luận văn: pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là bài nghiên cứu về chế định pháp luật thừa kế, cụ thể là chế định pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, bài có 3 chương. chương 1: lý luận chung về pháp luật thừa kế chương 2: thực trạng pháp luật và thực tiến thi hành pháp luật về phân chia di sản thừa kế chương 3: định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
Trang 1ĐỀ TÀI: THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề phân chia di sảnthừa kế cũng có vị trí quan trọng trong các chế định pháp luật, là hình thứcpháp lý chủ yếu để bảo vệ các quyền của công dân Chính vì vậy, thừa kế
đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được đối với đời sống của mỗi cánhân, gia đình, cộng đồng xã hội Mỗi nhà nước dù có các xu thế chính trịkhác nhau, nhưng đều coi thừa kế là một quyền cơ bản của công dân vàđược ghi nhận trong Hiến pháp
Ở Việt Nam, sớm nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của chếđịnh pháp luật phân chia di sản thừa kế, nên ngay những ngày đầu mớidựng nước, các triều đại Lý, Trần, Lê cũng đã quan tâm đến ban hành phápluật về phân chia di sản thừa kế Pháp luật thành văn về thừa kế ở nước ta,lần đầu tiên được quy định trong chương "Điền sản" của Bộ luật Hồng Đứcdưới triều vua Lê Thái Tổ
Trải qua quá trình đấu tranh cách mạng, xây dựng CNXH ở nước ta,các quy định này đã được ghi nhận, mở rộng, phát triển và được thực hiệntrên thực tế tại các Điều 19 Hiến pháp 1959 "Nhà nước chiếu theo phápluật bảo vệ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân" Điều 27 Hiến pháp
1980 "Nhà nước bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân", Điều 58 Hiếnpháp 1992 "Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kếcông dân" và đặc biệt là sự ra đời của Bộ luật Dân sự 1995, sau đó Bộluật Dân sự năm 2005 đã đánh dấu một bước phát triển của pháp luật ViệtNam nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng Bộ luật Dân sự 2005, đếnnay Bộ luật dân sự 2015 được xem là kết quả cao của quá trình pháp điển
Trang 2hoá những quy định của pháp luật về phân chia di sản thừa kế Nó kế thừa
và phát triển những quy định phù hợp với thực tiễn, không ngừng hoànthiện để bảo vệ quyền lợi của người thừa kế một cách có hiệu quả nhất
Tuy nhiên về thực tiễn, do sự phát triển mạnh mẽ từng ngày, từnggiờ của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, nên pháp luật về thừa kếhiện hành vẫn chưa thể trù liệu hết những trường hợp, tình huống xảy ratrên thực tế Còn một số quy định pháp luật về phân chia di sản thừa kếchung chung, mang tính chất khung, chưa chi tiết, chưa rõ ràng, lại chưa cóvăn bản hướng dẫn thi hành cho từng vấn đề cụ thể Vì vậy, còn nhiều quanđiểm trái ngược nhau, nên khi áp dụng vào thực tế sẽ xảy ra tình trạngkhông nhất quán trong cách hiểu cũng như cách giải quyết Điều đó đã xâmphạm quyền thừa kế của công dân, đôi khi còn gây bất ổn trong đời sốngsinh hoạt của mỗi gia đình, cộng đồng và xã hội
Trong bối cảnh hội nhập, với thực trạng nền kinh tế thị trường vàxây dựng nhà nước pháp quyền thì vấn đề tài sản thuộc sở hữu cá nhânngày càng phong phú, phân chia di sản thừa kế cũng nảy sinh nhiều dạngtranh chấp phức tạp Hàng năm Toà án nhân dân các cấp đã thụ lý và giảiquyết hàng ngàn vụ án phân chia di sản thừa kế Nhiều vụ tranh chấp vềphân chia di sản thừa kế phải xét xử nhiều lần mà tính thuyết phục khôngcao Có những bản án quyết định của toà án vẫn bị coi là chưa "thấu tìnhđạt lý"
Sở dĩ còn tồn tại những bất cập đó là do nhiều nguyên nhân trong đóphải kể đến là do các quy định của pháp luật về phân chia di sản chưa đồng
bộ, cụ thể Chính vì điều đó, nên trong thời gian gần đây nhiều văn kiệncủa Đảng như Nghị quyết 48 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật đến năm 2020, Nghị quyết của Bộ Chính trị về một sốnhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới đã xác định
Trang 3rõ nhiệm vụ, mục tiêu, sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật trongthời kỳ đổi mới, trong đó có pháp luật về phân chia di sản thừa kế
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề: " Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo pháp luật" để làm đề tài luận văn thạc sĩ
Luật học Đây là một đề tài có ý nghĩa quan trọng cấp bách cả về phươngdiện lý luận cũng như thực tiễn
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài Thừa kế di sản là vấn đề rộng và phức tạp, vừa
có lịch sử hình thành và phát triển khá phong phú Do vậy, thừa kế đã đượcnhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm nghiên cứu
Trước khi BLDS được ban hành, đã có một số sách nghiên cứu vềthừa kế dưới góc độ sách pháp luật thường thức như: "Câu hỏi và giải đápPLTK" năm 1994 của Luật sư Lê Kim Quế; "Hỏi đáp về PLTK" năm 1995của Trần Hữu Bền và TS Đinh Văn Thành Các công trình kể trên đượcthực hiện khi nhà nước ta chưa ban hành BLDS nên tất cả đều dựa chủ yếuvào pháp lệnh thừa kế Các công trình này chưa giải quyết được bản chấtpháp lý về thừa kế, các loại thừa kế, hậu quả pháp lý của nó Về cơ bản chỉdừng lại ở mức độ tìm hiểu pháp luật
Việc nghiên cứu đề tài về thừa kế vẫn tiếp tục được mở rộng Ngaycác luận văn thạc sĩ, tiến sĩ cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu về thừa kế.Tiểu biểu là:
TS Phạm ánh Tuyết với đề tài "Thừa kế theo di chúc theo quy địnhBLDS Việt Nam" năm 2003;
TS Phùng Trung Tập với đề tài "Thừa kế theo pháp luật của côngdân Việt Nam" năm 2011;
Trang 4Ths Nguyễn Hải An nghiên cứu đề tài "Một số vấn đề về thời hiệukhởi kiện về thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam" năm 2014
Ths Nguyễn Hồng Nam nghiên cứu đề tài "Các điều kiện có hiệulực di chúc" năm 2015
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên mớidừng lại phân tích các quy định của PLVTK theo di chúc hoặc thừa kế theopháp luật của luật thực định và chỉ ra định hướng chủ yếu cho hoàn thiệnBLDS 1995
Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu khoa học khác cũng cónghiên cứu về thừa kế như:
Sách "Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật dân sự Việt Nam" xuấtbản năm 1999
Sách chuyên khảo "Bình luận khoa học về thừa kế trong BLDS" xuấtbản năm 2006 của TS Nguyễn Ngọc Điện;
"Chế độ hôn sản và thừa kế trong Luật dân sự Việt Nam" xuất bảnnăm 1993 của tác giả Nguyễn Mạnh Bách;
"Tìm hiểu pháp luật về Luật thừa kế" xuất bản năm 2013 của MaiVăn Duẩn
Đề tài nghiên cứu cấp bộ "Những vấn đề lý luận cơ bản về BLDSViệt Nam" năm 2017 của Viện Nghiên cứu nhà nước và pháp luật thuộcTrung tâm khoa học xã hội nhân văn
Th.S Trần Thị Huệ"Di sản thừa kế trong pháp luật dân sự của một sốnước trên thế giới",
Trang 5Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10 năm 2016; Thái Công Khanh
"Những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện điều 679 BLDS về quan
hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế",
Tạp chí Toà án nhân dân, số 16 năm 2016; Thái Công Khanh
"Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế"
Trong các công trình khoa học này, các tác giả đã phân tích nhữngvấn đề lý luận cơ bản về thừa kế: như quy định chung về thừa kế, thừa kếtheo di chúc, thừa kế theo pháp luật, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Tóm lại, các công trình nghiên cứu nói trên, đã nêu ra nhiều vấn đề
cơ bản cả về lý luận và thực tiễn áp dụng PLVTK trên nhiều góc độ Tuyvậy, các tác giả không khái quát được lịch sử hình thành và phát triển cácquy định này qua các thời kỳ và phân tích sâu vào quy định phân chia disản thừa kế Các công trình nghiên cứu dưới góc độ lý luận hoàn thiện phápluật thỏa thuận phân chia di sản thừa kế còn ít, chưa có tính chất hệ thống,khái quát Vì vậy, có thể khẳng định rằng, luận văn này là một công trìnhkhoa, nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật về thỏa thuận phân chia di sảnthừa kế là một đề tài hoàn toàn độc lập, không có sự trùng lắp với bất kỳmột công trình nào của người khác
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về thỏa thuậnphân chia di sản thừa kế và đánh giá thực trạng pháp luật về thỏa thuậnphân chia di sản thừa kế ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, nêu lênnhững quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thỏa thuận phânchia di sản thừa kế ở nước ta hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 6Để thực hiện mục tiêu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận về hoàn thiện pháp luật về thỏathuận phân chia di sản thừa kế ở Việt Nam như: khái niệm, đặc điểm,nguyên tắc và vai trò của pháp luật thỏa thuận phân chia di sản thừa kếcũng như tiêu chí hoàn thiện pháp luật thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.Đồng thời có tìm hiểu pháp luật thừa kế, thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế của một số nước trên thế giới
- Phân tích quá trình phát triển và thực trạng pháp luật về thỏa thuậnphân chia di sản thừa kế ở Việt Nam Qua đó, nhận xét, đánh giá những ưuđiểm, nhược điểm của pháp luật thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hiệnhành, rút ra các nguyên nhân của hạn chế
- Nêu sự cần thiết khách quan, quan điểm, tiêu chí cũng như giảipháp cụ thể có tính khả thi nhằm hoàn thiện thỏa thuận phân chia di sảnthừa kế
3.3 Phạm vi nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài này được xác định trong phạm vi các quyphạm thừa kế ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử Nhưng đặc biệt tậptrung nghiên cứu các quy phạm pháp luật thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế từ năm 1996 đến nay
Tuy nhiên, để luận văn có độ sâu, rộng cần thiết, trong một chừngmực nhất định, tác giả cũng đề cập đến một số quy định tương ứng trongpháp luật một số nước để so sánh và đưa ra những kết luận, kiến nghị cótính tham khảo nhất định
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước
Trang 7Mác-về pháp luật Đặc biệt là các quan điểm của Đảng và Nhà nước Mác-về sở hữu
tư nhân, về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế trong thời kỳ đổi mới, mởcửa và hội nhập
Trong quá trình viết luận văn, một số phương pháp nghiên cứu nhưsau:
- Phương pháp phân tích văn bản, phân tích quy phạm: Làm rõ cáckhái niệm, quy định hiện hành về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế …
- Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật và so sánh pháp luật:Chủ yếu sử dụng trong chương 1 và chương 2 để đánh giá thực trạng phápluật quy định về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế và thực tiễn thi hànhtrên thực tế
- Phương pháp quan sát và phương pháp phân tích số liệu thứ cấp:Chủ yếu sử dụng trong chương 2 nhằm làm sáng tỏ thực trạng và những bấtcập trong thực tiễn thi hành pháp luật thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
- Phương pháp diễn giải, phương pháp dự báo khoa học: Chủ yếuđược sử dụng trong Chương 3 để đưa ra định hướng và các giải pháp nhằmhoàn thiện pháp luật về thi hành luật
5 Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Trên cơ sở phân tích tổng hợp các quan điểm, tác giả đưa ra quanđiểm của cá nhân về khái niệm thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, cũngnhư nguyên tắc, vai trò pháp luật thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nhằm minh chứng tính đặc thù pháp luật thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế ở Việt Nam, từ đó góp phần hoàn thiện hơn khoa học trong lĩnh vựcthừa kế
- Nghiên cứu một số quy định của pháp luật thỏa thuận phân chia disản thừa kế qua các giai đoạn lịch sử, để phân tích đưa ra những nhận định,
Trang 8đánh giá nhằm làm sáng tỏ quá trình phát triển và thực trạng của pháp luậtthỏa thuận phân chia di sản thừa kế ở Việt Nam
- Từ nhận xét, đánh giá sự phát triển và thực trạng pháp luật thỏathuận phân chia di sản thừa kế ở Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm một sốnước trên thế giới, luận văn đã đưa ra các quan điểm, giải pháp cụ thể nhằmhoàn thiện pháp luật thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ở nước ta hiệnnay
6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn
- Về lý luận:
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm cơ sở lý luận choviệc sửa đổi, bổ sung BLDS 2015 Đồng thời luận văn còn là tài liệu thamkhảo phục vụ công việc nghiên cứu giảng dạy và học tập của cán bộ, giáoviên và sinh viên chuyên Luật và không chuyên Luật cũng như việc giảngdạy học tập môn Nhà nước pháp luật trong hệ thống các trường chính trị
- Về thực tiễn:
Luận văn đề ra các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật thỏa thuậnphân chia di sản thừa kế sẽ có ý nghĩa thiết thực góp phần giúp cho nhữngngười có thẩm quyền áp dụng luật để giải quyết tranh chấp thừa kế Ngoài
ra luận văn còn là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc để lại di sản thừa kế,lập di chúc cũng như trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sựcủa mình về lĩnh vực thừa kế
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phầnphụ lục, luận văn được bố cục 3 chương
Trang 9Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
1.1 Khái niệm, đặc điểm của thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế
1.1.1 Khái niệm về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Khái niệm thỏa thuận phân chia di sản thừa kế liên quan đến các kháiniệm như: di sản thừa kế; thừa kế; phân chia di sản thừa kế Vì vậy, để xâydựng khái niệm thỏa thuận phân chia di sản thừa kế cần phải làm rõ cáckhái niệm trên
Điều 612 BLDS 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng củangười chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người
