Nghiên cứu dưới đây của tác giả nhằm phân tích mối quan hệ của tổng vốn đầu tư thực hiện và xuất khẩu ròng đối với GDP của Việt Nam giai đoạn 2010-2020, giai đoạn có nhiều biến động về kinh tế vĩ mô, trong đó bao gồm cả tác động của dịch bệnh Covid 19.
Trang 1PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA TỔNG VỐN ĐẦU TƯ THỰC HIỆN,
XUẤT KHẨU RÒNG ĐỐI VỚI GDP CỦA VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2010 ĐẾN QUÝ 3/2020
Nguyễn Thị Thúy Hà
Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh Email: hantt78@dhhp.edu.vn Ngày nhận bài: 25/11/2020
Ngày PB đánh giá: 14/12/2020
Ngày duyệt đăng: 18/12/2020
TÓM TẮT: Đầu tư, xuất khẩu ròng và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ với nhau, tạo nên sự đa dạng,
phong phú từ lý thuyết đến thực nghiệm, với nhiều quan điểm, tranh luận nhiều chiều Các nghiên cứu
về mối quan hệ này đã được thực hiện trong các giai đoạn khác nhau, trong phạm vi từ trung ương tới địa phương Nghiên cứu dưới đây của tác giả nhằm phân tích mối quan hệ của tổng vốn đầu tư thực hiện và xuất khẩu ròng đối với GDP của Việt Nam giai đoạn 2010-2020, giai đoạn có nhiều biến động
về kinh tế vĩ mô, trong đó bao gồm cả tác động của dịch bệnh Covid 19 Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm thu hút đầu tư để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu: Phân tích thống kê, so sánh và mô hình vector tự hồi qui (VAR).
Từ khóa: Tổng vốn đầu tư thực hiện, xuất khẩu ròng, tăng trưởng kinh tế, GDP.
ANALYSIS OF THE EFFECTS OF TOTAL IMPLEMENTED INVESTMENT AND NET
EXPORT ON GDP OF VIETNAM FROM 2010 TO 3/2020 ABTRACT: There are relationships between Investment, net exports and economic growth, cause
diversity and variety from theory to reality The researches on this have been carry out in periods of economic development, on a nation and local scale The paper analyses relationship between total investment capital, net exports and economic growth rate of Vietnam in 2010-2020, a period with a lot
of macroeconmic fluctuations, within impact of COVID -19 pandemic On the basic of the research results, author suggest some solutions in order to attract investment capital for Economic development
of Vietnam The article uses the research methodology of statistical analysis, comparison and Vector autorewardsion (VAR)
Key words: Total realized investment, net exports, economic growth, GDP.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào
Việt Nam đã tăng mạnh kể từ khi Việt Nam
gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) vào năm 2007 Sau hơn 30 năm mở
cửa, hội nhập và cải cách môi trường kinh
doanh, Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp
dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài Nguồn
vốn FDI vào Việt Nam đã tăng mạnh, số
vốn đăng ký và số vốn thực hiện đều có sự cải thiện so cùng kỳ các năm
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố và đặc tính của nước sở tại Mặc dù trong ngắn hạn, mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế có xu hướng thấp nhưng về lâu dài, tỷ lệ đầu tư
Trang 2được nhận thấy có liên quan chặt chẽ với
tăng trưởng kinh tế De Mello (1999) cho
rằng vốn FDI có thể góp phần vào tăng
