1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Tai lieu boi duong chinh tri he 2012

64 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Bồi Dưỡng Chính Trị Hè Cho Cán Bộ, Giáo Viên Năm 2012
Trường học Sở Giáo Dục Và Đào Tạo Đồng Tháp
Chuyên ngành Chính trị
Thể loại Tài liệu
Năm xuất bản 2012
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 535,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[r]

Trang 1

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH UỶ

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG THÁP

TÀI LIỆU

BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ HÈ CHO CÁN BỘ, GIÁO VIÊN NĂM 2012

Đồng Tháp, tháng 5 năm 2012

Trang 2

CHUYÊN ĐỀ 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẤP BÁCH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG HIỆN NAY

-

I MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

1 Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm cốt

Trong xây dựng Đảng “phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm cốt” là vì:

Hồ Chí Minh khẳng định: “không có lý luận cách mạng thì không có cách mạng vận động” Đặc biệt “không hiểu lý luận thì như người mù đi đêm”, “nhờ lý luận mà thấy rõ đường lối đấu tranh để giải phóng mình, hiểu rõ phương pháp đấu tranh với địch” Do đó, “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam” “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin” vì nó “chân chính nhất, chắc chắn nhất, khoa học nhất” Hồ Chí Minh yêu cầu: “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hoá, xa rời cách mạng”

Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin “làm cốt” cũng là sự khẳng định bản chất giai cấp công nhân, bản lĩnh chính trị của Đảng ta

Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa Mác - Lênin là “cẩm nang thần kỳ”, là “mặt trời soi sáng”, nhưng không phải giáo điều Nắm chủ nghĩa Mác - Lênin chính là nắm tinh thần, lập trường, quan điểm và phương pháp biện chứng của nó để vận dụng, phân tích điều kiện cụ thể của Việt Nam mà định ra đường lối và phương pháp đấu tranh Đồng thời, dùng phương pháp Mác - Lênin mà tổng kết kinh nghiệm Việt Nam hình thành lý luận chính trị - hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh để bổ sung làm phong phú chủ nghĩa Mác - Lênin

Chính vì vậy, hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động

2 Đảng Cộng sản Việt nam phải được xây dựng theo những nguyên tắc

Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản

Trang 3

Hồ Chí Minh coi đây là nguyên tắc sinh hoạt của Đảng là quy luật phát triển

Sự đoàn kết thống nhất của Đảng phải dựa trên cơ sở lý luận của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin; Cương lĩnh, Điều lệ Đảng; đường lối, quan điểm của Đảng; nghị quyết của tổ chức đảng các cấp Đồng thời, muốn đoàn kết thống nhất trong Đảng, phải thực hành dân chủ rộng rãi ở trong Đảng, thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân và các biểu hiện tiêu cực khác, phải

“sống với nhau có tình, có nghĩa” Có đoàn kết tốt mới tạo cơ sở vững chắc để thống nhất ý chí và hành động “chỉ như một người”

Theo Hồ Chí Minh, “chính trị là: 1 Đoàn kết; 2 Thanh khiết từ to đến nhỏ”, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình cũng chính là giữ gìn chính trị, bản lĩnh, đường lối chính trị của Đảng, giữ sự trong sáng của Đảng

3 Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân, phải thường xuyên chăm lo củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân trong xây dựng Đảng

Theo Hồ Chí Minh, Đảng phải vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân Đây là một quan điểm nhất quán khi Người xác định vai trò của Đảng và trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên Hai mặt “lãnh đạo” và “đầy tớ” không tách rời nhau, không đối lập nhau, Người nhấn mạnh: lãnh đạo có nghĩa

là làm đầy tớ

Đảng lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, từ đó Đảng trở thành Đảng cầm quyền Đảng cầm quyền là Đảng trực tiếp lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo toàn xã hội bằng chính quyền để tiếp tục hoàn thành sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đảng cầm quyền lại càng phải ý thức thật sâu sắc mình là “đầy tớ” nhân dân, chứ không phải là “ông chủ” của nhân dân, không tự cho phép mình đứng trên dân, trên Nhà nước, trên pháp luật Đảng lãnh đạo Nhà nước là nhằm xây dựng một nhà nước thực sự của dân, do dân vì dân để nhân dân làm chủ Nhà nước, điều mà trước khi cách mạng thành công không thể

có được Đảng cầm quyền, nhưng dân là chủ Đảng cầm quyền không phải toàn thể tổ chức đảng nắm quyền lực Nhà nước mà do các cán bộ, đảng viên của Đảng được dân ủy quyền thay mặt Đảng nắm giữ quyền lực Nhà nước

Để là “đầy tớ trung thành” của nhân dân, cán bộ, đảng viên phải là người tuyệt đối trung thành với Đảng, với sự nghiệp cách mạng, không phải làm cán bộ

để “thăng quan phát tài”, “để làm quan cách mạng” Người cán bộ trước hết phải

Trang 4

có “đức” đồng thời phải có “tài”, nhưng đức là gốc, không vi phạm khuyết điểm tham ô, lãng phí, quan liêu “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục” Là người lãnh đạo, cán bộ phải có năng lực tổ chức triển khai thực hiện đường lối chủ trương, nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước Cán bộ phải có phong cách làm việc dân chủ, tập thể, khoa học, phải “mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm” Cán bộ phải liên hệ mật thiết với dân, học dân, hỏi dân, nghe dân góp ý phê bình chứ không dán lên trán hai chữ “cộng sản” để loè dân Cán bộ phải học làm đầy tớ dân, học trong trường lớp, học trong thực tế, học mọi lúc, mọi nơi, mọi người và phải coi trọng tự học để tiến bộ Hồ Chí Minh khẳng định: vấn đề cán bộ và công tác cán bộ của Đảng là vấn đề trọng yếu trong xây dựng Đảng

Đặc biệt, trong xây dựng Đảng với dân, Hồ Chí Minh rất chú trọng vấn đề đảng viên Xây dựng Đảng trước hết là xây dựng và rèn luyện đảng viên, bởi vì đảng viên là người cùng sống, làm việc, sinh hoạt với dân, “gần dân, sát dân” nhất Trong điều kiện cầm quyền, cán bộ đa phần là đảng viên, mọi tốt xấu, đúng sai của cán bộ, đảng viên không còn là chuyện nội bộ Đảng, mà là các hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực của xã hội, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ, của quốc gia

Đảng phải thường xuyên chăm lo củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân Đảng không ở trên dân, cũng không chỉ có Nước mới lấy dân làm gốc, mà Đảng cũng phải lấy dân làm gốc, Đảng phải ở trong lòng nhân dân Chính cái gốc này đem lại nguồn sinh lực vô tận của Đảng Đồng thời, Hồ Chí Minh khẳng định:

“Chi bộ là gốc rễ của Đảng”, “chi bộ là cực kỳ quan trọng vì nó là sợi dây chuyền

để liên hệ Đảng với quần chúng” và “chi bộ mạnh tức là Đảng mạnh” Vì vậy, phải chăm lo xây dựng chi bộ vững mạnh, chi bộ tốt

4 Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới

Để xứng đáng là một Đảng chân chính lãnh đạo sự nghiệp cách mạng to lớn của giai cấp và dân tộc, một Đảng “vừa là đạo đức, vừa là văn minh”, một Đảng tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại, Đảng phải thường xuyên chăm lo đến việc chỉnh đốn và đổi mới bản thân mình Chỉnh đốn và đổi mới Đảng là nhằm làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về ba mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực trước những yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng Đây chính là yêu cầu tự thân của một đảng chân chính cách mạng

Hồ Chí Minh đã nhận định, bên cạnh số đông đảng viên xứng đáng với danh

dự của mình thì vẫn có một số “thấp kém về tinh thần và đạo đức cách mạng… Họ hững hờ như những người không có lý tưởng, đến đâu hay đó, qua tháng qua ngày… Họ gắn bó với tổ chức, không tin ở lực lượng và trí tuệ của tập thể Họ sống và làm việc một cách riêng rẽ, không đoàn kết và hợp tác với người khác Hễ

Trang 5

có đôi chút hiểu biết, đôi chút thành công thì tự cao tự đại, vênh vang kiêu ngạo,

tự cho mình tài giỏi hơn người Ở cương vị phụ trách thì tự cho mình có quyền hơn hết thảy, định đoạt mọi việc; ở ngành nào, địa phương nào thì coi đó như một giang sơn riêng, không biết đến lợi ích toàn cục, họ coi thường những quyết định của tổ chức, họ là những “ông quan liêu”, chỉ thích dùng mệnh lệnh đối với đồng chí và nhân dân… Số người đó coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài Họ không quan tâm đến đời sống của nhân dân mà chỉ lo nghĩ đến lợi ích của riêng mình Họ quên rằng, mỗi đồng tiền, hạt gạo đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân, do đó mà sinh ra phô trương, lãng phí Họ tự cho mình có quyền sống

xa hoa hưởng lạc, từ đó mà đi đến tham ô, trụy lạc, thậm chí sa vào tội lỗi Phải chỉnh đốn để đẩy tất cả những lỗi làm, sai trái ấy

Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn, vì Đảng sống trong xã hội, mỗi cán

bộ, đảng viên đều chịu ảnh hưởng của xã hội, cả cái tốt lẫn cái xấu, cái hay và cái

dỡ Chỉ có thể phát huy được cái tốt, cái hay, loại bỏ được cái xấu, cái dỡ bằng việc rèn luyện thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên, thường xuyên chú ý đến việc chỉnh đốn Đảng