khác” Di sản được BLDS quy định một cách ngắn gọn nhưng khá đầy đủ
và có tầm khái quát cao, không dùng phương pháp liệt kê bao gồm nhữngtài sản gì như những quy định trước đây Bởi lẽ, quyền tài sản đã nằm trongkhái niệm tài sản được quy định tại Bộ luật dân sự: "Tài sản bao gồm vật,giấy tờ có giá và các quyền tài sản"
Theo Từ điển tiếng Việt, thừa kế được hiểu là hưởng của người khác
để lại cho, hay được hiểu là: “Việc dịch chuyển tài sản của người đã chếtcho những người còn sống” Khái niệm này đã phản ánh chính xác bản chấtcũng như nội dung thừa kế Thừa kế luôn gắn với quan hệ sở hữu, xuất hiệnđồng thời với quan hệ sở hữu và sự phát triển của xã hội loài người Thừa
kế và sở hữu là hai phạm trù kinh tế cùng tồn tại song song trong một hìnhthái kinh tế - xã hội nhất định, chúng có mối liên hệ biện chứng với nhau,chỉ đạo, chi phối lẫn nhau, cùng phát triển theo sự phát triển của xã hội loàingười
Trang 10Ở Việt Nam, trong các triều đại phong kiến trước đây, PLVTK đãđược hình thành và dựa trên cơ sở lễ giáo phong kiến Các quy định về thừa
kế trong Bộ luật Hồng Đức của thời Lê và Bộ luật HVLL của thời Nguyễnđều nhằm mục đích duy trì, bảo vệ những truyền thống chế độ gia đình phụquyền và hiếu nghĩa của con cháu trong dòng tộc 1
Với những phân tích trên đây, có thể xác định rằng, quan hệ thừa kế
là một phạm trù pháp luật phản ánh quan hệ kinh tế - xã hội nói chung vàlịch sử phát triển kinh tế - xã hội nói riêng
Thỏa thuận được hiệu là sự đồng ý giữa các bên sau khi có sự bànbạc, trao đổi2
Phân chia theo nghĩa kỹ thuật của từ ngữ là một tập hợp các hoạtđộng nhằm chấm dứt tình trạng có quyền chung của nhiều người trên mộthoặc nhiều tài sản Phân chia di sản, trong quan niệm của luật học phươngTây, giả định có ít nhất hai người có quyền hưởng di sản và có nhữngquyền lợi cùng tính chất trên một hoặc nhiều tài sản thuộc di sản Nói cáchkhác, chỉ có phân chia nếu trước đó tồn tại giữa những người có liên quanmột tình trạng có quyền chung có thể là sở hữu chung, hưởng hoa lợichung, … và việc phân chia có tác dụng chấm dứt tình trạng đó3
Phân chia di sản liên quan đến một số người Nó không hẳn có thểđược thực hiện bất kỳ lúc nào; và khi được thực hiện, thì nó chịu sự chiphối của một loạt các quy tắc liên quan đến cả hình thức và nội dung
Là một chế định phổ biến và truyền thống của pháp luật dân sự, nêntrong pháp luật dân sự các nước trên thế giới đều quy định và ghi nhận các
1Vũ Văn Mẫn (1970), Cổ luật Việt Nam lược khảo, Nxb Sài Gòn
2 http://tratu.coviet.vn/hoc-tieng-anh/tu-dien/lacviet/all/tho%E1%BA%A3+thu%E1%BA%ADn.html
3 Vũ Văn Mẫn (1972), Dân luật lược giảng, Quyển I, Khoa Luật Đại học Sài Gòn, Nxb Sài Gòn.
Trang 11nội dung khá cụ thể về thừa kế Dù rằng có những khác biệt nhất định vềtập quán nhưng nhìn chung các quy định về thừa kế đều xác định: tôn trọng
ý chí của người có tài sản được ghi nhận trong di chúc; hoặc quy định rõdiện những người được hưởng di sản thừa kế theo huyết thống
Vậy, phân chia di sản thừa kế là một tập hợp các hoạt động nhằm
chấm dứt tình trạng có quyền chung của nhiều người trên di sản còn lại sau khi đã thanh toán nghĩa vụ của người chết để lại và các chi phí liên
quan đến di sản theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định.
Từ những phân tích trên, tác giả có thể đưa ra khái niệm thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế như sau: Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là
sự đồng thuận của tất cả các chủ thể có quyền thừa kế về việc thực hiện một tập hợp các hoạt động nhằm chấm dứt tình trạng có quyền chung của nhiều người trên di sản còn lại sau khi đã thanh toán nghĩa vụ của người
chết để lại và các chi phí liên quan đến di sản theo trình tự, thủ tục mà
pháp luật quy định.
1.1.2 Đặc điểm thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Từ những phân tích nêu trên về nội dung và qua nghiên cứu kháiniệm về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, Tác giả rút ra một số đặc điểm
cơ bản về về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế như sau:
Thứ nhất, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế phải dửa trên tinh
thần tự do, tự nguyện thỏa thuận
Đây là đặc điểm hết sức quan trọng, một mặt đã ghi nhận sự bảo hộcủa pháp luật đối với quyền về thừa kế, mặt khác nó còn thể hiện một cáchđầy đủ nhất các quyền dân sự chủ quan của mỗi cá nhân trong việc địnhđoạt toàn bộ tài sản của mình
Trang 12Thứ hai: thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có mối quan hệ chặt
chẽ với pháp luật về quyền sở hữu.
Thừa kế và sở hữu là hai phạm trù kinh tế có mầm mống và xuấthiện ngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài người, tồn tại song songtrong mọi hình thức kinh tế - xã hội Trong phạm vi một chế độ xã hội, haiphạm trù này gắn bó chặt chẽ với nhau mỗi phạm trù là tiền đề và cũngchính là hệ quả đối với nhau Nếu sở hữu là yếu tố đầu tiên để từ đó làmxuất hiện thừa kế thì đến lượt mình thừa kế lại là phương tiện để duy trì,củng cố và xác định quan hệ sở hữu
Nếu sở hữu và thừa kế là hai vấn đề liên quan mật thiết với nhausong song tồn tại bên nhau thì pháp luật về thừa kế với pháp luật về quyền
sở hữu cũng có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhau Thông qua việcquy định hình thức sở hữu về tài sản của cá nhân và theo đó pháp luật quyđịnh cho họ các quyền năng trong lĩnh vực thừa kế Hay nói cách khác,pháp luật về sở hữu là cơ sở cho việc ban hành các văn bản pháp luật vềthừa kế Vì vậy, pháp luật về thừa kế luôn mang một bản chất giai cấp sâusắc, nó luôn là phương tiện để duy trì, củng cố quyền sở hữu ở những xãhội mà chính bản thân nó đang tồn tại Trong xã hội phong kiến hoặc trong
xã hội chủ nô, những xã hội dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sảnxuất, thì pháp luật về thừa kế là một trong những công cụ pháp lý quantrọng để duy trì sự bóc lột sức lao động người khác và củng cố địa vị xã hộicủa những người thừa kế Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, một chế độ dựatrên nền tảng công hữu hoá tư liệu sản xuất
Thừa kế là sự kế thừa thành quả lao động của cá nhân gia đình và cácgiá trị văn hoá của thế hệ này đối với thế hệ khác, nên pháp luật về thừa kế,trước hết nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động, thành quả lao độngcủa họ được chuyển sang cho những người thừa kế của họ Mặt khác, pháp
Trang 13luật về thừa kế còn là một trong những phương tiện để củng cố và pháttriển các quan hệ hôn nhân gia đình, bảo vệ quyền lợi chính đáng của cácchủ thể trong lĩnh vực thừa kế, qua đó góp phần bảo đảm quyền sở hữuchính đáng mọi cá nhân trong xã hội Như vậy, cùng với sự hình thành vàphát triển Nhà nước và pháp luật của chế độ tư hữu thì sở hữu và thừa kếđều là những phạm trù pháp luật và giữa chúng có mối quan hệ mật thiếtvới nhau.
Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là sự thỏa thuận về việc kế thừathành quả lao động của cá nhân gia đình và các giá trị văn hoá của thế hệnày đối với thế hệ khác, nên pháp luật về thừa kế, trước hết nhằm bảo vệquyền lợi cho người lao động, thành quả lao động của họ được chuyển sangcho những người thừa kế của họ
Thứ ba: thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được quy định tập
trung chủ yếu trong BLDS, ngoài ra còn được quy định ở một số văn bản liên quan
Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là một chế định của pháp luậtdân sự, do đó nó cũng mang những đặc điểm chung của BLDS, như đều làxuất phát từ quan hệ tài sản, đều phản ánh một cách sinh động phong tục,tập quán, đạo đức của người Việt Nam, là công cụ pháp lý quan trọng bảođảm sự bình đẳng tự nguyện và an toàn pháp lý của các chủ thể, đáp ứngnhu cầu vật chất, và tinh thần của các thành viên trong xã hội… Do đó, đa
số các quy phạm pháp luật về thừa kế được quy định chủ yếu trong Bộ luậtDân sự
Tuy nhiên, do quan hệ thỏa thuận phân chia di sản thừa kế cũng cómối quan hệ chặt chẽ với quan hệ về sở hữu, quan hệ hôn nhân huyết thống
và quan hệ nuôi dưỡng, quan hệ đất đai cho nên các quy định pháp luật
Trang 14về thừa kế còn được quy định rải rác trong một số văn bản liên quan nhưLuật Đất đai, luật đầu tư, luật doanh nghiệp, luật hôn nhân gia đình
Thứ tư, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế giúp củng cố, giữ vững
tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình.
Từ truyền thống đoàn kết trong gia đình, từ mục đích của chế độ hônnhân và gia đình nước ta nhằm "xây dựng những gia đình dân chủ hoàthuận, hạnh phúc trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu giúp đỡ nhautiến bộ" Tinh thần đoàn kết tương trợ giữa những người trong gia đình cầnđược giữ vững ngay cả khi những người trong gia đình chết và vấn đề thỏathuận phân chia di sản thừa kế được đặt ra Nguyên tắc này có ý nghĩa rấtquan trọng trong việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo pháp luậtdựa trên cơ sở huyết thống gần gũi, quan hệ hôn nhân trong việc bảo vệquyền lợi của người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động thỏathuận phân chia di sản thừa kế đã bảo vệ lợi ích hợp pháp của mọi ngườilao động trên cơ sở bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, xoá bỏ tàn tích màchế độ thừa kế của thực dân phong kiến đã để lại hàng bao đời nay, nângcao ý thức pháp luật cho mọi người dân trong lĩnh vực thừa- kế nói riêngcũng như trong đời sống xã hội nói chung
Thứ năm, Pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thường
xuyên có sửa đổi bổ sung và ngày càng hoàn thiện phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng giai đoạn
Kể từ khi Thông tư 81 được ban hành cho đến nay, pháp luật về phânchia di sản thừa kế ở nước ta đã trải qua nhiều lần sửa đổi bổ sung vào cácnăm 1990, 1995, và 2005 Nếu so sánh với các lĩnh vực pháp luật khác nhưpháp luật về hình sự, pháp luật hôn nhân và gia đình, pháp luật về laođộng… thì các lĩnh vực pháp luật này ít sửa đổi bổ sung Trong khi đó phápluật về thừa kế được sửa đổi bổ sung nhiều hơn
Trang 15Sở dĩ pháp luật về phân chia di sản thừa kế có đặc điểm này, bởi lẽbên cạnh những nhân tố ảnh hưởng tới việc sửa đổi bổ sung mà lĩnh vựcpháp luật nào cũng có như do sự thay đổi các quan hệ xã hội mà nó điềuchỉnh, nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hoá… thì việcsửa đổi, bổ sung pháp luật về phân chia di sản thừa kế, còn phụ thuộc vàothành quả phát triển kinh tế xã hội qua các thời kỳ
Nhìn lại tiến trình hình thành và phát triển pháp luật về phân chia disản thừa kế Việt Nam chúng ta thấy rằng, pháp luật về phân chia di sảnthừa kế được xây dựng và hoàn thiện phù hợp với tình hình phát triển kinh
tế - xã hội qua từng giai đọan lịch sử theo đó quyền thừa kế của công dânđược chú ý bảo vệ triệt để Điều này được thể hiện trong việc ghi nhận vàbảo vệ quyền thừa kế công dân trong bốn hiến pháp Việt Nam: 1946, 1959,
1980, 1992 và sửa đổi 2001; BLDS 1995, 2005, 2015…4
1.2 Khái niệm pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Đa phần, pháp luật của các nước khi phân chia thành các hàng thừa
kế để xác dịnh trình tự dịch chuyển di sản từ người chết sang những ngườithừa kế theo pháp luật của người đó đều theo truyền thống “dòng chảyxuôi” (từ đời trước xuống đời sau) nên pháp luật của các nước thường xếpcon của người chết ở hàng thừa kế thứ nhất nhưng cha, mẹ của người chếtkhông được xếp ở hàng thừa kế thứ nhất Mặt khác, mỗi một quốc gia vàthậm chí trong cùng một quốc gia ở mỗi một thời kỳ khác nhau có nhữngquan niệm khác nhau về gia đình về bổn phận của các thành viên trong giađình đối với nhau Hơn nữa, pháp luật về thừa kế ngoài việc phụ thuộc vàopháp luật về sở hữu còn phụ thuộc rất nhiều về truyền thống văn hoá, hoàncảnh xã hội, tập tục, đạo đức, tôn giáo của mỗi một dân tộc Vì vậy, hàng
4 Vũ Văn Mẫn (1972), Cổ luật Việt Nam thông khảo, Nxb Sự thật, Hà Nội.
Trang 16thừa kế theo pháp luật được quy định trong pháp luật của các nước cónhiều điểm khác nhau5.
Bộ luật dân sự của Cộng hoà Pháp khi qui định về hàng thừa kế chủyếu dựa trên quan hệ huyết thống giữa người thừa kế với người để lại disản, theo đó trước hết di sản được truyền cho những người có quan hệhuyết thống ty thuộc (những người huyết thống bề dưới) không phân biệt
độ tuổi, giới tính và không phụ thuộc vào hình thức hôn nhân của cha, mẹ(xem thêm Điều 754, Bộ luật dân sự Cộng hoà Pháp) Theo Bộ luật này thì
vợ, chồng của người chết không nằm trong bất kỳ một hàng thừa kế nào
Vợ, chồng chỉ được hưởng di sản của nhau khi một bên chết trước trongtrường hợp không có thân thuộc của người chết trước (Điều 765, Bộ luậtdân sự Cộng hoà Pháp)6
Pháp luật thừa kế của Thái Lan cũng không qui định vợ, chồng củangười để lại di sản trong bất kỳ một hàng thừa kế nào Điều 1635 Bộ luậtdân sự và thương mại Thái lan đã qui định rằng phần di sản mà vợ, chồngcủa người để lại di sản được hưởng phụ thuộc vào các hàng và các bậc thừa
kế theo quan hệ huyết thống nội tộc của người để lại di sản7
Tham khảo một số bộ luật dân sự của các nước trên thế giới và đốichiếu với các quy định của Luật La Mã8 cũng như Bộ luật Dân sự Cộng hoàPháp thì thấy họ cũng không thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ-
5 Phạm Thị Phượng (2004), Hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố n- ước ngoài, Luận văn
thạc sĩ Luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
6 Phạm Thị Phượng (2004), Hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố n- ước ngoài, Luận văn
thạc sĩ Luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
7 Phạm Thị Phượng (2004), Hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố n- ước ngoài, Luận văn
thạc sĩ Luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
8 Xem: W Wolodkiewicz và M Zabocka , Luật La Mã, (Dg: Lê Nết), Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh xuất bản 1999; Nguyễn Ngọc Đào, Luật La Mã, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản
1994, các trang 159 - 175.
Trang 17chồng9 Quan niệm về di chúc chung của vợ chồng, tính chất phân sản vàquyền của vợ - chồng có những khác biệt nên không thấy đề cập trong việcđịnh đoạt tài sản chung trong gia đình
Vì vậy, có lẽ pháp luật của La Mã và pháp luật dân sự của Cộng hòaPháp không tính đến quyền lập di chúc chung của vợ - chồng, do dựa trênquan niệm về quyền định đoạt cá nhân trong việc thừa kế hoặc cũng có thể
đó có sự phân biệt giữa nam – nữ trong việc định đoạt tài sản chung của giađình
Quy định về thừa kế trong Bộ luật dân sự Nhật Bản lại dựa trên tínhchất truyền thống của tập quán cổ truyền về gia đình và ảnh hưởng các quyđịnh của pháp luật dân sự Cộng hòa Liên bang Đức Dựa trên cơ sở quan
hệ huyết thống và hôn nhân giữa người thừa kế với người để lại di sản theotruyền thống của tập quán, Bộ luật dân sự Nhật Bản đã xác định ba hàngthừa kế cụ thể như sau: Hàng thứ nhất bao gồm con của người chết, cháucủa người chết sẽ thừa kế di sản của người đó ở hàng thứ nhất nếu concủa người đó chết trước hoặc mất quyền hưởng di sản trước thời điểm
mở thừa kế (xem Điều 887 Bộ luật dân sự Nhật Bản).Hàng thứ hai baogồm những người có quan hệ huyết thống với người chết thuộc trực hệ tônthuộc (những người huyết thống bề trên), trong số đó người nào sẽ được ưutiên hưởng di sản Hàng thứ ba bao gồm anh chị em ruột của người để lại disản Trong ba hàng thừa kế này, việc phân chia và xác định tính chất ưutiên cũng thực hiện theo nguyên tắc: nếu có những người thừa kế cùnghàng, thì những ngườ thừa kế ở hàng tiếp theo sẽ không được hưởng disản10
9 Điều 968 BLDS của Pháp: “Hai hay nhiều người không được lập di chúc chung để lại di sản cho người thứ ba hay để lại di sản cho nhau” , Bộ luật Dân sự Pháp, Nxb Tư pháp, H 2005, tr 611
10 Phạm Thị Phượng (2004), Hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố n- ước ngoài, Luận văn
thạc sĩ Luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Trang 18Pháp luật về thừa kế ở nước ta ngày càng được mở rộng, phát triển
và được thực hiện, trên thực tế tại thông tư 81 Toà án nhân dân tối cao,pháp lệnh thừa kế 1990 Đặc biệt là BLDS 1995, 2005 ghi nhận một cáchtương đối đầy đủ chế định thừa kế công dân Trên cơ sở nghiên cứu nộidung pháp luật về thừa kế ở Việt Nam, có thể phân loại quy định thừa kếthành 5 nhóm chính11
Nhóm thứ nhất gồm các quy định về vấn đề chung của thừa kế màkhi chia di sản theo di chúc và theo pháp luật, phải căn cứ vào đó nhưnguyên tắc chia thừa kế, di sản thừa kế, thời điểm, địa điểm mở thừa kế,thời hiệu khởi kiện thừa kế…
Nhóm thứ hai các quy định thừa kế theo di chúc Để công nhận dichúc có hiệu lực thì di chúc phải được lập theo một trình tự do pháp luậtquy định Nếu di chúc vi phạm trình tự, thủ tục đó thì vô hiệu Ngoài ra,trong nhóm này còn có các quy định về hiệu lực của di chúc, các hình thức
di chúc
Nhóm thứ ba các quy định về thừa kế theo pháp luật, nhóm này baogồm các quy phạm pháp luật quy định về các trường hợp thừa kế theo phápluật, diện và hàng thừa kế, thừa kế thế vị
Nhóm thứ tư các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất bao gồmcác quy định về người thừa kế, trình tự thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất
Nhóm thứ năm các quy định các thủ tục đảm bảo thực hiện quyềnthừa kế của công dân bao gồm các quy phạm về thủ tục hành chính, thủ tục
tố tụng
Ngoài ra còn có quy phạm quy định về thanh toán, phân chia di sản
Như vậy có thể nói rằng, pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
11 Vũ Văn Mẫn (1972), Cổ luật Việt Nam thông khảo, Nxb Sự thật, Hà Nội.
Trang 19là tổng thể các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho cá nhân, tổ chức có sự đồng thuận của tất cả các chủ thể có quyền thừa kế về việc thực hiện một tập hợp các hoạt động nhằm chấm dứt tình trạng có quyền chung của nhiều người trên di sản còn lại sau khi đã thanh toán nghĩa vụ của người chết để lại và các chi phí liên
quan đến di sản theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định.
1.3 Điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế
1.3.1 Điều kiện về chủ thể tham gia thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Thứ nhất, Chủ thể tham gia thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
phải có năng hành vi dân sự Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả
năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụdân sự Để đảm bảo sự ổn định và trật tự trong quá trình thiết lập, thực hiệncác giao dịch, Bộ luật Dân sự quy định về năng lực tham gia giao dịch củacác chủ thể với nguyên tắc: Người tham gia giao dịch phải có đủ năng lựchành vi dân sự Năng lực hành vi dân sự là khả năng tự có của chủ thểtrong việc thực hiện kiểm soát và làm chủ hành vi của mình
Thứ hai, Chủ thể tham gia thỏa thuận phân chia di sản thừa kế phải
là chủ thể đủ điều kiện nhận thừa kế Khi đủ điều kiện để hưởng di sản thì
"kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụtài sản do người chết để lại" trong đó có quyền thỏa thuận phân chia di sảnthừa kế Khác với chủ thể của hợp đồng là hai bên, trong thỏa thuận phânchia di sản thừa kế có nhiều chủ thể tham gia Những chủ thể này thường
có quan hệ với nhau hoặc hôn nhân, hoặc nuôi dưỡng, hoặc huyết thống,hoặc quen biết nhau Chủ thể thỏa thuận phân chia di sản thừa kế trước hếtphải là người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật
Trang 201.3.2 Điều kiện về nội dung thỏa thuận phân chí di sản thừa kế
Thứ hai, Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm
điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Điều cấm của pháp luật là
những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện nhữnghành vi nhất định Đạo đức xã hội là những trật tự xã hội, thuần phong mỹtục được hình thành trên cơ sở kinh tế nhất định và được cộng đồng xã hộithừa nhận Với cơ sở kinh tế và chế độ chính trị của Nhà nước ta hiện naythì đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với ngườitrong đời sống xã hội, được cộng đồng xã hội thừa nhận và tôn trọng
Về nguyên tắc, một giao dịch trái pháp luật được hiểu là giao dịch viphạm một quy phạm pháp luật bắt buộc, được soạn thảo thông thường dướidạng khắt khe nhất là cấm làm một việc gì đó, hoặc dưới dạng nhẹ hơn
là không được làm hoặc phải làm một việc nào đó Điều 128 BLDS địnhnghĩa điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không chophép chủ thể thực hiện hành vi nhất định
Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự nói chung, thỏa thuậnphân chia di sản thừa kế nói riêng bao giờ cũng có sự liên quan mật thiết và
có sự gắn bó với nhau một cách biện chứng Mục đích của thỏa thuận phânchia di sản thừa kế là lợi ích mà các bên mong muốn đạt được khi xác lậpthỏa thuận phân chia di sản thừa kế; còn nội dung của thỏa thuận phân chia
di sản thừa kế là các điều khoản mà các bên thoả thuận xác định quyền vànghĩa vụ của các bên trong biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.Mục đích chỉ đạt được khi các quyền và nghĩa evụ được thực hiện Trongmối liên hệ này, nếu các bên chủ thể tham gia thỏa thuận phân chia di sảnthừa kế đã thoả thuận về những việc mà pháp luật không cho phép hoặc tráilối ứng xử chung đang được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng thì nội dung
Trang 21cũng như mục đích của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đó bị coi làkhông đáp ứng được yêu cầu của pháp luật
1.3.3 Điều kiện về hình thức
Hình thức của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế dưới dạng văn bản
là điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Trong BLDS tuy không có quy định bắt buộc phải công chứng vănbản thỏa thuận phân chia di sản, tuy nhiên trong Luật Công chứng năm
2014 thì văn bản công chứng thỏa thuận phân chia di sản là một trongnhững căn cứ để đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản tại cơ quan
có thẩm quyền:
“Điều 57 Công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản
1 Những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong
di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản.Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế khác.
2 Trường hợp di sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó Trường hợp thừa kế theo pháp luật, thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại
di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế Trường hợp thừa kế theo di chúc, trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có bản sao di chúc.
Trang 223 Công chứng viên phải kiểm tra để xác định người để lại di sản đúng là người có quyền sử dụng đất, quyền s-ở hữu tài sản và những người yêu cầu công chứng đúng là người được hưởng di sản; nếu thấy chưa rõ hoặc có căn cứ cho rằng việc để lại di sản và hưởng di sản là không đúng pháp luật thì từ chối yêu cầu công chứng hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định.Tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản trước khi thực hiện việc công chứng
4 Văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã được công chứng là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản”.
Theo đó, đối với các tài sản phải đăng ký sở hữu, sử dụng tại cơ quannhà nước có thẩm quyền, các chủ thể cần thực hiện thủ tục công chứng vănbản thỏa thuận phân chia di sản Việc công chứng thỏa thuận phân chia disản không bắt buộc trong trường hợp di sản là tài sản không bắt buộc phảiđăng ký quyền sở hữu, sử dụng
Như vậy, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế bắc buộc phải lậpthành văn bản Nhưng chỉ những văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế đối với các tài sản phải đăng ký sở hữu, sử dụng tại cơ quan nhà nước cóthẩm quyền mới bắt buộc công chứng
1.4 Hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
1.4.1 Hiệu lực ràng buộc của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế khi đủ điều kiện có hiệulực pháp lý là cơ sở pháp lý để xác định thời điểm phát sinh quyền vànghĩa vụ của các bên trong thoả thuận phân chia di sản thừa kế Bên có
Trang 23quyền được phép yêu cầu bên có nghĩa vụ thi hành nghĩa vụ trong thoảthuận phân chia di sản thừa kế, và được hưởng mọi quyền lợi hợp phápphát sinh từ thoả thuận phân chia di sản thừa kế Bên có nghĩa vụ phải thựchiện đúng các nghĩa vụ đã cam kết trong thoả thuận phân chia di sản thừa
kế, và phải chịu trách nhiệm dân sự trước bên có quyền về việc vi phạmthoả thuận phân chia di sản thừa kế
Bản chất thoả thuận phân chia di sản thừa kế là một giao dịch dân sự
vì vậy, Theo quy định tại Điều 401 Bộ luật dân sự năm 2015 về Hiệu lựccủa hợp đồng như sau:
“1 Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.
2.Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền
và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.”
Theo như quy định nêu trên, việc xác định thời điểm có hiệu lực củathuận phân chia di sản thừa kế được dựa trên các căn cứ sau đây:
Thứ nhất, Theo thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực được đề cập
trong văn bản thuận phân chia di sản thừa kế Nếu như các bên tham gia
thuận phân chia di sản thừa kế có thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực củathuận phân chia di sản thừa kế thì thời điểm có hiệu lực của thuận phânchia di sản thừa kế sẽ được xác định là thời điểm được thỏa thuận trong vănbản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế Cụ thể như sau:
+ Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có hiệu lực từ ngày cụ thể đãđược các bên xác định
Trang 24+ Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có hiệu lực vào thời điểm xảy
ra sự kiện là điều kiện phát sinh hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sảnthừa kế đã được các bên xác định
Đây cũng là đặc trưng của một quan hệ pháp luật dân sự - ưu tiên sựthỏa thuận không vi phạm điều cấm, không trái với quy định pháp luật
Thứ hai, theo thời điểm thực hiện thuận phân chia di sản thừa kế.
(Chỉ dựa theo căn cứ này trong trường hợp các bên không có thỏa thuậnkhác và pháp luật cũng không có quy định khác về thời điểm có hiệu lựccủa thuận phân chia di sản thừa kế)
+ Nếu các bên có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kếtthì thuận phân chia di sản thừa kế có hiệu lực từ thời điểm hết thời hạn trảlời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng
+ Nếu thuận phân chia di sản thừa kế được giao kết bằng văn bảnđiện tử thì thời điếm có hiệu lực của thuận phân chia di sản thừa kế là thờiđiểm các bên nhận được văn bản thuận phân chia di sản thừa kế điện tử đó
+ Nếu thuận phân chia di sản thừa kế được giao kết bằng văn bảnviết thì thời điểm có hiệu lực của thuận phân chia di sản thừa kế là thờiđiểm bên sau cùng ký vào văn bản
+ Nếu thuận phân chia di sản thừa kế đối với các tài sản phải đăng
ký sở hữu, sử dụng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tiến hànhcông chứng theo quy định của pháp luật thì thời điểm có hiệu lực của thuậnphân chia di sản thừa kế được giao kết bằng văn bản là thời điểm hoànthành việc công chứng
1.4.2 Hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế trong trường
hợp sửa đổi, bổ sung
Trang 25Khi muốn sửa đổi, bổ sung Văn bản thỏa thuận phân chia di sản đãđược công chứng thì phải có sự thỏa thuận, cam kết bằng văn bản của tất cảnhững người đã tham gia trong Văn bản thỏa thuận phân chia di sản và phảiđược công chứng Trường hợp người yêu cầu công chứng, người làmchứng và người có thẩm quyền , lợi ích liên quan phát hiện thấy có căn cứcho rằng việc công chứng vi phạm pháp luật thì có quyền đề nghị Tòa ántuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Văn bản phân chia di sản thừa kế được sửa đổi, bổ sung theo yêucầu của các bên tham gia Văn bản này có thể được công chứng tại Vănphòng công chứng/Phòng công chứng hoặc chứng thực tại Ủy ban nhândân
Việc công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch
đã được công chứng được quy định tại Điều 51 Luật công chứng, cụ thểnhư sau:
“1 Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó.
2 Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch
đã được công chứng được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đó và do công chứng viên tiến hành Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể thì công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch.
Trang 263 Thủ tục công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng được thực hiện như thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch quy định tại Chương này.”
Như vậy, căn cứ quy định trên của pháp luật, việc sửa đổi, bổsung, hợp đồng, giao dịch phải được sự thỏa thuận và đồng ý của tất cảnhững người đã tham gia lập hợp đồng, giao dịch đó Do vậy, trong trườnghợp của gia đình công dân trên, để có thể hủy văn bản thỏa thuận phân chia
di sản thừa kế đã được công chứng thì phải được sự đồng ý của tất cả cácthành viên Việc hủy bỏ phải được thực hiện tại tại tổ chức hành nghề côngchứng đã thực hiện việc công chứng đó và do công chứng viên tiến hành Cũng tương tự như trường hợp văn bản được công chứng, văn bản đượcchứng thực hủy bỏ khi có thỏa thuận bằng văn bản của các bên tham gialập
Theo quy định tại Điều 13 Thông tư 20/2015/TT-BTP thì người yêucầu chứng thực phải xuất trình giấy tờ tùy thân còn giá trị sử dụng để ngườithực hiện chứng thực kiểm tra và nộp 01 bộ hồ sơ gồm các giấy tờ sau đây:
Văn bản phân chia di sản thừa kế đã được chứng thực;
Dự thảo hủy bỏ văn bản phân chia di sản thừa kế đã đượcchứng thực
Từ những phân tích trên, văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
đã được chứng thực được sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ khi có thỏa thuận bằngvăn bản của các bên tham gia lập thỏa thuận đó và được công chứng, chứngthực theo quy định pháp luật
1.4.3 Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu
Thỏa thuận phân chia di sản vô hiệu có thể do nhiều nguyên nhân:
Trang 27- Vi phạm các qui định của pháp luật về việc đại diện và vì lợi íchcủa người chưa thành niên, của người được giám hộ.
- Người được ủy quyền vượt quá phạm vi ủy quyền và vi phạm lợiích của người ủy quyền
- Vi phạm quyền của người được hưởng thừa kế không phụ thuộcvào nội dung di chúc
- Những người thừa kế không thống nhất cách hiểu về nội dung dichúc và kiện ra Tòa để phân chia di sản
- Xác định không đúng, không đủ khối tài sản chia và phần đượcchia của mỗi người
- Thỏa thuận phân chia vượt quá phần tài sản có quyền thỏa thuậnphân chia
- Phân chia di sản không thể thỏa thuận phân chia hoặc bị hạn chếphân chia
Trong trường hợp những người thừa kế không thỏa thuận được vềviệc phân chia di sản thì họ có thể kiện ra Tòa để Tòa phân chia di sản Tòa
Trang 28án là cơ quan có thẩm quyền tuyên văn bản thỏa thuận phân chia di sản vôhiệu.
Nếu thỏa thuận phân chia di sản thừa kế bị Tòa án tuyên vô hiệu.Như vậy, sự vô hiệu của thuận phân chia di sản thừa kế dẫn đến hậu quả làkhông làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của cácbên kể từ thời điểm thỏa thuận
Khi thuận phân chia di sản thừa kế bị tuyên bố vô hiệu, các bêntham gia thuận phân chia di sản thừa kế phải gánh chịu những hậu quảpháp lý bất lợi về vật chất và tinh thần như: không đạt được mục đích thỏathuận ban đầu; nếu chưa thực hiện thuận phân chia di sản thừa kế thì sẽkhông thực hiện giao dịch nữa; nếu đang thực hiện thì phải chấm dứt việcthực hiện đó để quay lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đãnhận
Nếu một trong các bên có lỗi làm cho thuận phân chia di sản thừa kế
vô hiệu thì phải chịu bồi thường thiệt hại cho bên kia
Thuận phân chia di sản thừa kế bị tuyên vô hiệu thì Toà án cần xácđịnh thiệt hại gồm: Khoản tiền mà các bên phải bỏ ra để khôi phục lại tìnhtrạng ban đầu của khối di sản; khoản tiền mà các bên đã đầu tư để cải tạolàm tăng giá trị quyền sử dụng đất, giá trị công trình, tài sản, cây lâu năm trên đất phát sinh từ tài sản thuộc khối di sản thừa kế
Quy định tại Điều 379 Bộ luật dân sự để bảo đảm thực hiện thuậnphân chia di sản thừa kế thì thiệt hại còn bao gồm khoản tiền chênh lệchgiá trị khối di sản do các bên thoả thuận với giá trị khối di sản tại thời điểmxét xử sơ thẩm hoặc các thiệt hại khác, nếu có
Để xác định đúng các thiệt hại nói trên, Toà án phải tiến hành địnhgiá giá trị khối di sản và xác định thiệt hại như sau:
Trang 29Nếu các chủ thể tham gia thuận phân chia di sản thừa kế không thoảthuận được về giá trị khối di sản và giá trị thiệt hại, thì Toà án yêu cầu cơquan chuyên môn định giá hoặc ra quyết định thành lập hội đồng định giá.Giá trị khối di sản được xác định theo giá thị trường chuyển nhượng tại địaphương có khối di sản đang tranh chấp vào thời điểm xét xử sơ thẩm.
Trách nhiệm chịu chi phí cho việc định giá do các đương sự phảichịu chi phí tương ứng với phần nghĩa vụ của họ Trường hợp đương sự cóyêu cầu định giá lại, thì người có yêu cầu phải tạm ứng trước chi phí choviệc định giá lại và Toà án sẽ quyết định ai phải chịu chi phí định giá tuỳthuộc vào kết quả xét xử
1.5 Giới hạn của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
đã cho phép người lập di chúc có quyền dành một phần di sản trong khối disản để thờ cúng Để phục vụ cho việc thờ cúng, di sản thường được để lại
là nhà thờ, nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất
Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền để lại di sảndùng vào việc thờ cúng như sau:
"Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc
thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho
Trang 30người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần
di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.”
Vậy di sản thừa kế vào việc thờ cúng sẽ không được chia thừa kế, nóđược quản lý bởi một người được chỉ định trong di chúc hoặc do nhữngngười thừa kế thỏa thuận cử ra Thế nên di sản dùng vào việc thờ cúngkhông thuộc sở hữu của riêng bất cứ cá nhân nào, không ai có quyềnchuyển dịch khối di sản này Vì vậy, di sản dùng vào việc thờ cúng khôngđược thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
3 Di sản bị hạn chế phân chia do thủ tục hành chính
Liên quan các quy định về hành chính ràng buộc đối với tài sảnthuộc khối di sản như: quy định liên quan đến diện tích đất tối thiểu đượcphép tách thửa… theo quyết định của Ủy ban nhân dân các địa phương (vídụ: không nhỏ hơn 36 mét vuông/ thửa tại thành phố Hồ Chí Minh…).Trong trường hợp diện tích đất nhỏ hơn diện tích tối thiểu trên thì các đồngthừa kế khi làm thủ tục khai nhận hoặc thỏa thuận di sản thừa kế phải đứngtên đồng sở hữu nhà, sử dụng đất hoặc phải tặng cho một trong các ngườithừa kế đứng tên sở hữu, không được thỏa thuận tách thử cho từng cá nhânđược
4 Di sản bị hạn chế phân chia do tài sản không thuộc diện được
sở hữu của người thừa kế
Trang 31Việc để thừa kế nhà ở cho các đối tượng không thuộc diện được sởhữu nhà ở tại Việt Nam thì các đối tượng này chỉ được hưởng giá trị củanhà ở đó (Điều 10 Luật nhà ở 2014).
Vấn đề tổ chức, cá nhân, nước ngoài (doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài,quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt độngtại Việt Nam):
+ Được sở hữu nhà ở tại Việt nam thông qua các hình thức… nhậnthừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong
dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninhtheo quy định của Chính phủ;
+ Được nhận thừa kế và sở hữu không quá 30% số lượng căn hộtrong một tòa nhà chung cư; nếu là nhà ở riêng lẻ bao gồm nhà biệt thự,nhà ở liền kề thì trên một khu vực có số dân tương đương một đơn vị hànhchính cấp phường chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và
sở hữu không quá hai trăm năm mươi căn nhà;
Trường hợp trong một khu vực có số dân tương đương một đơn vịhành chính cấp phường mà có nhiều nhà chung cư hoặc đối với nhà ở riêng
lẻ trên một tuyến phố thì Chính phủ quy định, cụ thể số lượng căn hộ, sốlượng nhà ở riêng lẻ mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được nhận thừa kế
Trang 325 Di sản bị hạn chế phân chia do tài sản thừa kế là nhà ở thuộc
Vì vậy, nếu có tại thời điểm tiến hành thỏa thuận phân chia di sảnthừa kế mà có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh rathì phần di sản được thừa kế của chủ thể này không được đem ra thỏa thuậnphân chia di sản thừa kế
7 Di sản bị hạn chế phân chia do việc phân chia làm ảnh
hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc bên chồng và gia đình
Theo quy định tại điều 661 Bộ luật Dân sự có quy định về trwofnghợp hạn chế phân chia tài sản như sau: Trường hợp yêu cầu chia di sảnthừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên
vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa
án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưacho chia di sản trong một thời hạn nhất định Thời hạn này không quá 03
Trang 33năm, kể từ thời điểm mở thừa kế Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sốngchứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đờisống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưngkhông quá 03 năm Quy định này mang tính nhân văn sâu sắc.
7.1.1 Giới hạn về chủ thể
Theo Điều 621 BLDS 2015, những chủ thể sau không có quyềnhưởng di sản, đồng nghĩa với việc họ không có quyền tham gia thỏa thuậnphân chia di sản thừa kế, bao gồm những đối tượng sau :
Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc
về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó
có quyền hưởng;
Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.”
Đây là trường hợp không có di chúc thì những đối tượng đó sẽ khôngđược quyền hưởng di sản Bởi lẽ những người đó đã có những hành vi xâmphạm đến người để lại di sản và những người thừa kế khác, có những hàngđộng không xứng đáng với bổn phận của mình
Trang 34Kết luận chương 1:
Thừa kế là một bộ phận không thể thiếu được đối với pháp luật củamọi quốc gia, nên nghiên cứu về phân chia di sản thừa kế đã được các nhàkhoa học ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới quan tâm ở chương 1 luậnvăn đã xây dựng được khái niệm đặc điểm pháp luật thảo thuận phân chia disản thừa kế cũng như vai trò của nó, đồng thời luận văn chỉ ra các nguyêntắc, cũng như tiêu chí hoàn thiện pháp luật thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế, từ đó làm căn cứ đánh giá giá trị pháp luật thỏa thuận phân chia di sảnthừa kế hiện hành, cũng như tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật thỏathuận phân chia di sản thừa kế
Ngoài ra, tác giả còn có nghiên cứu pháp luật thỏa thuận phân chia disản thừa kế một số nước trên thế giới, nhằm so sánh, đối chiếu pháp luậtnước ta, từ đó rút ra kinh nghiệm cần vận dụng khi hoàn thiện pháp luậtthỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Trang 35CHƯƠNG 2: NHỮNG VƯỚNG MẮC CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
2.1 Những vướng mắc của pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
2.1.1 Chi phí cho người bào quản di sản
Bộ luật dân sự qui định người quản lý di sản có quyền được hưởngthù lao theo thoả thuận với những người thừa kế và Bộ luật dân sự cũng qui
định về “chi phí cho người bảo quản di sản” là nội dung ưu tiên thanh toán
thứ 9 Đây là cơ sở pháp lý để khi giải quyết tranh chấp, Toà án trích từkhối di sản một khoản tiền hoặc một vật trả công (thù lao) cho người quản
lý di sản Tuy nhiên, nếu người quản lý di sản và những người thừa kếkhông thoả thuận được việc trả thù lao, thì vấn đề này được giải quyết nhưthế nào lại không được Bộ luật dân sự dự liệu Chính vì thế, khi giải quyếttranh chấp về vấn đề này trong từng vụ việc cụ thể, người quản lý di sảnđược hưởng ở mức nào là phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng xét xử,
có nghĩa là Toà án các cấp tính mức thù lao không theo một “lượng” thống
nhất Thậm chí có Toà không xác định, không trích khoản để trả thù laocho người quản lý12
Thực tế đó, một mặt xuất phát từ việc Bộ luật dân sự không dự liệu,
do đó còn có quan điểm khác nhau về việc trả thù lao cho người quản lý disản Đó là:
12 Phùng Trung Tập (2001), Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam,