1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích ảnh hưởng của tổng vốn đầu tư thực hiện, xuất khẩu ròng đối với GDP của Việt Nam giai đoạn 2010 đến quý 3/2020

7 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 508,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu dưới đây của tác giả nhằm phân tích mối quan hệ của tổng vốn đầu tư thực hiện và xuất khẩu ròng đối với GDP của Việt Nam giai đoạn 2010-2020, giai đoạn có nhiều biến động về kinh tế vĩ mô, trong đó bao gồm cả tác động của dịch bệnh Covid 19.

Trang 1

PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA TỔNG VỐN ĐẦU TƯ THỰC HIỆN,

XUẤT KHẨU RÒNG ĐỐI VỚI GDP CỦA VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2010 ĐẾN QUÝ 3/2020

Nguyễn Thị Thúy Hà

Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh Email: hantt78@dhhp.edu.vn Ngày nhận bài: 25/11/2020

Ngày PB đánh giá: 14/12/2020

Ngày duyệt đăng: 18/12/2020

TÓM TẮT: Đầu tư, xuất khẩu ròng và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ với nhau, tạo nên sự đa dạng,

phong phú từ lý thuyết đến thực nghiệm, với nhiều quan điểm, tranh luận nhiều chiều Các nghiên cứu

về mối quan hệ này đã được thực hiện trong các giai đoạn khác nhau, trong phạm vi từ trung ương tới địa phương Nghiên cứu dưới đây của tác giả nhằm phân tích mối quan hệ của tổng vốn đầu tư thực hiện và xuất khẩu ròng đối với GDP của Việt Nam giai đoạn 2010-2020, giai đoạn có nhiều biến động

về kinh tế vĩ mô, trong đó bao gồm cả tác động của dịch bệnh Covid 19 Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm thu hút đầu tư để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu: Phân tích thống kê, so sánh và mô hình vector tự hồi qui (VAR).

Từ khóa: Tổng vốn đầu tư thực hiện, xuất khẩu ròng, tăng trưởng kinh tế, GDP.

ANALYSIS OF THE EFFECTS OF TOTAL IMPLEMENTED INVESTMENT AND NET

EXPORT ON GDP OF VIETNAM FROM 2010 TO 3/2020 ABTRACT: There are relationships between Investment, net exports and economic growth, cause

diversity and variety from theory to reality The researches on this have been carry out in periods of economic development, on a nation and local scale The paper analyses relationship between total investment capital, net exports and economic growth rate of Vietnam in 2010-2020, a period with a lot

of macroeconmic fluctuations, within impact of COVID -19 pandemic On the basic of the research results, author suggest some solutions in order to attract investment capital for Economic development

of Vietnam The article uses the research methodology of statistical analysis, comparison and Vector autorewardsion (VAR)

Key words: Total realized investment, net exports, economic growth, GDP.

1 ĐẶT VẤN ĐỀ:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào

Việt Nam đã tăng mạnh kể từ khi Việt Nam

gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới

(WTO) vào năm 2007 Sau hơn 30 năm mở

cửa, hội nhập và cải cách môi trường kinh

doanh, Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp

dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài Nguồn

vốn FDI vào Việt Nam đã tăng mạnh, số

vốn đăng ký và số vốn thực hiện đều có sự cải thiện so cùng kỳ các năm

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố và đặc tính của nước sở tại Mặc dù trong ngắn hạn, mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế có xu hướng thấp nhưng về lâu dài, tỷ lệ đầu tư