Trước lúc đi xa, Người còn để lại những lời tâm huyết, căn dặn toàn Đảng:

“Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân”

Người đã nhìn thấy rõ hai mặt của quyền lực Một mặt, quyền lực có sức mạnh rất to lớn để cải tạo cái cũ và xây dựng cái mới trong tất cả các lĩnh vực Mặt khác, nó cũng có sức phá hoại rất ghê gớm, vì con người nắm quyền lực có thể thoái hoá biến chất rất nhanh chóng, khi đã có đặc lợi dễ đi vào con đường ham muốn quyền lực, chạy theo quyền lực, tranh giành quyền lực… Vì vậy, chỉnh đốn và đổi mới Đảng để hạn chế, ngăn chặn, đẩy lùi và tẩy trừ mọi tệ nạn do thoái hóa biến chất gây ra

Hồ Chí Minh đã nói: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” Đó mãi là lời cảnh tỉnh có ý nghĩa rất sâu sắc đối với Đảng Cộng sản cầm quyền, đối với mỗi đảng viên cộng sản

II MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẤP BÁCH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG HIỆN NAY

1 Về thành tựu và hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng thời gian qua

1.1 Về thành tựu:

Trang 6

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã nhận định: từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khoá đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng Trên cơ sở đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt được nhiều kết quả tích cực; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao; phương thức lãnh đạo của Đảng từng bước được đổi mới; vai trò lãnh đạo của Đảng được giữ vững, niềm tin của nhân dân với Đảng được củng cố; đội ngũ cán bộ, lãnh đạo, quản lý các cấp đã

có bước trưởng thành và tiến bộ về nhiều mặt Đa số cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được nhân dân tin tưởng Thành tựu 25 năm đổi mới là thành quả của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ, đảng viên

Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI “Một số vấn

đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” nhận định: Trong những năm qua, các cấp uỷ, tổ chức đảng luôn coi trọng xây dựng Đảng, ngày càng trong sạch vững mạnh, thực hiện nhiều giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, đưa Tỉnh ta phát triển nhanh và toàn diện, tạo được vị thế mới trong khu vực và cả nước Ban hành và thực hiện có hiệu quả nhiều chủ trương về công tác chính trị tư tưởng, tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát, vận động quần chúng của Đảng bộ Đa số cán

bộ, đảng viên tư tưởng chính trị vững vàng, phấn đấu giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, có trách nhiệm cao với công việc, giữ mối quan hệ tốt với nhân dân

1.2 Về hạn chế, yếu kém:

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI nhận định: Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ Nổi lên một số vấn đề cấp bách sau đây:

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ

vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc

Đội ngũ cán bộ cấp Trung ương, cấp chiến lược rất quan trọng nhưng chưa được xây dựng một cách cơ bản Công tác quy hoạch cán bộ mới tập trung thực

Trang 7

hiện ở địa phương, chưa thực hiện được ở cấp trung ương, dẫn đến sự hẫng hụt, chắp vá, không đồng bộ và thiếu chủ động trong công tác bố trí, phân công cán bộ Một số trường hợp đánh giá, bố trí cán bộ chưa thật công tâm, khách quan, không

vì yêu cầu công việc, bố trí không đúng sở trường, năng lực, ảnh hưởng đến uy tín

cơ quan lãnh đạo, sự phát triển của ngành, địa phương và cả nước

Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức, do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm Do vậy, vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích người đứng đầu có nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm, tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ, hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân

Nguyên nhân khách quan: do việc thực hiện đổi mới kinh tế phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, chưa lường hết được những tác động của mặt trái cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế, chưa có sự chuẩn bị thật kỹ về lập trường, tư tưởng và cả cách thức tiếp cận mới cho cán bộ, đảng viên Đặc biệt, còn thiếu những cơ chế, chính sách đồng bộ, khoa học để chủ động ngăn ngừa những vi phạm

Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, xây dựng, phát triển với quy mô ngày càng lớn, một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý nắm giữ khối lượng tài sản, nguồn vốn lớn của tập thể, của Nhà nước, đó là môi trường để chủ nghĩa cá nhân vụ lợi, thực dụng phát triển

Trong khi đó, các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu và hoạt động “diễn biến hoà bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, tăng cường hoạt động chống phá, chia rẽ nội bộ Đảng và phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng

Nguyên nhân chủ quan: cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số nơi chưa đến nơi đến chốn, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ

Các nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa

bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật thích ứng với quá trình vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời; nhiều văn bản quy định thiếu chế tài cụ thể Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ, chưa chú trọng phát hiện và

Trang 8

có cơ chế thật sự để trọng dụng người có đức, có tài; không kiên quyết thay thế người vi phạm, uy tín giảm sút, năng lực yếu kém

Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống nhiều khi còn hình thức, chưa đủ sức động viên và thường xuyên nâng cao ý chí cách mạng của cán bộ, đảng viên; một số nơi có tình trạng những việc làm đúng, gương người tốt không được đề cao, bảo vệ; những sai sót, vi phạm không được phê phán, xử lý nghiêm minh Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi, nhiều cấp chưa thường xuyên, ráo riết; đấu tranh với những vi phạm còn nể nang, không nghiêm túc Vai trò giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận

Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa được phát huy, hiệu quả chưa cao

Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá XI “Một số vấn

đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” cũng nhận định: Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số cấp uỷ, tổ chức đảng có mặt còn hạn chế Một bộ phận đảng viên giảm sút ý chí chiến đấu, thoái hoá, sa vào chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, sách nhiễu, xa rời quần chúng, chưa gương mẫu thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và giảm lòng tin của nhân dân Tỷ lệ đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý

kỷ luật còn ở mức cao, trong đó có cả cấp uỷ viên các cấp; không ít đảng viên có khuyết điểm nhưng chưa được góp ý, phê bình hoặc đã kiểm điểm nhưng chậm khắc phục Một số hạn chế trong phương thức lãnh đạo của Đảng, trong công tác

tổ chức và cán bộ kéo dài; còn lúng túng trong việc phân định vai trò lãnh đạo của cấp uỷ với chức năng quản lý, điều hành của chính quyền, việc phân định nhiệm

vụ, mối quan hệ của các ban cán sự đảng, đảng đoàn, trong công tác đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, tạo nguồn cán bộ và thực hiện quy định về bố trí một số chức danh không phải là người địa phương…

Để tạo chuyển biến mạnh mẽ về công tác xây dựng Đảng trong thời gian tới, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI nhấn mạnh:

“cần tiếp tục thực hiện tốt 8 nhiệm vụ trong công tác xây dựng Đảng mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra, coi đó là những nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa lâu dài và phải thực hiện thường xuyên, có hiệu quả, đồng thời tập trung cao độ để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt ba vấn đề cấp bách sau đây:

tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng

Trang 9

Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế

quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp uỷ, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Trong ba vấn đề trên, vấn đề thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất

2 Mục tiêu, phương châm về xây dựng Đảng hiện nay

- Về mục tiêu:

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XI nêu: “Phải tạo được sự chuyển biến rõ rệt, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, nhằm xây dựng Đảng ta thật sự là đảng cách mạng chân chính, ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin trong Đảng và nhân dân, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi chủ trương, nghị quyết của Đảng

- Về phương châm:

Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thật sự, khách quan, không nể nang,

né tránh Nói đi đôi với làm

Các giải pháp phải bảo đảm đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, khả thi; tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, trì trệ nhất Xác định rõ lộ trình thực hiện, thời gian hoàn thành, làm từng bước vững chắc, thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ

Phải làm kiên quyết, kiên trì Phải bình tĩnh, tỉnh táo, không nóng vội, cực đoan; đồng thời không để rơi vào trì trệ, hình thức, không chuyển biến được tình hình; giữ đúng nguyên tắc Chỉ đạo, tổ chức hiện với trách nhiệm và quyết tâm chính trị cao trong toàn Đảng, các cấp uỷ đảng, cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, nhất là người đứng đầu, phải thực sự gương mẫu

Bốn là, không để bị lợi dụng Kết hợp “chống và xây”, “xây và chống” Không để các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội lợi dụng, kích động, xuyên tạc, đả kích gây rối nội bộ

3 Nhiệm vụ và giải pháp về xây dựng Đảng hiện nay

Trang 10

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XI đề ra bốn nhóm giải pháp về xây dựng Đảng hiện nay như sau:

1 Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên

2 Nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng

3 Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách

4 Nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng

Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh đã xây dựng Chương trình hành động cụ thể hoá thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá XI

“Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, tập trung các nhiệm vụ và giải pháp:

3.1 Tổ chức tự phê bình và phê bình nghiêm túc, chặt chẽ, chu đáo:

- Tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình trên tinh thần thẳng thắn, không nể nang, né tránh; tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, trì trệ nhất; xác định các giải pháp khắc phục, sửa chữa khuyết điểm thiết thực, khả thi Việc tổ chức kiểm điểm phải thật sự dân chủ, nghiêm túc, thẳng thắn trên tinh thần xây dựng và tình đồng chí, đúng yêu cầu, nội dung, cách làm, thời gian quy định

- Đối tượng kiểm điểm: Các cấp uỷ, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ Tỉnh đều phải tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình Các đồng chí cấp uỷ viên kiểm điểm ở ban thường vụ; nơi không có ban thường

vụ thì kiểm điểm ở cấp uỷ hoặc ban cán sự đảng, đảng đoàn; nơi không có ban cán

sự đảng, đảng đoàn thì kiểm điểm ở tập thể lãnh đạo cơ quan và ở chi bộ; riêng cấp uỷ viên cơ sở kiểm điểm ở cấp uỷ cơ sở và ở chi bộ đang sinh hoạt; các đảng viên khác kiểm điểm tại chi bộ đang sinh hoạt