trưởng kinh tế nơi chuyển giao công nghệ
thông qua đào tạo lao động và mua lại kỹ
năng, phương thức quản lý mới và sắp xếp
tổ chức De Gregorio (2003) cũng đã ghi
nhận rằng có sự chuyển công nghệ và kiến
thức từ các nhà đầu tư quốc gia kèm theo
nguồn vốn FDI dẫn đến tăng trưởng năng
suất trong nền kinh tế
GDP Việt Nam trong 9 tháng đầu
năm 2020 giảm trong đó giảm vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài là một trong các
nguyên nhân do ảnh hưởng của đại dịch
Covid 19 Nghiên cứu này phân tích mức
độ ảnh hưởng của FDI, xuất khẩu ròng và
vai trò của nó đối với GDP trong giai đoạn
từ 2010 đến quý 3 năm 2020, đồng thời
đưa ra các khuyến nghị cần thiết Bài viết
sử dụng phương pháp nghiên cứu phân
tích thống kê, so sánh và mô hình vector
tự hồi qui VAR
2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Mô hình Vectơ tự hồi quy (VAR)
được đề xuất lần đầu tiên bởi giáo sư đại
học Princeton - Chrisphopher Sims vào
năm 1980, ngày nay đã trở thành một trong
phương pháp thành công nhất trong phân
tích thực nghiệm vĩ mô Mô hình xem xét
nhiều chuỗi thời gian cùng một lúc và sự
tác động qua lại lẫn nhau của các biến
Ở Việt Nam, mô hình này đã được sử
dụng nhiều, tuy nhiên mới dừng ở mức độ
đánh giá các mối liên hệ giữa các biến kinh
tế vĩ mô là chủ yếu Mô hình VAR có thể
được ước lượng dễ dàng bằng tất các các
phần mềm kinh tế lượng như Stata, Eviews
Mục đích của mô hình VAR(p) là:
• Xây dựng mô hình dự báo mà
không cần lý thuyết;
• Cho phép xem xét ảnh hưởng động
của một cú sốc đối với các biến khác;
• Cho phép đánh giá tầm quan trọng của một cú sốc đối với sự dao động của các biến;
• Cung cấp cơ sở cho việc thực hiện kiểm định nhân quả Granger, để xem xét tác động qua lại giữa các biến
Mô hình VAR có p là độ trễ tối đa của bất kì biến nào.VAR có thể có m biến (m
>2) Trong mô hình VAR không có ràng buộc trên, mỗi biến xuất hiện với mỗi độ trễ ở tất cả các phương trình.Với mô hình VAR(p) có m là biến, sẽ có m2 các hệ số
ở mỗi độ trễ; mô hình VAR có rất nhiều
hệ số Độ trễ p phải được lựa chọn sao cho không có sự tương quan giữa các sai
số ước lượng Tuy nhiên điều kiện của VAR là các chuỗi số liệu thời gian phải
là chuỗi dừng, trong thực tế các chuỗi số liệu gốc thường là không dừng Hạn chế của phương pháp này là chỉ xem xét được các mối quan hệ trong ngắn hạn, do vậy chúng ta thường kết hợp sử dụng mô hình vectơ hiệu chỉnh sai số (VECM) Phương pháp này dựa trên đặc điểm: sự kết hợp tuy tuyến tính của các chuỗi thời gian không dừng đôi khi lại cho ta một chuỗi dừng Trong trường hợp này, các chuỗi thời gian đó được gọi là đồng tích hợp (cointegration) Mô hình này giúp chúng
ta xem xét được mối quan hệ dài hạn của các biến số (các chuỗi thời gian) Các kết quả của mô hình được đọc thông qua kiểm định nhân quả Granger, Đồ thị hàm phản ứng xung, Bảng phân rã phương sai
và phương trình đồng liên kết
Bài nghiên cứu sử dụng các biến tổng sản phẩm quốc nội (GDP), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện (FDI), giá trị xuất khẩu (EX) và giá trị nhập khẩu (IM) Khi đưa vào phương trình các biến số được trình bày dưới dạng logarit tự nhiên Các dữ liệu là chuỗi thời gian theo quý của Việt Nam trong khoảng thời gian từ quý 1 năm 2010 đến quý 3 năm 2020