Trang 2

được nhận thấy có liên quan chặt chẽ với

tăng trưởng kinh tế De Mello (1999) cho

rằng vốn FDI có thể góp phần vào tăng

trưởng kinh tế nơi chuyển giao công nghệ

thông qua đào tạo lao động và mua lại kỹ

năng, phương thức quản lý mới và sắp xếp

tổ chức De Gregorio (2003) cũng đã ghi

nhận rằng có sự chuyển công nghệ và kiến

thức từ các nhà đầu tư quốc gia kèm theo

nguồn vốn FDI dẫn đến tăng trưởng năng

suất trong nền kinh tế

GDP Việt Nam trong 9 tháng đầu

năm 2020 giảm trong đó giảm vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài là một trong các

nguyên nhân do ảnh hưởng của đại dịch

Covid 19 Nghiên cứu này phân tích mức

độ ảnh hưởng của FDI, xuất khẩu ròng và

vai trò của nó đối với GDP trong giai đoạn

từ 2010 đến quý 3 năm 2020, đồng thời

đưa ra các khuyến nghị cần thiết Bài viết

sử dụng phương pháp nghiên cứu phân

tích thống kê, so sánh và mô hình vector

tự hồi qui VAR

2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Mô hình Vectơ tự hồi quy (VAR)

được đề xuất lần đầu tiên bởi giáo sư đại

học Princeton - Chrisphopher Sims vào

năm 1980, ngày nay đã trở thành một trong

phương pháp thành công nhất trong phân

tích thực nghiệm vĩ mô Mô hình xem xét

nhiều chuỗi thời gian cùng một lúc và sự

tác động qua lại lẫn nhau của các biến

Ở Việt Nam, mô hình này đã được sử

dụng nhiều, tuy nhiên mới dừng ở mức độ

đánh giá các mối liên hệ giữa các biến kinh

tế vĩ mô là chủ yếu Mô hình VAR có thể

được ước lượng dễ dàng bằng tất các các

phần mềm kinh tế lượng như Stata, Eviews

Mục đích của mô hình VAR(p) là:

• Xây dựng mô hình dự báo mà

không cần lý thuyết;

• Cho phép xem xét ảnh hưởng động

của một cú sốc đối với các biến khác;

• Cho phép đánh giá tầm quan trọng của một cú sốc đối với sự dao động của các biến;

• Cung cấp cơ sở cho việc thực hiện kiểm định nhân quả Granger, để xem xét tác động qua lại giữa các biến

Mô hình VAR có p là độ trễ tối đa của bất kì biến nào.VAR có thể có m biến (m

>2) Trong mô hình VAR không có ràng buộc trên, mỗi biến xuất hiện với mỗi độ trễ ở tất cả các phương trình.Với mô hình VAR(p) có m là biến, sẽ có m2 các hệ số

ở mỗi độ trễ; mô hình VAR có rất nhiều

hệ số Độ trễ p phải được lựa chọn sao cho không có sự tương quan giữa các sai

số ước lượng Tuy nhiên điều kiện của VAR là các chuỗi số liệu thời gian phải

là chuỗi dừng, trong thực tế các chuỗi số liệu gốc thường là không dừng Hạn chế của phương pháp này là chỉ xem xét được các mối quan hệ trong ngắn hạn, do vậy chúng ta thường kết hợp sử dụng mô hình vectơ hiệu chỉnh sai số (VECM) Phương pháp này dựa trên đặc điểm: sự kết hợp tuy tuyến tính của các chuỗi thời gian không dừng đôi khi lại cho ta một chuỗi dừng Trong trường hợp này, các chuỗi thời gian đó được gọi là đồng tích hợp (cointegration) Mô hình này giúp chúng

ta xem xét được mối quan hệ dài hạn của các biến số (các chuỗi thời gian) Các kết quả của mô hình được đọc thông qua kiểm định nhân quả Granger, Đồ thị hàm phản ứng xung, Bảng phân rã phương sai

và phương trình đồng liên kết

Bài nghiên cứu sử dụng các biến tổng sản phẩm quốc nội (GDP), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện (FDI), giá trị xuất khẩu (EX) và giá trị nhập khẩu (IM) Khi đưa vào phương trình các biến số được trình bày dưới dạng logarit tự nhiên Các dữ liệu là chuỗi thời gian theo quý của Việt Nam trong khoảng thời gian từ quý 1 năm 2010 đến quý 3 năm 2020

Trang 3

Bảng 1: Số liệu GDP và Vốn FDI thực hiện giai đoạn từ Q1/2010 - Q3/2020

Chỉ tiêu

Năm

Vốn thực hiện (tr USD) GDP theo giá hiện hành (Tỷ VNĐ)

2016 3,500 3,750 2,370 5,820 850,315 1,029,558 1,157,955 1,263,590

2017 3,620 3,100 4,780 5,000 931,607 1,127,215 1,272,433 1,676,602

2018 3,880 4,490 4,880 5,730 1,027,928 1,414,236 1,242,220 1,851,928

2019 4,120 4,880 5,120 6,180 1,116,680 1,366,899 1,539,114 2,010,887

(Nguồn Vietstock và Cục đầu tư nước ngoài)

GDP và FDI trong giai đoạn từ năm

2010-2019 đều đạt được những mục tiêu

tăng trưởng tốt.Năm 2019 đạt 7,02% so với

năm 2018; trong đó quý I tăng 6,82%, quý

II tăng 6,73%, quý III tăng 7,48% và quý

IV tăng 6,97%, vượt mục tiêu của Quốc hội

đề ra là từ 6,6-6,8% Mức tăng trưởng năm

2019 tuy thấp hơn mức tăng 7,08% của năm

2018 nhưng cao hơn mức tăng của các năm

2011-2017 Năm 2019, Việt Nam cũng đạt

được nhiều thành tựu lớn trong việc ký kết

các hiệp định thương mại tự do

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng

hóa ước đạt gần 517 tỷ USD, tăng 7,6%

so năm 2018, lần đầu vượt ngưỡng 500 tỷ

USD và là kết quả lịch sử, với giá trị xuất siêu đạt mức kỷ lục mới đạt 9,94 tỷ USD Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 263,45 tỷ USD, tăng 8,1% Khu vực kinh tế trong nước năm qua đánh dấu

sự phát triển vượt bậc với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu lên tới 17,7%, cao hơn rất nhiều tốc độ tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (4,2%)

Trong giai đoạn 2010 - 2019, nguồn vốn FDI vào Việt Nam có xu hướng tăng

về số lượng dự án, số vốn đăng ký và số vốn thực hiện, nhất là, trong giai đoạn

2016 - 2019, được mô tả ở hình 1

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2019) Hình 1: Số dự án, tổng số vốn đăng ký và tổng số vốn thực hiện của nguồn vốn FDI

vào Việt Nam, giai đoạn 2010-2019

Trang 4

Tuy nhiên trong năm 2020, tốc độ tăng

trưởng FDI và GDP bị sụt giảm do tác động

của đại dịch Covid 19 Theo số liệu của

Tổng cục Thống kê chính thức công bố,

tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng

năm 2020 ước tính tăng 2,12% so với cùng

kỳ năm trước Mức tăng này là thấp nhất

của 9 tháng các năm trong giai đoạn

2011-2020, nhưng trong bối cảnh dịch Covid 19

ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt kinh

tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới, thì

đây là “một thành công lớn” của Việt Nam

trong việc phòng chống dịch bệnh, khôi

phục và phát triển kinh tế

GDP quý III/2020 được đánh giá là

tăng trưởng khởi sắc so với quý II/2020 do

dịch Covid19 tại Việt Nam được kiểm soát

chặt chẽ, nền kinh tế từng bước hoạt động

trở lại trong điều kiện bình thường mới

Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và

thủy sản tăng 2,93%; khu vực công nghiệp

và xây dựng tăng 2,95%; khu vực dịch vụ

tăng 2,75%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp

sản phẩm tăng 0,70% Về sử dụng GDP

quý III năm nay, tiêu dùng cuối cùng tăng

1,19% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy

tài sản tăng 5,79%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 2,86%; nhập khẩu hàng hóa

và dịch vụ tăng 1,88%

Theo số liệu của Cục đầu tư nước ngoài, tính đến 20/9/2020, tổng vốn đăng

ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần (GVMCP) của nhà ĐTNN đạt 21,20

tỷ USD, bằng 81,1% so với cùng kỳ năm

2019 Vốn thực hiện của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 13,76 tỷ USD, bằng 96,8% so với cùng kỳ năm 2019 Tính đến 20/9/2020, tổng vốn đăng

ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua

cổ phần của nhà ĐTNN đạt 21,20 tỷ USD, bằng 81,1% so với cùng kỳ năm 2019 Vốn thực hiện của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 13,76 tỷ USD, bằng 96,8% so với cùng kỳ năm 2019 Tính lũy kế đến ngày 20/9/2020, cả nước có 32.658 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 381,5 tỷ USD Vốn

thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 225,8 tỷ USD, bằng 59,1% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực

Hình 2: Vốn đăng ký, dự án FDI trong 9 tháng đầu năm 2020

Trang 5

3 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Giả thiết:

3.1.1.Giả thiết: Phân tích tác động của các

nhân tố vĩ mô đối với qui mô GDP

Sử dụng mô hình VAR để kiểm định

và ước lượng mối quan hệ giữa GDP với

một số biến số vĩ mô, bao gồm: xuất khẩu

ròng và tổng vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài thực hiện

3.1.2 Biến số và các kiểm định điều kiện

Các số liệu trong mô hình đều được

lấy từ Tổng Cục Thống Kê, trang web của Vietstock, Cục đầu tư nước ngoài của từ quý 1 năm 2010 đến hết quý 3 năm 2020 Điều kiện đầu tiên để sử dụng VAR là các biến phải dừng Kiểm định Augmented Dickey – Fuller (ADF) về nghiệm đơn vị

và tính dừng của các chuỗi số liệu đều cho thấy đây là các chuỗi không dừng nhưng sai phân bậc nhất của các chuỗi này đều dừng ở mức ý nghĩa 1% Đồng thời các nghiệm đều nằm trong vòng tròn đơn vị cho thấy mô hình VAR ổn định

Bảng 2: Kiểm định tính dừng Biến Sai phân bậc 1 Giá trị độ trễ (ADF) Giá trị tới hạn (Mức ý nghĩa 1%) Kết luận

(Nguồn: Tính toán của tác giả, hỗ trợ bởi Eviews 9.0)

3.1.3 Lập mô hình toán

Mô hình VAR được khái quát dưới dạng hệ phương trình như sau:

Trong đó: lần lượt là các tham số

tương ứng

It, NXt, GDPt lần lượt là tổng vốn đầu

tư thực hiện, giá trị xuất khẩu, giá trị nhập

khâủ và tổng sản phẩm quốc nội được thể

hiện dưới dạng sai phân bậc 1

DIt-1, DNXt-1, DGDPt-1 lần lượt là

giá trị quá khứ của từng biến tương ứng

3.1.4 Ước lượng và phân tích kết quả

Tiếp tục các kiểm định trễ, kiểm định

tự tương quan và kiểm định nhân quả

Granger ta có:

- Mô hình có độ trễ bằng 8 theo tiêu chuẩn AIC

- Các phần dư có tương quan với nhau chứng tỏ cú sốc xảy ra với một biến nào đó có thể tác động tới các biến khác

- Kết quả kiểm định Granger cụ thể như sau:

Trang 6

Bảng 3: Kiểm định nhân quả Granger

(Nguồn: Tính toán của tác giả, hỗ trợ bởi Eviews 9.0)

GDP, NX và I có mối quan hệ nhân

quả với nhau chứng tỏ sự phụ thuộc lẫn

nhau giữa 3 biến này

Tiếp tục phân tích phản ứng đẩy và

phân rã phương sai cho thấy GDP và FDI

có tác động qua lại Cụ thể là các thay đổi

về qui mô GDP sẽ ảnh hưởng đến FDI sau 1

quí, tăng dần ảnh hưởng và tắt dần từ quí thứ

3 Trong khi đó, kể từ khi có sự thay đổi của

FDI, gần nhưng ngay lập tức, người ta có thể

thấy thay đổi tương ứng của GDP Quan sát

ảnh hưởng của FDI đối với xuất khẩu ròng

cũng có thể thấy tác động trễ khoảng 1 quí

4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Mô hình cho thấy GDP có mối quan hệ

với tổng vốn đầu tư thực hiện nhưng lại không

được giải thích bởi 2 biến giá trị xuất khẩu và

giá trị nhập khẩu Nguyên nhân có thể là do

xuất khẩu ròng là một thành phần của GDP

nhưng vì trong thời gian nghiên cứu, giá trị

xuất khẩu ròng (bằng giá trị xuất khẩu trừ đi

giá trị nhập khẩu) rất nhỏ so với qui mô GDP

nên mô hình định lượng không chỉ ra được

mối quan hệ giữa chúng Qua kết quả nghiên

cứu cho thấy, đại dịch Covid 19 có ảnh hưởng

nhưng không nhiều đến dòng vốn FDI ít nhất

là trong 9 tháng năm 2020 Dòng vốn đầu tư

trực tiếp vào Việt Nam có những thời điểm

bị giảm không bằng cùng kỳ các năm trước

thậm chí là thấp nhất trong 10 năm trở lại đây,

nhưng tính cả 9 tháng năm 2020 thì vẫn có

điểm sáng, kéo theo những con số tích cực

của FDI và GDP Điều này có thể có được là

do Chính phủ Việt Nam đã làm tốt công tác

phòng chống dịch Covid 19, các gói cứu trợ

của Chính phủ đã phát huy tác dụng và các

doanh nghiệp chủ động thích ứng, đặc biệt

các ngành hàng tiêu dùng và nông sản Nghiên cứu cũng nhấn mạnh cần phải

có nhiều chính sách cũng như sự tự chủ ở các doanh nghiệp trong nước trong hoạt động xuất khẩu, giảm bớt sự phụ thuộc vào doanh nghiệp FDI trong phát triển kinh tế ở Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam ngày càng tăng trưởng nhưng nguồn lực kinh tế vẫn còn hạn chế Do đó, việc huy động và sử dụng nguồn

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là

một kênh thu hút vốn vô cùng cần thiết và quan trọng Không thể phủ nhận những tác động tích cực mà FDI mang lại, nhưng cũng không thể bỏ qua những tác động tiêu cực của nó Đặc biệt trong kinh doanh, việc nhận biết sớm những mặt tiêu cực của một vấn đề

sẽ là lợi thế, nhằm xây dựng những kế hoạch

và định hướng đúng đắn

Mặt khác, quá trình thu hút FDI tại Việt Nam đang đặt ra khá nhiều thách thức Cụ thể:

Thứ nhất, sự hiện diện của các DN FDI

và nguồn vốn FDI đã góp phần quan trọng giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh trong mấy thập kỷ qua, tuy nhiên

đi liền với đó cũng làm gia tăng áp lực đối với môi trường Theo đuổi mục tiêu thu hút nguồn vốn FDI, tăng trưởng kinh tế có thể kéo theo những tác động tiêu cực bao gồm suy thoái nguồn nước, xói mòn đất, gia tăng phát thải khí và ô nhiễm không khí, đồng thời gây áp lực lên đa dạng sinh học

Thứ hai, xu thế dịch chuyển đầu tư mạnh mẽ từ Trung Quốc và vùng lãnh thổ sang các nước châu Á, khu vực ASEAN, trong đó có Việt Nam nhằm né tránh rủi

