1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng cháy và chữa cháy rừng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai

79 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 689,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được vấn đề đó, trong những thập kỷ qua Đảng và Chính phủ đã rất quan tâm đến công tác phòng cháy chữa cháy rừng PCCCR từ việc ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tăn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -

NGUYỄN HỮU TUẤN

NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY RỪNG

TẠI VƯỜN QUỐC GIA HOÀNG LIÊN

HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

Thái Nguyên - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -

NGUYỄN HỮU TUẤN

NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY RỪNG

TẠI VƯỜN QUỐC GIA HOÀNG LIÊN

HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 8.62.02.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Sỹ Hồng

Thái Nguyên - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng bản thân tôi, mọi số liệu cũng như nội dung báo cáo hoàn toàn do tôi thực hiện Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản báo cáo Luận văn của mình!

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2019

Người cam đoan

Nguyễn Hữu Tuấn

Trang 4

Tác giả xin tỏ lòng cám ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu nhà trường, Phòng quản lý đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập cũng như hoàn thành bản luận văn thạc sĩ

Xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Vườn Quốc Gia Hoàng Liên, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm Lào Cai, UBND huyện Sa Pa, các phòng ban chuyên môn của huyện Sa Pa; UBND các xã Tả Van, Lao Chải, Bản

Hồ, San Sả Hồ và một số hộ dân trên địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong việc thu thập số liệu để thực hiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2019

Tác giả

Nguyễn Hữu Tuấn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN vii

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN VĂN viii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu đề tài 2

2 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học 4

1.2 Tổng quan kết quả nghiên cứu 4

1.2.1 Trên thế giới 4

1.2.2 Ở Việt Nam 9

1.2.3 Nhận xét về vấn đề nghiên cứu 19

1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 20

1.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 20

1.3.2 Đặc điểm dân sinh kinh tế - xã hội 23

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 28

2.1.1 Đối tượng nghiện cứu 28

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28

Trang 6

2.2 Nội dung nghiên cứu 28

2.3 Phương pháp nghiên cứu 29

2.3.1 Phương pháp luận 29

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 30

2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

3.1 Hiện trạng tài nguyên rừng và đặc điểm vật liệu cháy tại VQG Hoàng Liên 35

3.1.1 Khái quát hiện trạng rừng của VQG Hoàng Liên 35

3.1.2 Đặc điểm của vật liệu cháy 38

3.2 Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đến cháy rừng tại VQG Hoàng Liên 41

3.2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên 41

3.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội 42

3.3 Đánh giá thực trạng công tác phòng cháy chữa cháy rừng 44

3.3.1 Bộ máy tổ chức và công tác chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ PCCCR 44

3.3.2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ phòng cháy 48

3.3.3 Các biện pháp phòng cháy rừng đã thực hiện 49

3.3.4 Tình hình cháy rừng từ năm 2014- 2018 54

3.4 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong công tác PCCC tại VQG Hoàng Liên 55

3.4.1 Phân tích SWOT 55

3.4.2 Bài học kinh nghiệm 59

3.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng cháy, chữa cháy rừng 59

3.5.1 Tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân trong PCCCR 60

3.5.2 Giải pháp về thể chế - chính sách 61

3.5.3 Về công tác tổ chức 61

3.5.4 Xây dựng các công trình phòng cháy, trang thiết bị chữa cháy rừng 62

3.5.5 Giải pháp về kỹ thuật 62

Trang 7

3.5.6 Giải pháp kinh tế xã hội 63

KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 65

1 Kết luận 65

2 Kiến nghị 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

- DBNCCR - Dự báo nguy cơ cháy rừng

- KTLS - Kỹ thuật lâm sinh

- KTLSPCR - Kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng

- OTC - Ô tiêu chuẩn

- ODB - Ô dạng bản

- PCCCR - Phòng cháy, chữa cháy rừng

- PTNT - Phát triển nông thôn

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN

Bảng 3.1 Bảng hiện trạng sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu 35

Bảng 3.2 Bảng diện tích rừng tự nhiên chia theo các trạng thái 36

Bảng 3.3 Bảng tổng hợp diện tích rừng trồng 37

Bảng 3.4 Bảng tổng hợp diện tích rừng trồng theo loài cây 37

Bảng 3.5 Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành của Ban chỉ đạo VQG 46

Bảng 3.6 Cơ cấu bộ máy điều hành của BCĐ cấp xã 47

Bảng 3.7 Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền PCCCR tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2014-2018 50

Bảng 3.8 Các công trình phòng cháy của VQG Hoàng Liên 52

Bảng 3.10 Tình hình cháy rừng tại khu vực nghiên cứu 54

Bảng 3.11 Nguyên nhân cháy rừng từ năm 2014-2018 55

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN VĂN

Hình 3.1 Khối lượng vật liệu cháy ở các trạng thái rừng 38 Hình 3.2 Độ ẩm Vật liệu cháy ở các trạng thái rừng 40 Hình 3.3 Sơ đồ Ban chỉ đạo phòng cháy chữa cháy rừng của VQG 45

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Cháy rừng là một thảm họa thiên tai gây tổn thất to lớn, nhanh chóng về kinh

tế và môi trường sinh thái Nó hủy diệt gần như toàn bộ các giống loài trong khu vực bị cháy, thải vào khí quyển khối lượng lớn khói bụi cùng với những khí gây hiệu ứng nhà kính như CO2, CH4, CO, NO v.v… Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm gia tăng quá trình biến đổi khí hậu trái đất và các thiên tai hiện nay Mặc dù công tác phòng cháy chữa cháy rừng ngày càng được quan tâm, phương tiện chữa cháy rừng ngày càng hiện đại nhưng cháy rừng vẫn không ngừng xảy ra, thậm chí ngay cả ở những nước phát triển nhất Để bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống hiện nay, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng được xem là một trong những nhiệm vụ quan trong, cấp bách của nhân loại

Việt Nam cũng như bất cứ quốc gia nào trên thế giới, rừng được coi là một nguồn tài nguyên quan trọng đồng thời có khả năng giữ đất, giữ nước, chống xói mòn rửa trôi, tạo không khí trong lành cho sự sống của con người, góp phần hạn chế thiên tai lũ lụt Rừng cung cấp nguyên, vật liệu cho các ngành chế biến lâm sản, ngành xây dựng, công nghiệp khai thác than, hoạt động du lịch, cung cấp các lâm sản quý Đặc biệt rừng có vai trò quan trọng trong chiến lược thế trận quốc phòng toàn dân góp phần đảm bảo ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội Vì vậy, cháy rừng với quy mô lớn và mức độ thiệt hại nghiêm trọng đã trở thành mối quan tâm không chỉ của những người làm lâm nghiệp hay những người sống gần rừng, có cuộc sống gắn bó với rừng mà của cả những nhà khoa học, những nhà quản lý của nhiều ngành nhiều cấp và toàn xã hội Nhận thức được vấn đề đó, trong những thập

kỷ qua Đảng và Chính phủ đã rất quan tâm đến công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) từ việc ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tăng nguồn lực đầu tư đến việc tăng cường thực hiện các biện pháp cấp bách về công tác PCCCR nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra

Trang 12

Vườn Quốc gia Hoàng Liên (sau đây gọi là VQG Hoàng Liên) có diện tích 28.509 ha nằm trên địa bàn 02 tỉnh Lào Cai và Lai Châu, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam

Được Quỹ môi trường toàn cầu xếp vào loại A, cao nhất về giá trị đa dạng sinh học của Việt Nam và được tổ chức Bảo tồn Đa dạng Sinh học ASEAN công nhận là Vườn di sản ASEAN

Tuy nhiên, do địa hình gồm nhiều núi cao, bị chia cắt mạnh và phức tạp nên thường xuyên xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan như sương mù, sương muối, mưa tuyết, mưa đá; hiện tượng hanh khô kéo dài; gió khô nóng thường xuất hiện từ tháng 01 đến tháng 04 làm cho lớp thực bì chết hàng loạt, tạo ra nguồn vật liệu cháy rất lớn, tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất cao

Qua tổng kết tình hình cháy rừng từ năm 2012 đến tháng hết 12/2018, trên địa bàn các xã thuộc VQG Hoàng Liên quản lý đã xảy ra 10 vụ cháy gây thiệt hại 90,96 ha rừng, trong đó có 89,26 ha rừng tự nhiên Đặc biệt là vụ cháy rừng năm 2012 đã làm thiệt hại hơn 70 ha rừng tự nhiên ở xã Tả Van Có thể thấy số lượng các vụ cháy rừng ở VQG Hoàng Liên tuy không nhiều nhưng mức độ ảnh hưởng và tác động là rất lớn Rút kinh nghiệm từ vụ cháy rừng năm 2012; VQG Hoàng Liên đã chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền luật bảo vệ rừng, tổ chức ký cam kết thực hiện nội quy, quy chế PCCCR nhằm nâng cao nhận thức của người dân và chủ rừng Tuy nhiên, số vụ cháy rừng vẫn có nguy cơ tiếp tục xảy ra và có tính chất gia tăng trước những biến đổi khác

thường của thời tiết Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “Nghiên cứu và đề xuất một

số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng cháy và chữa cháy rừng tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai” đặt ra là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa

khoa học và thực tiễn

2 Mục tiêu đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Nâng cao hiệu quả công tác PCCCR tại VQG Hoàng Liên, góp phần

quản lý tài nguyên rừng bền vững

Trang 13

- Làm rõ được đặc điểm tài nguyên rừng và đặc điểm vật liệu cháy tại VQG

Hoàng Liên, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

- Xác định được một số luận cứ khoa học (các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội) cho việc đề xuất các giải pháp PCCCR tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề xuất được một số giải pháp PCCCR làm giảm nguy cơ cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng gây ra