- Nội dung kiểm điểm: Đánh giá trách nhiệm tập thể, cá nhân trong việc thực hiện các chủ trương, các nghị quyết của Tỉnh uỷ về công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức, cán bộ Trong đó, làm rõ ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân trong công tác xây dựng Đảng, trước hết là về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, việc thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm; trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, của từng đảng viên và của người đứng đầu về tình trạng cán bộ, đảng viên suy thoái; công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, bố trí cán bộ; thực hiện nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, quyền hạn, trách nhiệm cá nhân trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, đặc biệt là của người đứng đầu,…

- Cách thức tiến hành: Cấp trên kiểm điểm trước, cấp dưới kiểm điểm sau; kiểm điểm tập thể trước, cá nhân sau; người đứng đầu kiểm điểm trước các cá nhân khác Tập thể nào, cá nhân nào kiểm điểm không đạt yêu cầu phải kiểm điểm

Trang 11

lại; kiên quyết xử lý kỷ luật những cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên không

tự giác tự phê bình và phê bình, không tự nhận sai lầm, khuyết điểm hoặc không khắc phục được những sai lầm, khuyết điểm đã được giới thiệu; những trường hợp

có vi phạm nhưng tự giác kiểm điểm, tự phê bình nghiêm túc, tích cực sửa chữa, khắc phục sẽ được xem xét giảm hoặc miễn xử lý kỷ luật Tổ chức lấy ý kiến đóng góp rộng rãi trước khi kiểm điểm và thực hiện việc thông báo kết quả sau khi kiểm điểm ở từng cấp đúng quy định

Sau đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, duy trì nghiêm túc chế độ tự phê bình, phê bình vào dịp cuối năm gắn với kiểm điểm theo chức trách, nhiệm vụ được giao và thông báo kết quả kiểm điểm theo quy định; cũng trong dịp này, tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh lãnh đạo trong cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể

3.2 Tạo sự chuyển biến trong công tác cán bộ và tiếp tục nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, chất lượng sinh hoạt chi bộ:

- Chấn chỉnh ngay tình trạng nể nang, tình cảm, thiếu thẳng thắn trong đánh giá cán bộ Sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình, xem xét tiến hành sắp xếp, bố trí, thay thế những người không đủ năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, tín nhiệm thấp

- Tổ chức thực hiện đúng quy trình, bảo đảm nguyên tắc công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý, quy hoạch cấp uỷ các cấp theo quy định của Đảng và Nhà nước Khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác quy hoạch cán bộ thời gian qua, bảo đảm tất cả các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cơ quan đơn vị đều phải thực hiện quy hoạch nghiêm túc theo phương châm “mở và động”, trên cơ sở đánh giá cán bộ hàng năm phải tiến hành điều chỉnh quy hoạch Tất cả các khâu từ đào tạo, luân chuyển đến đề bạt, bổ nhiệm, bố trí, sắp xếp cán bộ phải được thực hiện theo quy hoạch

- Rà soát, đánh giá đúng thực chất công tác đào tạo cán bộ thời gian qua, rút

ra những hạn chế để có biện pháp khắc phục Trong giai đoạn sắp tới, phải đa dạng hoá ngành, nghề đào tạo sau đại học, cử cán bộ đào tạo đúng đối tượng, phù hợp với ngành, nghề, lĩnh vực đang công tác, không cử đào tạo các ngành đã bảo hoà hoặc chưa có nhu cầu để tránh lãng phí Đối với đào tạo lý luận chính trị, ưu tiên

cử các đồng chí được quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành Tỉnh, cấp uỷ huyện (tương đương) và cán bộ chủ chốt cấp xã

- Thực hiện tốt công tác luân chuyển, điều động, bố trí, sắp xếp cán bộ lãnh đạo, quản lý Tiếp tục thực hiện thí điểm bố trí một số chức danh cán bộ chủ chốt

ở cấp huyện không phải là người địa phương, trước nhất là đối với chức danh bí thư cấp uỷ và chủ tịch uỷ ban nhân dân; thực hiện chủ trương bầu bí thư cấp uỷ có

số dư; không bổ nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý chưa phù hợp với ngành, nghề

Trang 12

đào tạo và chưa kinh qua lãnh đạo, quản lý ở cơ sở (trừ những trường hợp đặc biệt); tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do hội đồng nhân dân bầu, lấy phiếu tín nhiệm hằng năm đối với các chức danh lãnh đạo trong cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể

- Mở rộng thực hiện thí điểm chủ trương bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp xã, nghiên cứu thí điểm thực hiện nhất thể hoá các chức danh này ở một số huyện, giao quyền cho bí thư cấp uỷ lựa chọn, giới thiệu để bầu

cử uỷ viên thường vụ cấp uỷ, cấp trưởng có trách nhiệm lựa chọn, giới thiệu để bầu cử, bổ nhiệm cấp phó

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành

án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí Lãnh đạo giải quyết dứt điểm những vụ án, các vụ khiếu kiện tồn đọng, kéo dài Kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của uỷ ban kiểm tra các cấp, cơ quan phòng, chống tham nhũng Thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản theo quy định của Đảng và Nhà nước trên tinh thần trung thực, công khai

- Xây dựng và triển khai thực hiện nghiêm túc Quy chế chất vấn tại các Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh và cấp uỷ các cấp; có cơ chế, biện pháp để từng cấp uỷ viên có điều kiện thực hiện quyền được chất vấn người đứng đầu cấp

uỷ hoặc uỷ viên ban thường vụ cấp uỷ Tổ chức cho nhân dân góp ý xây dựng Đảng thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp

- Kiện toàn tổ chức, tăng cường đội ngũ cán bộ có năng lực cho các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ để đủ sức tham mưu tốt cho cấp uỷ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo trên lĩnh vực xây dựng Đảng, nhất là đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ

- Đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, nội dung các cuộc hội nghị cấp uỷ phải được chuẩn bị kỹ theo quy trình từ khâu dự thảo, góp ý, thẩm định; rút ngắn thời gian tổ chức hội nghị, chọn vấn đề trọng tâm, chi phối để thảo luận, tôn trọng việc tranh luận, phản ảnh trái chiều để làm sáng tỏ vấn đề; chủ trì hội nghị phải đưa ra kết luận từng vấn đề, hạn chế việc chuyển sang hội nghị khác bàn tiếp Triển khai đến chi bộ Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW ngày 02 tháng 3 năm 2012 của Ban Tổ chức Trung ương về nội dung sinh hoạt chi bộ và tổ chức thực hiện phù hợp theo từng loại hình tổ chức cơ sở đảng Thực hiện nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình

3.3 Tổ chức thực hiện tốt các cơ chế chính sách của Trung ương, nghiên cứu ban hành các chính sách trong phạm vi, điều kiện và thẩm quyền của Tỉnh:

- Tổ chức thực hiện tốt các cơ chế, chính sách của Trung ương Trọng tâm

là quy định về thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức

Trang 13

đảng và cơ quan, đơn vị; tiêu chuẩn cán bộ theo chức danh, tiêu chí đánh giá cán

bộ làm cơ sở cho việc quy hoạch, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ; cơ chế loại trừ khả năng để cán bộ và người thân của cán bộ lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi; quy chế giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng và chính quyền các cấp thông qua vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội,

- Lãnh đạo thực hiện nghiêm Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức và các văn bản pháp luật có liên quan đến công tác cán bộ Cấp uỷ lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên kiểm tra, giám sát cán bộ thuộc diện cấp uỷ quản lý trong việc chấp hành các quy định của Đảng và Nhà nước về cán bộ, công chức; hằng năm có báo cáo kết quả thực hiện của cán bộ thuộc cấp uỷ quản lý trong việc chấp hành quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức

- Tích cực thực hiện cải cách hành chính nhà nước và cải cách thủ tục hành chính trong Đảng Rà soát, điều chỉnh quy trình, thủ tục về công tác quản lý biên chế và một số nghiệp vụ chuyên môn trong công tác tổ chức cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát

3.4 Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đổi mới nội

dung, hình thức tuyên truyền:

Tiếp tục chỉ đạo nghiêm túc việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức,

tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14 tháng 5 năm 2011 của Bộ Chính trị Các chi bộ chịu trách nhiệm tổ chức học tập, kiểm tra quá trình rèn luyện của đảng viên, lấy Quy định “về những điều đảng viên không được làm” làm tiêu chí phấn đấu của đảng viên và là cơ sở để kiểm điểm, góp ý đảng viên hàng năm Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, đạt hiệu quả cụ thể, thiết thực gắn với quá trình thực hiện nhiệm vụ và trong cuộc sống, sinh hoạt của từng cán bộ, đảng viên; đề cao vai trò gương mẫu của bí thư cấp uỷ, thủ trưởng đơn vị trước cán bộ, đảng viên và hành động mẫu mực của cán bộ, đảng viên trước nhân dân

Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên Thực hiện tốt việc điều chỉnh nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý luận chính trị; tiếp tục duy trì chế độ cập nhật kiến thức mới cho cán

bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; thực hiện chương trình bồi dưỡng các chuyên đề lý luận theo kế hoạch đã đề ra Chỉ đạo công tác tuyên truyền, định hướng nhận thức, điều chỉnh dư luận xã hội nhạy bén, có trọng tâm, trọng điểm, có sức thuyết phục cao, bằng nhiều hình thức, nhiều lực lượng