Trang 7

ro chiến tranh thương mại đang trở nên rõ

nét Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung

leo thang khiến các nhà đầu tư có xu

hướng tìm kiếm một địa chỉ đầu tư ổn định

hơn, ít rủi ro, đồng thời có thể tránh được

việc áp thuế cao của Mỹ

Bên cạnh tác động tích cực, căng thẳng

thương mại Mỹ - Trung, Việt Nam cũng sẽ

chịu một số tác động bất lợi từ cuộc chiến

thương mại này Nền kinh tế Việt Nam có độ

mở lớn, lại phụ thuộc nhiều vào xuất nhập

khẩu Xung đột sẽ gây ra những ảnh hưởng

nhất định tới hoạt động xuất nhập khẩu của

Việt Nam Hàng hóa Trung bị hạn chế dẫn

tới dư thừa và có thể đổ về thị trường Việt

Nam, gây sức ép cạnh tranh đối với các

do-anh nghiệp của Việt Nam Mặt khác, hàng

hóa xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc

sẽ khó khăn hơn, bởi vì Trung Quốc phải tập

trung tiêu thụ hàng hóa nội địa

Thứ ba, Việt Nam cần loại bỏ các

điều kiện kinh doanh bất hợp lý, tạo lập

môi trường thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Bên cạnh việc chú trọng đầu tư phát triển

hạ tầng, để duy trì sức hấp dẫn với NĐT

thì cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu

khoa học công nghệvới các xu hướng công

nghệ mới,đồng thời cần có chính sách thu

hút và giữ chân nhân tài, tạo động lực cạnh

tranh động và sức hút với các ngành công

nghệ cao Dưới sự tác động của cuộc cách

mạng khoa học kỹ thuật cho nên máy móc

công nghệ nhanh chóng trở thành lạc hậu

Vì vậy, nhận đầu tư để đổi mới công nghệ,

đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng

của sản phẩm là yêu cầu quan trọng, tránh

chuyển giao công nghệ lạc hậu

Mặc dù có những thời điểm khó khăn

nhưng việc thu hút FDI của Việt Nam trong

giai đoạn 2010-2019 và 9 tháng 2020 vẫn

được duy trì tốc độ tăng trưởng khá nhờ

những nỗ lực trong công tác phòng chống

dịch và các cam kết mạnh mẽ mở cửa thị

trường, xóa bỏ các rào cản đầu tư, thương

mại thông qua những FTA thế hệ mới Vai trò và những đóng góp của FDI cho nền kinh tế là không thể phủ nhận và Việt Nam vẫn đang chứng tỏ là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài Theo đó, trong thu hút FDI cần đảm bảo chọn lọc dự án hướng tới các ngành công nghiệp công nghệ cao, thúc đẩy DN FDI tăng cường kết nối với các DN nội địa, đặc biệt là các DN phụ trợ thông qua xây dựng

và triển khai các chính sách ưu tiên phù hợp; định hướng phát triển công nghiệp phụ trợ bám sát mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu; xây dựng và triển khai các chính sách hỗ trợ về tư vấn chuyên gia, giải pháp công nghệ, hỗ trợ đào tạo nhân lực, gồm cả đội ngũ quản trị DN

Do thời gian và nguồn lực hạn chế, nghiên cứu chưa đánh giá được tác động của các nhân tố khác đến tăng trưởng GDP, cũng như hạn chế vế số liệu nghiên cứu có thể ảnh hưởng đến kết quả nếu nghiên cứu

ở giai đoạn khác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hoa, N.T.L &Phương, L.N.Q (2014), Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư trong nước và tăng trưởng kinh tế, Đại học Kinh tế

TP Hồ Chí Minh, Tạp chí tài chính 6, 45-57.

2 Hoàng, N.H (2019), Sử dụng mô hình phân tích chuỗi thời gian, xem xét mối quan hệ giữa chi tiêu công và một số chỉ tiêu kinh tế xã hội tại

Thành phố HCM, Tạp chí Phát triển Khoa học và

Công nghệ 3 (1), 68- 84

3 Hoàng P.T (2019), Tầm quan trọng của khu vực FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam,

Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Tạp chí Tài chính Truy cập ngày 17/10/2020 từ http://

tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/tam -quan- trong-cua-khu-vuc-fdi-doi-voi-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-viet-nam-308893.html.

4 Cục đầu tư nước ngoài (2020), FDI 9 tháng 2020

5 Tổng cục thống kê (2020), GDP 9 tháng 2020

Ngày đăng: 26/05/2021, 10:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w