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học

Cháy rừng là một hiện tượng phổ biến, thường xuyên xảy ra trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, nhiều khi nó là những thảm họa khôn lường, gây thiệt hại to lớn về người và tài nguyên rừng cũng như tài sản của người dân sống gần rừng, Vì vậy, nghiên cứu phòng cháy chữa cháy rừng và giảm thiểu những thiệt hại do nó gây ra đã được đặt ra như một yêu cầu cấp bách của thực tiễn với hoạt động nghiên cứu khoa học Những nghiên cứu về PCCCR đã được tiến hành từ nghiên cứu định tính đến định lượng, nhằm tìm hiểu bản chất của hiện tượng cháy rừng và mối quan hệ giữa các yếu tố gây ra cháy với nhau và với môi trường xung quanh, từ đó đề ra những giải pháp PCCCR Tuy nhiên, với sự phức tạp về trạng thái rừng cũng như các điều kiện tự nhiên khác mà quy luật ảnh hưởng của các nhân

tố đến cháy rừng và giải pháp PCCCR cũng không hoàn toàn giống nhau ở các địa phương Do đó, mỗi khu vực, mỗi tỉnh, mỗi quốc gia thường phải tiến hành nghiên cứu trong điều kiện cụ thể của mình để xây dựng được những giải pháp PCCCR có

1.2.1.1 Nghiên cứu bản chất của cháy rừng

Các kết quả nghiên cứu đã khẳng định rằng, cháy rừng là hiện tượng ôxy hóa các vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt độ cao, nó xảy ra khi có mặt đồng thời của

Trang 15

3 thành tố là nguồn nhiệt, ôxy và vật liệu cháy; tùy thuộc vào đặc điểm của các yếu

tố nêu trên, cháy rừng có thể được hình thành, phát triển hay bị ngăn chặn hoặc suy yếu đi (Brown,1979; Chandler, 1983) Vì vậy, về bản chất những biện pháp phòng cháy rừng chính là những biện pháp tác động vào 3 yếu tố trên theo chiều hướng ngăn chặn và giảm thiểu quá trình cháy

Các nhà khoa học phân biệt 3 loại cháy rừng như sau:

(1) - Cháy dưới tán cây hay cháy mặt đất rừng: là trường hợp chỉ cháy một phần hay toàn bộ lớp cây bụi, cỏ khô và cành rơi lá rụng trên mặt đất

(2) - Cháy tán rừng: là trường hợp lửa lan tràn nhanh từ tán cây này sang tán cây khác

(3) - Cháy ngầm: là trường hợp xảy ra khi lửa lan tràn chậm, âm ỉ dưới mặt đất, trong lớp thảm mục dày hoặc than bùn Trong một đám cháy rừng có thể xảy ra một hoặc đồng thời hai ba loại cháy trên và tùy theo loại cháy rừng mà người ta đưa

ra những biện pháp phòng và chữa cháy khác nhau (Brown,1979; Gronquist và cs., 1993; Mc Arthur và Luck,1986; Timo và cs., 2007)

Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra 3 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của cháy rừng là thời tiết, loại rừng và hoạt động kinh tế -

xã hội của con người Thời tiết đặc biệt là lượng mưa (Lm), nhiệt độ không khí (Tkk), độ ẩm không khí (Wkk) và tốc độ gió (Vg) ảnh hưởng quyết định đến tốc độ bốc hơi và độ ẩm vật liệu cháy (Wvlc) qua đó ảnh hưởng đến khả năng bén lửa và lan tràn đám cháy Loại rừng ảnh hưởng tới tính chất vật lý, hóa học, khối lượng và phân bố của vật liệu cháy qua đó ảnh hưởng đến loại cháy, khả năng hình thành và tốc độ lan tràn của đám cháy và hoạt động kinh tế - xã hội của con người như sản xuất nương rẫy, săn bắn thú rừng và du lịch sinh thái,… đều có ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và phân bố nguồn lửa khởi đầu của các đám cháy Phần lớn các biện pháp phòng cháy rừng đều được xây dựng trên cơ sở phân tích đặc điểm 3 yếu tố trên trong hoàn cảnh cụ thể ở địa phương (Laslo, 1993; Richmond, 1976)

1.2.1.2 Nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng

Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định mối liên hệ chặt giữa điều kiện thời tiết mà quan trọng nhất là lượng mưa, nhiệt độ không khí, độ ẩm vật liệu cháy và

Trang 16

khả năng xuất hiện cháy rừng Vì vậy, hầu hết các phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng đều tính đến đặc điểm diễn biến hằng ngày của lượng mưa, nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí (Chandler, 1983; MiBbach, 1972) Ở một số nước khi

dự báo nguy cơ cháy rừng (DBNCCR) ngoài căn cứ vào yếu tố khí tượng còn căn

cứ vào một số yếu tố khác; chẳng hạn, ở Đức và Mỹ sử dụng thêm độ ẩm không khí, ở Pháp tính thêm lượng nước hữu hiệu trong đất và độ ẩm không khí, ở Trung Quốc có bổ sung thêm cả tốc độ gió (Vg), số ngày không mưa và lượng bão hòa (Lbh),… Cũng có sự khác biệt nhất định khi sử dụng các yếu tố khí tượng để DBNCCR; chẳng hạn: ở Thụy Điển và một số nước ở bán đảo Scandinavia sử dụng

độ ẩm không khí thấp nhất và nhiệt độ không khí cao nhất trong ngày; trong khi đó,

ở Nga và một số nước khác lại dùng nhiệt độ không khí và độ ẩm không khí lúc 13 giờ (Brown, 1979) Năm 1920, hệ thống cháy rừng ở Mỹ được đưa ra sử dụng và cho đến nay, nó đã được cải tiến tương đối hoàn chỉnh Hệ thống này, căn cứ chủ yếu vào mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí và độ ẩm vật liệu cháy để dự báo khả năng cháy rừng cho các loại vật liệu cháy khác nhau trên cơ sở phân loại vật liệu cháy ra các nhóm chính và kết hợp quan sát điều kiện khí tượng, địa hình, độ ẩm vật liệu cháy từ đó đưa ra mô hình dự báo khả năng xuất hiện cháy rừng và quy mô đám cháy (Brown, 1979) Trong những năm gần đây, ở Trung Quốc đã nghiên cứu phương pháp cho điểm các nhân tố ảnh hưởng đến NCCR, trong đó có cả những yếu tố kinh tế - xã hội và NCCR được tính theo tổng số điểm của các yếu tố (Asian Biodiversity, 2001) Mặc dù, có những nét giống nhau nhưng đến nay, vẫn không có phương pháp DBNCCR chung cho cả thế giới mà ở mỗi quốc gia, thậm chí ở mỗi địa phương, mỗi vùng, khu vực người ta vẫn nghiên cứu xây dựng phương pháp riêng Ngoài ra, vẫn còn rất ít phương pháp DBNCCR có tính đến nhân tố kinh tế - xã hội và loại rừng Đây có thể là một trong những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả và hiệu lực của phòng cháy rừng (PCR) ngay cả ở những nước phát triển

1.2.1.3 Nghiên cứu về công trình phòng cháy rừng

Kết quả nghiên cứu của thế giới đã khẳng định hiệu quả của các loại băng cản lửa, các vành đai cây xanh và hệ thống kênh mương ngăn cản cháy rừng

Trang 17

(Gronquist và cs., 1993) Người ta đã nghiên cứu tập đoàn cây trồng trên băng cản lửa, trồng rừng hỗn giao và giữ nước ở hồ đập để làm giảm nguy cơ cháy rừng Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhiều chuyên gia về lửa rừng ở Châu Âu đã nghiên cứu

và bước đầu đưa ra những ý kiến về xây dựng các băng xanh cản lửa và đai xanh phòng cháy rừng trên đó có trồng các loài cây lá rộng; ở Nga đã thiết lập những băng cây xanh chịu lửa khép kín với kết cấu nhiều loài cây, tạo thành nhiều tầng để ngăn lửa cháy từ ngoài vào các khu rừng thông, bạch đàn, sồi,… Các nước khác tiến hành nghiên cứu vấn đề này rất sớm và có nhiều công trình nhất vẫn là Đức, Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ, Mỹ, Canada, Nhật Bản và Trung Quốc,… (dẫn theo Phạm Ngọc Hưng, 2001)

Nhìn chung, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu hiệu quả của nhiều kiểu công trình phòng cháy rừng Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa đưa ra được phương pháp xác định tiêu chuẩn kỹ thuật cho các công trình đó Những thông số kỹ thuật đưa ra đều mang tính gợi ý và luôn được điều chỉnh theo ý kiến của các chuyên gia cho phù hợp với đặc điểm của mỗi loại rừng và điều kiện địa lý, vật lý địa phương

1.2.1.4 Nghiên cứu về biện pháp phòng và chữa cháy rừng

Việc nghiên cứu các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng người ta chủ yếu hướng vào làm suy giảm 3 thành phần của tam giác lửa:

(1) Giảm nguồn lửa bằng nhiều cách: Tuyên truyền vận động không mang lửa vào rừng, dập tắt tàn lửa sau khi dùng lửa, thực hiện các biện pháp dọn vật liệu cháy trên mặt đất thành băng, đào rãnh sâu, hoặc chặt cây theo dải để ngăn cách đám cháy với phần rừng còn lại;

