tài chính cho một khách hàng kiểm toán, dựa trên sự hiện diện hay vắng mặt của một số yếu tố nguy cơ gian lận Các yếu tố nguy cơ trọng yếu bao gồm trong mô hình cuối cùng là: yếu tố môi trường kiểm soát nội bộ, tăng trưởng công ty nhanh chóng, lợi nhuận tương đối không đầy

đủ hoặc không phù hợp, quản lý nhấn mạnh quá mức vào việc đáp ứng thu nhập dự báo, quản lý nói dối kiểm toán viên hoặc là quá lảng tránh, tình trạng sở hữu ( tập thể hay tư nhân), và thời hạn tương tác giữa một môi trường kiểm soát yếu và một thái độ quản lý tích cực đối với BCTC

Beasley (1996) sử dụng phân tích hồi quy logit để kiểm tra sự tương quan giữa các gian lận BCTC và cơ chế quản trị doanh nghiệp về tỷ lệ phần trăm của giám đốc bên ngoài, tỷ lệ phần trăm của giám đốc độc lập và sự tồn tại của một ủy ban kiểm

Trang 20

toán Mẫu nghiên cứu với 75 công ty gian lận và 75 công ty không gian lận được thiết kế theo cặp cùng quy mô doanh nghiệp, ngành công nghiệp và khoảng thời gian Kết quả cho thấy có mối quan hệ nghịch giữa số thành viên trong Hội đồng quản trị là người bên ngoài với khả năng gian lận phát sinh, và mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa tỷ lệ cổ phiếu do thành viên là người bên ngoài nắm giữ với gian lận Paul Dunn (2003) sử dụng một mẫu của 103 công ty gian lận BCTC đã bị kết

án bởi SEC6 hoặc tòa án tương ứng với 103 công ty không bị kết án gian lận BCTC Nghiên cứu đo lường ảnh hưởng của 2 biến quyền lực cấu trúc và quyền lực sở hữu đến gian lận BCTC Biến kiểm soát được sử dụng gồm: đặc điểm đội ngũ quản lý cấp cao (nhiệm kỳ, đa dạng và kích thước), cấu trúc quản trị doanh nghiệp (nhiệm

kỳ Hội đồng quản trị và kích thước), và động cơ kinh tế (khủng hoảng tài chính và các dịch vụ chứng khoán thứ cấp) Nghiên cứu sử dụng phân tích tương quan, phân tích đơn biến và mô hình lồi quy cho thấy rằng cả quyền lực cấu trúc và quyền sở hữu có quan hệ tích cực với hành vi gian lận BCTC Ngoài ra, các công ty gian lận thường có nhiệm kỳ đội ngũ quản lý cấp cao và Hội đồng quản trị thấp, sự đa dạng trong nhiệm kỳ của đội ngũ quản lý cấp cao không phải là một yếu tố dự báo quan trọng của một công ty tham gia vào các hành vi gian lận

Bryan K Church & cộng sự (2001) đã tiến hành điều tra danh sách gồm 127 kiểm toán viên nội bộ để giải thích cho một sự khác biệt bất thường trong thu nhập hoạt động của những công ty có BCTC gian lận Các tác giả tìm được các yếu tố ảnh hưởng đến việc đánh giá BCTC gian lận của kiểm toán viên nội bộ Trong đó, một số lượng lớn các giải thích liên quan đến gian lận (1) khi thu nhập lớn hơn dự kiến, và (2) khi giao ước nợ là hạn chế Các tác giả cũng thấy rằng kiểm toán viên nội bộ chỉ định một khả năng gian lận cao hơn khi (1) thu nhập lớn hơn dự kiến, và (2) khi một kế hoạch tiền thưởng dựa trên thu nhập được sử dụng và các giao ước

nợ là hạn chế Hơn nữa, phát hiện này có thể cung cấp một số tiện ích cho những

6 Thuật ngữ Tiếng Anh dùng để chỉ Ủy ban Chứng khoán và Thị trường Chứng

khoán Mỹ là Securities and Exchange Commission

Trang 21

người tham gia vào quản trị doanh nghiệp; đó là, kiểm toán viên nội bộ rất nhạy cảm với các yếu tố làm tăng khả năng gian lận BCTC

Romney & cộng sự (1980), Sorenson & cộng sự (1983) xem xét các dấu hiệu báo động đỏ (red flags) để tiên đoán về gian lận Sau đó, Albrecht & Romney (1986) tiếp tục kiểm tra 87 dấu hiệu báo động đỏ về gian lận trên mẫu chọn là các công ty có và không có gian lận Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 1/3 trong số các dấu hiệu có ý nghĩa trong việc tiên đoán gian lận

Scott L Summers & John T Sweeney (1998) phân tích mối quan hệ giữa các BCTC gian lận và các hoạt động giao dịch nội gián để xác định xem liệu các kiểm toán viên có thể tăng cường đánh giá rủi ro gian lận BCTC bằng cách bao gồm các hoạt động giao dịch nội gián trong mô hình của họ Các kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng giao dịch nội gián và các yếu tố BCTC có ích trong một mô hình trong

đó phân biệt các công ty gian lận và công ty không gian lận

1.1.2 Nghiên cứu phát hiện và dự báo gian lận BCTC

Đã có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện trên thế giới nhằm mục đích phát hiện và dự báo gian lận BCTC Trong khi mô ̣t số nghiên cứu trước sử dụng dữ liệu nội bộ để phát hiện gian lận tài chính (các mối quan hệ kiểm toán viên - khách hàng, đặc điểm cá nhân và hành vi , kiểm soát nội bộ ), các nghiên cứu gần đây nhất công nhận rằng chiến lược này là vấn đề đối với hầu hết các bên liên quan vì nguồn dữ liệu nội bộ là không có sẵn cho các nhà đầu tư , kiểm toán viên , hoặc nhà lâ ̣p quy (Albrecht, Albrecht & Albrecht, 2008; Cecchini & cộng sự, 2010; Dechow & cô ̣ng sự, 2011) Ngay cả các công ty kiểm toán và các nhà quản lý cũng không có quyền truy cập vào dữ liệu nội bộ cho đến khi một vị trí kiểm toán đã được xác lâ ̣p