Định hướng và lãnh đạo sâu sát hoạt động thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; quản lý có hiệu quả hoạt động thông tin, tuyên

Trang 14

truyền của các cơ quan báo chí trong tỉnh; chú ý bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn và lý luận chính trị cho đội ngũ nhà báo trong Tỉnh

Tiếp tục duy trì chế độ bí thư cấp uỷ các cấp tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, thực hiện chế độ định kỳ bí thư cấp uỷ gặp gỡ cán bộ hưu trí; chủ động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân để có biện pháp giải quyết kịp thời Cảnh giác và kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch trên địa bàn Chủ động ngăn ngừa, kịp thời phát hiện, đấu tranh phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ Đảng

Trang 15

CHUYÊN ĐỀ 2 VĂN HOÁ GIAO THÔNG

Xây dựng văn hoá giao thông hiện nay đang là cuộc vận động lớn được Uỷ ban An toàn giao thông Quốc gia phát động Nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả về công tác tuyên truyền góp phần làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức và thay đổi hành vi thiếu văn hoá khi tham gia giao thông, đưa văn hoá giao thông trở thành nếp sống, nếp nghĩ, thực sự đi vào đời sống thường ngày của mọi người Làm cho mọi người trong cộng đồng xã hội đều có ý thức chấp hành một cách nghiêm chỉnh và đầy đủ các quy định về Luật Giao thông, bảo đảm an toàn cho bản thân

và cho mọi người khi tham gia giao thông Từ đó, xây dựng ý thức ứng xử có văn hoá khi tham gia giao thông nhằm tạo dựng bộ mặt văn hoá chung, góp phần từng bước phấn đấu hàng năm giảm thiểu tai nạn giao thông từ 5 - 10% theo Nghị quyết của Quốc hội

I VĂN HOÁ GIAO THÔNG VÀ NHỮNG YẾU TỐ TẠO THÀNH VĂN HOÁ GIAO THÔNG

1 Văn hoá là gì?

Từ “văn hoá” có rất nhiều nghĩa Trong tiếng Việt, văn hoá được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa riêng biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn; theo nghĩa rộng, văn hoá bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động… Chính với cách hiểu này, ta có thể định nghĩa văn hoá như sau:

“Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”

2 Khái niệm về văn hoá giao thông

Văn hoá giao thông là một khái niệm mới, là một biểu hiện cụ thể của khái niệm văn hoá trên lĩnh vực giao thông, do đó, trong các cuốn tự điển được soạn thảo trước đây ở nước ta không có khái niệm này Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, vừa qua, Uỷ ban An toàn giao thông Quốc gia (UBATGTQG) đã có văn bản hướng dẫn và trình bày định nghĩa về văn hoá giao thông:

“Văn hoá giao thông được biểu hiện bằng hành vi xử sự đúng pháp luật, theo các chuẩn mực của xã hội về lẽ phải, cái đẹp, cái thiện của người tham gia giao thông”

Cũng theo UBATGTQG, trong văn hoá giao thông có 3 tiêu chí: hiểu biết đầy đủ và tự giác chấp hành đúng các quy định của pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông; có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng, tôn trọng, nhường nhịn và giúp đỡ người khác; có thái độ ứng xử văn minh lịch sự khi xảy ra va chạm giao thông và tinh thần thượng tôn pháp luật

Khái niệm đó mới chỉ nhấn mạnh đến vai trò chủ quan của người tham gia giao thông mà chưa bao quát hết vị trí, vai trò, trách nhiệm của các thành viên

Trang 16

khác trong xã hội có tác động, ảnh hưởng đến quá trình hình thành văn hoá giao thông như nhà làm luật giao thông, cơ quan quy hoạch giao thông, cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông, Ban quản lý các khu công nghiệp, khu đô thị, khu chế xuất, Ban quản lý các chợ, các công trình xây dựng, người phụ trách và nhân viên

ở các trung tâm đào tạo, sát hạch, cấp bằng lái xe, trung tâm đăng kiểm phương tiện

Như vậy, văn hoá giao thông cần được hiểu: là sự ứng xử một cách có ý

thức và có trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội khi tham gia giao thông hoặc tham gia vào những hoạt động có liên quan đến giao thông để tạo lập nên

này đã nhấn mạnh đến sự ứng xử một cách có ý thức và có trách nhiệm của mọi người trên bình diện xã hội chứ không chỉ nói đến ý thức tự giác của người trực tiếp tham gia giao thông

3 Các yếu tố tạo cơ bản tạo thành văn hoá giao thông

Trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam hiện nay, có thể nhấn mạnh đến một số yếu tố cơ bản tạo thành văn hoá giao thông, cụ thể như sau:

- Phải có hệ thống luật pháp hoàn chỉnh, năng động, phù hợp với thực tiễn

và hệ thống các bộ, ngành, địa phương có năng lực quản lý, điều hành giao thông một cách nghiêm minh, hiệu quả; luật pháp rõ ràng, nghiêm minh, đủ sức răn đe;

tổ chức giao thông hợp lý, khoa học trong việc phân tuyến, phân luồng giao thông, thiết kế hợp lý giữa giao thông động và giao thông tĩnh, mở rộng sử dụng các phương tiện giao thông công cộng; tránh sử dụng đường và đào bới, sửa chữa đường bừa bãi, gây cản trở giao thông

- Cơ sở hạ tầng giao thông đồng bộ và hiện đại, bao gồm: hệ thống đường xá các cấp, cầu cống cùng với hệ thống cầu vượt, giải phân cách, hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu giao thông và hệ thống biển báo, biển cấm được chế tạo và lắp đặt đúng quy cách, thuận tiện cho việc quan sát của người tham gia giao thông

- Chương trình giáo dục và đào tạo phải có nội dung về luật an toàn giao thông và đạo đức của người tham gia giao thông nhằm tạo ra thói quen tự giác chấp hành luật giao thông trong nhân dân, dám đấu tranh chống lại những hành vi gây mất trật tự, mất an toàn cho người tham gia giao thông

- Phương tiện tham gia giao thông phải có chất lượng tốt, bảo đảm hệ số an toàn cho người điều khiển phương tiện và những người xung quanh

- Ý thức tự giác và tinh thần trách nhiệm, ứng xử có văn hoá của người điều khiển phương tiện và người tham gia giao thông

4 Những hành vi thiếu văn hoá trong giao thông

Những hành vi thiếu văn hoá trong giao thông được thể hiện rất đa dạng và phức tạp Một số nhóm hành vi vi phạm luật giao thông gây nên sự phản cảm và tiềm ẩn những tai nạn nghiêm trọng cho người cùng tham gia giao thông và cho chính bản thân người điều khiển phương tiện không đúng luật, đó là:

Trang 17

- Người điều khiển phương tiện giao thông: vượt đèn đỏ, đi xe vào đường ngược chiều, đường cấm, không đội mũ bảo hiểm, uống rượu, bia trước khi điều khiển phương tiện cơ giới, chở hơn 2 người trên xe máy, sử dụng phương tiện cơ giới không có đèn, không có tín hiệu xin đường khi chuyển làn, chuyển hướng; đi không đúng phần đường của loại phương tiện điều khiển, đi xe quá tốc độ cho phép, lạng lách, đánh võng, bóp còi inh ỏi, vừa điều khiển xe vừa nghe nhạc, điện thoại, nhắn tin, khạc nhổ, hút thuốc lá thậm chí là đua xe trái phép, hành hung người thi hành công vụ khi bị dừng xe vì vi phạm luật giao thông

- Người gây cản trở giao thông: họp chợ, buôn bán trái phép, lấn chiếm lòng,

lề đường, vỉa hè; đổ vật liệu xây dựng, phế thải trên đường giao thông; mang vật cồng kềnh quá giới hạn cho phép, gây cản trở tầm nhìn và tầm hoạt động cho các phương tiện khác; đi bộ sang đường không đúng nơi quy định; tụ tập đông người dưới lòng đường, trên cầu, vỉa hè trước cửa trường học, bệnh viện, nhà hát…; đặc biệt nguy hiểm là hành vi tự mở đường ngang qua đường sắt

- Người tham gia, điều hành, quản lý giao thông: nhận tiền hối lộ của người

vi phạm luật giao thông; điều hành giao thông thiếu kiên quyết, thiếu tôn trọng người tham gia giao thông; không mạnh dạn sáng tạo bổ sung, chỉnh sửa kịp thời những sai sót trong nội dung công việc do mình quản lý gây thiệt hại về người và của cho nhân dân

Đó là những hành vi ứng xử thiếu văn hoá, vi phạm quy định khi tham gia giao thông dẫn đến tình hình mất trật tự an toàn giao thông và gây ra những vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng làm thiệt hại về tính mạng và tài sản cho gia đình và

xã hội

II THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TAI NẠN GIAO THÔNG HIỆN NAY

1 Tình hình tai nạn giao thông

1.1 Tình hình tai nạn giao thông trên thế giới

Tình hình tai nạn giao thông (TNGT) trên thế giới diễn ra ngày một nghiêm trọng; trong đó, thương vong do TNGT đường bộ là một vấn nạn lớn Theo báo cáo hiện trạng an toàn đường bộ toàn cầu năm 2009 của WHO cho 178 quốc gia chiếm 98% dân số toàn cầu, hàng năm có xấp xỉ 1,3 triệu người chết và 50 triệu người bị thương do TNGT đường bộ; trong đó, có 90% số người chết là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình

1.2 Tình hình tai nạn giao thông ở Việt Nam

So với thời kỳ kinh tế bao cấp thì tình hình giao thông đi lại của chúng ta đã

có nhiều tiến bộ vì nhà nước ta đã đổi mới cơ chế, phát huy nguồn lực của toàn dân, tập trung đầu tư mạnh mẽ cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông Lĩnh vực giao thông đã từng bước được xã hội hóa nhằm huy động tài lực của toàn dân, mạng lưới giao thông đường bộ đã nhanh chóng được thiết lập nối liền các trung tâm kinh

tế lớn, các đô thị với các vùng dân cư từ tỉnh đến các huyện và các xã Mặc dù vậy, chất lượng giao thông vẫn chưa cao, còn nhiều bất cập, yếu kém

Trang 18

Trung bình hàng ngày, ước tính cả nước có khoảng 30 - 35 người chết do TNGT mà chủ yếu là TNGT đường bộ chiếm 97% Đây là vấn đề đang gây bức xúc cho xã hội hiện nay

Theo ước tính của Ngân hàng Phát triển Châu Á – Thái Bình Dương (ADB), thiệt hại kinh tế do TNGT đường bộ hàng năm tại Việt Nam ước khoảng

880 triệu USD (khoảng 17 ngàn tỷ đồng Việt Nam), cao hơn mức trung bình của các nước trong khối ASEAN Trong nghiên cứu quy hoạch tổng thể an toàn giao thông đường bộ tại Việt Nam, thiệt hại do TNGT đường bộ năm 2007 ước tính khoảng 32.600 tỷ đồng

Số vụ TNGT, số người chết và bị thương liên tục gia tăng trong nhiều năm

từ năm 1999 và chỉ bắt đầu giảm từ năm 2003 Tuy nhiên, tình hình giảm TNGT chỉ mang tính tạm thời, chưa ổn định và chưa bền vững

1.3 Kết quả thực hiện an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp quý I/2012 (từ ngày 01/01/2012 -31/3/2012)

Thực hiện Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 24 tháng 8 năm 2011 của Chính Phủ về tăng cường các giải pháp trọng tâm bảo đảm trật tự an toàn giao thông và

Kế hoạch số 120/KH-BATGT ngày 26 tháng 12 năm 2011 của Ban An toàn giao thông tỉnh Đồng Tháp về hành động “Năm An toàn giao thông – 2012”, các huyện, thị, thành đã quyết liệt thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông Trong quý I/2012, toàn Tỉnh giảm cả 3 tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương: tai nạn giao thông đường

bộ và đường thủy xảy ra 39 vụ, làm chết 40 người, bị thương 24 người So với cùng kỳ năm 2011, số vụ giảm 20 vụ (giảm 33,8%), số người chết giảm 21 người (giảm 34,4%), số người bị thương giảm 23 người (giảm 48,9%)

Có 6 huyện, thị, thành giảm cả 3 tiêu chí (Tháp Mười, Thanh Bình, Tam Nông, Lấp Vò, Tân Hồng và thành phố Cao Lãnh) Tuy nhiên, vẫn còn một số huyện cần nghiêm khắc rút kinh nghiệm vì có số vụ tai nạn giao thông tăng cao như: Châu Thành (tăng 300%), Hồng Ngự (tăng 50%), Lai Vung (tăng 33,3%)

2 Nguyên nhân

- Ý thức chấp hành luật an toàn giao thông của đa số người tham gia giao thông còn thấp Hiện tượng vượt đèn đỏ, đi quá tốc độ cho phép, đi không đúng phần đường quy định là rất phổ biến Nhiều thanh thiếu niên không nghiêm chỉnh chấp hành quy định phải đội mũ bảo hiểm và không được uống rượu bia khi điều khiển phương tiện giao thông Người lái xe ô tô thì không thường xuyên thắt dây bảo hiểm an toàn, có khi còn đi quá tốc độ cho phép, không có tín hiệu xinhan xin đường trước khi chuyển làn, chuyển hướng, dừng đỗ xe không đúng nơi quy định, không quen xe, quen đường

- Nhiều chợ cóc, chợ tạm còn hoạt động trên các tuyến giao thông, nhiều địa phương còn để cho dân phơi thóc lúa trên các quốc lộ hoặc các khu dân cư còn đổ vật liệu xây dựng, các biển quảng cáo lắp đặt trái phép đã vi phạm hành lang an toàn giao thông và làm cho nguy cơ ùn tắc giao thông, đánh võng, đua xe trái phép, chở hơn 2 người trên xe máy vẫn còn phổ biến

Trang 19

- Nhiều ô tô, xe máy không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật vẫn lưu hành trên đường phố gây ô nhiễm môi trường vì tiếng ồn và khói bụi từ động cơ, ống xả khói, còi

sử dụng không đúng quy định, sự tương tác của bánh xe với mặt đường gây ra

- Công tác quản lý giao thông, tổ chức điều hành còn bất hợp lý, chưa năng động, sáng tạo, chưa đáp ứng kịp thời đòi hỏi của thực tiễn Công tác đào tạo, giáo dục, kiểm tra người lái xe và phương tiện còn chưa thường xuyên, nhiều sơ hở Tình trạng quá tải cho các trung tâm đào tạo lái xe do nhà nước quản lý, nhưng cũng vì lẽ đó mà có một số trung tâm đào tạo lái xe không đúng quy trình kỹ thuật,

bỏ qua những công đoạn học tập lý thuyết hoặc đào tạo thực hành chỉ qua loa Chương trình đào tạo lái xe thiếu cân đối, không chú ý đến việc giáo dục đạo đức của người lái xe mà chỉ tập trung vào việc dạy người học điều khiển phương tiện Chính vì vậy, nhiều người lái xe tuy có bằng lái nhưng không am hiểu sâu sắc, không biết chính xác các biển báo, biển cấm trên đường và đặc biệt thiếu hẳn đạo đức và tư cách của người lái xe Nhiều người điều khiển ô tô chở khách cỡ lớn mà thiếu đi phần lương tâm, đạo đức nên đã gây ra những tai nạn thảm khốc cho chính bản thân mình và hành khách trên xe

- Công tác kiểm tra bằng lái xe cùng các giấy tờ cần thiết của người lái và phương tiện có được thực hiện, nhưng do lực lượng cảnh sát giao thông mỏng nên chỉ được tiến hành vào những dịp lễ tết hoặc ở một vài tuyến quốc lộ quan trọng, chính vì vậy, nhiều lái xe đã điều khiển xe trong tình trạng không bằng lái, không giấy tờ tùy thân hoặc trong tình trạng say bia rượu mà không được phát hiện và xử

lý kịp thời, đến khi gây ra tai nạn thì mới được phát hiện thì đã quá muộn

- Cơ sở hạ tầng giao thông được nâng cấp nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ cho người tham gia giao thông vì chất lượng cầu đường còn kém, hệ thống đèn hiệu, biển báo còn chưa đầy đủ, chính xác gây khó khăn cho người điều khiển phương tiện

III GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VĂN HOÁ GIAO THÔNG HIỆN NAY Đặc điểm của giao thông Việt Nam hiện nay là đang trong giai đoạn phát triển rất nhanh để phục vụ cho nhiệm vụ hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước Chúng ta từ nền văn hoá xóm làng phát triển thành văn hoá đô thị và từ văn minh nông nghiệp tiến lên văn minh công nghiệp nên ở trong đó có sự đan xen giữa những phương tiện thô sơ, lạc hậu với phương tiện hiện đại, văn minh Điều đặc biệt cần phải lưu ý đó là tâm lý, thói quen của người tiểu nông sản xuất nhỏ còn có khoảng cách với tâm lý, thói quen của người ở xã hội công nghiệp hiện đại Chính

vì vậy, muốn xây dựng được một nền nếp văn hoá giao thông ở nước ta rất cần sự tham gia của toàn dân, của các cấp, các ngành và cần phải được tiến hành đồng bộ, thường xuyên Tùy theo tình hình đặc điểm của mỗi địa phương mà giải pháp tiến hành cho linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả Hệ thống giải pháp nhằm thiết lập lại một trật tự giao thông và xây dựng văn hoá giao thông bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

1 Rà soát lại toàn bộ văn bản luật pháp liên quan đến an toàn giao thông để kịp thời bổ sung, chỉnh sửa, hoàn thiện cho phù hợp với tình hình thực tế

Trang 20

Những điều đã cũ, không còn phù hợp cần được thay thế bằng những nội dung mới, yêu cầu các văn bản, quy định phải được biên soạn ngắn gọn, dễ hiểu, không chồng chéo, hình thức, thưởng phạt nghiêm minh, rõ ràng, đủ sức răn đe, giáo dục, tạo điều kiện cho người dân thực hiện thuận lợi

Để có nếp sống văn hoá trong giao thông không thể chỉ trông chờ vào ý thức và sự tự nguyện của người tham gia giao thông nhiều khi đã trở thành hình thức, với những khẩu hiệu suông mà cần có những chế tài bắt buộc Kinh nghiệm

ở các nước phát triển cho thấy, không phải ngay một lúc có được trật tự an toàn giao thông mà là cả một quá trình thực hiện luật lệ một cách nghiêm khắc Những người vi phạm bị xử phạt rất nặng, khi đó, việc thực hiện đúng luật sẽ trở thành thói quen, thành nền nếp

2 Sớm hoàn thiện cơ sở hạ tầng đảm bảo an toàn giao thông

Cơ sở hạ tầng giao thông cần phải được đầu tư hợp lý, khoa học, chính xác

từ khâu quy hoạch đến các khâu thiết kế, thi công, kiểm tra và đưa vào sử dụng Cần phải kết hợp hài hòa các phương tiện đi lại trên đường bộ, đường thủy và đường sắt để tạo thành một mạng lưới giao thông thuận tiện, an toàn, hiệu quả Cần phải xây dựng một hệ thống cầu vượt ở các ngã tư, ngã năm giao cắt, tránh xung đột trực tiếp giữa các luồng, tuyến giao thông ở các đô thị lớn

3 Tăng cường công tác đào tạo, quản lý về chuyên môn nghiệp vụ

Cần phải thường xuyên đào tạo và đào tạo lại, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ các cấp tham gia quản lý, điều hành giao thông để họ không những có trình độ chuyên môn cao, sức khoẻ tốt mà cần sự nhiệt tình và tấm lòng trong sáng, vô tư, đủ khả năng quản lý điều hành một mạng lưới giao thông phức tạp của một đô thị hiện đại Những thiết bị chỉ huy, điều hành giao thông cũng cần được hiện đại hoá nhằm đẩy mạnh và nâng cao năng lực quản lý của cán bộ nghiệp vụ

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc đào tạo, sát hạch giấy phép lái

xe, ngăn chặn được các hiện tượng tiêu cực trong lĩnh vực này Đây là bước đầu tiên tạo cho người điều khiển phương tiện có hiểu biết đầy đủ các quy định của pháp luật về an toàn giao thông Tăng cường công tác quản lý vận tải, quy định rõ trách nhiệm của các doanh nghiệp vận tải phải có phương án đảm bảo an toàn giao thông; trách nhiệm giáo dục đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ lái xe Nâng cao năng lực quản lý trong quá trình đăng kiểm phương tiện, hạn chế được các trường

hợp làm việc thiếu trách nhiệm của các cá nhân

Tích cực và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, chống những biểu hiện tiêu cực, thoái hóa của một bộ phận công chức, viên chức tham gia điều hành, quản lý

hệ thống giao thông để tạo ra môi trường giao thông trong sạch, an toàn

4 Xây dựng cách cư xử, ứng xử của mỗi cá nhân trong cộng đồng

Trong cuộc sống, giao tiếp hàng ngày con người luôn phải ứng phó với biết bao tình huống, có lúc dễ dàng xử lý, có lúc thật phức tạp, khó xử Xã hội càng văn minh thì nhu cầu trong giao tiếp của con người càng cao Ứng xử một cách thông minh, khôn khéo, tế nhị, kịp thời, có hiệu quả, đạt tới mức độ nghệ thuật,

Trang 21

ngày nay còn được coi như bí quyết thành công trong cuộc sống, trong công việc Tương tự, đối với việc ứng xử trong giao thông chúng ta cũng phải có chính sách, biện pháp giáo dục đối với từng đối tượng, cụ thể:

- Đối với người tham gia giao thông: Trong bối cảnh đường giao thông quá tải, phương tiện giao thông cá nhân tăng quá nhanh Khi tham gia giao thông, chúng ta còn gặp nhiều việc ngoài ý muốn xảy ra, nếu chúng ta không biết giải quyết bằng sự nhường nhịn, chia sẻ cùng gánh trách nhiệm mà giải quyết bằng đôi

co, cãi vã hoặc bạo lực thì sự việc càng trở nên nghiêm trọng hơn, đôi khi trong những trường hợp sẽ không còn tình người và đi ngược lại với truyền thống đoàn kết, thương yêu của dân tộc Việt Nam

- Đối với những người tham gia hoạt động vận tải khách: các doanh nghiệp kinh doanh vận tải khách phải giáo dục đội ngũ lái, phụ xe có thái độ ứng xử nhã nhặn, tôn trọng đối với hành khách đi xe; ngoài ra còn ứng xử bằng hành động đó

là thường xuyên trùng tu, bão dưỡng phương tiện đảm bảo chất lượng phương tiện theo yêu cầu

- Đối với cư dân sống ven đường: không lấn chiếm hành lang an toàn đường bộ; không sử dụng vỉa hè, lòng đường để buôn bán hàng hoá; phơi thóc lúa trên các quốc lộ, lắp đặt các biển quảng cáo trái phép… phê phán, ngăn chặn các hành

vi gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông như: rải đinh trên đường, hoặc các hành vi khác gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông

- Đối với người khi thực hiện nhiệm vụ bảo đảm trật tự an toàn giao thông: thực hiện nhiệm vụ được giao với tinh thần trách nhiệm cao; kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật; không sách nhiễu hoặc tiêu cực khi thi hành công vụ; tận tình giúp đỡ người tham gia giao thông khi gặp hoạn nạn; giúp đỡ người tàn tật, trẻ em và người cao tuổi

5 Nâng cao kiến thức và ý thức chấp hành pháp luật về an toàn giao thông trong nhân dân

Kiến thức của một con người là một quá trình tìm hiểu, học hỏi và đúc rút kinh nghiệm Do vậy, kiến thức pháp luật về trật tự an toàn giao thông của một cá nhân là tổng hợp các quy định của pháp luật về an toàn giao thông mà cá nhân đó tiếp thu, nghiên cứu được Như vậy, để nâng cao kiến thức pháp luật về trật tự an toàn giao thông cho người dân thì hệ thống các quy phạm pháp luật về an toàn giao thông phải được thể hiện hóa dưới các lĩnh vực gần gũi với người dân hoặc đưa vào những hình thức bắt buộc phải biết trong một số trường hợp cụ thể

Việc nâng cao kiến thức chưa phải là yếu tố để hình thành nét văn hoá giao thông trong cá nhân con người đó mà phải có ý thức tự giác tuân thủ các quy định

đó trong cuộc sống Để một con người có ý thức tự giác chấp hành các quy định của pháp luật về trật tự an toàn giao thông thì phải giáo dục cá nhân đó có ý thức tôn trọng bản thân và cộng đồng, biết phê phán và đấu tranh với các hành vi sai trái và biết tự xấu hổ với hành vi sai trái của mình

6 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục văn hoá giao thông

Trang 22

Như chúng ta đã biết, mỗi một văn bản quy phạm pháp luật nói chung và pháp luật về giao thông nói riêng muốn đi vào cuộc sống và phát huy được tác dụng trong cuộc sống thì công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến giáo dục các nội dung của văn bản quy phạm phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và đúng đối tượng, cụ thể:

- Xác định công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục văn hoá giao thông là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên, liên tục

và lâu dài nhằm chuyển biến về nhận thức, hành động của các cấp ủy đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội, các cơ quan thông tin đại chúng thật sự chung tay góp phần nâng cao nhận thức và ý thức của mọi người trong việc xây dựng văn hoá giao thông Đồng thời, đòi hỏi cán bộ, công chức, viên chức, chiến

sĩ lực lượng vũ trang gương mẫu chấp hành Luật Giao thông Đặc biệt, coi trọng giáo dục và tạo chuyển biến trong hành động đối với đối tượng là học sinh, sinh viên, các tầng lớp nhân dân

- Biên soạn những tài liệu tuyên truyền về an toàn giao thông, về những chuẩn mực (hoặc tiêu chí) văn hoá giao thông phù hợp với từng đối tượng, từng lứa tuổi, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thực hiện để phổ biến tới từng gia đình, từng cộng đồng dân cư Đồng thời, phải xây dựng được một đội ngũ tuyên truyền viên làm nòng cốt trong việc tuyên truyền, giáo dục nhận thức về an toàn giao thông

- Phải đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền: phương pháp tuyên truyền phải sinh động, ấn tượng, chống khô khan, nhàm chán bằng việc thể hiện dưới các hình thức sân khấu hóa, thơ, ca, hò, vè; diễn dàn, các cuộc thi; dùng các phương pháp tuyên truyền phù hợp với tâm lý, thị hiếu của từng đối tượng được tuyên truyền Đặc biệt, đưa hình thức văn hoá nghệ thuật vào trong công tác tuyên

truyền bởi nghệ thuật là tiếng nói từ trái tim đến với trái tim, tác động vào tâm

hồn, tình cảm, tạo nên xúc cảm tốt đẹp, cao thượng của mỗi người không gì nhanh hơn, hiệu quả hơn từ đó sẽ làm chuyển biến về ý thức ứng xử có văn hoá khi tham gia giao thông

Công tác tuyên truyền giáo dục, không chỉ tác động vào lý trí mà còn phải tác động vào tâm hồn, tình cảm của mỗi người Làm thế nào để cho người không chấp hành pháp luật về an toàn giao thông không chỉ lo sẽ bị xử phạt mà còn phải cảm thấy xấu hổ với hành vi của mình (văn hoá xấu hổ), vì đó là hành vi thiếu văn hoá, thậm chí thiếu đạo đức nếu vì thế mà gây ra tai nạn giao thông

- Tuyên truyền gắn liền với áp dụng chế tài thưởng phạt Cưỡng chế cũng là giáo dục, mang tính chất nhân đạo và văn hoá Ngăn chặn hành vi không có giấy phép lái xe, say rượu bia vẫn điều khiển phương tiện và đi mô-tô không đội mũ bảo hiểm nhằm bảo vệ tính mạng cho bản thân người tham gia giao thông và an toàn cho cộng đồng

- Phải xây dựng được thói quen ứng xử văn minh vì con người, vì cộng đồng của mỗi con người, mỗi đơn vị trong khi tham gia giao thông Phải làm cho mỗi người hiểu được văn hoá giao thông chính là: sự tôn trọng luật pháp, tôn trọng cộng đồng và hướng tới cái đẹp, những cái gì là không văn minh cần phải chống

Trang 23

lại Để hình thành được thói quen hành xử văn minh này không phải là việc một sớm một chiều, mà đó là việc của cả đời người, của nhiều thế hệ

- Phải giáo dục, hướng dẫn, xây dựng những hành vi ứng xử văn minh cho thế hệ trẻ em, từ khi chào đời, lớn lên đi học cho đến khi trưởng thành Ở đây, vai trò của gia đình, nhà trường là hết sức quan trọng Cha mẹ, anh chị, thầy cô phải là tấm gương sáng, là người thầy tận tụy để vun trồng những đạo lý nhân văn, những thói quen tốt đẹp trong hành xử với mọi người Chỉ có như vậy, dần dần mới hình thành được nền văn hoá giao thông lành mạnh

Xây dựng văn hoá giao thông là một vấn đề cấp bách, mang tính xã hội cực

kỳ rộng lớn vì nó ảnh hưởng đến cuộc sống và tài sản của tất cả mọi người Văn hoá giao thông chính là nền tảng thúc đẩy xã hội nhanh chóng đi đến văn minh, hạnh phúc và nó còn là tiền đề để bảo vệ tài sản, tính mạng của nhân dân, góp phần xây dựng hình ảnh đất nước Việt Nam, con người Việt Nam với bạn bè quốc

tế Luật An toàn giao thông có thể được hoàn thiện hàng ngày, các điểm đen trên các cung đường giao thông có thể được thường xuyên khắc phục, nhưng văn hoá

giao thông chỉ có thể được hình thành nếu mỗi chúng ta tự giác xóa đi điểm đen

trong suy nghĩ và tư duy của mình để hòa cùng các thành viên xã hội tạo lập ra một nền nếp giao thông trật tự, an toàn, thân thiện và văn minh Tuyên truyền, vận động để mọi người có ý thức tự giác khi tham gia giao thông là hết sức cần thiết, nhưng văn hoá giao thông không thể được hình thành nếu chỉ dựa vào sự tuyên truyền vận động mà rất cần có một cơ sở hạ tầng giao thông tương thích và một hệ thống luật pháp chặt chẽ, phù hợp

Thay đổi hành vi trong tham gia giao thông, thực hiện văn hoá giao thông của mỗi người, mỗi cộng đồng là điều không phải dễ làm nhưng cũng không quá khó nếu mỗi chúng ta tự nhận thức rằng điều đó mang lại sự an toàn cho chính mình và sự bình yên của cộng đồng, không chỉ cho hôm nay mà cho cả tương lai, cho thế hệ chúng ta và thế hệ mai sau

IV MỘT SỐ KHẨU HIỆU TUYÊN TRUYỀN VỀ VĂN HOÁ GIAO THÔNG

- Lái xe thể hiện bản chất con người!

- Nhân cách của bạn được thể hiện qua việc chấp hành luật giao thông!

- Có văn hoá giao thông là sống vì cộng đồng!

- Thay đổi văn hoá giao thông - bắt đầu từ chính bạn!

- Văn hoá giao thông vì sự an toàn cho thanh, thiếu nhi và cộng đồng!

- Văn hoá giao thông là tự giác chấp hành pháp luật về giao thông!

- Đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện!

- Tôi là người lái xe có văn hoá, còn bạn thì sao?

- Hãy kể cho tôi cách bạn tham gia giao thông, tôi sẽ nói cho bạn biết bạn là người thế nào!

- Hãy thể hiện mình là người có văn hoá khi tham gia giao thông!

Trang 24

- Nhiễu điều phủ lấy giá gương, chạy xe nhường nhịn là thương chính mình!

- Nhường nhau không phải là hèn, nhường nhau để khỏi lách, lèn, kẹt xe!

- Chậm 1 giây còn hơn chờ 1 tiếng!

- Đèn đỏ qua rồi lại đến, sinh mạng không có lần hai!

- Chậm lại vài giây, hơn gây tai nạn!

- Đừng dùng kèn hối thúc, hãy dùng để cảnh báo!

- Ý thức giao thông kém, nguyên nhân của sự kẹt xe!

- Muốn nhanh thì phải từ từ!

- Tránh kẹt xe, học nghe đàn kiến!

- Lái xe bất cẩn ân hận cả đời!

- Luồn lách không có ích gì, phía trước vẫn tắc đường!

- Nói không với rượu, bia khi tham gia giao thông

- Lạm dụng rượu, bia - hiểm họa tai nạn giao thông

- Vượt đèn đỏ chỉ dành cho người ít học!

- Bạn sẽ là tấm gương cho con về ý thức tham gia giao thông!

- Hãy tặng thành phố 1 phút không tiếng còi xe!

Trang 25

CHUYÊN ĐỀ 3 CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Ở TỈNH ĐỒNG THÁP

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (gọi tắt là Chương

nước nhằm phát triển nông thôn toàn diện, bao gồm nhiều nội dung liên quan đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, hệ thống chính trị cơ sở,

có những yêu cầu riêng đối với từng vùng sinh thái, vùng kinh tế - xã hội khác nhau

I NHỮNG CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1 Những văn bản lãnh đạo, chỉ đạo về xây dựng nông thôn mới

1.1 Những văn bản của Trung ương

- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

- Quyết định số 491/2008/QĐ-TTg ngày 16/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ

về “Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới”

- Quyết định số 22-QĐ/TTg ngày 6/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ về

“Phát triển văn hóa nông thôn đến năm 2015, định hướng đến năm 2020”

- Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về “Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn”

- Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 26/8/2010 về “Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn”

- Quyết định số 800-QĐ/TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về

“phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020”

Trang 26

- Kế hoạch số 39/KH-BCĐXDNTM ngày 25 tháng 04 năm 2011 của Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Đồng Tháp về “triển khai thực hiện Chương trình trong năm 2011”

2 Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới

- Để mọi cán bộ và người dân hiểu về tầm quan trọng của Chương trình xây dựng nông thôn mới: đây là chương trình phát triển nông thôn toàn diện, bền vững với mục đích nâng cao nhanh cuộc sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn

- Hiểu rõ Chương trình xây dựng nông thôn mới không phải là dự án xây dựng cơ bản mà đây là một chương trình phát triển tổng hợp về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội

- Hiểu rõ vai trò của cộng đồng là chủ thể xây dựng nông thôn mới tại địa bàn, lấy nội lực là căn bản…, hiểu kỹ nội dung, phương pháp, cách làm và tự tin đứng lên làm chủ,

tự giác tham gia và sáng tạo trong tổ chức thực hiện

3 Mục tiêu của Chương trình xây dựng nông thôn mới

- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao;

- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;

- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;

- An ninh tốt, quản lý dân chủ;

- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao

4 Nguyên tắc triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới

- Các nội dung, hoạt động phải hướng tới thực hiện 19 tiêu chí về xã nông thôn mới

- Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn xã đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động

cụ thể do chính cộng đồng người dân ở ấp, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện

- Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư

- Được thực hiện gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch đã được phê duyệt

- Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án của

Trang 27

Chương trình; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá

- Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Phát động cuộc vận động “toàn dân xây dựng nông thôn mới“ do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới

- Xây dựng nông thôn mới là công việc khó khăn lâu dài, do đó cần phải quyêt tâm, kiên trì, không gượng ép, không chạy theo phong trào; khẩn trương nhưng không nóng vội, phải đảm bảo cả về tiến độ và chất lượng trong lập quy hoạch, đề án và xây dựng các công trình hạ tầng Sự chủ động, linh hoạt trong chỉ đạo điều hành ở cấp huyện, xã có vai trò rất quan trọng trong thực hiện Chương trình

II NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1 Bộ tiêu chí nông thôn mới của tỉnh Đồng Tháp

Căn cứ Bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và điều kiện cụ thể của địa phương, UBND Tỉnh đã ban hành Quyết định số: 484/QĐ-UBND.HC ngày 18 tháng 06 năm 2010 về việc ban hành Bộ Tiêu chí nông thôn mới tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020, (điều chỉnh Tiêu chí Giao thông theo Quyết định số 661/QĐ-UBND-HC ngày 02/8/2011) gồm 19 tiêu chí sau:

Tiêu chí 1: Quy hoạch và phát triển theo quy hoạch

- Quy hoạch tổng thể với nội dung bố trí sử dụng đất cho: bố trí dân cư và

hạ tầng công cộng theo chuẩn nông thôn mới; sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp - dịch vụ và hạ tầng phục vụ sản xuất kèm theo

- Quy hoạch chi tiết cho: Khu dân cư và hạ tầng công cộng khu dân cư (chủ yếu là trung tâm xã); Khu sản xuất nông nghiệp kèm hạ tầng cho khu này; Khu sản xuất công nghiệp - dịch vụ và hạ tầng kèm theo

Tiêu chí 2: Giao thông

- Có 100% số km đường trục xã, liên xã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT (nền 6,5m, mặt 3,5m);

- Có từ 50% trở lên số km đường trục ấp, liên ấp, được cứng hoá đạt chuẩn

theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT (nền 5,0m, mặt 3,5m);

- Có 100% số km đường ngõ xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa,

trong đó có trên 30% được cứng hóa, (nền 04m, mặt 03m);

- Có từ 50% trở lên số km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ

giới đi lại thuận tiện, (nền 4,0m, mặt 3,0m)

Tiêu chí 3: Thuỷ lợi

- Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và phục vụ dân sinh;

Trang 28

- Có từ 45% trở lên số km kênh mương do xã quản lý được đảm bảo phục

vụ tưới, tiêu, kiên cố hoá cống đập

Tiêu chí 4: Điện

- Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện;

-Có từ 98% trở lên hộ dân sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn

Tiêu chí 5: Trường học

Có từ 70% trở lên trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở có cơ sở vật chất đạt chuẩn Quốc gia

Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất văn hoá

- Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ Văn hoá - Thể thao và

Du lịch;

- Có 100% số ấp có nhà văn hóa và khu thể thao đạt quy định của Bộ Văn hoá - Thể thao và du lịch

Tiêu chí 7: Chợ nông thôn

Chợ đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng

Tiêu chí 8: Bưu điện

- Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông;

Tiêu chí 12: Cơ cấu lao động

Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp từ 35% trở xuống

Trang 29

- Có từ 80% trở lên học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề);

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt từ 20% trở lên

Tiêu chí 15: Y tế

- Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt từ 20% trở lên;

- Y tế xã đạt chuẩn quốc gia

Tiêu chí 16: Văn hoá

Xã có từ 70% số ấp trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hoá theo quy định của

Bộ VH-TT-DL

Tiêu chí 17: Môi trường

- Có từ 75% trở lên số hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia;

- Các cơ sở SX-KD đạt tiêu chuẩn về môi trường;

- Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp;

- Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch;

- Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định

Tiêu chí 18: Hệ thống tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh

- Cán bộ xã đạt chuẩn;

- Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định;

- Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”;

- Các tổ chức đoàn thể của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên

Tiêu chí 19: An ninh trật tự xã hội

An ninh, trật tự xã hội được giữ vững

2 Huy động các nguồn lực thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới

Để thực hiện Chương trình cần đa dạng hóa các nguồn vốn huy động:

- Lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn

- Huy động tối đa nguồn lực của địa phương (tỉnh, huyện, xã)

- Huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp

- Các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân trong xã cho từng dự án cụ thể, do Hội đồng nhân dân xã thông qua

- Huy động các nguồn tài chính hợp pháp khác

Trang 30

Tuỳ theo từng nội dung cụ thể mà tỷ lệ các nguồn vốn khác nhau Có những nội dung đầu tư nguồn vốn từ ngân sách là chủ yếu, trong khi đó cũng có những nội dung đầu tư được thực hiện chủ yếu từ nguồn vốn huy động cộng đồng Vốn huy động của cộng đồng rất quan trọng, nhất là trong xây dựng những công trình thiết yếu phục vụ cho sinh hoạt của cộng đồng, của từng hộ gia đình Nếu xây dựng nông thôn mới mà chỉ chờ đợi sự hỗ trợ từ Nhà nước để có tiền đến đâu làm đến đó thì không bao giờ thành công được

3 Nguồn vốn từ ngân sách Trung ương hỗ trợ

- Công tác quy hoạch; làm đường đến trung tâm xã; xây dựng trụ sở xã, trường học, trạm y tế xã, nhà văn hóa xã đạt chuẩn; đào tạo kiến thức về xây dựng nông thôn mới cho cán bộ xã, ấp, hợp tác xã

- Hỗ trợ một phần từ ngân sách Trung ương cho xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư; đường ấp; giao thông nội đồng, kênh mương nội đồng; phát triển sản xuất và dịch vụ; nhà văn hóa và công trình thể thao ấp; hạ tầng các khu sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp, thủy sản

Để phát huy hiệu quả cao nhất nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước các địa phương cần tích cực vận động, tìm thêm vốn đối ứng từ các nguồn khác

4 Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp

Vốn đầu tư của doanh nghiệp, HTX thể hiện trên các lĩnh vực sau:

- Đầu tư xây dựng các công trình công cộng có thu phí để thu hồi vốn, như: chợ, công trình cấp nước sạch cho cụm dân cư, thu dọn và chôn lấp rác thải, bến

5 Phát huy nội lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới

Nội lực cộng đồng thể hiện trên các mặt sau:

- Công sức, tiền của do người dân và cộng đồng tự bỏ ra để chỉnh trang nơi

ở của gia đình mình, như: xây dựng, nâng cấp nhà ở; xây dựng đủ các công trình

vệ sinh; cải tạo, bố trí lại các công trình phục vụ khu chăn nuôi hợp vệ sinh; cải tạo lại vườn ao để có thu nhập và cảnh quan đẹp; sửa sang cổng ngõ, tường rào

- Đầu tư cho sản xuất ngoài đồng ruộng hoặc cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để có thu nhập cao

- Đóng góp, xây dựng các công trình công cộng của xã như giao thông ấp, đường liên gia; kênh mương nội đồng Có thể đóng góp bằng công lao động, tiền mặt, vật liệu, hiến đất…(nếu đóng góp bằng tiền thì cần được cộng đồng bàn bạc quyết định, HĐND xã thông qua)

Trang 31

- Đóng góp tự nguyện và tài trợ từ các doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ,

tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước

6 Vai trò của người dân nông thôn trong xây dựng nông thôn mới

Người dân nông thôn được xác định là chủ thể trong xây dựng nông thôn

mới, vai trò của người dân nông thôn được thể hiện trên các mặt sau:

- Tham gia ý kiến vào đề án và quy hoạch xây dựng nông thôn mới của xã

- Tham gia vào lựa chọn những công việc gì cần làm trước và việc gì làm sau để thiết thực với yêu cầu của người dân trong xã và phù hợp với khả năng, điều kiện của địa phương

- Tham gia xây dựng các công trình ở địa phương để có thêm thu nhập cải thiện cuộc sống và có điều kiện để tham gia đóng góp xây dựng nông thôn mới

Do đó, công trình nào người dân địa phương làm được thì để cho dân làm, không phải công trình nào cũng thuê các đơn vị thi công

- Quyết định mức đóng góp trong xây dựng các công trình công cộng của xã, ấp

- Cử đại diện (Ban giám sát) để tham gia quản lý và giám sát các công trình xây dựng của xã

Để phát huy vai trò của người dân nông thôn cần phải tuyên truyền cho người dân hiểu về chương trình, hiểu về vai trò, nhiệm vụ của mình để chủ động tham gia, trước hết tham gia thực hiện những công việc có liên hệ trực tiếp đến mình và tham gia xây dựng các công trình công cộng theo phương châm nhà nước

và nhân dân cùng làm Đồng thời chính quyền địa phương phải có cơ chế và tạo điều kiện thuận lợi để người dân nông thôn được thực hiện vai trò của mình

7 Nhiệm vụ của người dân trong xây dựng xã nông thôn mới

Người dân nông thôn được xác định là chủ thể trong xây dựng nông thôn mới, sự tự giác, tích cực tham gia của người dân là nhân tố quyết định sự thành công của chương trình Mọi người đều có thể tham gia xây dựng nông thôn mới, các cháu bé học hành chăm ngoan, khoẻ mạnh, các cụ già vận động con, cháu thực hiện tốt nếp sống văn hoá ở cơ sở, chấp hành tốt pháp luật của Nhà nước là đã tham gia xây dựng nông thôn mới

Nhiệm vụ của người dân nông thôn thể hiện ở các nội dung sau:

- Tuân thủ quy hoạch đã được phê duyệt trong xây dựng các công trình của

hộ gia đình cũng như trong phát triển sản xuất

- Tham gia cùng với Nhà nước, đoàn thể, doanh nghiệp trong việc xây dựng, bảo vệ các công trình giao thông của xã, ấp

- Tham gia tổng vệ sinh theo phát động của chính quyền, đoàn thể; sử dụng nước sạch hợp vệ sinh, thu gom rác thải sinh hoạt theo quy định; chăm sóc sức khoẻ y tế ban đầu, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng Các cơ sở sản xuất kinh doanh phải tuân thủ các quy định về môi trường Sử dụng điện an toàn, tham gia bảo vệ hành lang an toàn lưới điện, không tự ý câu nối điện bên ngoài đồng hồ …

Trang 32

- Đưa trẻ đến trường học mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học, cùng với nhà trường và xã hội trong việc giáo dục con em

- Tham gia các hoạt động văn hoá, thể thao, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá tốt đẹp của dân tộc

- Xây dựng nhà ở có diện tích, kết cấu, bố trí các công trình phục vụ nhu cầu tối thiểu như bếp, nhà vệ sinh,… đạt các quy định về nhà ở của Bộ Xây dựng

và đúng quy hoạch dân cư nông thôn

- Tham gia các lớp đào tạo nghề để tiếp thu và áp dụng các tiến bộ khoa học

- kỹ thuật vào sản xuất, liên kết sản xuất nhằm nâng cao thu nhập cho chính mình

- Tham gia cùng chính quyền địa phương trong phát triển kinh tế, văn hoá,

xã hội, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền

8 Các bước triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới

Việc triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới được thực hiện theo 7 bước sau:

- Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện Chương trình

- Bước 2: Tổ chức thông tin, tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới (được thực hiện trong suốt quá trình triển khai thực hiện)

- Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí

- Bước 4: Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã

- Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới của xã

9 Công tác tuyên truyền thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền để mọi cán bộ và người dân hiểu về tầm quan trọng của Chương trình xây dựng nông thôn mới

Đây là chương trình phát triển nông thôn toàn diện, bền vững với mục đích nâng cao nhanh cuộc sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn Hiểu rõ vai trò của cộng đồng là chủ thể xây dựng nông thôn mới tại địa bàn, lấy nội lực là căn bản…, từ đó tự giác tham gia và sáng tạo trong tổ chức thực hiện

- Nội dung tuyên truyền:

Ngày đăng: 26/05/2021, 08:53

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w