Trang 3Bảng 1: Số liệu GDP và Vốn FDI thực hiện giai đoạn từ Q1/2010 - Q3/2020
Chỉ tiêu
Năm
Vốn thực hiện (tr USD) GDP theo giá hiện hành (Tỷ VNĐ)
2016 3,500 3,750 2,370 5,820 850,315 1,029,558 1,157,955 1,263,590
2017 3,620 3,100 4,780 5,000 931,607 1,127,215 1,272,433 1,676,602
2018 3,880 4,490 4,880 5,730 1,027,928 1,414,236 1,242,220 1,851,928
2019 4,120 4,880 5,120 6,180 1,116,680 1,366,899 1,539,114 2,010,887
(Nguồn Vietstock và Cục đầu tư nước ngoài)
GDP và FDI trong giai đoạn từ năm
2010-2019 đều đạt được những mục tiêu
tăng trưởng tốt.Năm 2019 đạt 7,02% so với
năm 2018; trong đó quý I tăng 6,82%, quý
II tăng 6,73%, quý III tăng 7,48% và quý
IV tăng 6,97%, vượt mục tiêu của Quốc hội
đề ra là từ 6,6-6,8% Mức tăng trưởng năm
2019 tuy thấp hơn mức tăng 7,08% của năm
2018 nhưng cao hơn mức tăng của các năm
2011-2017 Năm 2019, Việt Nam cũng đạt
được nhiều thành tựu lớn trong việc ký kết
các hiệp định thương mại tự do
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng
hóa ước đạt gần 517 tỷ USD, tăng 7,6%
so năm 2018, lần đầu vượt ngưỡng 500 tỷ
USD và là kết quả lịch sử, với giá trị xuất siêu đạt mức kỷ lục mới đạt 9,94 tỷ USD Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 263,45 tỷ USD, tăng 8,1% Khu vực kinh tế trong nước năm qua đánh dấu
sự phát triển vượt bậc với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu lên tới 17,7%, cao hơn rất nhiều tốc độ tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (4,2%)
Trong giai đoạn 2010 - 2019, nguồn vốn FDI vào Việt Nam có xu hướng tăng
về số lượng dự án, số vốn đăng ký và số vốn thực hiện, nhất là, trong giai đoạn
2016 - 2019, được mô tả ở hình 1
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2019) Hình 1: Số dự án, tổng số vốn đăng ký và tổng số vốn thực hiện của nguồn vốn FDI
vào Việt Nam, giai đoạn 2010-2019
Trang 4Tuy nhiên trong năm 2020, tốc độ tăng
trưởng FDI và GDP bị sụt giảm do tác động
của đại dịch Covid 19 Theo số liệu của
Tổng cục Thống kê chính thức công bố,
tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng
năm 2020 ước tính tăng 2,12% so với cùng
kỳ năm trước Mức tăng này là thấp nhất
của 9 tháng các năm trong giai đoạn
2011-2020, nhưng trong bối cảnh dịch Covid 19
ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt kinh
tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới, thì
đây là “một thành công lớn” của Việt Nam
trong việc phòng chống dịch bệnh, khôi
phục và phát triển kinh tế
GDP quý III/2020 được đánh giá là
tăng trưởng khởi sắc so với quý II/2020 do
dịch Covid19 tại Việt Nam được kiểm soát
chặt chẽ, nền kinh tế từng bước hoạt động
trở lại trong điều kiện bình thường mới
Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và
thủy sản tăng 2,93%; khu vực công nghiệp
và xây dựng tăng 2,95%; khu vực dịch vụ
tăng 2,75%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp
sản phẩm tăng 0,70% Về sử dụng GDP
quý III năm nay, tiêu dùng cuối cùng tăng
1,19% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy
tài sản tăng 5,79%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 2,86%; nhập khẩu hàng hóa
và dịch vụ tăng 1,88%