(Albrecht, Albrecht & Albrecht 2008)

Theo đó , tác giả giới hạn phần thảo luận về nghiên cứu phát hiện gian lận BCTC sử dụng thông tin công khai có sẵn Những nghiên cứu này nói chung đã sử dụng dữ liê ̣u từ BCTC được công bố kết hợp với các phương pháp phân loại thống

kê và/hoặc khai phá dữ liệu Một bản tóm tắt các nghiên cứu phát hiện gian lận

Trang 22

BCTC liên quan sử dụng dữ liệu công khai được trình bày trong Phụ lục 5, trong đó cho thấy các tác giả và năm xuất bản , một mô tả ngắn gọn về các biến , các phương pháp được sử dụng, các bộ dữ liệu, và kết quả phân loại tỷ lê ̣ phát hiê ̣n trên tổng thể

và trên mẫu gian lận

Persons (1995) sử dụng mẫu gồm 103 công ty gian lận kết hợp với 103 công

ty không gian lận trong cùng ngành và cùng khoảng thời gian Tổng cộng 10 biến, với 8 tỷ số tài chính được sử dụng để phát triển một mô hình hồi quy từng bước (Stepwise Logistic) nhằm cung cấp bằng chứng cho thấy các dữ liệu kế toán là hữu ích trong việc phát hiện gian lận trên BCTC Kiểm tra khả năng dự báo của mô hình cho kết quả tốt trong việc phân loại tất cả các doanh nghiệp là không gian lận cho tất cả các mức chi phí tương đối của sai lầm loại I và loại II Mô hình này cũng xác định chính xác một tỷ lệ lớn các doanh nghiệp gian lận và không gian lận BCTC, trong khi chỉ không phân loại được một tỷ lệ nhỏ tương đối nhỏ các công ty không gian lận khi chi phí sai lầm thực tế được giả định Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm thấy bốn chỉ số quan trọng trong việc dự báo gian lận gồm Đòn bẩy tài chính (Tổng nợ/Tổng tài sản), Vòng quay vốn (Vốn lưu động/Tổng tài sản), Cơ cấu tài sản (Tài sản cố định/Tổng tài sản) và Quy mô doanh nghiệp (Logarit giá trị sổ sách của tổng tài sản tại cuối năm tài chính)

Beneish (1999) sử dụng mô hình xác suất đơn vị dựa trên tỷ trọng của mẫu ngoại sinh probit WESML (Weighted exogenous sample maximum likehood) với một mẫu nghiên cứu gồm 74 công ty có điều chỉnh thu nhập (theo cáo buộc của SEC) và tất cả các công ty không điều chỉnh thu nhập có sẵn dữ liệu cho giai đoạn 1982-1992 trên Computast Nghiên cứu thiết lập một mô hình toán học gọi là M-score sử dụng 8 tỷ số tài chính để đánh giá có hay không khả năng công ty gian lận BCTC, bao gồm: Chỉ số kỳ thu tiền (DSRI), Chỉ số lợi nhuận gộp (GMI), Chỉ số chất lượng tài sản (AQI), Chỉ số tăng trưởng doanh thu (SGI), Chỉ số khấu hao (DEPI), Chỉ số chi phí quản lý, bán hàng (SGAI), Chỉ số đòn bẩy (LVGI), Tổng dồn tích (TATA) Kết quả nghiên cứu xác định được ngưỡng giá trị của mô hình là -1,78 Các công ty có M-score > -1,78 sẽ bị phân loại là có điều chỉnh thu nhập Mô

Trang 23

hình này giúp các kiểm toán viên, các nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhận diện được một công ty có khả năng gian lận BCTC với xác xuất dự đoán đúng là 76%

Spathis (2002) đã xây dựng một mô hình để phát hiện BCTC gian lận Ông sử dụng phương pháp thống kê hồi quy logistic đơn biến và đa biến Một mẫu gồm 76 công ty sản xuất Hy Lạp (trong đó có 38 công ty gian lận và 38 công ty không gian lận), 10 tỷ số tài chính và chỉ số Z-core được sử dụng để xây dựng mô hình phát hiện các nhân tố liên quan đến BCTC gian lận cho kết quả dự báo gian lận đúng đến 84% Hơn nữa, nghiên cứu còn cho thấy các thông tin tài chính có thể hữu ích đối với việc xác định các BCTC gian lận và làm nổi bật tầm quan trọng của 4 tỷ số tài chính trong việc dự báo BCTC gian lận gồm Tổng nợ/Tổng tài sản, Hàng tồn kho/Doanh thu, Lợi nhuận ròng/Doanh thu và Doanh thu/Tổng tài sản

Kirkos & cộng sự (2007) sử dụng dữ liệu BCTC từ 76 công ty sản xuất ở Hy Lạp, với mẫu gồm 38 công ty gian lận và 38 công ty không gian lận Bắt đầu với 27 biến là các tỷ số tài chính và chỉ số Z-score, tác giả chạy ANOVA để lọc ra sự khác biệt giữa 2 mẫu nghiên cứu Sau đó, tác giả áp dụng 3 loại kỹ thuật khai phá dữ liệu, gồm Cây quyết định (DT), Mạng nơron và Mạng niềm tin Bayesian (BBN) để xây dựng 3 mô hình dự báo khả năng gian lận BCTC và so sánh hiệu suất giữa chúng Mạng Bayesian đạt được hiệu suất tốt nhất để phân loại chính xác đến 90,3% mẫu xác nhận trong một thủ tục xác nhận qua 10 lần Mức độ chính xác của Mạng nơron lan truyền ngược và Cây quyết định tương ứng là 80% và 73,6%

Dalnial & cộng sự (2014) sử dụng một mẫu 130 công ty niêm yết tại Malaysia gian lận và không gian lận trong khoảng thời gian từ năm 2000 – 2011 Nghiên cứu xây dựng mô hình dự báo dựa trên 8 biến là các tỷ số tài chính kết hợp với chỉ số Z-score và kiểm soát biến bằng quy mô công ty vớ i phương pháp hồi quy tuyến tính từng bước Kết quả cho thấy tất cả các chỉ tiêu tài chính có mối quan hệ với BCTC gian lận ngoại trừ Lợi nhuận gộp/Tổng tài sản, Hàng tồn kho/Tổng tài sản, Chỉ số Z-score

Trang 24

Cecchini & cộng sự (2010), sử dụng một phân lớp SVM mà kết hợp một hạt nhân tài chính tùy chỉnh Các hạt nhân tài chính là một hạt nhân đồ thị sử dụng các biến tài chính đầu vào để ngầm lấy được nhiều chỉ tiêu tài chính Bộ dữ liệu bao gồm 137 công ty năm gian lâ ̣ n và 3187 công ty năm không gian lâ ̣n Phương pháp của họ đạt được một tỷ lệ phát hiện gian lận của 80 phần trăm trên một tập kiểm tra

25 công ty gian lận

Rasa & cộng sự (2015) đã xây dựng mô ̣t mô hình phát hiê ̣n gian lâ ̣n BCTC dựa trên 51 tỷ số tài chính được chia làm 5 nhóm: tỷ số sinh lợi , tỷ số thanh khoản ,

tỷ số đòn bẩy , tỷ số hoạt động và tỷ số cơ cấu tài sản Bô ̣ dữ liê ̣u được thu thâ ̣p từ

40 công ty gian lận và 125 công ty không gian lâ ̣n trong giai đoa ̣n từ năm 1998 –

2009 Các tác giả sử dụng mô hình hồi quy logistic để xác định mô hình có khả năng dự báo gian lâ ̣n BCTC tốt nhất với xác xuất dự báo đúng đến 84,8%

Nhìn chung, dòng thời gian của các nghiên cứu trước kéo dài một khoảng thời gian 20 năm từ Persons (1995) đến Rasa & cộng sự (2015), trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của viê ̣c tiếp tục nghiên cứu để phát hiện và dự báo gian lận BCTC Hầu hết các nghiên cứu sử dụng 8-10 biến tài chính (ví dụ , Persons, 1995; Beneish 1999; Green & Choi, 1997; Summers và Sweeney 1998; Spathis 2002) Trong khi hầu hết các nghiên cứu trước đó đã không đạt được kết quả tốt khi sử dụng mô ̣t bộ biến lớn hơn (ví dụ, Fanning và Cogger , 1997; Kaminski & cô ̣ng sự, 2004), nghiên cứ u của Cecc hini & cô ̣ng sự (2010) đã đa ̣t đươ ̣c thành công lớn hơn khi sử dụng 23 biến tài chính hạt nhân để tự động tạo ra một tập hợp lớn các chỉ tiêu tài chính

Các phương pháp phân loại thường được sử dụng nhiều nhất là hồi quy logistic, mạng nơron, và phân tích biệt số , trong khi cây quyết định (DT), mạng niềm tin Bayesian (BBN) và các máy vector hỗ trợ (SVM) đã được áp dụng trong các nghiên cứu gần đây (Cecchini & cô ̣ng sự 2010; Gaganis 2009; Kirkos & cô ̣ng sự 2007) Số lượng doanh nghiệp gian lận trong các bộ dữ liệu dao động từ 38 công

ty cho đến 293 công ty Hầu hết các nghiên cứu đã sử dụng một phương pháp tiếp

Trang 25

cận theo că ̣p , trong đó số lượng công ty không gian lận xuất hiện tương ứng với số lượng công ty gian lận (Persons, 1995; Fanning & Cogger, 1998; Summers và Sweeney, 1998; Spathis 2002; Kirkos & cộng sự, 2007; Gaganis, 2009) Tuy nhiên, một vài nghiên cứu đã sử du ̣ng mô ̣t mẫu lớn hơn đáng kể các công ty không gian lận so với các công ty gian lâ ̣n (Beneish, 1999; Cecchini & cô ̣ng sự, 2010; Dechow

& cộng sự, 2011; Rasa & cô ̣ng sự , 2015)

Xét về kết quả, khả năng phát hiện gian lận đạt được tốt nhất trong các nghiên cứu của Cecchini & cô ̣ng sự (2010), Gaganis (2009), Kirkos & cô ̣ng sự (2007) và Spathis (2002) vớ i tỷ lệ phát h iện gian lận lớn hơn 80% trường hơ ̣p gian lâ ̣n Ngoài

ra, Beneish (1999) đạt được xác xuất dự đoán đúng của tổng thể là 89,5%, nhưng điều này chủ yếu là do hiệu suất dự báo tốt trên các công ty không gian lận , trong khi đó tỷ lệ phát hiện gian lận là 54,2%

1.2 Các nghiên cứu công bố trong nước

1.2.1 Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến gian lận BCTC

Hiện nay, nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến gian l ận BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam còn rất hạn chế Hầu hết các nghiên cứu trong nước tập trung vào các khía cạnh khác nhau của công bố thông tin, chất lượng BCTC và quản tri ̣ lợi nhuâ ̣n

Nguyễn Thị Hoàng Anh nghiên cứu nguyên nhân tạo nên sự khác biệt giữa báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán Tác giả cho rằng có ba nhóm nguyên nhân chính: (1) từ phía doanh nghiệp: Sự khác biệt về mặt kỹ thuật, phương pháp tính và sai sót trong quá trình hạch toán; Sự khác biệt về thời gian công bố báo cáo tài chính được kiểm toán; Động cơ của người cung cấp thông tin, (2) từ phía Nhà nước: Các biện pháp xử phạt còn nhẹ; Khuôn khổ pháp lý trên thị trường chứng khoán chưa được hoàn thiện; Chế độ kế toán, kiểm toán còn nhiều khoảng hở, (3) từ phía nhà đầu tư: thiếu kiến thức và sự thận trọng

Nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân (2009) chỉ ra các phương pháp gian lận

mà các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam sử dụng bao gồm: khai cao doanh

Trang 26

thu và thu nhập, ghi giảm chi phí Động cơ dẫn đến sai phạm là do nhà quản lý chịu một áp lực phải đạt được các mục tiêu, kế hoạch về doanh thu, lợi nhuận hay muốn duy trì thị giá cổ phiếu trong khi công ty đang gặp khó khăn về kinh doanh, về tình hình tài chính

1.2.2 Nghiên cứu phát hiện và dự báo gian lận BCTC

Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam có khá ít đ ề tài nghiên cứu về phát hiện

và dự báo gian lận BCTC Dướ i đây là mô ̣t số nghiên cứu tiêu biểu

Trần Ngọc Phúc (2013) sử dụng phân tích tỷ s ố để phát hiện gian lận, sai sót trong BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam Nghiên cứu quan sát 213 mẫu BCTC trong giai đoạn 2009 – 2011 (202 mẫu làm tập huấn luyện, 11 mẫu làm tập kiểm tra), lựa chọn 27 biến tỷ số tài chính và sử dụng công cụ khai phá

dữ liệu là phần mểm Weka để phân tích Kết quả nghiên cứu cho rằng tỷ số tài chính rất hữu ích trong việc phát hiện gian lận và sai sót trên BCTC với xác suất phát hiện được 63,6% trường hợp gian lận BCTC

Lê Thị Trúc Loan & cộng sự (2013) nghiên cứu về gian lâ ̣n BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Tp HCM Nghiên cứu sử du ̣ng dữ liê ̣u BCTC được công bố năm 2012 của 50 công ty niêm yết , trong đó 25 công ty được xem là có gian lâ ̣n BCTC và 25 công ty không có gian lâ ̣n BCTC Các tác giả xây dựng biến cho mô hình hồi quy logit gốm 5 tỷ số tài chính (Khoản phải thu/Doanh thu, Lợi nhuận thuần/ Tổng tài sản, Vốn lưu động/Tổng tài sản, Hàng tồn kho/Doanh thu, Tổng nợ/Tổng tài sản) kết hợp với chỉ số Z -score Kết quả nghiên cứu phân loa ̣i chính xác trường hợp gian lận BCTC với xác xuất 72,9%

Trần Thị Hải Lý & cộng sự (2014) đã tiến hành nghiên cứu mức độ truyền tải thông điệp có ý nghĩa của dữ liệu phi cấu trúc của doanh nghiệp trong dự kiệt quệ tài chính và phát hiện gian lận BCTC Nghiên cứu sử dụng quá trình phân tích thông điệp văn bản và kĩ thuật khai phá văn bản nhằm chuyển đổi dữ liệu phi cấu trúc thành các dự liệu dạng số Các biến cấu trúc truyền thống bao gồm dòng tiền và các nhân tố liên quan, nhân tố quản trị công ty đại chúng, nhân tố vĩ mô

Trang 27

Nguyễn Trần Nguyên Trân (2014) nghiên cứu sai sót trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó nhấn mạnh đến sai sót do gian lận theo hướng thổi phồng lợi nhuận như một đo lường tương đối của gian lận Tác giả sử dụng mô hình Beneish (1999) bao gồm tám biến nhận diện khả năng và động cơ gian lận là các chỉ số phải thu khách hàng so với doanh thu, tỷ lệ lãi gộp, chất lượng tài sản, tăng trưởng doanh thu bán hàng, tỷ lệ khấu hao, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính và biến dồn tích so với tổng tài sản Với tỷ lệ phát hiện là 53,33% trường hợp gian lận BCTC, nghiên cứu cho rằng mô hình Beneish M-Score có thể được sử dụng nhằm phát hiện sớm một số công ty có khả năng thực hiện các hành vi thao túng trên BCTC

Hoàng Khánh, Trần Thị Thu Hiền (2015) ứng dụng các nghiên cứu củaDeAngelo (1986), Friedlan (1994) và Beneish (1999), nhằm xây dựng mô hình nhận diện khả năng sai phạm báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Trong nghiên cứu tác giả sử dụng hai mô hình: mô hình gốc 8 biến của Beneish và mô hình 10 biến được pháp triển thêm hai biến dồn tích (DA) và biến quy mô doanh nghiệp Size Độ chính xác hai mô hình lần lượt là 63,41% và 68,29% tính theo kết quả kiểm toán độc lập Với

mô hình (2), sau khi thêm biến dồn tích (DA), ta cũng thấy được một kết quả cao hơn về dự đoán sai phạm báo cáo tài chính cao hơn kết quả của nghiên cứu gốc Beneish (1999)

Trần Thị Giang Tân & cộng sự (2015) đã xây dựng mô hình thể hiện mối quan

hệ giữa hành vi gian lận BCTC với các yếu tố của tam giác gian lận dựa theo mô hình nghiên cứu của Skousen & cộng sự (2009), Lou & Wang (2011) Các yếu tố của tam giác gian lận chủ yếu được đo lường thông qua các tỷ số tài chính Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy logistic với mẫu nghiên cứu gồm 39 công ty gian lận và 39 công ty không gian lận niêm yết trên HSX có cùng quy mô, ngành nghề,

số liệu lấy từ BCTC trước và sau kiểm toán năm 2012 Kết quả mô hình có khả năng dự báo đúng 83,33% cho các công ty trong mẫu nghiên cứu và dự báo đúng 80% cho 20 công ty ngoài mẫu nghiên cứu

Trang 28

Trần Việt Hải (2017) sử dụng số liệu tài chính của 268 công ty phi tài chính niêm yết trên sàn HOSE để phát triển mô hình hồi quy bao gồm các tỷ số tài chính

có khả năng sử dụng để nhận diện gian lận BCTC Tác giả đã sử dụng mô hình Beneish với hệ số M-score để phân loại mẫu gồm 112 công ty niêm yết có gian lận BCTC và 156 công ty niêm yết không có gian lận BCTC Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến tỷ số NP/TA,WC/TA, GP/TA và Z-score có thể hữu ích trong việc phát hiện gian lận BCTC Mô hình nghiên cứu phân loại công ty niêm yết có gian lận BCTC với tỷ lệ chính xác là 68,7%

1.3 Khe hổng nghiên cứu

Qua phần tổng quan, có thể thấy các nghiên cứu trên thế giới đã nghiên cứu về gian lận BCTC từ rất lâu và xây dựng được nhiều mô hình có khả năng phát hiện và

dự báo khả năng gian lận BCTC với khả năng dự báo cao Tại Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến gian lận và phát hiện gian lận BCTC còn khá hạn chế Một số nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ kiểm định lại các mô hình được xây dựng bởi các nhà nghiên cứu nước ngoài, như mô hình Z-score, M-score, F-score hay các nhân tố của tam giác gian lận với các kỹ thuật phân tích thống kê, hồi quy hoặc khai phá dữ liệu Hầu như chưa có nhiều nghiên cứu xây dựng mô hình đánh giá khả năng gian lận BCTC hoàn toàn trên cơ s ở các tỷ số tài chính Vì vậy, tác giả đã mạnh dạn dựa trên phát hiện này để xây dựng đề tài luận văn

Trang 29

Kết luận chương 1

Nội dung chính của chương này nhằm đánh giá một cách tổng quan về bức tranh tổng thể của các nghiên cứu khác nhau ở trong cũng như ngoài nước có liên quan trực tiếp cũng như gián tiếp đến những nội dung của luận văn mà tác giả thực hiện Từ đó, giúp tác giả nhận thấy khe hổng c ần nghiên cứu và làm nền tảng để thực hiện các bước tiếp theo Việc tổng hợp và đánh giá các công trình nghiên cứu được tác giả trình bày theo hai phần lần lượt trong nước và ngoài nước trên cơ sở chọn lọc các công trình tiêu biểu đã công bố có liên quan đến những nội dung của luận văn

Trang 30

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu, nội dung chương 2 của luận văn trình bày các lý thuyết nền tảng có liên quan để tác giả có cơ sở kết hợp với nội dung trong chương 1 xây dựng mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thuyết nghiên cứu, cụ thể trong chương này sẽ trình bày những nội dung sau:

- Tổng quan về gian lận, gian lâ ̣n BCTC, tỷ số tài chính

- Các trường phái lý thuyết nghiên cứu về gian lận

- Mô hình nghiên cứu và phát triển giả thuyết nghiên cứu

2.1 Tổng quan về gian lận và gian lận BCTC

2.1.1 Tổng quan về gian lận

2.1.1.1 Định nghĩa gian lận

Theo từ điển luật Black (trích dẫn trong Lawrence & cộng sự, 2004) thì gian lận cũng có nghĩa là “việc làm lợi bằng cách cung cấp sai, gây hiểu lầm hay lấp liếm che đậy sự thật” Vì vậy, gian lận không thể giới hạn bằng tiền hay tài sản hữu hình mà phải bao gồm cả tài sản vô hình như quan hệ pháp lý hay thông tin

Theo hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE) gian lận là hành vi cố tình lạm dụng hoặc sử dụng sai mục đích tài sản của doanh nghiệp nhằm làm giàu cho cá nhân

Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế 240 nói về “Trách nhiệm của kiểm toán viên trong việc xem xét các gian lận trong khi kiểm toán BCTC” thì gian lận như là

“Hành vi cố ý của cá nhân hay tổ chức trong công ty, những người chịu trách nhiệm với hội đồng quản trị, nhân viên hoặc bên thứ ba liên quan đến việc sử dụng lừa dối

để thu lợi ích bất hợp pháp cho mình”

Trang 31

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 29 (VAS 29) định nghĩa: Gian lận là sai sót do cố ý gây ra, như thu tiền của người mua hàng không nộp quỹ mà sử dụng cho

cá nhân, lấy tiền công quỹ, hàng tồn kho sử dụng cho cá nhân

Như vậy, gian lận có thể mang lại lợi ích cho cá nhân hay cho tổ chức Khi cá nhân thực hiện gian lận, lợi ích có thể là trực tiếp (như nhận tiền hay tài sản), hay gián tiếp (có ảnh hưởng nào đó, tăng quyền lực, sự đền ơn, tiền thưởng…) Khi tổ chức (thường là nhân viên hành động trên tư cách tổ chức) thực hiện gian lận thì lợi ích thu được thường là trực tiếp dưới hình thức thu nhập của công ty tăng lên

2.1.1.2 Phân loại gian lận

Nghiên cứu của ACFE phân loại gian lâ ̣n thành 3 loại:

Gian lận liên quan đến tài sản: Đây là loa ̣i gian lâ ̣n liên quan đến hành vi đánh

cắp tài sản thường do nhân viên hay người quản lý thực hiê ̣n , điển hình là biển thủ tiền, đánh cắp hàng tồn kho, gian lâ ̣n về tiền lương

nhằm mu ̣c đích lợi du ̣ng trách nhiê ̣m và quyền ha ̣n của ho ̣ để làm trái các nghĩa vu ̣ đã được ho ̣ cam kết với đơn vi ̣ qua đó làm lợi cho bản thân hoă ̣c bên thứ ba

Gian lận trên BCTC : Đây là loa ̣i gian lâ ̣n mà các thông tin trên BCTC bi ̣ bóp

méo, phản ánh không trung thực tình hình tài chính một cách cố ý nhằm lường gạt người sử du ̣ng thông tin Ví dụ như khai khống doanh thu , giảm nợ phải trả hay chi phí

Bảng 2.1 Kết quả cuộc nghiên cứu của ACFE về tổn thất do gian lận (2012-2016)

Loại gian lận

% trường hợp

Thiệt hại (USD)

% trường hợp

Thiệt hại (USD)

% trường hợp

Thiệt hại (USD) Biển thủ 86,7% 120.000 85,4% 130.000 83,5% 125.000

Trang 32

Loại gian lận

% trường hợp

Thiệt hại (USD)

% trường hợp

Thiệt hại (USD)

% trường hợp

Thiệt hại (USD)

Gian lận BCTC 7,6% 1.000.000 9,0% 1.000.000 9,6% 975.000

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ báo cáo của ACFE năm 2016

Kết quả nghiên cứu của ACFE cho thấy, trong các trường hợp khảo sát, gian lận liên quan đến tài sản tuy chiếm khoảng hơn 80% trường hợp nhưng mức thiệt hại cho nền kinh tế là thấp nhất Trong khi đó, các gian lận trên BCTC, tuy chiếm tỷ

lệ thấp nhất nhưng hậu quả gây ra cho nền kinh tế là lớn nhất

Mặc dù công trình nghiên cứu về gian lận ACFE đã đưa ra những số liệu thống kê về những thiệt hại của việc gian lận trên báo cáo tài chính bị phát hiện, tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng khó mà xác định được thiệt hại thực sự bởi lẽ không phải tất cả những gian lận đều bị phát hiện và không phải tất cả các gian lận được phát hiện đều được báo cáo và không phải tất cả gian lận đã báo cáo đều bị khởi tố theo đúng pháp luật Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu trên chỉ thống kê thiệt hại về kinh tế trực tiếp do gian lận trên báo cáo tài chính, trong khi còn rất nhiều thiệt hại vô hình không thể biểu hiện bằng con số cụ thể ví dụ như chi phí kiện tụng, phí bảo hiểm, sự sụt giảm niềm tin và tác động xấu đến thị trường chứng khoán

2.1.2 Tổng quan về gian lận BCTC

2.1.2.1 Định nghĩa gian lận BCTC

Theo báo cáo của Ủy ban thuộc Hội đồng Quốc gia về chống gian lận trên BCTC của Hoa Kỳ (Treadway Commision) năm 1987, gian lận BCTC được định nghĩa hành vi cố ý hoặc thiếu thận trọng, dù là cố ý hay bỏ sót không ghi chép các

Trang 33

nghiệp vụ phát sinh hay công bố thiếu thông tin tài chính, làm sai lệch trọng yếu BCTC nhằm đánh lừa người sử dụng thông tin, đặc biệt là nhà đầu tư và chủ nợ Theo ACFE gian lận BCTC là việc có chủ đích, gian dối, nói không đúng sự thật, hay việc loại trừ các sự thật hữu hình, hay các dữ liệu kế toán bị làm sai lệch

và khi xem xét tất cả các thông tin được cung cấp sẵn sẽ làm cho người đọc thay đổi những đánh giá của anh ta hay cô ta hay thay đổi quyết định Do đó, khi các nhà quản lý của một công ty cung cấp thông tin tài chính sai lệch, nó được gọi là gian lận BCTC

Theo ISA 240 thì gian lận liên quan đến BCTC là các sai pha ̣m tro ̣ng yếu được thực hiê ̣n mô ̣t cách cố ý bao gồm cả những thiếu sót về số lượng , giá trị các khoản mục hoặc thông tin trên BCTC để đánh lừa người sử dụng Hành vi này được gây ra bởi các nỗ lực của nhà quản lý đơn vi ̣ nhằm ta ̣o ra mô ̣t khoản lợi íc h cho chính đơn

vị

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA 240), “Các sai sót trong báo cáo tài chính có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn” Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân tác giả đồng tình với cách sử dụng thuật ngữ của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam trước đây, là sai phạm trên BCTC xuất phát từ gian lận và sai sót Trong nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng thuật ngữ gian lận BCTC ở góc độ là các sai phạm trọng yếu trên BCTC mà không quan tâm sai phạm đó là do cố ý hay không cố ý

Ngoài ra, về thuật ngữ khả năng gian lận BCTC, trong phạm vi của luận văn, tác giả nghiên cứu về khả năng BCTC sai phạm Và việc đánh giá khả năng gian lận BCTC được đo lường bằng giá trị tuyệt đối của chênh lệch lợi nhuận sau thuế trước

và sau kiểm toán BCTC ở ngưỡng >10% Tình trạng chênh lệch này là dấu hiệu cho thấy BCTC có khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu chứ không khẳng định đó là sai phạm do cố ý hay không cố ý, vì không có cơ sở để khẳng định điều này

Trang 34

2.1.2.2 Những phương pháp thực hiện gian lận trên BCTC phổ biến

BCTC trong đó có chứa các yếu tố của sự gian lận có thể dẫn đến suy giảm trong tính toàn vẹn của thông tin tài chính và có thể ảnh hưởng đến các bên khác nhau Ngoài ra các nhà đầu tư và các chủ nợ, kiểm toán viên là một nạn nhân của gian lận báo cáo tài chính vì họ có thể bị tổn thất tài chính và / hoặc mất uy tín (Rezae, 2002) Để hiểu rõ hơn chi phí mà nền kinh tế phải gánh chịu do gian lận và các phương thức gian lận nào xuất hiện phổ biến nhất, nhiều tổ chức và nhà nghiên cứu đã tiến hành điều tra thống kê các phương pháp thực hiện gian lận Trong đó, nổi bật là các báo cáo về gian lận của ACFE

Ra đời năm 1993, cho đến nay ACFE đã trở thành tổ chức nghiên cứu và điều tra về gian lận có quy mô lớn nhất thế giới Ngay sau khi được thành lập, ACFE đã tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu trên quy mô lớn bằng cách gửi bảng câu hỏi cho các thành viên của Hiệp hội nhằm thu thập thông tin về các trường hợp gian lận mà các thành viên này đã từng chứng kiến Kết quả của cuộc điều tra được trình bày trong báo cáo có tên “Report to the Nations on Occupational Faurd and Abuse” nêu

ra một số vấn đề về thiệt hại do gian lận, chủ thể thực hiện gian lận, phương pháp gian lận,…

Một trong những đóng góp rất lớn của ACFE là việc thống kê các phương pháp gian lận phổ biến trên Báo cáo tài chính Dưới đây là thống kê các loại gian lận phổ biến trên BCTC

Khai khống doanh thu (Ghi nhận doanh thu không có thực)

Khai khống doanh thu là việc ghi nhận vào sổ sách một nghiệp vụ bán hàng hoá hay cung cấp dịch vụ không có thực Kỹ thuật thường sử dụng là tạo ra các khách hàng giả mạo, lập chứng từ giả mạo Khai cao doanh thu còn được thực hiện thông qua việc cố ý ghi tăng các nhân tố trên Hóa đơn như số lượng, giá bán hoặc ghi nhận doanh thu khi các điều kiện giao hàng chưa hoàn tất, quyền sở hữu và trách nhiệm về rủi ro đối với hàng hoá – dịch vụ chưa được chuyển qua bên mua hàng

Trang 35

Ghi nhận sai niên độ

Gian lận trong Báo cáo tài chính có thể được thực hiện bởi kỹ thuật ghi nhận sai niên độ trong đó, doanh thu hay chi phí được ghi nhận không đúng với thời kỳ

mà nó phát sinh Doanh thu hoặc chi phí của kỳ này có thể chuyển sang kỳ kế tiếp hay ngược lại để làm tăng hoặc giảm thu nhập theo mong muốn