(2) Đốt trước một phần vật liệu cháy vào đầu mùa khô khi chúng còn ẩm để giảm khối lượng vật liệu cháy trong rừng hoặc đốt theo hướng ngược với hướng lan tràn để cô lập đám cháy Các công trình nghiên cứu về đốt trước làm giảm vật liệu cháy đã được nhiều nước áp dụng ngay từ đầu thế kỷ XX Các nước tiến hành nghiên cứu vấn đề này, rất sớm và có nhiều công trình nhất là Đức, Mỹ, Nga, Canada và Trung Quốc,… Đối tượng rừng được đưa vào đốt trước làm giảm vật liệu có cả rừng tự nhiên và rừng trồng Thường các chủ rừng đốt theo đám ở những diện tích rừng có nhiều vật liệu cháy, có nguy cơ cháy cao vào thời gian trước mùa

Trang 18

cháy, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng cháy lan đến khu rừng lân cận (Brown A.A,1979; Gronquist R., và cs., 1993; Mc Arthur A.G., Luke R.H.,1986) Năm

1968, Stoddard - một trong những người đầu tiên đề xuất ý kiến đốt rừng có kế hoạch nhằm giảm nguy cơ cháy, tăng sản lượng gỗ và chim thú Năm 1968, Morris

đã cho thấy, việc đốt cỏ gà Cynodon dadyion vào cuối mùa đông, đầu mùa xuân có tác dụng như bón phân làm tăng sản lượng sinh khối Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay, có một số nước đi đầu trong lĩnh vực lửa rừng của thế giới như: Australia,

Mỹ, Nga, Canada, Indonexia, Thái Lan,… đã có nhiều nghiên cứu và đưa ra được những quy trình đốt trước cho các khu rừng trồng thuần loài có nguy cơ cháy cao Biện pháp đốt trước có điều khiển đã được sử dụng tương đối phổ biến và được coi

là biện pháp quan trọng trong công tác quản lý lửa rừng ở những nước này Năm

1993, có một số tác giả người Phần Lan đã đưa ra các vấn đề về khối lượng, độ ẩm vật liệu cháy, thời tiết, diện tích, địa hình và các vấn đề về kinh phí, tổ chức lực lượng một cách khá toàn diện trong đốt trước có điều khiển cho các vùng rừng trọng điểm cháy dựa trên nghiên cứu về đặc điểm nguồn vật liệu cháy và việc đốt thử trên những diện tích rộng lớn (Gronquist và cs., 1993)

(3) Dùng chất dập cháy để giảm nhiệt lượng của đám cháy hoặc ngăn cách vật liệu cháy với ôxy không khí (nước, đất, cát, hóa chất dập cháy v.v…)

Nhìn chung, các nghiên cứu về vấn đề này, thường được tiến hành nhiều ở các nước phát triển, như: Đức, Mỹ, Nga, Úc, Canada, Trung Quốc,… Còn các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam chủ yếu là nghiên cứu, áp dụng những công trình này, để phù hợp với điều kiện mỗi nước Vì vậy, cần có những nghiên cứu thực tế áp dụng cho công tác PCCCR ở mỗi quốc gia và mỗi địa phương

1.2.1.5 Nghiên cứu về phương tiện phòng cháy và chữa cháy rừng

Những năm gần đây các phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là phương tiện dự báo, phát hiện đám cháy, thông tin về cháy rừng và phương tiện dập lửa trong các đám cháy

Các phương pháp dự báo đã được mô hình hóa và xây dựng thành những phần mềm làm giảm nhẹ công việc và tăng độ chính xác của công tác dự báo Việc ứng dụng viễn thám và công nghệ GIS đã cho phép phân tích được những diễn biến

Trang 19

thời tiết, dự báo nhanh chóng và chính xác khả năng xuất hiện cháy rừng và phát hiện sớm lửa rừng trên vùng rộng lớn Những thông tin về khả năng xuất hiện cháy rừng, nguy cơ cháy rừng và biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng hiện nay được truyền qua nhiều kênh khác nhau đến các lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng và cộng đồng dân cư như hệ thống biển báo, thư tín, đài phát thanh, báo địa phương và trung ương, vô tuyến truyền hình, các mạng máy tính v.v…

Những phương tiện dập tắt đám cháy rừng được nghiên cứu theo cả hướng phát triển phương tiện thủ công như cào, cuốc, dao, câu liêm đến các loại phương tiện cơ giới như cưa xăng, máy kéo, máy gạt đất, máy đào rãnh, máy phun nước, náy phun bọt chống cháy, máy thổi gió, máy bay rải chất chống cháy và bom dập lửa v.v…

Mặc dù các phương tiện chữa cháy rừng đã được nghiên cứu và phát triển ở mức cao, song những thiệt hại do cháy rừng vẫn rất khủng khiếp ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống phòng cháy, chữa cháy rừng hiện đại như Mỹ, Úc, Nga,… Trong nhiều trường hợp việc khống chế các đám cháy vẫn không hiệu quả

Vì vậy, đã có những nghiên cứu về đặc điểm xã hội của cháy rừng và những giải pháp xã hội cho phòng cháy, chữa cháy rừng (Cooper, 1991) Hiện nay, các giải pháp xã hội phòng cháy, chữa cháy rừng chủ yếu được tập trung vào tuyên truyền, giáo dục tác hại của cháy rừng, nghĩa vụ của công dân trong việc phòng cháy, chữa cháy rừng, hình phạt đối với người gây cháy rừng Trong thực tế còn ít những nghiên cứu về ảnh hưởng của thể chế và chính sách quản lý sử dụng tài nguyên, chính sách chia sẻ lợi ích, những quy định của cộng đồng, những phong tục, tập quán, nhận thức và kiến thức của người dân đối với cháy rừng Cũng còn rất ít nghiên cứu về nguyên nhân cháy rừng do hậu quả của sự phát triển kinh tế xã hội gây nên, về những giải pháp lồng ghép hoạt động phòng cháy, chữa cháy rừng với hoạt động phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường khác Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng giải pháp kinh tế xã hội cho phòng cháy, chữa cháy rừng

1.2.2 Ở Việt Nam

1.2.2.1 Nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng

Công tác DBNCCR ở Việt Nam được bắt đầu từ năm 1981 Tuy nhiên, trong thời gian đầu chủ yếu áp dụng phương pháp dự báo của Nesterop (Ngô Quang Đê,

Trang 20

Lê Đăng Giảng, Phạm Ngọc Hưng, 1983) Đây là phương pháp đơn giản, cấp nguy hiểm của cháy rừng được xác định theo giá trị khí tượng tổng hợp (P) bằng tổng của tích số giữa nhiệt độ và độ chênh lệch bão hòa của không khí lúc 13 giờ hàng ngày

kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa dưới 3mm

Theo kết quả nghiên cứu Phạm Ngọc Hưng (1988) cho thấy, phương pháp của V.G Nesterop có độ chính xác cao hơn nếu tính giá trị P kể từ ngày cuối cùng

có lượng mưa dưới 5mm Ngoài ra, trên cơ sở phát hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa số ngày khô hạn liên tục (H) (số ngày liên tục có lượng mưa dưới 5mm) với chỉ số P, tác giả Phạm Ngọc Hưng, (2004) đã đưa ra phương pháp DBNCCR theo số ngày khô hạn liên tục Tác giả căn cứ vào số ngày khô hạn liên tục cho các mùa khí hậu trong năm xây dựng một bảng tra cấp nguy hiểm cháy rừng

Tuy nhiên, khi nghiên cứu về tính thích hợp của một số phương pháp DBNCCR ở miền Bắc Việt Nam, tác giả Bế Minh Châu (2001) đã khẳng định phương pháp DBNCCR theo chỉ tiêu P và H có độ chính xác thấp ở những vùng có

sự luân phiên thường xuyên của các khối không khí biển và lục địa hoặc vào các thời gian chuyển mùa Trong những trường hợp này, thì mức độ liên hệ của chỉ tiêu tổng hợp P và chỉ số ngày khô hạn liên tục H với độ ẩm vật liệu cháy dưới tán rừng

và tần suất xuất hiện của cháy rừng rất thấp

Võ Đình Tiến (1995) đã đưa ra phương pháp DBNCCR cho từng tháng tại Bình Thuận theo 6 yếu tố: nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm không khí, tốc độ gió, số vụ cháy rừng, lượng người vào rừng (tất cả đều lấy giá trị trung bình) Tác giả đã xác định được cấp nguy hiểm với cháy rừng cho từng tháng trong cả mùa cháy Đây là chỉ tiêu có tính đến cả yếu tố thời tiết và yếu tố kinh tế - xã hội liên quan đến nguy

cơ cháy rừng (NCCR) Tuy nhiên, vì căn cứ vào số liệu khí tượng trung bình năm nên cấp dự báo của tác giả chỉ thay đổi theo thời gian của lịch mà không thay đổi theo thời tiết hàng ngày Vì vậy, nó mang ý nghĩa của phương pháp xác định mùa cháy nhiều hơn là DBNCCR

Kết quả nghiên cứu Vương Văn Quỳnh (2005) đưa ra phương pháp dự báo phát hiện sớm cháy rừng U Minh và Tây Nguyên Các kết quả cũng chỉ ứng dụng cho các khu vực nói trên, chưa được ứng dụng rộng rãi cho cả nước

Trang 21

Nhìn chung, đến nay nghiên cứu về phương pháp DBNCCR ở Việt Nam còn rất mới mẻ, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của trạng thái rừng, đặc điểm tiểu khí hậu và yếu tố kinh tế - xã hội có ảnh hưởng tới cháy rừng cho mỗi địa phương

1.2.2.2 Nghiên cứu về công trình phòng cháy rừng

Hiện còn rất ít những nghiên cứu về hiệu quả của các công trình PCR; mặc

dù, trong các quy phạm PCR có đề cập đến tiêu chuẩn của các công trình phòng cháy như đưa ra một số loài cây trồng sử dụng tạo băng xanh cản lửa phòng cháy, song phần lớn đều được xây dựng trên cơ sở tham khảo tư liệu nước ngoài và kinh nghiệm, chưa có khảo nghiệm đầy đủ trong điều kiện Việt Nam (Đặng Vũ Cẩn và cs., 1992)

Các công trình PCR ở nước ta chủ yếu xây dựng đường băng trắng và đường băng xanh cản lửa hạn chế cháy lan mặt đất, cháy lướt trên ngọn cây rừng Theo Phạm Ngọc Hưng (2001), đường băng xanh được trồng cùng với việc trồng rừng trong năm trên những diện tích rừng có độ dốc 25 độ Đối với đai cây xanh xung quanh các điểm dân cư, xung quanh những vùng đất sản xuất nông nghiệp,… nằm ở trong rừng và ven rừng Đai rừng phòng cháy có chiều rộng từ 20 - 30m, nếu xây dựng theo đường phân khoảnh thì chiều rộng đai rừng chỉ cần từ 15 - 20m là đủ Thường những đường băng cản lửa lợi dụng những chướng ngại vật tự nhiên như: sông, suối, hồ nước, đường mòn, đường dông, những công trình nhân tạo (đường sắt, đường giao thông, đường điện cao thế, đường vận xuất, đường vận chuyển,…)

để làm băng Trong những trường hợp này, đường băng thường chỉ xây dựng dọc theo hai bên đường bằng một hoặc hai vành đai cây xanh cản lửa, có bề rộng từ 6 - 10m Những loài cây được giới thiệu đưa vào trồng thành băng hoặc đai xanh cản lửa tại nhiều địa phương ở nước ta như sau:

- Cây Tống quá sủ (Alnus nepalensis): Ưa khí hậu á nhiệt đới, thường trồng ở

vùng núi cao dọc theo biên giới Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng

- Cây Dứa bà (Agave americara): Chịu nước quanh năm, có khả năng ngăn

cháy lan mặt đất, có thể trồng rộng rãi nhiều nơi, như: Lâm Đồng, Quảng Ninh,…

Trang 22

- Cây Vối thuốc răng cưa (Schima superb Gardn et Champ): Cây cao, thân

thẳng, mọc nhanh tiên phong trên đồi trọc hoặc tái sinh sau nương rẫy,… phân bố nhiều ở vùng Đông Bắc, cây có tác dụng ngăn lửa tốt cho rừng thông

- Cây Me rừng (Phyllanthus emblica L): Loại cây bụi, thân chứa nhiều nước,

mọc nhiều ở vùng đồi núi trọc nên có thể chọn làm đai cản lửa ở nơi đồi trọc

- Cây Thẩu tấu (Aporosa microcalyx Hassk): Cây bụi hoặc cây nhỏ, mọc phổ

biến ở đồi trọc, bãi hoang, nơi rừng nghèo kiệt, phân bố vùng Bắc Bộ và Trung Bộ

- Cây Đỏ ngọn (Cratoxylon pruuolium Dyer): Cây cao cỡ 6 - 10m, vỏ khi già

xốp có nhiều vảy, có khả năng phòng cháy, cây thường gặp ở các tỉnh Lạng Sơn, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh

- Cây Dâu da đất (Baceaerea sapida Mull - Arg.): Là loại cây nhỡ, mọc rải

rác trong rừng thứ sinh tập trung ở vùng trung du Bắc Bộ và Trung Bộ

- Cây Keo tai tượng (Acacia mangium Wild): Là loài cây có thể trồng ở hầu

hết khắp nơi trên nhiều loại đất; cây có tán khép kín, thường trồng ở đồi núi ở các tỉnh Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Kon Tum, Gia Lai,…

và có khả năng tạo ra đai xanh khép kín nhiều tầng, tầng trên là Keo tai tượng, tầng dưới là 1 số ít cây bụi thường xanh, tạo nên môi trường râm ẩm, có khả năng ngăn ngừa lửa cháy lan từ ngoài vào rừng và ngăn cháy lướt trên ngọn cây rừng

- Một số loài cây trồng trên kênh mương tạo băng cản lửa ở rừng tràm vùng

đồng bằng sông Cửu Long bao gồm: Dứa (thơm), Dừa nước (Nypa fruticans Wurb), Chuối, Đào lộn hột (điều) (Anacardium occidentale L)

- Một số loài cây keo thuộc họ đậu mọc nhanh, xanh quanh năm, có tác dụng

cản lửa, tạo môi trường râm, ẩm, cải tạo đất tốt như: Keo dậu (Leacaena leucocepha

De wit.), Keo gai, Keo philippin,… dùng để trồng đai cây xanh ở vùng đồi núi và ở miền Bắc

Từ năm 2002, trường Đại học Lâm nghiệp phối hợp với Cục Kiểm lâm đã xây dựng phần mềm dự báo cháy rừng cho Việt Nam Ưu điểm của phần mềm là cho phép lien kết được phương tiện hiện đại vào công tác dự báo truyền tin về nguy cơ cháy rừng, tự động cập nhật lưu trữ số liệu và xác định các nguy cơ cháy cho các địa

Trang 23

phương Phần mềm này đã góp phần tích cực trong công tác nâng cao nhận thức về PCCCR của cán bộ và nhân dân cả nước Tuy nhiên sau một thời gian áp dụng phần mềm cho thấy một số tồn tại sau Nguy cơ cháy rừng được đồng nhất cho một phạm vi rộng và đồng nhất cho các kiểu rừng khác nhau Trong đó điều kiện khí hậu và nguy cơ cháy rừng phân hóa mạnh theo không gian cũng như các trạng thái rừng, vì thế tính chính xác về thông tin cháy rừng chưa cao

Lê Thị Hiền và các cộng sự năm 2004 - 2006, đã thực hiện đề tài nghiên cứu cơ

sở khoa học để hiệu chỉnh phương pháp dự báo cháy rừng ở các tỉnh phía Bắc Đề tài

đã nghiên cứu được đặc điểm phân hóa của một số nhân tố khí tượng, phân hóa tiểu khí hậu và nguy cơ cháy rừng ở các kiểu rừng có nguy cơ cháy cao ở các tỉnh phía Bắc Từ

đó làm cơ sở nghiên cứu hiệu chỉnh phương pháp dự báo cháy rừng cho các tỉnh phía Bắc, là công thức dự báo cháy rừng ở Miền Bắc có dạng chung của các công thức dự báo nguy cơ cháy rừng ở Việt Nam, công thức của Nesterov Tuy đây là công thức dự báo cháy rừng cho một vùng không phải cho một khu vực đơn lẻ, do đó sẽ gặp khó khăn cho một số địa phương khi có những điều kiện về khí hậu địa phương khác

Năm 2004, Nguyễn Tiến Đạt đã nghiên cứu phương pháp dự báo cháy rừng cho một số kiểu rừng dễ cháy ở tỉnh Gia Lai Tác giả đã nghiên cứu đặc điểm cấu trúc một

số trạng thái rừng với nguy cơ cháy rừng và đưa ra một số phương trình dự báo độ ẩm

và vật liệu cháy, tốc độ cháy dưới rừng Thông và rừng Khộp ở khu vực nghiên cứu để giúp cho việc bố trí lực lượng và phương tiện chữa cháy Tuy vậy đề tài chưa thử nghiệm được tốc độ cháy và vật liệu cháy cho từng trạng thái rừng nên chưa xác định được cấp cháy cho từng trạng thái, phải kế thừa phân cấp nguy cơ cháy rừng của các nghiên cứu trước mà chưa có kiểm nghiệm độ chính xác

Cho đến nay phương pháp dự báo cháy rừng ở nước ta đã được thực hiện ở một

số năm gần đây, nhưng chưa quan tâm nhiều đến đặc điểm của các trạng thái rừng, đặc điểm khí hậu và điều kiện kinh tế, xã hội có ảnh hưởng đến cháy rừng của từng địa phương

Năm 2007, Lê Văn Tập nghiên cứu cơ sở khoa học để hiệu chỉnh cấp dự báo nguy cơ cháy rừng cho các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ Tác giả đã nghiên cứu trên 3 loại rừng:

Trang 24

Loại 1: Là rất dễ cháy bao gồm rừng tre, nứa tự nhiên, rừng trồng Thông, Tre, Luồng và một số trạng thái là thực bì cỏ tranh, lau lách…

Loại 2: Là rừng dễ cháy gồm một số trạng thái rừng trồng ngoài thông, trạng thái Ia, Ib

Loại 3: Là rừng ít có khả năng cháy như rừng tự nhiên, rừng ngập mặn Kết quả nghiên cứu tác giả đã đưa ra bảng hiệu chỉnh chỉ tiêu P cho 2 loại rừng là rất dễ cháy và dễ cháy cho khu vực Bắc Trung Bộ Tác giả đã kết luận: Đặc điểm cấu trúc có ảnh hưởng rõ rệt đến nguy cơ cháy rừng của các kiểu rừng khác nhau, nhưng mới chỉ ra các yếu tố khí tượng có ảnh hưởng đến biến đổi vật liệu cháy và nhiệt độ, độ ẩm không khí, lượng mưa, mà chưa đưa ra ảnh hưởng của gió đến vật liệu cháy

Năm 2007, Hà Văn Hoan đã nghiên cứu một số giải pháp nhằm quản lý vật liệu cháy cho rừng trồng tại huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị Tác giả đã thử nghiệm trên rừng Thông 6 tuổi, 10 tuổi, 20 tuổi và Keo lá Tràm 3 tuổi, 6 tuổi Nghiên cứu chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến đặc tính đám cháy bao gồm: Khối lượng vật liệu cháy, loại thực bì Tuy vậy nghiên cứu chưa đề cập đến một số yếu tố như khí tượng, địa hình ảnh hưởng đến vật liệu cháy

Năm 2008, Trần Văn Thắng đã nghiên cứu xây dựng giải pháp quản lý thủy văn phục vụ phòng cháy chữa cháy rừng Vườn Quốc gia U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang Kết quả nghiên cứu cho thấy để đảm bảo an toàn cho rừng Tràm trên than bùn không bị cháy thì mực nước cần đảm bảo duy trì ở mức ngập 50cm so với mặt than bùn, đó là cơ sở cho việc điều tiết chế độ thủy văn phục vụ công tác PCCCR ở Vườn Quốc gia U Minh Thượng, nhưng vẫn chưa được kiểm nghiệm ở thực tế

Năm 2008, Nguyễn Tuấn Anh đã phân vùng trọng điểm cháy cho tỉnh Quảng Bình Tác giả đã đưa ra mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí và lượng mưa trung bình theo kinh độ, vĩ độ và độ cao để có thể phân vùng trọng điểm cháy của Quảng Bình theo điều kiện khí hậu và địa hình thành 5 cấp Tuy đề tài mới chỉ dừng lại ở một số trạng thái rừng điển hình của khu vực, chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội đến nguy cơ cháy rừng

Trang 25

Năm 2009, Nguyễn Đình Thành đã nghiên cứu giải pháp kỹ thuật lâm sinh làm giảm nguy cơ cháy rừng trồng ở Bình Định Tác giả đã nghiên cứu trên trạng thái Bạch Đàn và Keo ở các tuổi khác nhau, ảnh hưởng của vật liệu cháy, độ ẩm của vật liệu cháy và độ dốc đến khả năng cháy rừng, đòng thời cũng đưa ra một số loài cây trồng làm băng xanh để giảm thiểu nguy cơ cháy rừng như: Sao đen, Muồng đen, Chò chỉ, Dầu rái, Xoan ta, Bời lời nhớt… Tác giả đã chỉ ra rằng với rừng trồng Bạch đàn thì việc đốt trước có hiệu quả hơn việc áp dụng biện pháp vệ sinh rừng Tuy nhiên việc nghiên cứu mới chỉ thử nghiệm trên diện tích hẹp và việc lựa chọn loài cây trồng làm băng cản lửa chưa được thực hiện trên trên từng điều kiện lập địa Vì vậy cần có những nghiên cứu khác cho các vùng lân cận, để đánh giá chính xác hơn về nghiên cứu này Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã đưa ra bảng phân cấp khả năng xuất hiện khả năng cháy rừng theo độ ẩm vật liệu cháy Việc dự báo khả năng cháy rừng và phân cấp mức độ nguy hiểm của cháy rừng cho từng ngày cụ thể cần xác định chính xác độ ẩm vật liệu trong ngày đó, nhưng thực tế điều này rất khó làm, nêm việc dự báo phải thông qua yếu tố khí tượng

Năm 2010, Trịnh Phú Thuận đã nghiên cứu xây dựng các giải pháp quản lý cháy rừng tại thị xã Uông Bí tỉnh Quảng Ninh Tác giả đã tiến hành nghiên cứu trên trạng thái rừng tự nhiên (IIa; IIIa) rừng trồng Keo, Thông, Bạch đàn ở các cấp tuổi Ảnh hưởng của vật liệu cháy, điều kiện khí tượng, địa hình đến khả năng cháy rừng, xây dựng bản đồ quản lý cháy rừng khu vực Uông Bí, đã đề xuất các biện pháp kỹ thuật như xây dựng đường băng xanh cản lửa, đường băng trắng quản lý vật liệu cháy, đốt trước…

Đề tài đã chỉ ra ở những nơi có địa hình dốc trên 25o không nên sử dụng băng trắng cản lửa, mà sử dụng đường bang xanh là tốt hơn Nếu chưa có điều kiện thì sử dụng đường băng trắng 1 - 2 năm đầu sau đó xây dựng đường băng xanh Việc đốt trước cần quan tâm đến tuổi cây, tốc độ gió, chiều cao dưới cành của tầng cây cao, thời điểm đốt, độ ẩm vật liệu cháy Đề tài mới chỉ dừng lại ở một số trạng thái rừng nhất định mà chưa tiến hành trên diện rộng chỉ tập trung ở phường Vàng Danh, Thượng Yên Công Vì vậy cần nghiên cứu rộng hơn, thời gian dài hơn thì độ chính xác cao hơn

Trang 26

Tóm lại: Các kết quả nghiên cứu của các tác giả ở Việt Nam cho thấy: Việc vận dụng, kế thừa các giải pháp cho công tác PCCCR trên thế giới cũng như trong nước cần phải linh hoạt để phù hợp cho từng địa phương Các nghiên cứu chỉ quan tâm nhiều đến nhân tố là vật liệu cháy là chính, còn vấn đề quản lý nguồn vật liệu cháy và các vấn đề kinh tế - xã hội khác chưa được đi sâu nghiên cứu

1.1.2.3 Nghiên cứu về giải pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng

Biện pháp KTLS là một trong những yêu cầu bắt buộc ngay khi tiến hành quy hoạch, thiết kế trồng rừng và trong suốt quá trình kinh doanh lợi dụng rừng Một số nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng (KTLSPCR) chủ yếu hướng vào:

(1) Trồng rừng hỗn giao nhiều loài để hạn chế thực bì là tầng cây bụi và lớp thảm tươi sinh trưởng và phát triển Trước đây, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số ít các loài cây như: Bạch đàn liễu, Mỡ, Bồ đề, Thông nhựa, Thông đuôi ngựa,… Gần đây, cùng với những tiến bộ về nghiên cứu giống cây rừng, các tác giả đã tập trung nhiều vào các loài cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu giấy như: Keo lai, Keo tai tượng, Bạch đàn urophylla, Thông caribe,… Các công trình nghiên cứu quan trọng có thể kể đến là nghiên cứu phương thức trồng rừng hỗn giao cũng được nhiều tác giả quan tâm nhiều Cụ thể: Phùng Ngọc Lan (1991) đã gây trồng rừng trồng hỗn giao Thông đuôi ngựa, Keo lá tràm, Bạch đàn trắng ở Núi Luốt - Xuân Mai Nguyễn Hữu Vĩnh, Phạm Thị Huyền, Nguyễn Quang Việt (1994) đã nghiên cứu cơ sở khoa học của phương thức trồng rừng hỗn giao giữa loài Bạch đàn trắng và Keo lá tràm, có kết luận: Keo lá tràm và Bạch đàn trắng

là cây ưa sáng ngay từ khi mới trồng, sinh trưởng nhanh; song mức độ ưa sáng, tốc

độ sinh trưởng và các đặc tính sinh vật học khác nhau của chúng không giống nhau; Keo lá tràm là cây họ đậu, hệ rễ có nhiều nốt sần, do đó bước đầu có thể khẳng định cây Bạch đàn trắng và cây Keo lá tràm có thể trồng hỗn giao với nhau; đến năm thứ

3, phương pháp hỗn giao cách tổ trong hàng làm cho các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Keo lá tràm và cây Bạch đàn tốt hơn phương pháp hỗn giao với các loài khác Theo kết quả nghiên cứu Trần Nguyên Giảng (1985) thí nghiệm trồng rừng hỗn giao trên đối tượng đất trống, trọc sau khi phá rừng để trồng cây lương thực, đất

Trang 27

phát triển trên nền đá vôi; thực bì gồm cỏ tranh, lau, găng gai,… Tác giả đã trồng Keo tai tượng và Keo lá tràm với mật độ 3.300 cây/ha làm áo che phủ; khi keo được

2 tuổi, tác giả đã đưa vào trồng 10 loài cây lá rộng bản địa là: Lát hoa, Sấu, Nhội, Giổi, Kim giao, Trám trắng, Gội trắng, Muồng đỏ, Lim xẹt vào giữa hai hàng keo theo phương pháp hỗn giao các loài theo hàng, cự ly 2m x 2m Trong thời gian qua, các loài cây bản địa được trồng nhiều và đã được nhiều tác giả chú ý nghiên cứu đến; cụ thể: Nguyễn Bá Chất (1994) nghiên cứu cơ cấu cây trồng và xây dựng quy trình hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loài cây chủ yếu phục vụ Chương trình 327/CT-CP, sau đó là Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng của Chính phủ Trong thời gian qua, nhiều tác giả đã nghiên cứu và thử nghiệm trồng rừng hỗn giao ở nhiều vùng bằng nhiều loài cây với phương thức trồng khác nhau Tuy nhiên, các kết quả vẫn còn tản mạn, chưa được đúc kết, đánh giá và chưa được áp dụng vào thực tiễn sản xuất; mặt khác, việc tìm chọn cấu trúc, loài cây, phương thức trồng và thời điểm hỗn giao cũng rất phức tạp Việc gây tạo rừng hỗn giao là mong muốn của nhiều nhà lâm học đã và đang nỗ lực nghiên cứu thí nghiệm tạo ra các lâm phần hài hòa,

ổn định, bền vững về sinh thái và có giá trị cao về kinh tế

(2) Đốt trước vật liệu cháy là biện pháp làm giảm nguồn vật liệu cháy trong rừng bằng cách chủ động đốt những vật liệu dễ cháy trong các khu rừng có nguy cơ cháy cao vào thời gian trước mùa cháy nhưng có sự điều khiển của con người để không gây cháy rừng và hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi của lửa gây ra Tuy nhiên, biện pháp này cho tới nay vẫn chưa được áp dụng phổ biến rộng rãi ở nước ta Việc tiến hành đốt trước khá phức tạp, đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm và phải được chuẩn bị chu đáo cả về lực lượng, phương tiện dập lửa (Bế Minh Châu và Phùng Văn Khoa, 2002)

Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu thử nghiệm về biện pháp đốt trước nhằm giảm khối lượng vật liệu cháy Cụ thể: Phó Đức Đỉnh (1996) đã thử nghiệm đốt trước vậy liệu cháy dưới tán rừng thông non 2 tuổi tại Đà Lạt (Lâm Đồng) Tác giả cho rằng, ở rừng thông non nhất thiết phải thu gom vật liệu cháy vào chính giữa các hàng cây hoặc nơi trống để đốt, chọn thời tiết đốt để ngọn lửa âm ỉ, không cao quá 0,5m có thể gây cháy tán cây rừng Phan

Trang 28

Thanh Ngọ (1996) đã thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới tán rừng thông 8 tuổi

ở Đà Lạt (Lâm Đồng); tác giả cho rằng, với rừng thông lớn tuổi không cần phải thu gom vật liệu cháy trước khi đốt mà chỉ cần tuân thủ những nguyên tắc về chọn thời điểm và thời tiết thích hợp để đốt và có thể áp dụng đốt trước vật liệu cháy cho một

số loại rừng ở địa phương khác, trong đó có rừng khộp ở Đắc Lắk và Gia Lai Tác giả Thái Thành Lượm (1996) đã áp dụng biện pháp đốt trước để xúc tiến tái sinh rừng tràm bằng cách đốt trực tiếp có kiểm soát đúng thời điểm, chia thành nhiều lần đốt để giảm bớt độ che phủ, kích thích hạt giống nảy mầm nhanh, hình thành lớp cây tái sinh dưới tán rừng Năm 1986, Bộ Lâm Nghiệp nay là Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn đã đưa ra quy định tạm thời về điều kiện đốt trước vật liệu cháy có điều khiển dưới tán rừng thông Các vấn đề cần chú ý trước khi tiến hành đốt trước vật liệu cháy rừng được đưa ra dựa trên kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về lửa rừng Việt Nam Vì vậy, vẫn còn một số hạn chế như một số nghiên cứu nêu trên

Qua thực tiễn hoạt động và đúc kết kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực lửa rừng trong thời gian từ năm 2001 - 2004, Phạm Ngọc Hưng và Bế Minh Châu đã tiến hành đánh giá kết quả thực hiện các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) ở Việt Nam, từ việc tham khảo các công trình nghiên cứu đã được áp dụng trên thế giới và trong nước Các tác giả đã cho rằng, một trong những biện pháp PCR quan trọng là biện pháp làm giảm nguồn vật liệu cháy bằng biện pháp đốt trước có điều khiển Trên cơ sở đó, tác giả đã tổng hợp các vấn đề liên quan và cách tiến hành đốt trước vật liệu cháy áp dụng cho Việt Nam một cách khá toàn diện Tuy nhiên, do đặc điểm khí hậu của các khu vực rất khác nhau nên việc áp dụng các kết quả này vẫn còn nhiều hạn chế

Có thể nói rằng, những công trình nghiên cứu về biện pháp PCR - đốt trước nguồn vật liệu cháy dưới tán rừng của các tác giả vẫn chưa định lượng được hiệu quả của đốt trước vật liệu cháy để giảm nguy cơ cháy rừng cũng như lượng hóa các tác động của đốt trước vật liệu cháy đến hoàn cảnh sinh thái và năng suất rừng trồng Vì vậy, tính thuyết phục của biện pháp đốt trước vật liệu cháy rừng chưa cao

Trang 29

- Trong nước nghiên cứu về PCR bắt đầu từ năm 1981, có nhiều phương pháp DBNCCR khác nhau, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của các trạng thái rừng, đặc điểm tiểu khí hậu và những yếu tố kinh tế - xã hội có liên quan ảnh hưởng tới cháy rừng ở địa phương Đối với các công trình PCR hiện nay, còn rất ít nghiên cứu về hiệu lực các công trình cũng như phương pháp PCR Song các công trình này, được xây dựng dựa vào tài liệu nước ngoài là chính Đối với các biện pháp KTLSPCR có nhiều mô hình trồng rừng hỗn giao giữa các loài cây trồng và có thể xem ba công trình thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy rừng là tiêu biểu nhất Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa định lượng được hiệu quả cũng như xác định được ảnh hưởng của đốt trước vật liệu cháy đến hoàn cảnh sinh thái và năng suất rừng, tính thuyết phục của biện pháp đốt trước vật liệu cháy rừng chưa cao

Hiện nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về PCCCR ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai Trong quá trình xây dựng và thực hiện các phương án, dự án, kế hoạch PCCCR của Vườn Quốc gia người ta chưa xác định được cụ thể, chi tiết các vùng trọng điểm cháy để bố trí hợp lý công tác phòng cháy chữa cháy rừng theo phương án 4 tại chỗ; việc dự báo nguy cơ cháy rừng còn mang

Trang 30

tính định tính điều này đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của các hoạt động PCCCR

của VQG Hoàng Liên Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp

nhằm nâng cao hiệu quả phòng cháy và chữa cháy rừng tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai” là hết sức cần thiết

1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu

1.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

1.3.1.1 Vị trí địa lý

VQG Hoàng Liên (Khu vực nghiên cứu) thuộc địa phận huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai có tổng diện tích là 20.951 ha, nằm trên địa bàn các xã San Sả Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ (huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai) và có toạ độ địa lý từ 220 09' 30” đến 220

21' 00” vĩ độ Bắc và từ 1030 45'00” đến 1040 59'40” kinh độ Đông Ranh giới của VQG như sau:

- Phía Đông giáp xã Nậm Sài, Nậm Cang (huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai);

- Phía Tây giáp xã Bản Bo, Bình Lư (huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu);

- Phía Nam và Đông Nam giáp xã Nậm Xé (huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai) và

04 xã Phúc Khoa, Thân Thuộc, Hố Mít, TT Tân Uyên (huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu);

- Phía Bắc giáp xã Hầu Thào, Sử Pán (huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai)

1.3.1.2 Địa hình

Địa hình của VQG Hoàng Liên khá đa dạng và phức tạp, bao gồm chủ yếu là núi cao và trung bình, chạy liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, suốt từ biên giới Trung Quốc đến huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái, có nhiều đỉnh núi cao trên 2.000m, cao nhất là đỉnh Phan Si Pan (3.143m) và được coi là nóc nhà của Đông Dương Địa hình bị chia cắt mạnh do các dông núi phụ với các khe suối sâu, chạy từ trên đỉnh dông cao và khu vực đỉnh Phan Si Pan đổ xuống Do độ chênh cao lớn nên khu vực VQG Hoàng Liên có độ dốc trung bình 350 ÷ 400, càng đi về phía trung tâm Vườn Quốc gia thì độ cao càng tăng và độ dốc càng lớn, nhiều nơi có độ dốc >

450 nên đi lại rất khó Tuy nhiên có sự khác nhau rõ giữa sườn Đông và Tây, sườn Đông trải rộng và thoải hơn sườn Tây Độ cao tuyệt đối và sự bất đối xứng giữa hai sườn của đỉnh Phan Si Păng đã có tác động sâu sắc đến toàn bộ các điều kiện tự nhiên trong khu vực, cụ thể VQG Hoàng Liên có 04 kiểu địa hình chính như sau:

Trang 31

- Kiểu địa hình núi cao (N1): Có diện tích chiếm 52,7% diện tích VQG, phân

bố ở độ cao trên 1.700m, địa hình bị chia cắt mạnh, có nhiều đỉnh cao với sườn dốc đứng Đây là khu vực có diện tích rừng tự nhiên khá tập trung, có hệ động thực vật phong phú, đa dạng, đặc trưng cho vùng có hệ sinh thái á nhiệt đới núi cao của miền Bắc Việt Nam

- Kiểu địa hình núi cao trung bình (N2): Có diện tích chiếm 42,5% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở độ cao từ 700m - 1.700m và tập trung ở phía Tây của Vườn Quốc gia

- Kiểu địa hình vùng núi thấp (N3): Có diện tích chiếm 0,5% tổng diện tích

tự nhiên

- Kiểu địa hình thung lũng (T1) và máng trũng (T2): Có diện tích chiếm 4,2% tổng diện tích tự nhiên của VQG, phân bố chủ yếu nằm tiếp giáp với phần ngoài của VQG Hoàng Liên

rừng trong khu vực và thường xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 4 (Nguồn: Trung tâm

khí tượng thủy văn Sa Pa năm 2018)

1.3.1.4 Thủy văn

Do đặc điểm địa hình bị chia cắt mạnh nên đã hình thành nên hệ thống khe suối dày đặc, khe suối hẹp và sâu, dòng chảy dốc và xuất hiện nhiều ghềnh thác Có

2 hệ thống suối chính là suối Đum và suối Bo

- Hệ thống suối Đum có tổng chiều dài khoảng 50 km, phân bố ở phía Đông Bắc của VQG gồm các suối như: Suối Mường Hoa bắt nguồn từ Phan Xi Păng; suối

Trang 32

Séo Chung Hồ bắt nguồn từ rừng núi Tả Van; suối Tả Trung Hồ bắt nguồn từ Bản

Hồ rồi hợp lưu ở Bản Dền trước khi chảy ra sông Hồng

- Hệ thống suối Bo có chiều dài khoảng 80 km, phân bố ở phía Tây Nam của VQG gồm các suối như: suối Nậm Be (xã Phúc Khoa) bắt nguồn từ núi Phan Si Păng; suối Nậm Pao, Nậm Chăng (thị trấn Tân Uyên), hợp lưu thành ngòi Nậm Mu chảy ra sông Đà;

Nhìn chung các suối hầu hết có lòng hẹp, dốc, thác ghềnh nhiều, lưu lượng nước thất thường và biến đổi theo mùa, mùa mưa thường có lũ lớn với dòng chảy khá mạnh (suối Bo 989 m/s) dễ gây nên các hiện tượng lũ ống, lũ quét, nhất là đối với vùng thấp Mùa khô các suối thường cạn

1.3.1.5 Đất đai, thổ nhưỡng

VQG Hoàng Liên có tổng diện tích 20.951 ha, gồm các nhóm đất chính sau:

- Nhóm đất mùn thô than bùn trên núi cao (HT): chiếm 0,18% tổng diện tích

tự nhiên, phân bố ở đỉnh cao từ 2.800 - 3.143 m của đỉnh Phan Xi Păng Do địa hình

ở đây quá dốc nên rừng phần lớn vẫn còn nguyên sinh

- Nhóm đất mùn Alit trên núi cao (HA): chiếm 17,77% diện tích tự nhiên Đất được hình thành trên độ cao 1.700 m - 2.800m, phân bố hầu hết ở các đỉnh núi cao, có nguồn gốc phát sinh từ nhiều loại đá mẹ khác nhau, thành phần cơ giới nhẹ, tầng mùn dầy khoảng 50cm, độ phì tương đối cao Do địa hình dốc nên việc canh tác nông nghiệp của đồng bào bị hạn chế, hầu hết diện tích đất vẫn còn rừng nguyên sinh che phủ, vì vậy cần thiết phải bảo vệ nguyên những diện tích rừng hiện có

- Nhóm đất Feralit mùn vàng đỏ trên núi trung bình (FH): chiếm 65,28 % diện tích tự nhiên; phân bố ở độ cao từ (700 - 1.700m); tầng đất trung bình (từ 70 - 100cm), có nhiều đá lẫn, đất khá tốt, nhưng rất dễ xói mòn rửa trôi, thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình; thảm thực vật rừng trên những diện tích này đều đã bị tác động nhưng chưa nhiều, vì vậy cần thiết phải bảo vệ nghiêm ngặt và trồng bổ sung thêm diện tích rừng trên những diện tích đất trống

- Nhóm đất Fe ralit đỏ vàng trên núi thấp và trung bình (F): chiếm 5,21 % diện tích tự nhiên; phân bố ở độ cao dưới 700m, thành phần cơ giới trung bình, cấu

Trang 33

tượng không bền vững, diện tích này rừng đã bị khai thác gần như cạn kiệt nên đất bị xói mòn và rửa trôi mạnh

- Nhóm đất trong các thung lũng (T): chiếm 1,17% tổng diện tích VQG và phân bố trong các thung lũng và bồn địa, đất phân tầng không rõ ràng, tầng đất có

độ dày từ trung bình đến dày, thành phần cơ giới nhẹ, đất thoáng, tơi xốp, hàm lượng mùn cao rất màu mỡ

- Đất mặt nước: Diện tích 137,96 ha, chiếm 0,48% tổng diện tích tự nhiên

VQG Hoàng Liên, và chủ yếu là sông suối (Nguồn: Báo cáo Quy hoạch bảo tồn và

phát triển bền vững rừng đặc dụng VQG Hoàng Liên, giai đoạn 2013-2020)

1.3.1.6 Tài nguyên rừng

- Về Động vật: Có hệ động vật phong phú và da dạng cao, theo thống kê có

555 loài động vật có xương sống, trong đó có 60 loài động vật quý hiếm ghi trong sách đỏ Việt Nam (1992); 33 loài trong danh lục đỏ IUCN/2004; 05 loài chim đặc hữu của Việt Nam và 25 loài chim khác đặc hữu của vùng núi cao Hoàng Liên Sơn

- Về thực vật: Hệ thực vật Phan Si Păng mang đặc trưng các yếu tố thực vật

Á nhiệt đới và ôn đới của ba luồng thực vật đó là: Vân Nam-Hymalaya; Bắc Việt Nam-Nam Trung Hoa và luồng thực vật Ấn Độ-Malaysia Bước đầu đã thống kê được 2.343 loài thực vật có mạch thuộc 1.020 chi và 256 họ; có số loài thực vật đặc hữu, quí hiếm có 149 trên tổng số 2.343 loài, chiếm 25% số loài thực vật đặc hữu của Việt Nam; số loài thực vật quí hiếm trong sách đỏ Việt Nam là 133 loài; sách

đỏ thế giới là 34 loài Những loài thực vật quí hiếm đặc trưng đó là: Pơ Mu, Bách xanh, Thông đỏ, Vân sam Hoàng liên, Đinh, Dẻ Tùng, Sến, Vù Hương, Chò Chỉ, Lát Hoa, Tam Thất, Đẳng Sâm, Đỗ Trọng

1.3.2 Đặc điểm dân sinh kinh tế - xã hội

1.3.2.1 Dân tộc, dân số, lao động

Khu vực nghiên cứu có 04 dân tộc thiểu số sinh sống, trong đó người

H’Mông chiếm 74,8%, người Dao chiếm 9,9%, người Tày chiếm 9,4% người Dáy chiếm 5,9% Phân bố dân cư tại các thôn bản không tập trung ở một khu vực

cố định mà sống rải rác trên khắp các quả đồi của thôn Đặc biệt hiện nay có 05 thôn (Séo Mý Tỉ, Dền Thàng, Tả Trung Hồ, Séo Trung Hồ, Ma Quái Hồ) nằm

Trang 34

sâu trong vùng lõi của VQG Hoàng Liên, do đó việc tuyên truyền phổ biến giáo dục nhận thức của người dân còn hạn chế, cán bộ được phân công nhiệm vụ gặp nhiều khó khăn trong việc đi lại, tiếp xúc trao đổi, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát

và quản lý bảo vệ rừng

Theo số liệu điều tra, tính đến ngày 31/12/2018 tổng số nhân khẩu hiện đang sinh sống tại các xã trong khu vực là 2.417 hộ, với 15.304 nhân khẩu và phân bố trên 23 thôn bản; trong đó có 05 thôn hiện nằm sâu trong phạm vi vùng lõi của VQG Hoàng Liên là Séo Mý Tỉ, Dền Thàng, Tả Trung Hồ, Séo Trung Hồ, Ma Quái Hồ; bình quân từ 5 - 6 người/hộ

Số người trong độ tuổi lao động trong 4 xã là 8.306 người, chiếm tỷ lệ 54,27% tổng dân số, trong đó lao động nữ chiếm 50,08%, lao động nam chiếm 49,92%

Các dân tộc có tập quán làm ăn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với loại hình sản xuất lúa nước trên các ruộng bậc thang hẹp Công cụ lao động đơn giản như cày cuốc, dao phát Ngoài sản xuất lương thực, còn các loại đặc sản như Thảo quả, một số loại cây dược liệu

Hiện tượng du canh, phát nương làm rẫy đã làm giảm diện tích rừng một cách nhanh chóng Bên cạnh đó, cháy rừng, săn bắn các động vật rừng lấy thực phẩm và bán lấy tiền (da, sừng), làm dược liệu đã gây nhiều tồn thất cho rừng Cùng với các hoạt động khác như khai thác gỗ, củi, lâm đặc sản, dược liệu,… nên đã trở thành mối đe doạ cho nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học và mất rừng

1.3.2.2 Văn hoá xã hội

Văn hoá: Cộng đồng dân cư sống trong VQG Hoàng Liên gồm nhiều dân tộc

khác nhau Vì vậy, các hoạt động văn hoá cũng rất đa dạng và mang những đặc điểm riêng như hội “Gâu xtao” của người Mông, “Lễ tết nhảy” của người Dao, lễ hội “Xuống đồng” của người Dáy, múa “Mừng được mùa” của người Xã Phó, lễ hội “Hát then” của người Tày, hội “Rước đèn, múa lân, tế lễ” của người Kinh;…Tuy nhiên, do điều kiện giao thông khó khăn, kinh tế còn Trung bình nàn, phương tiện thông tin đại chúng còn thiếu thốn nên công việc tuyên truyền giáo dục, bãi trừ các hủ tục, phát huy thuần phong mỹ tục vẫn còn hạn chế

Trang 35

Giáo dục: Nạn thất học, mù chữ còn phổ biến, công tác xoá mù thực hiện

chưa có hiệu quả Cơ sở vật chất, trường lớp thiếu thốn, đội ngũ giáo viên ít lại không được quan tâm đúng mức nên số lượng học sinh và chất lượng giáo dục ngày càng bị giảm sút

Y tế: Cũng như giáo dục, tình hình y tế cũng xuống cấp nghiêm trọng Cơ sở y

tế nghèo nàn, thuốc men thiếu thốn, đội ngũ y, bác sỹ mỏng, không đáp ứng được nhu cầu phòng và chữa bệnh cho đồng bào vùng cao Công tác vệ sinh, phòng bệnh chưa được chú ý đúng mức

Xã hội: Các tệ nạn xã hội còn phổ biến như nghiện hút, cờ bạc, mê tín dị đoan

vẫn còn tồn tại và có xu hướng phát triển, mở rộng

Những vấn đề trên phần nào gây trở ngại đến công tác quản lý bảo vệ và phát triển biền vững tài nguyên rừng ở VQG Hoàng Liên

1.3.2.3 Tình hình giao thông và cơ sở hạ tầng

- Hệ thống giao thông: điều kiện giao thông của khu vực còn gặp nhiều khó khăn, hiện tại đã có đường ô tô đến được trụ sở Ủy ban nhân dân các xã, nhưng chất lượng đường rất xấu, các tuyến đường giao thông nông thôn chủ yếu là đường đất chỉ

đi được bằng xe máy vào mùa khô, mùa mưa đi lại hết sức khó khăn

- Hệ thống điện: Hầu hết các xã trong vùng lõi VQG đã có điện lưới, tuy nhiên, số hộ được dùng điện lưới quốc gia trong khu vực mới chỉ tập trung ở các thôn gần trung tâm UBND xã, riêng 05 thôn nằm sâu trong vùng lõi VQG hiện nay vẫn chưa có đường điện lưới

- Nước sinh hoạt: Trong những năm gần đây, hệ thống nước sạch đã được phát triển nhằm phục vụ tốt hơn cho đời sống nhân dân trong khu vực Các công trình cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu do hỗ trợ của Nhà nước từ chương trình 135, UNICEP, ADB và một phần đóng góp của người dân trong vùng Tuy nhiên, tỉ lệ dân cư dùng nước sạch trong vùng còn thấp, nguyên nhân chính là do dân cư phân

bố rải rác Hiện tại, nhiều hộ gia đình trong vùng dùng ngay nguồn nước thủy lợi làm nước sinh hoạt

1.3.2.3 Đánh giá chung về kinh tế - xã hội

- Sự gia tăng dân số của các xã trên địa bàn VQG Hoàng Liên trong những năm qua vẫn không ngừng, do gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học, đặc biệt hiện nay còn nhiều thôn bản cư trú bên trong ranh giới VQG

Trang 36

- Sản xuất nông nghiệp là sản xuất chính để tạo việc làm, thu nhập của người dân địa phương, cây trồng chính là cây nông nghiệp (lúa, ngô) Việc phát triển cây Thảo quả trong VQG mang lại hiệu quả về mặt kinh tế nhưng việc trồng Thảo quả trong VQG Hoàng Liên đang là thách thức lớn đối với công tác bảo vệ rừng và PCCCR

- Số người nghèo, có cuộc sống khó khăn chiếm 45,87% dân số, sản xuất nông nghiệp trong những năm tới chưa thể giải quyết được tình trạng đói nghèo của một

bộ phận dân cư thường là hộ thiếu đất, thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm sản xuất

- Dịch vụ thu hút việc làm cho thanh niên, lao động phổ thông, lao động nông nhàn của khu vực này chưa phát triển Do vậy, tình trạng dôi dư lao động trong các mùa nông nhàn sẽ gia tăng tình trạng vào rừng để thu hái lâm sản trái phép

- Một số đồng bào dân tộc sống khu vực ven VQG Hoàng Liên chưa bỏ tập quán

là dựa vào thiên nhiên, phụ thuộc vào thiên nhiên như sử dụng gỗ, củi, các loại lâm sản, săn bắt động vật rừng nên việc xâm nhập vào rừng là chưa thể ngăn chặn được

- Các đe dọa do các yếu tố về kinh tế - xã hội như: Săn bắt và buôn bán động vật hoang dã; khai thác các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ (cây cảnh, măng, nấm, cây dược liệu, ); xâm lấn đất của VQG để canh tác nông nghiệp, chăn thả gia súc tự do trong VQG, nguy cơ cháy rừng, Ô nhiễm nguồn nước do sử dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp; xây dựng đập ở Séo Mý Tỷ (thủy điện Séo Trung Hồ); tiêu cực của phát triển du lịch (rác thải, tiếng ồn, thu hái lâm sản, )

* Ảnh hưởng của dân sinh kinh tế xã hội tới công tác PCCCR

- VQG Hoàng Liên có địa hình núi cao, dốc lớn, bị chia cắt mạnh, các khu vực có rừng lại ở xa khu dân cư nên việc đi lại rất khó khăn dẫn đến việc phát hiện

ra cháy rừng cũng như việc tuần tra kiểm soát, tiếp cận đám cháy, huy động lực lượng, phương tiện và chỉ huy chữa cháy gặp nhiều khó khăn Thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp khô hanh, nắng nóng kéo dài kèm theo sương muối, mưa đá, mưa tuyết nhiều làm chết hàng loạt thực bì đồng thời lớp mùn phân hủy chậm dẫn đến làm tăng khối lượng vật liệu cháy trong rừng do đó nguy cơ cháy rừng là rất lớn Vào mùa khô hanh gió Tây Nam, còn gọi là gió Ô Quý Hồ, thổi mạnh ảnh

Trang 37

hưởng rất lớn đến công tác PCCCR của các xã vùng trọng điểm cháy rừng khu vực thượng huyện

- Đặc thù của khu vực VQG Hoàng Liên chủ yếu là dân tộc thiểu số, trình độ dân trí của một bộ phận dân cư còn hạn chế Tập quán canh tác nông lâm nghiệp còn lạc hậu vẫn phổ biến đốt phát dọn thực bì để làm nương rẫy gây cháy lan nên ảnh hưởng lớn tới công tác PCCCR Việc khai thác sử dụng lâm sản, săn bắn động vật, chăn thả gia súc còn bừa bãi, tuỳ tiện ảnh hưởng tới chất lượng rừng VQG Hoàng liên là một điểm đến du lịch của huyện Sa Pa, hàng năm du khách đến đây là rất lớn; các hoạt động du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học, dã ngoại ảnh hưởng tới rừng và công tác PCCCR Chính quyền có nơi còn chủ quan, lơ là không chỉ đạo sát sao, chưa coi trọng tính phòng ngừa trong công tác PCCCR Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất của các công trình thuỷ điện làm giảm một phần diện tích đất sản xuất nông nghiệp của nhân dân, làm giảm đáng kể sản lượng lương thực tạo áp lực lớn đối với rừng và đất lâm nghiệp do phát sinh nhu cầu khai phá đất sản xuất nương rẫy, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR

Trang 38

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiện cứu

- Hiện trạng tài nguyên rừng của Vườn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

- Thảm thực bì (thảm khô, thảm tươi) ở dưới tán rừng trồng Tống Quá Sủ, Sa Mộc (tuổi 9 và tuổi 12); rừng gỗ nghèo trạng thái IIIA1; rừng gỗ tái sinh phục hồi IIA, IIB và khối lượng, sinh khối của chúng

- Các biện pháp PCCCR đã và đang được áp dụng

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: VQG Hoàng Liên, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

- Giới hạn của địa điểm nghiên cứu: Do VQG Hoàng Liên, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai nằm trên 2 tỉnh có diện tích rộng, ¾ diện tích nằm trên địa bàn 4 xã của tỉnh Lào Cai, chỉ có ¼ diện tích nằm trên địa bàn 02 xã của tỉnh Lai Châu và trụ sở VQG Hoàng Liên đặt tại huyện Sa Pa nên đề tài chỉ nghiên cứu tại 4 xã của VQG Hoàng Liên thuộc địa phận tỉnh Lào Cai gồm Tả Van, Bản Hồ, Lao Chải và xã San

Sả Hồ

- Đề tài được thực hiện từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 9 năm 2019

2.2 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:

- Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng và đặc điểm của vật liệu cháy tại VQG Hoàng Liên

- Phân tích ảnh hưởng các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội đến công tác PCCCR của VQG Hoàng Liên

- Đánh giá thực trạng công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại VQG Hoàng Liên

- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu và bài học kinh nghiệm trong công tác PCCCR tại VQG Hoàng Liên

- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả PCCCR tại VQG Hoàng Liên

Trang 39

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp luận

Cháy rừng là sự xuất hiện và lan truyền của những đám cháy trong rừng mà không nằm trong sự kiểm soát của con người; gây lên những tổn thất nhiều mặt về tài nguyên, của cải và môi trường Cháy rừng chỉ xuất hiện khi có mặt đồng thời cả

3 yếu tố gồm: oxy, nguồn lửa và vật liệu cháy Trong đó, nguồn lửa là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến cháy rừng Theo những kết luận của nhiều công trình nghiên cứu thì nguồn lửa dẫn đến cháy rừng ở nước ta phần lớn là do con người Những hoạt động phổ biến nhất của con người có thể tạo nguồn lửa gây cháy rừng là đốt nương rẫy, săn thú, bắt ong, đốt than, tảo mộ, nấu ăn, dọn thực bì trồng rừng, hoạt động du lịch v.v… Ở những nơi càng đông dân cư, hoạt động kinh tế xã hội càng nhộn nhịp, trình độ dân trí càng thấp, mâu thuẫn xã hội càng cao v.v… thì tần suất cháy rừng càng cao

Vật liệu cháy và những tính chất của nó có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến cháy rừng Theo kết quả của nhiều nghiên cứu thì những tính chất của vật liệu quyết định đến khả năng bắt lửa và duy trì cháy rừng là độ ẩm, thành phần hoá học (tinh dầu, chất tro), kích thước, khối lượng và phân bố không gian v.v Tính chất vật liệu cháy cũng như đặc điểm về khối lượng, kích thước và phân bố không gian của nó được quyết định bởi đặc điểm sinh học của cây rừng, tình trạng sinh trưởng, phát triển và sự phân bố của chúng theo không gian trong hệ sinh thái Các trạng thái rừng có đặc điểm vật liệu cháy khác nhau sẽ có nguy cơ cháy rừng khác nhau Vì vậy, khi nghiên cứu đề tài sẽ tiếp cận theo các trạng thái rừng cụ thể

Tuy nhiên, cho đến nay vì ảnh hưởng xã hội đến cháy rừng là vấn đề tương đối phức tạp và ít được nghiên cứu, các yếu tố này đang có sự thay đổi không ngừng Vì vậy, trong đề tài này việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế -

xã hội được xem như một nhóm yếu tố tham khảo khi đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phòng cháy chữa cháy rừng tại VQG Hoàng Liên

Các bước nghiên cứu cụ thể của đề tài được thể hiện qua sơ đồ 2.1 dưới đây:

Ngày đăng: 26/05/2021, 09:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w