Theo số liệu của Cục đầu tư nước ngoài, tính đến 20/9/2020, tổng vốn đăng
ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần (GVMCP) của nhà ĐTNN đạt 21,20
tỷ USD, bằng 81,1% so với cùng kỳ năm
2019 Vốn thực hiện của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 13,76 tỷ USD, bằng 96,8% so với cùng kỳ năm 2019 Tính đến 20/9/2020, tổng vốn đăng
ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua
cổ phần của nhà ĐTNN đạt 21,20 tỷ USD, bằng 81,1% so với cùng kỳ năm 2019 Vốn thực hiện của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 13,76 tỷ USD, bằng 96,8% so với cùng kỳ năm 2019 Tính lũy kế đến ngày 20/9/2020, cả nước có 32.658 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 381,5 tỷ USD Vốn
thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 225,8 tỷ USD, bằng 59,1% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực
Hình 2: Vốn đăng ký, dự án FDI trong 9 tháng đầu năm 2020
Trang 53 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Giả thiết:
3.1.1.Giả thiết: Phân tích tác động của các
nhân tố vĩ mô đối với qui mô GDP
Sử dụng mô hình VAR để kiểm định
và ước lượng mối quan hệ giữa GDP với
một số biến số vĩ mô, bao gồm: xuất khẩu
ròng và tổng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài thực hiện
3.1.2 Biến số và các kiểm định điều kiện
Các số liệu trong mô hình đều được
lấy từ Tổng Cục Thống Kê, trang web của Vietstock, Cục đầu tư nước ngoài của từ quý 1 năm 2010 đến hết quý 3 năm 2020 Điều kiện đầu tiên để sử dụng VAR là các biến phải dừng Kiểm định Augmented Dickey – Fuller (ADF) về nghiệm đơn vị
và tính dừng của các chuỗi số liệu đều cho thấy đây là các chuỗi không dừng nhưng sai phân bậc nhất của các chuỗi này đều dừng ở mức ý nghĩa 1% Đồng thời các nghiệm đều nằm trong vòng tròn đơn vị cho thấy mô hình VAR ổn định
Bảng 2: Kiểm định tính dừng Biến Sai phân bậc 1 Giá trị độ trễ (ADF) Giá trị tới hạn (Mức ý nghĩa 1%) Kết luận
(Nguồn: Tính toán của tác giả, hỗ trợ bởi Eviews 9.0)
3.1.3 Lập mô hình toán
Mô hình VAR được khái quát dưới dạng hệ phương trình như sau:
Trong đó: lần lượt là các tham số
tương ứng
It, NXt, GDPt lần lượt là tổng vốn đầu
tư thực hiện, giá trị xuất khẩu, giá trị nhập
khâủ và tổng sản phẩm quốc nội được thể
hiện dưới dạng sai phân bậc 1
DIt-1, DNXt-1, DGDPt-1 lần lượt là
giá trị quá khứ của từng biến tương ứng
3.1.4 Ước lượng và phân tích kết quả
Tiếp tục các kiểm định trễ, kiểm định
tự tương quan và kiểm định nhân quả
Granger ta có:
- Mô hình có độ trễ bằng 8 theo tiêu chuẩn AIC
- Các phần dư có tương quan với nhau chứng tỏ cú sốc xảy ra với một biến nào đó có thể tác động tới các biến khác
- Kết quả kiểm định Granger cụ thể như sau:
Trang 6Bảng 3: Kiểm định nhân quả Granger
(Nguồn: Tính toán của tác giả, hỗ trợ bởi Eviews 9.0)
GDP, NX và I có mối quan hệ nhân
quả với nhau chứng tỏ sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa 3 biến này
Tiếp tục phân tích phản ứng đẩy và
phân rã phương sai cho thấy GDP và FDI
có tác động qua lại Cụ thể là các thay đổi
về qui mô GDP sẽ ảnh hưởng đến FDI sau 1
quí, tăng dần ảnh hưởng và tắt dần từ quí thứ
3 Trong khi đó, kể từ khi có sự thay đổi của
FDI, gần nhưng ngay lập tức, người ta có thể
thấy thay đổi tương ứng của GDP Quan sát
ảnh hưởng của FDI đối với xuất khẩu ròng
cũng có thể thấy tác động trễ khoảng 1 quí
4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Mô hình cho thấy GDP có mối quan hệ
với tổng vốn đầu tư thực hiện nhưng lại không
được giải thích bởi 2 biến giá trị xuất khẩu và
giá trị nhập khẩu Nguyên nhân có thể là do
xuất khẩu ròng là một thành phần của GDP
nhưng vì trong thời gian nghiên cứu, giá trị
xuất khẩu ròng (bằng giá trị xuất khẩu trừ đi
giá trị nhập khẩu) rất nhỏ so với qui mô GDP
nên mô hình định lượng không chỉ ra được
mối quan hệ giữa chúng Qua kết quả nghiên
cứu cho thấy, đại dịch Covid 19 có ảnh hưởng
nhưng không nhiều đến dòng vốn FDI ít nhất
là trong 9 tháng năm 2020 Dòng vốn đầu tư
trực tiếp vào Việt Nam có những thời điểm
bị giảm không bằng cùng kỳ các năm trước
thậm chí là thấp nhất trong 10 năm trở lại đây,
nhưng tính cả 9 tháng năm 2020 thì vẫn có
điểm sáng, kéo theo những con số tích cực
của FDI và GDP Điều này có thể có được là
do Chính phủ Việt Nam đã làm tốt công tác
phòng chống dịch Covid 19, các gói cứu trợ
của Chính phủ đã phát huy tác dụng và các
doanh nghiệp chủ động thích ứng, đặc biệt
các ngành hàng tiêu dùng và nông sản Nghiên cứu cũng nhấn mạnh cần phải
có nhiều chính sách cũng như sự tự chủ ở các doanh nghiệp trong nước trong hoạt động xuất khẩu, giảm bớt sự phụ thuộc vào doanh nghiệp FDI trong phát triển kinh tế ở Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam ngày càng tăng trưởng nhưng nguồn lực kinh tế vẫn còn hạn chế Do đó, việc huy động và sử dụng nguồn
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là
một kênh thu hút vốn vô cùng cần thiết và quan trọng Không thể phủ nhận những tác động tích cực mà FDI mang lại, nhưng cũng không thể bỏ qua những tác động tiêu cực của nó Đặc biệt trong kinh doanh, việc nhận biết sớm những mặt tiêu cực của một vấn đề
sẽ là lợi thế, nhằm xây dựng những kế hoạch
và định hướng đúng đắn
Mặt khác, quá trình thu hút FDI tại Việt Nam đang đặt ra khá nhiều thách thức Cụ thể:
Thứ nhất, sự hiện diện của các DN FDI
và nguồn vốn FDI đã góp phần quan trọng giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh trong mấy thập kỷ qua, tuy nhiên
đi liền với đó cũng làm gia tăng áp lực đối với môi trường Theo đuổi mục tiêu thu hút nguồn vốn FDI, tăng trưởng kinh tế có thể kéo theo những tác động tiêu cực bao gồm suy thoái nguồn nước, xói mòn đất, gia tăng phát thải khí và ô nhiễm không khí, đồng thời gây áp lực lên đa dạng sinh học
Thứ hai, xu thế dịch chuyển đầu tư mạnh mẽ từ Trung Quốc và vùng lãnh thổ sang các nước châu Á, khu vực ASEAN, trong đó có Việt Nam nhằm né tránh rủi
Trang 7ro chiến tranh thương mại đang trở nên rõ
nét Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung
leo thang khiến các nhà đầu tư có xu
hướng tìm kiếm một địa chỉ đầu tư ổn định
hơn, ít rủi ro, đồng thời có thể tránh được
việc áp thuế cao của Mỹ
Bên cạnh tác động tích cực, căng thẳng
thương mại Mỹ - Trung, Việt Nam cũng sẽ
chịu một số tác động bất lợi từ cuộc chiến
thương mại này Nền kinh tế Việt Nam có độ
mở lớn, lại phụ thuộc nhiều vào xuất nhập
khẩu Xung đột sẽ gây ra những ảnh hưởng
nhất định tới hoạt động xuất nhập khẩu của
Việt Nam Hàng hóa Trung bị hạn chế dẫn
tới dư thừa và có thể đổ về thị trường Việt
Nam, gây sức ép cạnh tranh đối với các
do-anh nghiệp của Việt Nam Mặt khác, hàng
hóa xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc
sẽ khó khăn hơn, bởi vì Trung Quốc phải tập
trung tiêu thụ hàng hóa nội địa
Thứ ba, Việt Nam cần loại bỏ các
điều kiện kinh doanh bất hợp lý, tạo lập
môi trường thúc đẩy đổi mới sáng tạo
Bên cạnh việc chú trọng đầu tư phát triển
hạ tầng, để duy trì sức hấp dẫn với NĐT
thì cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu
khoa học công nghệvới các xu hướng công
nghệ mới,đồng thời cần có chính sách thu
hút và giữ chân nhân tài, tạo động lực cạnh
tranh động và sức hút với các ngành công
nghệ cao Dưới sự tác động của cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật cho nên máy móc
công nghệ nhanh chóng trở thành lạc hậu
Vì vậy, nhận đầu tư để đổi mới công nghệ,
đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng
của sản phẩm là yêu cầu quan trọng, tránh
chuyển giao công nghệ lạc hậu
Mặc dù có những thời điểm khó khăn
nhưng việc thu hút FDI của Việt Nam trong
giai đoạn 2010-2019 và 9 tháng 2020 vẫn
được duy trì tốc độ tăng trưởng khá nhờ
những nỗ lực trong công tác phòng chống
dịch và các cam kết mạnh mẽ mở cửa thị
trường, xóa bỏ các rào cản đầu tư, thương
mại thông qua những FTA thế hệ mới Vai trò và những đóng góp của FDI cho nền kinh tế là không thể phủ nhận và Việt Nam vẫn đang chứng tỏ là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài Theo đó, trong thu hút FDI cần đảm bảo chọn lọc dự án hướng tới các ngành công nghiệp công nghệ cao, thúc đẩy DN FDI tăng cường kết nối với các DN nội địa, đặc biệt là các DN phụ trợ thông qua xây dựng
và triển khai các chính sách ưu tiên phù hợp; định hướng phát triển công nghiệp phụ trợ bám sát mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu; xây dựng và triển khai các chính sách hỗ trợ về tư vấn chuyên gia, giải pháp công nghệ, hỗ trợ đào tạo nhân lực, gồm cả đội ngũ quản trị DN
Do thời gian và nguồn lực hạn chế, nghiên cứu chưa đánh giá được tác động của các nhân tố khác đến tăng trưởng GDP, cũng như hạn chế vế số liệu nghiên cứu có thể ảnh hưởng đến kết quả nếu nghiên cứu
ở giai đoạn khác
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hoa, N.T.L &Phương, L.N.Q (2014), Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư trong nước và tăng trưởng kinh tế, Đại học Kinh tế
TP Hồ Chí Minh, Tạp chí tài chính 6, 45-57.
2 Hoàng, N.H (2019), Sử dụng mô hình phân tích chuỗi thời gian, xem xét mối quan hệ giữa chi tiêu công và một số chỉ tiêu kinh tế xã hội tại
Thành phố HCM, Tạp chí Phát triển Khoa học và
Công nghệ 3 (1), 68- 84
3 Hoàng P.T (2019), Tầm quan trọng của khu vực FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam,
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Tạp chí Tài chính Truy cập ngày 17/10/2020 từ http://
tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/tam -quan- trong-cua-khu-vuc-fdi-doi-voi-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-viet-nam-308893.html.
4 Cục đầu tư nước ngoài (2020), FDI 9 tháng 2020
5 Tổng cục thống kê (2020), GDP 9 tháng 2020