Giấu công nợ và chi phí

Che dấu công nợ đưa đến giảm chi phí là một trong những kỹ thuật gian lận phổ biến trên Báo cáo tài chính với mục đích khai khống lợi nhuận Lợi nhuận trước thuế sẽ tăng tương ứng với số chi phí hay công nợ bị che dấu Đây là phương pháp

dễ thực hiện so với các phương pháp ngụy tạo các giao dịch bán hàng Mặt khác nó rất khó bị các kiểm toán viên phát hiện vì thường không để lại dấu vết Có ba phương pháp chính thực hiện giấu gian lận và chi phí: không ghi nhận công nợ và chi phí; vốn hoá chi phí; hàng bán trả lại - các khoản giảm trừ và bảo hành

Không khai báo đầy đủ thông tin

Việc không khai báo đầy đủ các thông tin nhằm hạn chế khả năng phân tích của người sử dụng Báo cáo tài chính Các thông tin thường không được khai báo đầy đủ trong thuyết minh như nợ phải trả tiềm tàng, các sự kiện sau ngày kết thúc niên độ, thông tin về bên có liên quan, các những thay đổi về chính sách kế toán

Định giá sai tài sản

Việc áp dụng sai phương pháp đánh giá là một kỹ thuật gian lận khá phổ biến Việc đánh giá sai thường áp dụng cho các khoản mục sau: Hàng tồn kho, khoản phải thu, các tài sản mua qua hợp nhất kinh doanh, tài sản cố định, không vốn hoá đầy đủ các chi phí vô hình, phân loại không đúng tài sản

Trang 36

2.2 Tỷ số tài chính

2.2.1 Tỷ số tài chính va ̀ ý nghĩa

Tỷ số tài chính là một tỷ lệ được tính từ hai hoặc nhiều giá trị kế toán có mối quan hệ với nhau (Ilaboya, 2008) Tỷ lệ tài chính mô tả tất cả các khía cạnh của hoạt động tài chính, bao gồm cả lợi nhuận, khả năng thanh toán và hiệu suất quản lý, là những chỉ số sức khỏe của công ty (Courtis, 1978)

Tỷ số tài chính là một công cụ hiệu quả và dễ dàng để giải thích cho các số liệu được tìm thấy trong BCTC, giúp người sử dụng BCTC trả lời những câu hỏi quan trọng như việc kinh doanh có đang gặp phải tình trạng nợ hoặc hàng tồn kho quá mức, các khách hàng có đang thanh toán theo đúng điều khoản thỏa thuận, chi phí hoạt động có quá cao và liệu rằng tài sản của công ty có đang được sử dụng đúng cách để tạo ra thu nhập (Ravisankar et al, 2011)

Tỷ số tài chính đã đóng góp một phần quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động và tình hình tài chính của một thực thể Qua nhiều năm, các nghiên cứu thực nghiệm đã nhiều lần chứng minh tính hữu ích của các tỷ số tài chính

2.2.2 Phân nho ́m tỷ số tài chính

Các nghiên cứu của PMC (Pinches,Mingo & Caruthers, 1973) và PEMC (Pinches, Eubank, Mingo & Caruthers, 1975) cho thấy có sự phân loại tỷ số ph ổ biến và cung cấp một cơ sở thực nghiệm để phân nhóm các tỷ số tài chính Theo phát hiện của họ, tỷ số tài chính có thể được đại diện bởi bảy nhóm yếu tố - Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (Return on Investment-ROI), Đòn bẩy tài chính (Financial Leverage), Vòng quay vốn (Capital Turnover), Khả năng thanh khoản ngắn hạn (Short-Term Liquidity), Tình hình tiền mặt (Cash Position), Vòng quay hàng tồn kho (Inventory Turnover) và Vòng quay khoản phải thu (Receivables Turnover) Ngoài ra theo Mehta Ujal & cô ̣ng sự (2012), Dalnial & cô ̣ng sự (2014), Rasa

& cộng sự (2015) tỷ số tài chính có thể phân nhóm thành tỷ số sinh lợi , tỷ số thanh

Trang 37

khoản, tỷ số hoạt động , tỷ số đòn bẩy tài chính và tỷ số cơ cấu tài sản Phụ lục 6 sẽ trình bày chi tiết các tỷ số tài chính trong 5 nhóm này

2.3 Các mô hình phát hiện gian lận BCTC

2.3.1 Mô hình Logit vàProbit

Mô hình Beneish (Mô hìnhProbit)

Mô hình Probit của Beneish (1999) được xác định như sau:

Chỉ số chất lượng tài sản

Chỉ số tăng trưở ng doanh thu

Chỉ số khấu hao

Chỉ số chi phí quản lý, bán hàng

Chỉ số đòn bẩy

Tổng dồn tích/Tổng tài sản

Theo Dechow, Sloan và Sweeney (1996), mô hình Beneish cung cấp cho người sử dụng báo cáo tài chính cơ hội đánh giá công ty từ các khía cạnh khác nhau bằng cách chụp lại bức tranh toàn cảnh tình hình tài chính của các công ty khác

Trang 38

Ngoài ra, các biến được sử dụng trong mô hình không chỉ liên quan đến việc xác định các giao dịch bị gian lận đã được thực hiện ở công ty, mà còn có thể xác định được các giao dịch có thể gian lận trong tương lai

Mô hình Spathis (Mô hình Logit)

Mô hình của Spathis xây dựng năm 2002 sử dụng phân tích hồi quy logic cho công ty gian lận và công ty không gian lận theo các biến độc lập

𝐸 𝑦 = 𝑒𝑥𝑝⁡(𝑏0 + 𝑏1𝑥1 + 𝑏2𝑥2 + 𝑏3𝑥3 + ⋯ + 𝑏𝑛𝑥𝑛)

1 + 𝑒𝑥𝑝⁡(𝑏0 + 𝑏1𝑥1 + 𝑏2𝑥2 + 𝑏3𝑥3 + ⋯ + 𝑏𝑛𝑥𝑛)E(y): biến phụ thuộc, nhận giá trị 1 nếu đó là công ty gian lận và giá trị 0 cho công ty không thực hiện gian lận

b0: hệ số góc

b1, b2, …, bn: hệ số tương quan của các biến độc lập

x1, x2, …, xn: các biến độc lập

Mô hình cụ thể như sau:

FFS = b0 + b1(Nợ/Vốn chủ sở hữu) + b2(Doanh thu/Tổng tài sản) + b3(Lãi gộp/Doanh thu) + b4(Nợ phải thu/Doanh thu) + b5(Lãi gộp/Tổng tài sản) + b6(Vốn lưu động/Tổng tài sản) + b7(Doanh thu/Tổng tài sản) + b8(Hàng tồn kho/Tổng tài sản) + b9(Tổng nợ/Tổng tài sản) + b10(Chi phí tài chính/Chi phí hoạt động) + b11(Thuế/Doanh thu) + b12(Z-score)

2.3.2 Mô hình khai pha ́ dữ liê ̣u

Khai phá dữ liệu là một công cụ quan trọng để đối phó với việc phân loại và phân tích dữ liệu phức tạp Nó xác định các sự kiện có giá trị được ẩn trong một lượng lớn dữ liệu để phân tích và tóm tắt các dữ liệu trong một mô hình cấu trúc để cung cấp một tài liệu tham khảo cho việc ra quyết định và cho mục đích dự đoán Khai thác dữ liệu có nhiều chức năng khác nhau, chẳng hạn như phân loại, lập hội, nhóm và các dự báo (Seifert 2004), trong đó chức năng phân loại được sử dụng

Trang 39

thường xuyên nhất Để phát hiện BCTC gian lận, phần lớn các nghiên cứu trước đây như Green & Choi (1997), Kirkos & cô ̣ng sự (2007) đã đề xuất việc sử dụng các phương pháp khai thác dữ liệu vì ưu thế của nó trong điều kiện dự báo cũng như độ chính xác của nó trong việc phân loại Các kỹ thuật khái phá dữ liệu thường được sử dụng bao gồm mạng thần kinh nhân tạo (ANN), cây quyết định (DT), mạng niềm tin Bayesian (BBN) và Máy vector hỗ trợ (SMV)

2.4 Lý thuyết nền

Như nội dung tác giả đã trình bày ở Chương 1, có rất nhi ều công trình trên thế giới nghiên cứu về khả năng phát hiện gian lận BCTC của các tỷ số tài chính Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu không giống nhau, có tỷ s ố trong nghiên cứu này không có khả năng phát hiê ̣n gian lâ ̣n BCTC nhưng trong nghiên cứu khác lại có Vì vậy, để có cơ sở cho việc tác giả phát triển giả thuyết nghiên cứu

từ mô hình nghiên cứu trong luận văn, tác giả thực hiện việc phân tích các lý thuyết nền tảng có liên quan

2.4.1 Lý thuyết giải thích hành vi gian lận

2.4.1.1 Lý thuyết hợp đồng (Contractual theory)

Lý thuyết hợp đồng đầu tiên được nêu ra bởi Jensen và Meckling (1976) Lý thuyết này nhấn mạnh rằng kế toán là một phần không thể thiếu trong các hợp đồng của doanh nghiệp Các chỉ tiêu kế toán thường xuyên được sử dụng trong các hợp đồng, do đó mà các chỉ tiêu này có xu hướng bị “điều chỉnh” để phù hợp với các hợp đồng Trong các nghiên cứu về lý thuyết kế toán, hai loại hợp đồng đặc biệt được quan tâm và nghiên cứu là hợp đồng giữa các cổ đông – nhà quản trị và hợp đồng giữa doanh nghiệp – ngân hàng Các quan hệ hợp đồng này phát sinh thêm các chi phí ủy nhiệm, các chi phí này sẽ đư ợc trình bày chi tiết trong nội dung của lý thuyết ủy nhiệm

Trang 40

2.4.1.2 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory)

Lý thuyết ủy nhiệm được phát triển bởi Jensen và Meckling trong mô ̣t công bố năm 19767

Lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm (principal) và bên đươ ̣c ủy nhiê ̣m (agent) thông qua hợp đồng Trong đó, bên được ủy nhiệm sẽ thực hiện một số công việc đại diện cho bên ủy nhiệm, bao gồm cả vi ệc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty Theo lý thuyết ủy nhiệm, chính thông tin bất tương xứng và lợi ích cá nhân đã ngăn cản sự hợp tác giữa bên

ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm Thông thường, bên được ủy nhiệm được mong đợi

sẽ hành xử theo hướng mang lại lợi ích lớn nhất cho bên ủy nhiệm nhưng bản thân những người được ủy nhiệm cũng theo đuổi những lợi ích riêng Chính vì vậy trong mối quan hệ này luôn tồn tại những mâu thuẫn và điều này làm phát sinh một khoản chi phí đại diện (agency cost)

Mối quan hệ ủy nhiệm xuất hiện rõ trong quan hệ gi ữa cổ đông với nhà quản

lý doanh nghiệp và giữa chủ nợ với các cổ đông của công ty

Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng cả hai bên cổ đông và nhà quản lý đều mong muốn tối đa hóa lợi ích của mình và tồn ta ̣i khả năng nhà quản lý hành xử không hoàn toàn vì lợi ích cổ đông từ đó làm phát sinh chi phí ủy nhiệm Các giải pháp để giảm chi phí ủ y nhiê ̣m là thông qua hợp đồng giữa các cổ đông và nhà quản lý theo hướng khuyến khích nhà quản lý tối đa hóa giá tri ̣ thi ̣ trường của công ty và tối đa hóa lợi nhuận công ty bằng các chính sách thưởng Phần lớ n các kế ho ạch khen thưởng này la ̣i dựa trên các con số kế toán , do đó xuất hiê ̣n khả năng người quản lý

sẽ tìm cách tác động vào các BCTC để đạt được mục đích hưởng lợi ích cá nhân của mình

7

Jensen, M C and Meckling, W H., 1976 Theory of the firm: managerial

behaviour, agency costs and ownership structure Journal of Financial Economics,

3: 305-361

Ngày đăng: 26/05/2021, 13:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm