Nếu là cầu trùng thuộc giống Eimeria thì nhân và nguyên sinh chất sẽ hình thành 4 bào tử, mỗi bào tử lại phân chia thành 2 bào tử con, bào tử con có hình lê, chính bào tử con này sẽ xâm
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Đề tài được thực hiện tại các nông hộ, các trại chăn nuôi gia đình với quy mô khác nhau tại 3 xã: Tân Thành, Tân Hòa, Tân Kim
- Thời gian: Từ ngày 18/5/2015 đến ngày 25/11/2015
Nội dung nghiên cứu
- Xác định tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng ở gà tại một số xã thuộc huyện Phú Bình
- Xác định tỷ lệ gà nhiễm cầu trùng theo lứa tuổi (ngày tuổi)
- Xác định tỷ lệ gà nhiễm cầu trùng chết theo lứa tuổi (ngày tuổi)
- Xác định tỷ lệ gà mắc cầu trùng theo các tháng
- Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo phương thức chăn nuôi
- Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng qua kiểm tra trạng thái phân
- Hiệu quả điều trị cầu trùng gà của một số phác đồ.
Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
- Lấy mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên, đến gia đình trong các xã điều tra (3 xã: Tân Thành, Tân Kim, Tân Hòa) lấy mẫu phân gà của các lứa tuổi, mỗi lứa tuổi lấy các mẫu đại diện và độc lập, sau khi xét nghiệm mẫu tổng hợp lại và đưa ra đánh giá chung cho toàn đàn gà
- Cách lấy mẫu phân: Lấy mẫu phân gà vừa thải ra hoặc dùng tăm bông lấy ở trực tràng Để riêng mẫu phân vào túi nilon nhỏ, ghi đầy đủ các thông số cần thiết (tuổi gà, ngày, tháng lấy mẫu, địa điểm lấy mẫu) Sau đó đưa mẫu phân về phòng thí nghiệm phân tích
3.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu
* Phương pháp kiểm tra phân tìm noãn nang cầu trùng
- Sử dụng phương pháp phù nổi Fulleborn để xét nghiệm mẫu phân gà + Mục đích của phương pháp là tìm noãn nang cầu trùng
+ Nguyên lý: Lợi dụng tỷ trọng của nước muối bão hòa (D = 1, 18 - 1,
20) lớn hơn tỷ trọng của noãn nang cầu trùng (D = 1, 01 - 1, 02) làm cho noãn nang cầu trùng nổi lên trên bề mặt của dung dịch Với phương pháp này thì độ chính xác tương đối cao
Lấy mẫu phân cần kiểm tra cho vào một cốc nhỏ, dùng đũa thủy tinh nghiền nát phân, vừa nghiền vừa đổ nước muối bão hòa vào (khoảng 40 - 50ml) Sau đó lọc qua lưới thép lấy dung dịch đó cho vào cốc thủy tinh rồi rót dung dịch đã lọc vào các lọ penicillin cho đầy đến miệng, đậy phiến kính lên miệng lọ penicillin cho tiếp xúc với mặt dung dịch, để 30 phút rồi lấy phiến kính ra soi kính hiển vi với độ phóng đại 100 lần (vật kính 10, thị kính 10) để tìm noãn nang cầu trùng
* Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm cầu trùng
Tỷ lệ nhiễm cầu trùng gà của 3 xã được xác định dựa theo độ tuổi của gà, cụ thể là: 1 - 14 ngày tuổi, 15 - 30 ngày tuổi, ≥ 30 ngày tuổi
Công thức tính: Tỷ lệ nhiễm = số mẫu nhiễm / số mẫu kiểm tra x 100
* Phương pháp xác định cường độ nhiễm cầu trùng Để đánh giá cường độ nhiễm cầu trùng chúng tôi tiến hành đếm số noãn nang trên ba vi trường soi và lấy số trung bình noãn nang trong ba vi trường làm cơ sở đánh giá và được quy định như sau Nếu trên vi trường có:
1 - 3 noãn nang: Quy định cường độ nhiễm ở mức độ nhẹ (+)
4 - 6 noãn nang: Quy định cường độ nhiễm ở mức độ trung bình (++)
7 - 8 noãn nang: Quy định cường độ nhiễm ở mức độ nặng (+++)
> 9 noãn nang: Quy định cường độ nhiễm ở mức độ rất nặng (++++)
3.4.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Tỷ lệ nhiễm cầu trùng của gà qua kiểm tra phân
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo lứa tuổi gà
- Hiệu quả điều trị bệnh của một số loại thuốc
Số mẫu nhiễm + Tỷ lệ nhiễm (%) = ————————— x 100
Tổng số mẫu kiểm tra
Số mẫu nhiễm (+) (+ +) (+ + +) (+ + + +) + Cường độ nhiễm (%) = ———————————————— x 100
Số mẫu nhiễm theo tuổi
+ Tỷ lệ nhiễm theo tuổi gà (%) = ————————————— x 100
Tổng số mẫu kiểm tra ở độ tuổi đó
Số mẫu gà âm tính noãn nang + Tỷ lệ sạch noãn nang cầu trùng (%) = ———————————— x 100
Tổng số gà điều trị
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu được từ thí nghiệm được xử lý thống kê theo phương pháp thí nghiệm trong chăn nuôi của Nguyễn Văn Thiện (2000) [17]
Sai số trung bình : m = (n > 30) Độ lệch tiêu chuẩn : S (n > 30)
Trong đó: n: Dung lượng mẫu m u
Cv(%) 3.4.5 Phương pháp mổ khám bệnh tích gà mắc bệnh cầu trùng
Sau khi đã quan sát kỹ trạng thái bên ngoài của cơ thể: lông, da, bụng, mào tích và các lỗ tự nhiên… ta dùng nước làm ướt lông rồi cho gà lên khay mổ khám Dùng dao rạch khớp sương ở cánh và ở háng rồi ép cho gãy Sau đó lột da (rạch một đường từ hàm dưới tới diều rồi rạch sang hai bên theo hình chữ nhật ở da ngực và da bụng) Dùng dao tách mổ phần cổ để lấy toàn bộ khí quản, thực quản, diều, sau đó dùng kéo cắt đứt xương ức và dùng dao bộc lộ các cơ quan bên trong, tách riêng cơ quan tiêu hóa ra để quan sát biểu hiện bệnh tích ở ruột non, ruột già, manh tràng Dùng kéo cắt dọc theo ruột non lấy chất chứa bên trong cho vào cốc để xét nghiệm bằng phương pháp phù nổi Fulleborn tìm noãn nang cầu trùng Quan sát kỹ lớp niêm mạc xem có xuất huyết không rồi dùng dao nạo lớp niêm mạc cho lên phiến kính ép và kiểm tra dưới kính hiển vi
3.4.6 Phương pháp điều trị bệnh cầu trùng
Những gà được kiểm tra bắt riêng từng gà, đánh số cho từng con và nuôi nhốt riêng vào từng ô lồng được làm bằng lưới thép Trong quá trình nhốt cho gà ăn, uống bình thường và quan sát, theo dõi, mổ khám theo dõi triệu chứng, bệnh tích cuả gà Sau đó tiến hành điều trị theo 2 phác đồ sau: Điều trị với 2 loại thuốc Costop-TA và Hansulcox-WSP
+ Phác đồ 1: Thuốc Costop-TA: Thuốc dạng dung dịch uống do Công ty thuốc thú y Năm Thái sản xuất
+ Tá dược và phụ gia vđ: 100g Cách dùng:
Liều phòng 0,5g/ 1lít nước liên tục 3 ngày
Liều trị 1-1,5g/1 lít nước cho uống 3 ngày
+ Phác đồ 2: Thuốc Hansulcox WSP: Do công ty thuốc thú y Hanvet sản xuất
+ Tá dược vừa đủ: 100g Cách dùng: Pha 1g/1lit nước uống hoặc 1g/10kg thể trọng, liên tục 3 ngày Sau khi dùng thuốc 5 - 7 ngày chúng tôi tiến hành kiểm tra noãn nang cầu trùng bằng phương pháp phù nổi Fulleborn để đánh giá hiệu lực của các phác đồ điều trị.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Công tác phục vụ sản xuất
4.1.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
- Tham gia chuyển giao công nghệ, đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất
- Hướng dẫn bà con nông dân ở các xã lấy mẫu phân thực hiện công tác vệ sinh thú y, tiêm phòng đầy đủ để ngăn chặn và hạn chế dịch bệnh lây lan
Thường xuyên dọn vệ sinh chuồng trại, thay đệm lót, vệ sinh máng ăn máng uống, quét dọn phát quang khu vực xung quanh chuồng trại, khử trùng chuồng trại sau mỗi lứa xuất chuồng
Trong thời gian thực tập tôi đã tham gia tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm của các xã Tân Thành, Tân hòa, Tân Kim
Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh
Trong thời gian đi lấy mẫu tôi thường xuyên theo dõi và hỏi thăm cách chăm sóc đàn gà của các hộ gia đình và đặc biệt chú ý quan sát gà và phân gà để phát hiện bệnh kịp thời Việc chẩn đoán thông qua quan sát triệu chứng lâm sàng và quan sát bệnh tích mổ khám
Trong thời gian đi lấy mẫu tôi gặp một số bệnh sau:
+ Nguyên nhân: Do vi khuẩn Gram âm Salmonella pullorum và Sallmonellaa gallinarum gây ra Bệnh chủ yếu xảy ra trên gà con, gà trưởng thành thường mắc bệnh mãn tính
+ Triệu chứng: Gà con mắc bệnh có biểu hiện kém ăn, lông xù, mào tích nhợt nhạt, ủ rũ Triệu chứng chính là gà bị bệnh đi ỉa phân trắng nên được gọi là bệnh bạch lỵ, phân loãng sau đó khô dính quanh hậu môn Đôi khi gà còn có biểu hiện sưng khớp, liệt chân
+ Điều trị: Sử dụng Gentacostrim với liều 1g/lít nước, cho uống 3 - 4 ngày liên tục
Ampicoli liều 1g/lít nước uống liên tục 3 - 5 ngày, kết hợp B.complex 3g/ lít nước, điện giải 1g/ 3 lít nước
+ Nguyên nhân: Bệnh do ký sinh trùng đường tiêu hóa thuộc bộ Coccidia gây ra, ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu mô ruột, ở gà chủ yếu là giống Eimeria gây ra, bệnh ảnh hưởng lớn đến gà con từ 2 - 8 tuần tuổi, tỷ lệ chết cao, những con khỏi bệnh thường còi cọc chậm lớn, làm giảm hiệu quả chăn nuôi
Thể cấp tính: Gà biểu hiện mệt mỏi, ủ rũ, kém ăn, phân loãng có màu cà phê hoặc lẫn máu tươi Gà gầy dần xù lông, xõa cánh, kiệt sức và chết
Thể mãn tính: Biểu hiện gần giống thể cấp tính ở mức độ nhẹ hơn, phân lỏng, lầy nhầy, lẫn máu, gà gầy, tỷ lệ chết thấp
+ Điều trị: Dùng các loại thuốc sau
Supercox 100g/500kg thể trọng/ ngày cho uống từ 3 - 5 ngày liên tục Navet - anticoc 1g/ 1 lít nước cho uống 5 ngày liên tục
Bổ sung B.complex 3g/ 1 lít nước và điện giải 1g/ 3 lít nước
- Bệnh hô hấp mãn tính ở gà (Chronic Respiratory Diseae - CRD) + Nguyên nhân: Do Mycoplasma gallisepticum gây ra, bệnh xảy ra khi thời tiết mưa phùn, độ ẩm cao, chuồng nuôi có nhiều khí độc làm giảm sức đề kháng của gà
+ Triệu chứng: Chúng em nhận thấy gà bị bệnh thường có triệu chứng chảy nước mắt, nước mũi, 2 cánh mở rộng, mỏ há to, thở dồn dập, khò khè
Gà hay lắc đầu, vẩy mỏ, đứng ủ rũ, chậm lớn, kém ăn
+ Điều trị: Phác đồ 1: Dùng Mg 200 1g/1 lít nước kết hợp với bromhexin 0,5g/1 lít nước, B-complex 1g/3 lít nước, uống liên tục 3-5 ngày Phác đồ 2: Dùng Anti - CRD liều 2g/lít nước uống liên tục 3 - 5 ngày, kết hợp B.complex
Trong 2 phác đồ đó em nhận thấy phác đồ 1 có hiệu quả cao hơn phác đồ 2 tỷ lệ khỏi đạt khoảng 89%
Trong thời gian thực tập, tôi còn tham gia một số công tác khác như: thiến lợn đực, phun tiêu độc khử trùng chuồng trại, tiêm sắt cho lợn con, tiêm phòng cho đàn gia súc gia cầm tại các xã
Bảng 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
STT Nội dung công việc Đơn vị Số lƣợng Kết quả
Bệnh cầu trùng gà con 124 118 95,16
Bệnh bạch lỵ gà con 55 52 94,55
Bệnh hô hấp mãn tính ở gà con 48 45 93,75
Tiêm sắt lợn con con 30 30 100
Qua 06 tháng thực tập tại trạm thú y huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của chính quyền địa phương, đặc biệt nhờ sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn, em bước đầu tiếp cận với thực tiễn sản xuất Từ đó đã rèn luyện chuyên môn và tăng thêm tình yêu nghề nghiệp của mình Sau thời gian thực tập em cảm thấy yêu ngành, yêu nghề, say mê và tự tin với công việc hơn, đồng thời tích lũy được một số kinh nghiệm thực tế để phục vụ cho nghề nghiệp sau này Tuy nhiên với kết quả thu được, bản thân em thấy mình vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục và luôn phải cố gắng, nỗ lực rèn luyện hơn nữa để vươn lên
Với phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh, công tác phòng bệnh cho đàn gà luôn được đặt lên hàng đầu vì nó ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả chăn nuôi
- Phòng bệnh bằng vắc - xin
Bảng 4.2 Lịch dùng vắc xin cho gà nuôi tại huyện Ngày tuổi Loại vắc xin Phương pháp dùng
3 ngày tuổi Lasota lần1 Nhỏ mắt 1 giọt
7 ngày tuổi Gumboro lần 1 Nhỏ miệng 1 giọt
Vắc xin Đậu gà Chủng màng cánh
14 ngày tuổi Lasota lần 2 Nhỏ mắt 1 giọt
21 ngày tuổi Gumboro lần 2 Nhỏ miệng 1 giọt
45 ngày tuổi Newcastle Tiêm dưới da 0,3ml/con
4.1.2 Kết luận và đề nghị
Qua thời gian thực tập tại cơ sở, được sự giúp đỡ của cán bộ trạm thú y huyện Phú Bình và đặc biệt là nhờ sự chỉ đạo tận tình của thầy giáo hướng dẫn TS Mai Anh Khoa, tôi đã có điều kiện tiếp xúc với thực tiễn sản xuất, nâng cao kiến thức hiểu biết thêm về nghề nghiệp của mình và bằng sự nỗ lực của bản thân tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đề ra Điều quan trọng hơn là tôi rút ra được bài học kinh nghiệm bổ ích về chuyên môn từ thực tiễn sản xuất như: Biết chẩn đoán một số bệnh thông thường và biện pháp điều trị, có niềm tin ở chính mình, giúp tôi yêu nghề hơn, say mê với công việc, không ngừng cố gắng học hỏi để làm tốt hơn khi ra thực tiễn sản xuất Tôi thấy rằng việc đi cơ sở thực tập là rất cần thiết đối với bản thân tôi cũng như mỗi sinh viên trước khi ra trường
4.1.2.2 Đề nghị Địa phương cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Khuyến khích phát triển hơn nữa mô hình kinh tế trang trại nhằm nâng cao thu nhập cho người nông dân
Tuyên truyền và thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh
Tạo điều kiện hơn nữa cho sinh viên thực tập, giúp sinh viên có điều kiện củng cố kiến thức, học hỏi kinh nghiệm từ thực tiễn sản xuất và thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
Kết quả nghiên cứu
4.2.1 Tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng ở gà thuộc tại các xã thuộc huyện Phú Bình
Tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng ở gà cao hay thấp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng các yếu tố như thức ăn, nước uống có đảm bảo vệ sinh, chất lượng, bên cạnh đó một yếu tố rất quan trọng nữa là không gian chăn nuôi như đất, chuồng trại, dụng cụ thú y có đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thú y Trong quá trình thực tập thì tôi đã điều tra được tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng ở gà của một số xã thuộc huyện Phú Bình, kết quả được trình bày dưới bảng sau:
Bảng 4.3: Tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng gà tại một số địa phương của huyện
Phú Bình Địa điểm (xã) Số lƣợng mẫu kiểm tra (mẫu)
Số lƣợng mẫu mắc (mẫu) Tỷ lệ (%)
Nhìn chung tỷ lệ mắc cầu trùng tại 3 xã điều tra tương đối cao(19,11%), trong đó xã Tân Hòa là thấp nhất (16,97%), xã Tân Kim có tỷ lệ mắc cao hơn so với 2 xã (20,93%) và xã Tân Thành có tỷ lệ mắc là 18,89% Điều này cho thấy rằng khâu chăm sóc và nuôi dưỡng của các hộ gia đình là chưa được tốt, chủ yếu các hộ gia đình chăn nuôi theo hình thức chăn thả rông nên mật độ nuôi thưa, vệ sinh chuồng nuôi hoặc nơi chăn thả chưa sạch sẽ, chưa sát trùng định kỳ, đây cũng là một yếu tố làm tăng tỷ lệ gà bị nhiễm bệnh cầu trùng Bên cạnh đó thì thức ăn nước uống chưa đảm bảo vệ sinh và đặc biệt là chưa tiêm phòng định kỳ cho đàn gia cầm thì sẽ không tạo ra được sức đề kháng cho mỗi vật nuôi Vì vậy nên tỷ lệ gà mắc bệnh cao, dịch bệnh ít xảy nhiều
4.2.2 Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng gà theo tuổi nuôi tại các xã của huyện Phú Bình
Bảng 4.4 cho thấy tỷ lệ nhiễm cầu trùng gà theo tuổi từ 1 đến trên 30 ngày tuổi Nhìn chung cả 3 xã điều tra tỷ lệ nhiễm cầu trùng đạt đỉnh cao nhất ở giai đoạn gà 1 - 14 ngày tuổi, sau đó giảm dần theo sự tăng lên của tuổi gà Ở độ tuổi
1 - 14 ngày tuổi xã Tân Kim có tỷ lệ mắc là 22,73 %, nhưng đến độ tuổi trên 30 ngày tuổi tỷ lệ nhiễm cầu trùng giảm xuống còn 18,52% Hay ở xã Tân Hòa ở độ tuổi 1 - 14 ngày tuổi tỷ lệ mắc là 20,68 %, đến độ tuổi trên 30 ngày tuổi tỷ lệ mắc giảm xuống còn 9,09% Như vậy cho thấy gà ở độ tuổi 1 - 14 ngày tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng cao hơn so với gà ở độ tuổi trên 30 ngày tuổi (gà trưởng thành) Dựa vào kết quả điều tra của cả 3 xã cho thấy tỷ lệ mắc cầu trùng ở xã Tân Kim cao hơn 2 xã còn lại, xã Tân Kim ở độ tuổi 1 - 14 ngày tuổi điều tra
110 con thì có đến 25 con bị mắc bệnh đạt 22,73% trong khi đó ở xã Tân Thành điều tra 95 con thì có 20 con mắc chiếm tỷ lệ 21,05%
Bảng 4.4: Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng gà theo độ tuổi Địa điểm
1 -14 ngày tuổi 15 - 30 ngày tuổi ≥30 ngày tuổi
Số mẫu điều tra (mẫu)
Số mẫu điều tra (mẫu)
Số mẫu điều tra (mẫu)
4.2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng gà theo tuổi
Bằng phương pháp phù nổi Fulleborn chúng tôi tiến hành xét nghiệm
560 mẫu phân gà, trong đó kiểm tra gà ở độ tuổi 1 - 2 tuần tuổi là 290 mẫu, 3
- 4 tuần tuổi là 165 mẫu, 5 - 6 tuần tuổi là 105 mẫu, đã thu được kết quả về tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh cầu trùng được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4.5: Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà theo tuổi
Qua bảng 4.5 cho thấy, tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng qua các tuần tuổi như sau:
- Kiểm tra 290 mẫu phân ở gà 1 - 2 tuần tuổi có 63 mẫu nhiễm cầu trùng, tỷ lệ 21,72%
- Kiểm tra 165 mẫu phân ở gà 3 - 4 tuần tuổi có 28 mẫu nhiễm cầu trùng, tỷ lệ nhiễm 16,97%
- Kiểm tra 105 mẫu phân ở gà 5 - 6 tuần tuổi có 16 mẫu nhiễm cầu trùng, tỷ lệ nhiễm 15,24%
Gà ở độ tuổi 1 - 2 tuần tuổi có 63 mẫu nhiễm cầu trùng trong đó:
+ Có 36 mẫu nhiễm ở cường độ (+) chiếm tỷ lệ 57,14%
+ Có 14 mẫu nhiễm ở cường độ (++) chiếm tỷ lệ 22,22%
+ Có 8 mẫu nhiễm ở cường độ (+++) chiếm tỷ lệ 12,70%
+ Có 5 mẫu nhiễm ở cường độ (++++) chiếm tỷ lệ 7,94%
Gà ở độ tuổi 3 - 4 tuần tuổi có 28 mẫu nhiễm cầu trùng trong đó:
+ Có 13 mẫu nhiễm ở cường độ (+) chiếm tỷ lệ 46,43%
+ Có 8 mẫu nhiễm ở cường độ (++) chiếm tỷ lệ 28,57%
+ Có 4 mẫu nhiễm ở cường độ (+++) chiếm tỷ lệ 14,29%
+ Có 3 mẫu nhiễm ở cường độ (++++) chiếm tỷ lệ 10,71%
Gà ở độ tuổi 5 - 6 tuần tuổi có 16 mẫu nhiễm cầu trong đó:
+ Có 7 mẫu nhiễm ở cường độ (+) chiếm tỷ lệ 43,75%
+ Có 4 mẫu nhiễm ở cường độ (++) chiếm tỷ lệ 25,0%
+ Có 3 mẫu nhiễm ở cường độ (+++) chiếm tỷ lệ 18,75%
+ Có 2 mẫu nhiễm ở cường độ (++++) chiếm tỷ lệ 12,5%
Kết quả bảng 4.4 cho thấy tỷ lệ nhiễm cầu trùng chung cho gà ở các tuần tuổi là: 19,11%, tuy nhiên gà ở độ tuổi 1 - 2 và 3 - 4 tuần tuổi có tỷ lệ nhiễm cầu trùng cao hơn (21,72% và 16,97%) so với gà ở 5 - 6 tuần tuổi (15,24%) Gà ở các tuần tuổi đều có tỷ lệ nhiễm cao nhất ở cường độ (+) và thấp nhất ở cường độ (++++)
4.2.4 Tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng theo các tháng điều tra
Bảng 4.6: Tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng theo các tháng ở các xã điều tra
Tháng theo dõi Số mẫu phân kiểm tra
Số liệu ở bảng 4.6 cho thấy rằng, tỷ lệ gà mắc bệnh cầu trùng theo các tháng điều tra là tương đối thấp (dưới 30%) Theo các tháng điều tra thì tỷ lệ gà mắc bệnh giảm dần Ở tháng 6 số gà theo dõi 110 con trong đó có 27 con mắc bệnh chiếm tỷ lệ 24,55%, tháng 7 số gà theo dõi là 105 con trong đó có 25 con mắc chiếm tỷ lệ là 23,81%, đến tháng 9 tỷ lệ mắc giảm xuống còn 15,65% Điều này cho thấy, ở mùa hè thời tiết nóng bức sức chịu nhiệt của gà lại thấp nên gà dễ bị mắc bệnh, các tháng về sau thời tiết dịu mát dần nhưng cũng cần phải có chế độ làm cho gà thích nghi kịp thời với khí hậu, và tiêm phòng đầy đủ để gà có sức đề kháng tốt với mầm bệnh Dựa vào đó người chăn nuôi nên có những biện pháp bảo vệ cho đàn gà của mình như: vào mùa hè thì nên nuôi nhốt gà với mật độ thưa, chuồng trại thoáng mát, vệ sinh sạch sẽ thường xuyên, khi thời tiết trở lạnh thì nên có chế độ chiếu sáng ủ ấm cho đàn gà, vào những hôm nhiều sương thì nên thả gà muộn hơn,… vì vậy khí hậu thời tiết cũng là một trong những yếu tố rất quan trọng dẫn đến đàn gà bị mắc bệnh
4.2.5 Kết quả kiểm tra tỷ lệ gà mắc bệnh cầu trùng chết theo độ tuổi
Bảng 4.7: Tỷ lệ gà chết do cầu trùng theo độ tuổi Địa điểm
1 - 14 ngày tuổi 15 - 30 ngày tuổi ≥30 ngày tuổi
Số gà theo dõi (con)
Số gà theo dõi (con)
Số gà theo dõi (con)
Kết quả ở bảng 4.7 cho thấy rằng: Các xã điều tra đều có tỷ lệ gà mắc bệnh cầu trùng chết theo độ tuổi, trong đó tỷ lệ chết nhiều nhất là xã Tân Kim ở độ tuổi từ 1 - 14 ngày tuổi điều tra 110 con thì có 6 con chết chiếm 5,45%, cùng ở độ tuổi đó thì xã Tân Thành và Tân Hòa có tỷ lệ chết thấp hơn (4,21% và 3,45%) Tuy nhiên, cả 3 xã điều tra đều có tỷ lệ gà chết giảm theo ngày tuổi tăng lên, xã Tân Kim ở độ tuổi 15 - 30 ngày tuổi giảm còn 3,85%, đặc biệt ở xã Tân Hòa và Tân Thành không có con nào chết ở độ tuổi trên 30 ngày tuổi Dựa vào đó có thể nhận thấy rằng gà con ở độ tuổi 1 - 14 ngày tuổi có sức đề kháng yếu, mẫn cảm với mầm bệnh, trong khi đó sức đề kháng của noãn nang cầu trùng lại rất mạnh, nhất là khi công tác nuôi dưỡng và chăm sóc không tốt dẫn đến tỷ lệ gà mắc bệnh nhiều và chết ở giai đoạn này cũng nhiều Khi ngày tuổi của gà càng tăng thì sức đề kháng của gà càng cao (nếu tiêm phòng định kỳ đầy đủ) gà ít mắc bệnh hơn và nếu có mắc thì mắc ở thể mạn tính gây chết ít hơn
4.2.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng gà theo phương thức chăn nuôi
Phương thức chăn nuôi có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng nhiễm bệnh, đặc biệt là bệnh về ký sinh trùng trong đó có bệnh cầu trùng tôi đã tiến hành điều tra trên hai phương thức là nuôi bán chăn thả và chăn thả tự do Kết quả thu được thể hiện qua bảng 4.8
Bảng 4.8: Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng gà theo phương thức chăn nuôi Phương thức chăn nuôi
Số mẫu kiểm tra (mẫu)
Chăn thả tự do 280 45 16,07 22 48,89 13 28,89 6 13,33 4 8,89 Bán chăn thả 280 62 22,14 28 45,16 21 33,87 8 12,9 5 8,06 Tính chung 560 107 19,11 50 46,73 34 31,78 14 13,08 9 8,41
Qua bảng 4.8 cho ta thấy trong 560 mẫu phân kiểm tra có 107 mẫu nhiễm cầu trùng chiếm tỷ lệ 19,11% Trong đó:
- Ở phương thức chăn nuôi chăn thả tự do, khi kiểm tra 280 mẫu phân thì có 45 mẫu nhiễm cầu trùng, chiếm 16,07% trong đó: 22 mẫu nhiễm ở cường độ nhẹ chiếm 48,89%; 13 mẫu nhiễm ở cường độ trung bình chiếm 28,89%; 6 mẫu nhiễm ở cường độ nặng chiếm 13,33%; 4 mẫu nhiễm ở cường độ rất nặng chiếm 8,89%
- Ở phương thức chăn nuôi bán chăn thả, khi kiểm tra 280 mẫu phân thì có 62 mẫu nhiễm cầu trùng, chiếm 22,14% trong đó: 28 mẫu nhiễm ở cường độ nhẹ chiếm 45,16%; 21 mẫu nhiễm ở cường độ trung bình chiếm 33,87%; 8 mẫu nhiễm ở cường độ nặng chiếm 12,9%; 5 mẫu nhiễm ở cường độ rất nặng chiếm 8,06%
Qua hai phương thức chăn nuôi cho ta thấy phương thức chăn thả tự do có tỷ lệ nhiễm cầu trùng (16,07%) thấp hơn so với phương thức chăn nuôi bán chăn thả ( 22,14%) Vì ở phương thức chăn nuôi bán chăn thả gà tiếp xúc nhiều với phân và chất độn chuồng, đó là điều kiện cho noãn nang xâm nhập và phát triển gây bệnh cho gà Còn đối với phương thức chăn thả tự do thì mầm bệnh ở ngoài môi trường tự nhiên dễ bị ánh sáng mặt trời và các yếu tố bất lợi khác tiêu diệt dẫn đến tỷ lệ nhiễm bệnh thấp hơn
4.2.7 Tỷ lệ và cường độ gà nhiễm cầu trùng qua kiểm tra trạng thái phân
Bảng 4.9: Tỷ lệ và cường độ gà nhiễm cầu trùng qua kiểm tra trạng thái phân
Bình thường 186 6 3,23 5 83,33 1 16,67 0 0 0 0 Lỏng 187 58 31,02 26 44,83 17 29,31 9 15,52 6 10,34 Sệt 187 43 22,99 20 46,51 14 32,56 6 13,95 3 6,98 Tính chung 560 107 19,11 51 47,66 32 29,91 15 14,02 9 8,41
Qua bảng số liệu trên bằng phương pháp kiểm tra cầu trùng qua trạng thái phân ta thấy có 107 mẫu phân gà bị nhiễm
- Mẫu phân bình thường chiếm tỷ lệ rất ít kiểm tra 186 mẫu chỉ có 6 mẫu tìm thấy cầu trùng trong đó ở dạng(+) có 5 mẫu
- Mẫu phân lỏng qua kiểm tra cho thấy có 58 mẫu bi nhiễm chiếm 31,02
% trong đó có 26 mẫu nhiễm mức độ (+) chiếm 44,83%, 17 mẫu nhiễm mức độ (++) chiếm 29,31%, 9 mẫu nhiễm ở mức độ (+++) chiếm 15,52 %, 6 mẫu nhiễm ở mức độ (++++) chiếm 10,34%
- Mẫu phân sệt qua kiểm cho thấy có 43 mẫu bị nhiễm chiếm 22,99 % trong đó có 20 mẫu nhiễm ở mức độ (+) chiếm 46,51%, có 14 mẫu nhiễm ở mức độ (++) chiếm 32,56%, có 6 mẫu nhiễm ở mức độ (+++) chiếm 13,95%, có 3 mẫu nhiễm ở mức độ (++++) chiếm 6,98%
Như vậy kiểm tra 560 mẫu phân gà qua ba trạng thái cho thấy ở dạng phân lỏng tỷ lệ nhiễm cầu trùng gà cao nhất so với hai mẫu phân sệt và mẫu phân bình thường mẫu phân bình thường số mẫu bị nhiễm rất ít không đáng kể
4.2.8 Triệu chứng của gà mắc bệnh cầu trùng ở các xã thuộc huyện Phú Bình
Bảng 4.10: Triệu chứng của gà mắc bệnh cầu trùng
Số gà có triệu chứng (con)
- Giảm ăn, ít vận động 22 37,93
- Phân loãng đôi khi thấy lẫn thức ăn sống (do thức ăn tiêu hóa không tốt)
- Gà ủ rũ, uống nhiều nước, ăn ít 20 34,48
Khi gà mắc bệnh cầu trùng xảy ra ở các triệu chứng đặc trưng như: Gà đang ăn uống bình thường trở nên ủ rũ, giảm ăn ít vận động, tụ lại thành đám, phân gà biến đổi theo từng giai đoạn gà mắc bệnh, ở giai đoạn đầu thì gà ỉa phân loãng sống (do thức ăn tiêu hóa không tốt) Khi có hiện tượng viêm xuất huyết trong ruột non thì gà uống nhiều nước, phân ỉa lúc này có màu vàng trắng, vàng xanh, sau đó phân có màu nâu lẫn máu, nhiều con còn ỉa ra máu tươi Niêm mạc và mào nhợt nhạt vì thiếu máu, khám hậu môn thì thấy phân dính xung quanh hậu môn Dựa vào những triệu chứng điển hình đó thì việc chẩn đoán bệnh sẽ dễ dàng hơn và điều trị kịp thời
4.2.9 Bệnh tích đại thể của gà nghi mắc bệnh cầu trùng ở các xã của huyện Phú Bình
Bảng 4.11: Bệnh tích của gà nghi mắc bệnh cầu trùng
Biểu hiện bệnh tích Số gà có bệnh tích
- Xác chết gầy, mào và niêm mạc nhợt nhạt 11 44,0
- Manh tràng xuất huyết lấm tấm 8 32,0
- Xác gầy, phân dính bết vào xung quanh hậu môn 6 24,0
Hầu hết gà mắc bệnh cầu trùng đều có bệnh tích riêng và đặc trưng cho từng loài cầu trùng gây ra Nhưng hầu hết bệnh tích biểu hiện bên ngoài giống nhau như: xác gầy, niêm mạc và mào nhợt nhạt, phân dính vào lông quanh hậu môn, xõa cánh, thường tập trung thành từng đám, ăn ít hoặc không ăn…và phân loãng đôi khi ỉa ra máu tươi Trong cơ quan nội tạng thì bệnh tích chủ yếu ở ruột non và manh tràng, chất chứa trong ruột non có màu hồng nhạt, nhưng mức độ và vị trí biến đổi ở ruột lại liên quan tới loài cầu trùng mà gà nhiễm phải
4.2.10 Kết quả điều trị bệnh cầu trùng gà
Bảng 4.12: Kết quả điều trị bệnh cầu trùng gà
Loại thuốc Liều lƣợng và cách dùng
Số mẫu phân (+) trước điều trị
Số mẫu phân (+) sau điều trị
1-1,5g/1 lít nước, pha nước cho gà uống từ 3 -4 ngày liên tục
1g/ 1lít nước, pha nước cho gà uống liên tục từ 3 - 5 ngày