1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Tac dong cua tam ly xa hoi doi voi viec thuchien chinh sach dan so o nuoc ta hien nay

69 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 87,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ViÖc c¸c cÆp vî chång mong muèn cã con (trong ®ã phÇn lín lµ muèn cã nhiÒu con) cßn thÓ hiÖn ë kÕt qu¶ thùc hiÖn c¸c biÖn ph¸p tr¸nh thai.. XuÊt ph¸t tõ nhiÒu nguyªn nh©n kh¸c nhau, song[r]

Trang 1

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dân số và sự tồn tại, phát triển của xã hội là hai vấn đề luôn có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau Nói đến vấn đề dân số không có nghĩa là chỉ nóitới mặt số lợng mà còn bao gồm mặt chất lợng của dân số Cùng với việcphát triển kinh tế- xã hội, con ngời cần phải điều chỉnh các xu hớng dân sốcho phù hợp với sự phát triển Quy mô, cơ cấu dân số, tốc độ gia tăng dân

số và sự phân bố dân c phù hợp sẽ tạo ra những tiền đề và động lực quantrọng cho phát triển bền vững, ngợc lại, sự gia tăng dân số không phù hợp

sẽ tạo ra những nhân tố cản trở việc thực hiện những mục tiêu kinh tế- xãhội Có thể nói, dân số là cơ hội, đồng thời là thách thức đối với sự pháttriển bền vững của mỗi quốc gia Vì vậy, bất cứ quốc gia nào cũng cần cómột chính sách dân số hợp lý để tạo ra một quy mô dân số “tối u” Nghĩa

là, vừa có thể đảm bảo việc phát huy mọi nguồn lực cho sản xuất, tạo ra đợcnhiều nhất của cải vật chất cho xã hội, mặt khác, vừa có thể đảm bảo đ ợc sựkết hợp hài hòa giữa sản xuất với tiêu dùng, tăng cờng và thúc đẩy việc tíchlũy cho tái sản xuất mở rộng

Nhận thức đợc vị trí và tầm quan trọng của vấn đề dân số trong sựphát triển xã hội, ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nớc

ta đã rất quan tâm tới việc thực hiện chính sách dân số Từ đó đến nay, đặcbiệt là từ năm 1993 (Đánh dấu bằng sự ra đời của nghị quyết hội nghị lầnthứ t BCH TW Đảng cộng sản việt nam khóa VII), trong công tác dân số-

kế hoạch hóa gia đình chúng ta đã đạt đợc những thành tựu hết sức quantrọng Có thể nhận thấy, ban đầu chúng ta mới chủ yếu quan tâm tới vấn đềgiảm sinh để ổn định quy mô dân số, thì đến nay về cơ bản chúng ta đã bắt

đầu quan tâm đợc nhiều hơn tới chất lợng dân số, chất lợng cuộc sống củatừng ngời, từng gia đình và toàn xã hội

Việc thực hiện chính sách dân số ở nớc ta những năm vừa qua nhìnchung đang có những chuyển biến theo chiều hớng tích cực với thành tựurất quan trọng Tuy nhiên, gần đây việc thực hiện chính sách dân số lại nảysinh một số vấn đề mới, tỷ lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ ba tăng “ độtbiến”, xu hớng giảm sinh có những dấu hiệu chững lại… Thực tế ấy cho Thực tế ấy chothấy những thành tựu trong việc thực hiện chính sách dân số ở n ớc ta trong

Trang 2

thời gian qua là cha thực sự bền vững và một trong những nguyên nhân củathực tế trên đó là sự tác động trở lại “ một cách mạnh mẽ” của những yếu tốtâm lý xã hội cũ, bảo thủ, lỗi thời

Việc nghiên cứu một cách có hệ thống sự tác động của tâm lý xã hội

đối với việc thực hiện chính sách dân số, từ đó đề ra những giải pháp khắcphục tác động tiêu cực của tâm lý xã hội trong việc thực hiện chính sáchdân số ở nớc ta là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vừa cấpbách vừa lâu dài

Là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ, Hải Dơng cũngkhông phải là ngoại lệ Có thể nói, sự tác động của tâm lý xã hội đối vớiviệc thực hiện chính sách dân số ở đây còn hết sức nặng nề Qua thực tếnhiều năm công tác ở cơ sở với đặc thù của công tác nghiên cứu và giảngdạy lý luận chính trị cùng với những kiến thức, kinh nghiệm ban đầu đã tích

lũy đợc là những lý do để ngời viết chọn đề tài: " Tỏc động của tõm lý xó hội đối với việc thực hiện chớnh sỏch dõn số ở nước ta hiện nay " (qua thực tế tỉnh Hải Dơng) làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Triết học.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề ý thức xã hội, tâm lý xã hội, vấn đề dân số đã đ ợc các nhàkhoa học, các nhà nghiên cứu và những ngời quan tâm đề cập dới những góc

độ khác nhau Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã đợc công bố dớidạng đề tài khoa học, chuyên đề, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các bài

đăng tải trên các tạp chí, sách báo Cụ thể nh:

- “Những yếu tố tâm lý xã hội ảnh hởng tới mức sinh”, UBDS Hà nội 1991; “KAP (Kiến thức- thái độ- thực hành)” UBQGDS (1993); “Tâm lý cộng

đồng làng và di sản , ” Đỗ Long- Trần Hiệp (1993); Các giá trị truyền thống

và con ngời Việt Nam hiện nay ,” Đề tài KX 07 02 (1996) Phan Huy Lê- Vũ

Minh Giang (Chủ biên); “ảnh hởng của các hệ t tởng và tôn giáo đối với con ngời Việt Nam hiện nay ,” Đề tài KX 07 03 (1997) Nguyễn Tài Th (Chủbiên);

- “Nền sản xuất nhỏ Việt Nam và hậu quả của nó trong tâm lý dân tộc , ” Tạp chí Thông tin triết học, số2/ 1971, Tác giả Vũ Khiêu; “ý thức ngời sản xuất nhỏ và ý thức hàng ngày”, Tạp chí Triết học, số2/ 1986, Tác giả Hồ

Sỹ Quý; “Tâm lý trọng nam khinh nữ trong xã hội hiện nay ,“ ” ” Tạp chí Khoa

học về phụ nữ, số 10/ 1995, Tác giả Trần Thị Minh Đức; “ý thức xã hội với sự

Trang 3

gia tăng dân số ở nớc ta hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 3/ 2005, Tác

giả Nguyễn Thị Nga;

- “Sự tác động của phong tục tập quán đến mức sinh và giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình ở

Hà Nội ,” Luận án phó tiến sỹ khoa học Triết học (Chuyên ngành Xã hội học),

Tác giả Nguyễn Quốc Triệu (1994); “ảnh hởng của t tởng phong kiến trong cán bộ lãnh đạo và phơng hớng khắc phục nó ,” Luận án tiến sỹ khoa học Triết

học, Tác giả Nguyễn Bình Yên; “Tâm lý sản xuất nhỏ ở đội ngũ cán bộ cơ sở hiện nay và phơng hớng khắc phục (Qua thực tế tỉnh Thái Bình) ,” Luận vănthạc sỹ Triết học, Tác giả Trần Sỹ Dơng (1997) … Thực tế ấy cho

Đã có không ít công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực tâm lý, ýthức con ngời, nhìn chung do yêu cầu mục đích của mỗi công trình, các tácgiả chủ yếu tập trung làm rõ những vấn đề lý luận chung cũng nh sự tác

động của lĩnh vực ý thức xã hội nói chung đối với tồn tại xã hội Tuy nhiên,việc nghiên cứu sự tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chínhsách dân số, hơn nữa coi sự tác động của tâm lý xã hội nh một trong nhữngnguyên nhân của sự gia tăng dân số nhanh ở Hải Dơng hiện nay vẫn cha đ-

ợc quan tâm đầy đủ Vì vậy, việc thực hiện đề tài này là nhiệm vụ cần thiết

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Nội dung của chính sách dân số rất rộng, luận văn chủ yếu đi sâu phântích một số tâm lý xã hội tác động trực tiếp tới nhận thức, tình cảm, thái độ vàhành vi của con ngời trong việc thực hiện chính sách dân số Hơn nữa, với quymô và tốc độ gia tăng dân số ở nớc ta hiện nay, luận văn chủ yếu tập trung vàotác động của tâm lý xã hội đến sự gia tăng dân số nhanh, việc sinh con thứ 3trở lên tăng “ bất thờng” và cản trở của tâm lý xã hội đối với việc thực hiệnmục tiêu nâng cao chất lợng dân số Đồng thời, những số liệu khảo sát, đánhgiá trong luận văn cũng chủ yếu đợc thực hiện ở tỉnh Hải Dơng

4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích:

Phân tích làm rõ tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiệnchính sách dân số ở nớc ta hiện nay (qua thực tế tỉnh Hải Dơng), từ đó đề xuấtmột số giải pháp nhằm khắc phục tác động tiêu cực của tâm lý xã hội trongviệc thực hiện chính sách dân số

* Nhiệm vụ:

Trang 4

Để đạt đợc mục đích trên, luận văn sẽ tập trung làm rõ:

- Vai trò của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số vànhững yếu tố tâm lý xã hội phổ biến tác động tới việc thực hiện chính sáchdân số ở nớc ta hiện nay

- Nghiên cứu, đánh giá tác động của tâm lý xã hội đối với việc thựchiện chính sách dân số ở Hải Dơng hiện nay, từ đó đề xuất một số giải phápcơ bản nhằm khắc phục tác động tiêu cực của tâm lý xã hội đối với việc thựchiện chính sách dân số ở nớc ta nói chung và Hải Dơng nói riêng

5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận:

Luận văn đã vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, ttởng Hồ Chí Minh về lĩnh vực ý thức xã hội, các quan điểm của Đảng Cộngsản Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện ý thức xã hội mới ở ViệtNam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

Luận văn có những đóng góp khoa học mới sau:

- Phân tích một cách có hệ thống tác động của tâm lý xã hội đối vớiviệc thực hiện CSDS ở nớc ta hiện nay (qua thực tế tỉnh Hải Dơng)

- Đề ra một số giải pháp cơ bản nhằm khắc phục tác động tiêu cực củatâm lý xã hội trong việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dơng hiện nay

7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định các chơngtrình, chính sách phát triển kinh tế- xã hội, cũng nh các mục tiêu, chơng trìnhdân số ở các địa phơng nói chung và tỉnh Hải Dơng nói riêng

- Tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong cácTrờng chính trị tỉnh, thành phố

- Giúp cho những ngời làm công tác quản lý lãnh đạo xã hội có thểnhận thức, đánh giá một cách đầy đủ hơn về tác động của tâm lý xã hội đốivới những lĩnh vực khác nhau của địa phơng mình

8 Kết cấu của luận văn

Trang 5

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 2 chơng, 6 tiết.

Chơng 1

Chính sách dân số và vai trò của Tâm lý xã hội

đối với việc thực hiện chính sách dân số

1.1 Chính sách dân số và quá trình thực hiện chính sách dân số ở nớc ta

1.1.1 Chính sách dân số

Trong sự phát triển của lịch sử xã hội, gia tăng dân số là một vấn đềmang tính khách quan, hợp quy luật Bởi vì, nó xuất phát từ những nhu cầu tựnhiên- sinh học của con ngời, tuy vậy nó cũng là một quá trình mang tính lịchsử- xã hội, nghĩa là nó cần phải đợc điều chỉnh Việc tác động, điều chỉnh cácquá trình dân số đợc thực hiện thông qua hàng loạt các chính sách xã hội,trong đó trớc hết và trực tiếp nhất là chính sách dân số Hiện nay, về chínhsách dân số cũng có nhiều quan niệm khác nhau

Quan điểm thứ nhất: Chính sách dân số là những chủ trơng và biện

pháp của đảng và nhà nớc nhằm điều tiết quá trình biến đổi dân số theo nhữngmục tiêu nhất định [19, tr.195] Quan điểm này mặc dù đã chỉ ra đợc bản chấtcủa chính sách dân số nhng vẫn còn khá chung chung

Quan điểm thứ hai: Theo quan niệm của nhóm cố vấn về chính sách

dân số thuộc Uỷ ban dân số của Hội đồng kinh tế và xã hội Liên hợp quốc:

Chính sách dân số là những biện pháp và những chơng trình đợc thiết kế

nhằm đóng góp vào việc đạt đợc mục tiêu kinh tế xã hội, dân số, chính trị, cácmục tiêu công cộng khác thông qua việc tác động đến các biến đổi dân sốquan trọng, cụ thể là quy mô, cơ cấu và sự phân bố dân số (trong phạm viquốc gia và quốc tế) và các đặc trng dân số của nó [20, tr.208-209] Với quan

điểm này chính sách dân số không chỉ tác động nhằm tái tạo, tăng giảm số ợng dân số mà còn có ý nghĩa tái tạo và hoàn thiện chất lợng dân c nhằm giảiquyết vấn đề dân số và phát triển Nh vậy, chính sách dân số không đồng nhấtvới việc hạn chế sinh đẻ, mặc dù với hầu hết các nớc trên thế giới hiện nay thìhạn chế sinh đẻ là nhiệm vụ trọng tâm của chính sách dân số ở một số nớcphát triển, có tỷ lệ gia tăng dân số thấp, thậm chí đang sụt giảm thì các biệnpháp u tiên và truyền thông dân số lại thể nhắm đến mục tiêu khuyến khíchsinh đẻ

Trang 6

l-Quan điểm thứ ba: Theo quan niệm của các nhà khoa học thuộc Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: “ Chính sách dân số là hệ thống các

biện pháp do nhà nớc tiến hành nhằm đạt đợc kiểu tái sản xuất dân số trong

t-ơng lai” [20, tr.207] Nh chúng ta đã biết, tái sản xuất dân số là sự lặp lại ờng xuyên quá trình vận động của dân số Trên thực tế có hai quan niệm về táisản xuất dân số: quan niệm về tái sản xuất dân số theo nghĩa hẹp và quanniệm tái sản xuất dân số theo nghĩa rộng Nếu mục tiêu và đối tợng tác động

th-là tái sản xuất dân số theo nghĩa hẹp thì ta có chính sách dân số theo nghĩahẹp, theo đó chính sách dân số chỉ tác động tới vận động tự nhiên (sinh sản, tửvong) và vận động cơ học (di dân theo lãnh thổ) Còn khi mục tiêu và đối tợngtác động là tái sản xuất theo nghĩa rộng, ta có chính sách dân số theo nghĩarộng nghĩa là chính sách dân số phải quan tâm tới cả 3 dạng vận động: vận

động tự nhiên, vận động cơ học và vận động xã hội (từ nhóm xã hội này sangnhóm xã hội khác hoặc nâng cao chất lợng của nhóm về mặt xã hội) Quanniệm thứ ba hiện nay đang đợc dùng phổ biến hơn cả, nó không chỉ phản ánh

đợc nội dung cơ bản của chính sách dân số mà còn cho thấy tính chất phongphú, đa dạng của chính sách dân số

Trớc đây, quan niệm phát triển thờng nghiêng về những tiêu chuẩnkinh tế- kỹ thuật thì ngày nay đang chuyển dần sang ý nghĩa phát triển xã hội,phát triển con ngời và phát triển bền vững Xem xét quan hệ dân số- phát triểnthực chất là nhìn nhận dân số theo quan điểm phát triển bền vững thông quavai trò của con ngời Dù quan niệm thế nào thì con ngời vẫn luôn đứng ở vị trítrung tâm của sự phát triển Phát triển con ngời một mặt phát huy đợc tiềmnăng của chính mỗi con ngời, mặt khác giúp cho việc khai thác và sử dụngmột cách có hiệu quả nhất các nguồn lực cho phát triển kinh tế- xã hội cũng

nh đảm bảo cho sự phát triển bền vững của các thế hệ tơng lai

Nh vậy, “sinh đẻ có hớng dẫn”, “ sinh đẻ có kế hoạch” hay “kế hoạchhóa gia đình” đều là biện pháp cơ bản để vơn tới mục tiêu cao hơn: mang lạicuộc sống ấm no, hạnh phúc cho từng ngời, từng gia đình và toàn xã hội Thựchiện tốt chính sách dân số là một trong những giải pháp cơ bản để đạt tới sựphát triển bền vững

Chính sách dân số là một bộ phận của chiến lợc phát triển toàn diệncủa mỗi quốc gia, là một trong những công cụ hữu hiệu để điều tiết quá trìnhvận động của dân số Trớc hết, nó điều tiết sự phát triển dân số hợp lý, đáp

Trang 7

ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội Chính sách dân số điều chỉnh quá trình

di c, nhập c, đảm bảo phân bố dân c và lao động hợp lý, phù hợp với điều kiện,

đặc điểm, tình hình phân bố của lực lợng sản xuất, tạo điều kiện phát triển sảnxuất, nâng cao năng suất lao động Việc thực hiện tốt chính sách dân số còngóp phần thúc đẩy quá trình phát triển giáo dục, y tế… Thực tế ấy cho đặc biệt là giải quyếttốt mối quan hệ giữa dân số với tài nguyên, môi trờng, hạn chế tệ nạn xã hộitừng bớc nâng cao chất lợng dân số, chất lợng cuộc sống… Thực tế ấy cho ở nớc ta hiện nay,việc thực hiện chính sách dân số suy cho cùng là việc hạn chế tỷ lệ gia tăngdân số nhanh, hạn chế tình trạng sinh con thứ 3 trở lên và thực hiện các mụctiêu nâng cao chất lợng dân số, chất lợng cuộc sống

Đối với chính sách dân số, quan trọng nhất vẫn là nhóm chính sách cóliên quan đến vấn đề sinh, tử và di dân bởi vì mọi sự biến đổi của dân số suycho cùng đều chịu ảnh hởng của 3 nhân tố này Theo một phép tính đơn giảnthì: Tăng dân số tự nhiên = Số sinh- số chết Vì vậy, việc sinh đẻ và các chínhsách tác động tới mức sinh có ý nghĩa quan trọng nhất, nhất là với những nớc

có tốc độ gia tăng dân số nhanh nh Việt Nam Đơng nhiên việc con ngờikhông ngừng nâng cao chất lợng cuộc sống, kéo dài tuổi thọ… Thực tế ấy cho làm cho mứcchết giảm đi và nh vậy thì vấn đề kiểm soát sự gia tăng dân số chỉ còn là vấn

đề kiểm soát mức sinh Tất nhiên, mức chết có ảnh hởng nhất định tới việc “gây áp lực dân số” song không thể coi việc “ làm gia tăng yếu tố này” nh mộtgiải pháp của giảm áp lực dân số đối với quá trình phát triển Đây cũng chính

là lý do vì sao trong phạm vi đề tài này tác giả chủ yếu đề cập tới tác động củatâm lý xã hội tới mức sinh và giải pháp khắc phục tác động của tâm lý xã hộitới mức sinh ở nớc ta hiện nay

1.1.2 Quá trình thực hiện chính sách dân số ở nớc ta

Chính sách dân số ở Việt Nam đã đợc Đảng và nhà nớc quan tâm từ rấtsớm Theo thời gian và dựa vào đặc điểm lịch sử của đất nớc, chúng ta có thểchia quá trình thực hiện chính sách dân số thành 3 thời kỳ cơ bản:

- Thời kỳ từ năm 1961 đến năm 1975:

Đây là thời kỳ đất nớc còn đang bị chia cắt, chính sách dân số mới chỉ

đợc thực hiện ở Miền Bắc xã hội chủ nghĩa Có thể nhận thấy ngay từ đầu,

Đảng và nhà nớc ta đã rất chú ý tới vấn đề dân số, quan tâm tới số lợng cũng

nh chất lợng dân số “ vì sức khỏe các bà mẹ, vì hạnh phúc và hòa thuận tronggia đình và để nuôi dạy con cái chu đáo” Mục tiêu của giai đoạn này là h ớngtới quy mô gia đình 3 con, đối tợng vận động chủ yếu là phụ nữ trong độ tuổi

Trang 8

sinh đẻ và đã đông con, trớc hết là nữ công nhân viên chức nhà nớc, trong cáclực lợng vũ trang, phạm vi thực hiện chính sách dân số tập trung ở thành thị,nông thôn đồng bằng Sông Hồng … Thực tế ấy cho kinh phí cho hoạt động dựa vào ngânsách nhà nớc cấp Kết quả là tốc độ gia tăng dân số có giảm nhng rất chậm,hiện tợng gia đình đông con khá phổ biến Quan niệm về chính sách dân số

nh thế còn rất hạn chế, nhìn chung mới chú ý đến quy mô dân số mà rất ítquan tâm tới vấn đề chất lợng dân số, chất lợng cuộc sống Với điều kiện đặcbiệt của lịch sử và ảnh hởng của cơ chế tập trung bao cấp lúc bấy giờ mà hiệuquả của việc thực hiện chính sách dân số cha cao

đình đợc xác định là vị trí quốc sách trong sự nghiệp phát triển đất nớc Vănkiện Đại hội Đảng lần thứ IV khẳng định: “ Mọi ngành, mọi cấp phải coi cuộc

vận động sinh đẻ có kế hoạch là công tác có tầm quan trọng to lớn, có ý nghĩa

chính trị kinh tế và xã hội góp phần tích cực vào việc nâng cao đời sống củanhân dân ta”

Quan điểm này tiếp tục đợc khẳng định tại Đại hội Đảng lần thứ V: “Phải quyết định và thi hành chính sách dân số đúng đắn, trong đó một côngviệc cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa chiến lợc kinh tế và xã hội, mà tất cả các tổchức Đảng và chính quyền các cấp phải hết sức quan tâm và trực tiếp chăm lo,

là tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch” [6, tr.72] Những nỗlực của cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch bớc đầu đã góp phần hạ thấp tỷ lệgia tăng dân số Số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đãgiảm từ 5,25 con năm 1975 xuống còn 3,85 con năm 1984

- Thời kỳ từ năm 1984 đến nay:

Do những khó khăn về kinh tế- xã hội, từ năm 1975 đến năm 1984chính sách dân số một lần nữa lại không đợc quan tâm đầy đủ Từ năm 1975

đến những năm 1983, 1984 tỷ lệ gia tăng dân số ở các tỉnh phía Nam khá cao,

ở các tỉnh phía Bắc việc thực hiện những mục tiêu dân số cũng tiến triển tơng

đối chậm, sự gia tăng dân số nhanh đã bắt đầu tạo sức ép không nhỏ lên sự

Trang 9

phát triển kinh tế xã hội Những mục tiêu của chính sách dân số nhìn chung

đều không thực hiện đợc Đứng trớc tình hình kinh tế xã hội khủng hoảng mộtcách nghiêm trọng, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, gia tăng dân sốnhanh… Thực tế ấy cho đòi hỏi chúng ta phải nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc hơn nữa

về tầm quan trọng của chính sách dân số và đẩy mạnh một bớc hiệu quả côngtác dân số Có thể coi đây là thời kỳ việc thực hiện chính sách dân số ở nớc ta

đã có những chuyển biến tích cực cả về nội dung, hình thức và cách thức tiếnhành Nhiều văn bản chính sách đã đợc ban hành, đáng chú ý là:

Quyết định số 58/ HĐBT ngày 11 tháng 4 năm 1984 của Hội đồng bộtrởng về việc thành lập Uỷ ban dân số và sinh đẻ có kế hoạch

Nghị quyết Hội nghị lần th t Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khóa VII

về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình tháng 1 năm 1993

Quyết định số 270/ TTg ngày 3 tháng 6 năm 1993 của Thủ TớngChính phủ về chiến lợc dân số và kế hoạch hóa gia đình đến năm 2000

Quyết định số 147/ QĐ- TTg ngày 22 tháng 12 năm 2000 về chiến lợcdân số Việt Nam 2001- 2010

“Pháp lệnh Dân số” đợc Uỷ ban Thờng vụ quốc hội nớc Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 9 tháng 1 năm 2003.Trong

đó chỉ rõ:

Thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, tiến tới ổn định quy môdân số ở mức hợp lý để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nâng caochất lợng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lợng cao đáp ứngnhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần vào sự phát triểnnhanh và bền vững đất nớc [65, tr.11]

Nghị quyết số 47- NQ/ TW ngày 22 tháng 3 năm 2005 của Bộ chínhtrị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định: “ Thực hiện tốtcác chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình Giảm tốc độ tăng dân số.Tiếp tục duy trì kế hoạch giảm sinh và giữ mức sinh thay thế, bảo đảm quy mô

và cơ cấu dân số hợp lý, nâng cao chất lợng dân số” [11, tr.103]

Thời kỳ này đã đánh dấu sự thay đổi căn bản nhận thức và hành độngcủa Đảng và nhà nớc ta về chính sách dân số Vị trí quốc sách của chính sáchdân số tiếp tục đợc khẳng định trong văn kiện của hầu hết các đại hội Đảng vàtrong nhiều chính sách phát triển kinh tế- xã hội khác Việc thực hiện CSDSnhững năm gần đây ở nớc ta đã đạt đợc những thành tựu to lớn

Trang 10

1.1.3 Những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện chính sách dân số ở nớc ta những năm gần đây

1.1.3.1 Thành tựu

Việc thực hiện chính sách dân số ở nớc ta đã có một quá trình lâu dàivới nhiều thành tựu và kinh nghiệm vô cùng quý báu Đến nay, có thể đánhgiá thành tựu trong việc thực hiện chính sách dân số ở nớc ta thời gian qua,nhất là những năm gần đây với các mặt cụ thể nh sau:

Thứ nhất, về mức sinh, tốc độ gia tăng dân số cơ bản đã đợc kiểm soát,

điều này đợc chứng minh thông qua mức sinh liên tục giảm trong nhiều nămgần đây Kết quả giảm sinh đã đạt đợc sớm hơn so với dự kiến Mục tiêu của "Chiến lợc DS- KHHGĐ đến năm 2000" là " giảm cho đợc tổng tỷ suất sinhxuống mức 2,9 con hoặc thấp hơn, quy mô dân số dới mức 82 triệu ngời vàonăm 2000 để đạt mức sinh thay thế vào năm 2015" Thực tế đã chứng minhrằng, những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX tỷ lệ sinh không giảm, hoặc

giảm rất chậm thì từ năm 1993 trở lại đây, tức là từ khi thực hiện Chiến lợc dân số đến năm 2000, tổng tỷ suất sinh đã giảm khá nhanh, từ 3,8 con vào

năm 1989 xuống 2,67 con vào thời kỳ 1992- 1996 và còn khoảng 2,3 con vàonăm 1999 Quy mô dân số ở mức 78 triệu ngời vào giữa năm 2000 Kết quảnày đã tạo cơ sở để chúng ta có thể đạt mức sinh thay thế chậm nhất vào năm

2005, sớm hơn 10 năm so với dự kiến [65, tr.2] Từ những thành công nổi bật

đó, Việt Nam đã vinh dự đợc Tổ chức Liên hợp quốc trao giải thởng Dân sốvào năm 1999

Thứ hai, về cơ bản đã thống nhất đợc nhận thức và hành động của toàn

xã hội về tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách dân số Hầu hết các tổchức Đảng, chính quyền đã coi công tác dân số là bộ phận quan trọng trongchiến lợc phát triển kinh tế- xã hội.Với sự tích cực hởng ứng và tham gia củacác tổ chức Đảng, chính quyền các cấp, các ban ngành và đoàn thể, bớc đầuchúng ta đã tạo đợc những cơ sở cho việc thay đổi hành vi một cách bền vững,hạn chế đợc tác động tiêu cực của tâm lý xã hội Trong xã hội, quan niệm vềhôn nhân, sinh đẻ đã có những chuyển biến tích cực ngày càng nhiều ngời có

ý thức kết hôn muộn, đẻ ít con, nuôi con khỏe mạnh

Thứ ba, công tác thông tin- giáo dục- truyền thông từng bớc đợc đẩy

mạnh Nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng đối với công tác dân số đã

có sự chuyển biến đáng kể Các hoạt động truyền thông mang tính đa dạng,nhiều chiều, nội dung phong phú Đặc biệt đã có sự quan tâm chú ý tới từng

Trang 11

nội dung, từng đối tợng cụ thể để có những phơng pháp phù hợp, hiệu quả.Truyền thông dân số đã đợc lồng ghép vào các nội dung tuyên truyền, giáodục, các chơng trình chính sách phát triển

Thứ t, hệ thống những quan điểm, chủ trơng chính sách của Đảng và

nhà nớc ta cùng với thời gian đã từng bớc đợc bổ sung, phát triển hoàn thiện

và ngày càng thể hiện tính đúng đắn, hiệu quả, sát với tình hình thực tế hơn.Mục tiêu và các giải pháp của chiến lợc dân số- kế hoạch hóa gia đình nhìnchung là phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của đất nớc, cơ chế quản lý dân

số theo chơng trình mục tiêu đợc định hình và đang phát huy tác dụng Có thểkhẳng định rằng: Những chính sách đợc ban hành nếu đáp ứng đợc sự mongmỏi của nhân dân, xuất phát từ những cơ sở thực tiễn khách quan thì đều tạo

ra đợc sự đồng thuận cao trong xã hội, phát huy đợc sức mạnh của đông đảonhân dân và đợc thực hiện một cách có hiệu quả

Ngoài những thành tựu cơ bản nêu trên, cũng cần phải kể tới thànhcông đó là chúng ta đã tạo dựng đợc một bộ máy tổ chức và mạng lới những ng-

ời làm công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình rộng khắp từ trung ơng tới cơ sở.Trình độ những ngời làm công tác dân số đợc nâng lên rõ rệt, nhất là đối với độingũ cán bộ chuyên trách Trang thiết bị đợc tăng cờng, hoạt động nghiên cứukhoa học, nghiên cứu thực tiễn đợc quan tâm Chất lợng dịch vụ kế hoạch hóa gia

đình cơ bản đã đáp ứng đợc những yêu cầu của ngời sử dụng hiện nay Vớinhững thành tựu nh vậy, có thể nói Việt Nam đã tạo dựng đợc những cơ sởmấu chốt nhất cũng nh môi trờng xã hội thuận lợi cho việc triển khai các ch-

ơng trình, chính sách dân số những năm tiếp theo

1.1.3.2 Những hạn chế

Do chúng ta cha nhận thức đợc hết tính chất khó khăn, phức tạp và lâudài của công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình, ở một số nơi đã có những dấuhiệu của sự chủ quan, thỏa mãn với những thành tích bớc đầu trong công tácdân số- kế hoạch hóa gia đình Có không ít địa phơng, chính quyền và cơ quanchức năng đã thể hiện sự thiếu kiên quyết trong khâu tổ chức thực hiện Chínhvì vậy, công tác dân số cũng bộc lộ một số hạn chế Những hạn chế tiêu biểu

có thể kể ra đó là:

Một là, quy mô dân số nớc ta vẫn ở mức cao và đang không ngừng

tăng lên Đây đã và sẽ tiếp tục là thách thức lớn đối với sự phát triển của ViệtNam Theo thống kê của các tổ chức liên hợp quốc dân số Việt Nam hiện

đang xếp thứ ba ở Đông Nam á (đứng sau In- đô- nê- xia và Phi- Líp- Pin) và

Trang 12

thứ 14 trên thế giới Dự báo số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sẽ tăng từ 21,1triệu ngời năm 2000 lên 25,5 triệu vào năm 2010 Việt Nam lại là một nớc cócơ cấu dân số trẻ, do vậy có thể nói tiềm năng sinh đẻ còn rất lớn Trong nhiềunăm tới, cho dù mức sinh tiếp tục giảm song dân số tiếp tục tăng mỗi nămkhoảng từ 1 đến 1,1 triệu ngời Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia cómật độ dân số cao trong khu vực và trên thế giới

Hai là, mức sinh ở một số nơi vẫn còn ở mức cao và sự chênh lệch về

mức sinh giữa các vùng còn khá lớn, có khi lên tới từ 1,1 đến 1,9 lần Việcgiảm sinh diễn ra cha đồng đều Từ năm 2000 mức sinh giảm sinh đã chữnglại và không đạt chỉ tiêu quốc hội giao là giảm tỷ lệ sinh là 5%o mỗi năm Kếtquả thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình giảm sút Trong nhữngnăm 2003 và 2004 tỷ lệ sinh con thứ 3 tăng mạnh trở lại Đặc biệt năm 2003,

sự tăng đột biến của việc sinh con thứ 3 đã kéo theo tỷ lệ phát triển dân số từ1,32% vào năm 2002 lên 1,47% năm 2003 [20, tr 211- 213]

Ba là, một thời gian dài chúng ta đã quá chú trọng tới mục tiêu giảm

sinh mà cha thực sự quan tâm tới chất lợng dân số, chất lợng cuộc sống Chínhsách dân số còn thể hiện sự mất cân đối Chất lợng dân số, chất lợng cuộcsống cha đáp ứng đợc yêu cầu về nguồn nhân lực có chất lợng cao cho thời kìcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc Các tố chất về thể lực của con ngờiViệt Nam nh chiều cao, cân nặng và sức bền còn hạn chế

Bốn là, bộ máy quản lý dân số ra đời muộn, cha ổn định, trình độ của

đội ngũ quản lý, triển khai chơng trình còn hạn chế, điều này thể hiện cả vềtrình độ khoa hoa học cơ bản, hiểu biết pháp luật cũng nh trình độ chuyênmôn nghiệp vụ Thực tế đã có không ít những nơi tổ chức Đảng, chínhquyền, đoàn thể và ngay cả những cán bộ chuyên trách đã hết sức lúng túngtrớc những vấn đề cụ thể và thực tiễn đặt ra, ví dụ nh việc xử lý vấn đề sinhcon thứ 3 trong thời gian qua Điều này cũng phần nào cho thấy về năng lực

dự báo, lập kế hoạch và xử lý tình huống của đội ngũ cán bộ còn yếu Việclồng ghép các yếu tố dân số vào quá trình hoạch định chính sách, lập kếhoạch cha đáp ứng đợc những yêu cầu của tình hình mới Không ít ngời dânvẫn thể hiện sự “ thờ ơ”, thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện chính sáchdân số

Tóm lại, nâng cao hiệu quả công tác dân số, phấn đấu vì mục tiêu

giảm sinh mà trớc hết là hạn chế tình trạng sinh con thứ 3 hiện nay là mộtyêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài Việc thực hiện tốt chính sách dân số sẽ

đem lại lợi ích to lớn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội và tạo điều kiện

Trang 13

cho sự phát triển toàn diện con ngời Mặt khác, nếu chính sách dân số đúng

đắn, phù hợp với tâm t nguyện vọng của nhân dân, đảm bảo sự kết hợp vàtác động cùng chiều cũng nh khai thác đợc những yếu tố truyền thống, tâm

lý xã hội tích cực thì hoàn toàn có thể thu đợc những kết quả mong đợi

1.2 Tâm lý xã hội và vai trò của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nớc ta hiện nay

1.2.1 Tâm lý xã hội trong đời sống tinh thần xã hội

Đời sống của con ngời đợc chia thành nhiều lĩnh vực hoạt động Hoạt

động tinh thần của đời sống xã hội là một trong những lĩnh vực hoạt động cơbản Trong đời sống tinh thần của con ngời thì tâm lý xã hội lại có một vị tríhết sức quan trọng

ý thức xã hội bao gồm những t tởng, quan điểm, lý luận cùng những

tình cảm, tâm trạng, truyền thống của một cộng đồng ngời phản ánh tồn tại xãhội của họ [21, tr.165]

ý thức xã hội là một bộ phận thuộc đời sống tinh thần của xã hội, phản

ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định theo những cáchthức khác nhau và biểu hiện bằng những hình thái ý thức xã hội cụ thể nh: ýthức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo… Thực tế ấy choTrong đó

ý thức xã hội không chỉ đợc tồn tại dới dạng lý luận và quan điểm xã hội màcòn tồn tại nh là những trạng thái của tình cảm, xúc cảm, thói quen, tập quánCăn cứ góc độ xem xét và với những tiêu chí khác nhau ng

những cách phân chia ý thức xã hội thành những cấp độ khác nhau

Thông thờng, căn cứ vào trình độ phản ánh ngời ta phân chia kết cấu ý

thức xã hội bao gồm ý thức xã hội thông thờng và ý thức lý luận ở trình độ ý

thức xã hội thông thờng, tâm lý xã hội là bộ phận chủ yếu, còn trong ý thức lýluận bộ phận chủ yếu đó là hệ t tởng

Triết học Mác- Lênin khẳng định: Tâm lý xã hội bao gồm những tình

cảm, tâm trạng, ý thích, mong muốn, cả những tập quán, truyền thống.v.v đợchình thành một cách tự phát dới ảnh hởng trực tiếp của điều kiện sinh sốnghàng ngày [21, tr.167]

Là một phơng thức tồn tại của ý thức xã hội, tâm lý xã hội không tồntại độc lập nh một thành phần trong kết cấu của ý thức xã hội Nó có mặttrong tất cả các hình thái của ý thức xã hội: ý thức chính trị, ý thức phápquyền, ý thức đạo đức, ý thức thẩm mĩ … Thực tế ấy cho

Trang 14

Tâm lý xã hội và hệ t tởng đều là sự phản ánh tồn tại xã hội và chịu sựquy định của tồn tại xã hội Tuy vậy, về cơ bản thì tâm lý xã hội thuộc cấp độthấp của ý thức xã hội Tâm lý xã hội là một bộ phận của ý thức xã hội thôngthờng nhng nó lại có vị trí rất quan trọng Nếu coi tâm lý xã hội là cấp độ thấpcủa ý thức xã hội để rồi coi nhẹ tâm lý xã hội là hết sức sai lầm Giữa tâm lýxã hội và hệ t tởng, giữa tình cảm và lý trí, giữa tri thức và nhiệt tình cáchmạng luôn có sự thống nhất và sự tác động qua lại lẫn nhau Trong nhiều tr-ờng hợp sức mạnh của t tởng chỉ trở thành sức mạnh hiện thực khi nó kết hợpvới yếu tố tâm lý và có sức mạnh lâu bền khi nó đi vào tập quán Bản thân t t-ởng không có thể tạo ra những bớc ngoặt của lịch sử nếu nh không có hoạt

động của con ngời với ngọn lửa của lòng nhiệt tình cách mạng Tình cảm, xúccảm thúc đẩy con ngời hoạt động, giúp con ngời vợt qua những khó khăn.Thành công của bất kỳ hoạt động nào của con ngời phụ thuộc rất nhiều vàothái độ của con ngời đối với hoạt động đó Nếu cuộc sống của chúng ta thiếu

đi những tình cảm, xúc cảm, lòng nhiệt tình và quyết tâm của mỗi con ngời thì

có lẽ trớc đây, hiện nay và cả mai sau sẽ không có và cũng không thể có sựtìm kiếm của con ngời về chân lý Nhng nếu chúng ta thiếu sự hiểu biết khoahọc về nó, cờng điệu hóa vai trò của tâm lý xã hội thì cũng dễ dẫn đến nhữnghậu quả tai hại

Phản ánh những điều kiện sinh hoạt vật chất của con ngời một cáchtrực tiếp, vì vậy, biểu hiện của tâm lý xã hội trong đời sống xã hội rất phongphú đa dạng, phức tạp Nhìn chung thì tâm lý xã hội mang nhiều dấu ấn chủquan nh tâm trạng, xúc cảm ở tâm lý xã hội yếu tố trí tuệ còn đan xen vớiyếu tố tình cảm Mặt khác, tâm lý xã hội thờng có tính phổ biến, mang tính “lây lan” nhanh, dễ thâm nhập vào quần chúng

Cũng phải thấy rằng, tâm lý xã hội bên cạnh những u điểm còn cónhững hạn chế nhất định Thực tế cho thấy, tâm lý xã hội thờng có tính bảothủ rất lớn, nhất là khi nó đã ăn sâu vào đầu óc con ngời và trở thành thóiquen, tập quán… Thực tế ấy choNó thờng lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội, tức là nó có thểtồn tại lâu hơn khi những cơ sở kinh tế- xã hội nảy sinh ra nó đã biến đổi hoặckhông còn nữa Hơn nữa, tâm lý xã hội thờng mới chỉ dừng lại ở sự phản ánh

bề ngoài của tồn tại xã hội, do vậy cha sâu sắc và ít nhiều mang tính cảm tính.Tâm lý xã hội khó có khả năng vạch ra đầy đủ, rõ ràng những mối liên hệ bảnchất của tồn tại xã hội Đồng thời nó còn mang nặng tính kinh nghiệm và hạnchế về tính sáng tạo Mặt khác, tâm lý xã hội thờng ăn sâu vào đầu óc con ng-

Trang 15

ời nên những yếu tố bảo thủ, lạc hậu lại có “ khả năng” trở thành lực cản “ ghêgớm” đối với sự phát triển kinh tế- xã hội

ở các xã hội có giai cấp, tâm lý xã hội cũng mang tính giai cấp Mỗigiai cấp có những điều kiện sinh hoạt vật chất khác nhau mà hình thành nênnhững nét tâm lý khác nhau, thậm chí đối lập nhau Các học giả của giai cấpthống trị thờng phủ nhận tính giai cấp của ý thức xã hội nói chung và tâm lýxã hội nói riêng Trái lại, triết học Mác- Lênin một mặt khẳng định tính phổbiến của tâm lý xã hội nhng mặt khác cũng không phủ nhận tính giai cấp của

nó Triết học Mác- Lênin còn khẳng định những tầng sâu của tâm lý xã hộitrong từng giai cấp C.Mác và Ph ăngghen viết: “ Giai cấp nào chi phốinhững t liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những t liệu sản xuấttinh thần, thành thử nói chung t tởng của những ngời không có t liệu sản xuấtvật chất cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối [29, tr.66]

Tâm lý xã hội không chỉ mang tính giai cấp mà tâm lý xã hội còn baogồm những đặc điểm tâm lý dân tộc

Tâm lý dân tộc là những đặc điểm về tình cảm, ý chí, tập quán, tính

tình, thị hiếu… Thực tế ấy cho ợc hình thành do ảnh hởng của những điều kiện lịch sử, kinh, đ

tế, chính trị, văn hóa xã hội và cả những điều kiện tự nhiên trong quá trìnhphát triển lâu dài của một dân tộc Những đặc điểm tâm lý dân tộc ăn sâu vàotâm t, tình cảm của các tầng lớp nhân dân lao động và truyền từ thế hệ nàysang thế hệ khác và trở thành phong tục tập quán nên những đặc điểm của tâm

lý dân tộc thờng tơng đối ổn định Tất nhiên, những thay đổi có tính bớc ngoặttrong điều kiện lịch sử, trong sinh hoạt chính trị, xã hội của một dân tộc cũng

có thể dẫn tới những thay đổi nhất định trong tâm lý xã hội của dân tộc đó

Trong xã hội có giai cấp, tâm lý dân tộc và tâm lý giai cấp có mối lên

hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và tạo ra cuộc đấu tranh t tởngrất phức tạp Cũng nh toàn bộ ý thức của giai cấp thống trị, những đặc điểmtâm lý xã hội của giai cấp thống trị chi phối cả tâm lý dân tộc và tâm lý xã hộicủa các giai cấp khác Hơn nữa, tâm lý của các giai cấp trong xã hội khôngtồn tại một cách cô lập mà trong mối quan hệ với nhau Đề cập về ảnh hởngcủa tâm lý của các giai cấp trong lịch sử đối với tâm lý của giai cấp côngnhân, V.I Lênin viết:

Họ (tức những ngời sản xuất nhỏ) bao quanh giai cấp vô sản từmọi phía bằng một bầu không khí tiểu t sản, làm cho giai cấp vô sản

Trang 16

bị tiêm nhiễm, bị hủ hóa, luôn làm cho giai cấp vô sản tái phạmnhững tính xấu cố hữu của giai cấp tiểu t sản nh: tính nhu nhợc, tảnmạn, chủ nghĩa cá nhân [25, tr.46]

Trong chủ nghĩa xã hội, tâm lý dân tộc và tâm lý giai cấp có sự thốngnhất với nhau, nó xuất phát từ sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giaicấp chứ hoàn toàn không xuất phát từ một mong muốn chủ quan nào ở đóluôn diễn ra đồng thời quá trình: khai thác, phát triển những yếu tố tích cựccủa tâm lý dân tộc và đấu tranh để xóa bỏ những tàn d tâm lý lạc hậu, phản

động của các giai cấp thống trị bóc lột cũng nh của những ngời sản xuất nhỏ

đã và đang là những lực cản đối với sự nghiệp xây dựng xã hội mới

Tâm lý xã hội cũng có mối quan hệ chặt chẽ với tâm lý cá nhân Tâm

lý cá nhân là sự phản ánh những điều kiện sinh hoạt vật chất của các cá nhân

ở những mức độ khác nhau

Tâm lý cá nhân là toàn bộ thế giới chủ quan của một cá nhânphản ánh thế giới khách quan (chủ yếu là quan hệ xã hội) thôngqua điều kiện sống, hoạt động và thể nghiệm của bản thân Nó là

sự thống nhất giữa thế giới khách quan và thế giới chủ quan, là sựthống nhất giữa cái chung, cái đặc thù và cái rêng trong một cánhân [48, tr.142]

Tâm lý cá nhân thể hiện thế giới tinh thần của những con ngời riêngbiệt, cụ thể Tuy nhiên tâm lý cá nhân không thể không mang tính xã hội, bởivì cái cá nhân chỉ tồn tại và biểu hiện sự tồn tại của mình trong xã hội hay làtrong mối quan hệ với những cá nhân khác Triết học Mác- Lênin khẳng định:

“Xã hội … Thực tế ấy cho là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa ngời với ngời” và “Lịch

sử xã hội của ngời ta bao giờ cũng chỉ là lịch sử phát triển cá nhân của họ”[35, tr.788- 789] Sự hình thành hệ thống cấu trúc tâm lý trọn vẹn trong mỗi cánhân làm cho mỗi cá nhân có nhân cách riêng, có sức mạnh riêng trong nhậnthức và cải tạo thế giới hiện thực

Tâm lý cá nhân chịu ảnh hởng trực tiếp của tâm lý xã hội Tất nhiên,nói nh vậy không có nghĩa là tâm lý xã hội và tâm lý cá nhân không có sựkhác biệt Tâm lý cá nhân không phải bao giờ cũng thể hiện đầy đủ quan

điểm, t tởng, tình cảm phổ biến của một cộng đồng, một tập đoàn xã hội, mộtthời đại xã hội Mặt khác, tâm lý xã hội không phải là tồn tại chung chung,trừu tợng mà tâm lý xã hội bao giờ cũng tồn tại trong tâm lý cá nhân, thôngqua tâm lý cá nhân Sự thâm nhập của tâm lý xã hội trong tâm lý cá nhân sẽ

Trang 17

quyết định tính phổ biến cũng nh vai trò của tâm lý xã hội trong đời sống xãhội

Sự tác động của tâm lý xã hội đối với tồn tại xã hội là sự tác độngthông qua tâm lý cá nhân, trên cơ sở đó hình thành những tình cảm, ớc muốn,thói quen và định hớng và điều chỉnh hành vi của con ngời Nếu quá nhấnmạnh điều kiện sinh sống cụ thể của mỗi cá nhân, thổi phồng những nét riêngbiệt thì không thể hiểu đợc bản chất đời sống tinh thần của cá nhân, dẫn đếnmơ hồ, lệch lạc trong việc đánh giá nhận thức và hoạt động của cá nhân Ngợclại, nếu chỉ chú ý tới mặt xã hội mà coi nhẹ đặc điểm tâm lý riêng biệt củatừng cá nhân thì cũng dẫn đến chủ quan, giản đơn trong việc xem xét tâm lýcá nhân, do đó sẽ không thể giải thích đợc một thực tế là cùng sống trong một

điều kiện sinh hoạt vật chất nhất định nhng những tình cảm, suy nghĩ và hành

động của con ngời lại có thể khác nhau Mối quan hệ này đợc thể hiện trongtất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

1.2.2 Những xu hớng biến đổi cơ bản của tâm lý xã hội và vai trò của nó trong việc thực hiện chính sách dân số

1.2.2.1 Những xu hớng biến đổi của tâm lý xã hội

Trong giai đoạn hiện nay, những biểu hiện và những xu hớng biến đổicủa tâm lý xã hội ở Việt Nam là rất phức tạp, nhiều chiều

Xu hớng thứ nhất mang tính chủ đạo là quá trình hình thành những yếu

tố tâm lý xã hội mới Đây là xu hớng tất yếu của sự phát triển Sự ra đời củatâm lý xã hội mới trên cơ sở đó là sự chuyển biến của những tâm lý xã hội cũsang tâm lý xã hội mới đồng thời nó còn là sự phản ánh những điều kiện sinhhoạt vật chất đang nảy sinh và phát triển Sự hình thành những tâm lý xã hộimới này góp phần to lớn vào quá trình nâng cao đời sống tinh thần của con ng-

ời, tạo điều kiện cho việc phát huy tính năng động tự chủ, thúc đẩy tính tự giáccủa mỗi cá nhân, từ đó đẩy xã hội phát triển

Chuyển biến mạnh mẽ trong lĩnh vực tâm lý xã hội ở nớc ta hiện nay

là kết quả trực tiếp của những thay đổi về nhu cầu và các quan hệ lợi ích.Những thành tựu kinh tế xã hội của hơn 20 năm đổi mới một mặt đã tạo điềukiện đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu thiết yếu của con ngời, mặtkhắc nó cũng làm nảy sinh ra những nhu cầu mới Đồng thời, những quan hệlợi ích trong xã hội cũng có những thay đổi đáng kể, trong đó lợi ích cá nhânngày càng đợc quan tâm Do tác động của các yếu tố kinh tế- xã hội và vănhóa, trình độ dân trí và trình độ nhận thức của con ngời đợc nâng cao, ngời

Trang 18

dân có điều kiện để lựa chọn những giá trị mới phù hợp để tạo sự tơng đồngvới nhau hình thành một hệ giá trị chuẩn mực tiến bộ Trong phơng thức thừanhận và lựa chọn hệ giá trị chuẩn mực, yếu tố lý trí sẽ không ngừng tăng lên

so với yếu tố tình cảm, điều này làm cho hệ giá trị mới mang tính thực tế hơn.Lối sống mới đã và đang làm biến đổi những quan niệm về đạo đức, tình cảm

và hành vi ứng xử giữa các cá nhân, tác phong công nghiệp đang dần thay thếcho lối sống tùy tiện, lạc hậu, trì trệ Dới tác động của hệ thống quản lý mới

và sự hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật, ý thức pháp luật của ngời dân đợchình thành đầy đủ hơn, chính vì vậy mà vai trò và tác động (nhất là tác độngtiêu cực) của tâm lý truyền thống cũng giảm bớt

Xu hớng thứ hai là sự tồn tại dai dẳng của những tâm lý xã hội bảo thủ,

lạc hậu đã và đang là những lực cản to lớn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội.Nảy sinh trên cơ sở một nền nông nghiệp lạc hậu, trì trệ, sản xuất nhỏ vàmanh mún, tâm lý xã hội của con ngời Việt Nam chịu ảnh hởng khá sâu sắccủa tâm lý xã hội truyền thống với những đặc trng bảo thủ, trì trệ, khép kín… Thực tế ấy cho

Có thể nói, do những đặc điểm lịch sử và dân tộc, chế độ quốc hữu hóaruộng đất và sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn đã làm cho sự pháttriển của xã hội Việt Nam nói chung có tính chất “ tiệm tiến” mà không cónhững bớc tiến mang tính nhảy vọt Trong lịch sử phát triển ấy, sự phân biệtcủa các phơng thức sản xuất không biểu hiện một cách rõ rệt Sự kết hợp giữathủ công nghiệp với nông nghiệp trong khuôn khổ công xã nông thôn làm cho

nó có “ khả năng” cung cấp những sản phẩm tiêu dùng thiết yếu của con ngờitrong khuôn khổ của “ văn minh nông nghiệp” Cơ cấu kinh tế giản đơn, tựcung tự cấp đã tạo ra cho công xã nông thôn một sức sống tơng đối ổn định vàlâu dài

Công xã nông thôn có ảnh hởng lớn tới cả cơ cấu kinh tế, xã hội, vănhóa và t tởng con ngời Việt Nam Làng xã cổ truyền là nơi nơi lu giữ, bảo tồnbản sắc văn hóa dân tộc thông qua các phong tục, tập quán, lễ hội truyềnthống… Thực tế ấy cho Tuy nhiên, tác động tiêu cực của nó cũng không nhỏ, đó là sự duy trìlâu dài nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, làm cho làng xã trở thành những

đơn vị kinh tế khép kín, cản trở sự phát triển của sở hữu t nhân, hạn chế sựphát triển của công nghiệp, quan hệ hàng hóa- tiền tệ Trong môi trờng kinhtế- xã hội đó cá nhân bị hòa tan vào cộng đồng, bị trói buộc trong những mốiquan hệ cổ truyền, chính vì thế mà cá nhân khó có cơ hội phát triển Việc đềcao vai trò của đời sống tình cảm, luân lý, đạo đức đã không chỉ làm hạn chế

Trang 19

lý trí của con ngời mà còn làm cho con ngời luôn bị “ giam hãm” trong cáclàng xã- công xã với vô vàn những tập tục từ ngàn xa, làm con ngời bị giảmthiểu nhu cầu, mất hết tính chủ động sáng tạo Những t tởng, tình cảm, đạo

đức, lối sống cũ cũng vì thế mà luôn có một sức sống lâu bền và một vị trí đặcbiệt trong xã hội Khi phân tích về sự thống trị của Anh ở ấn Độ, đề cập đếncông xã nông thôn, C Mác viết:

Những công xã nông thôn thơ mộng ấy, dầu cho chúng có vôhại nh thế nào chăng nữa, bao giờ cũng vẫn là cơ sở bền vững củachế độ chuyên chế phơng Đông, rằng những công xã ấy đã hạn chế

lý trí của con ngời trong những khuôn khổ chật hẹp nhất, làm cho nótrở thành công cụ ngoan ngoãn của mê tín, trói buộc nó bằng nhữngxiềng xích nô lệ của những quy tắc cổ truyền, làm cho nó mất hết sự

vĩ đại, mọi tính chủ động lịch sử [32, tr.177]

Những tâm lý này về cơ bản đã hết vai trò lịch sử của nó, nhng vìnhững lý do nào đó mà nó vẫn tồn tại Những tâm lý xã hội này cần phải từngbớc đợc xóa bỏ Cũng phải nhấn mạnh rằng, để xóa bỏ những tâm lý xã hộinày phải trải qua một quá trình lâu dài, khó khăn

Xu hớng thứ ba là sự kết hợp, đan xen giữa những yếu tố tâm lý xã hội

cũ và mới Đây là xu hớng cần lu tâm, nhất là đối với việc thực hiện chínhsách dân số Bởi vì, nếu chỉ cần một tác động nào đó (ví dụ nh chính sách, luậtpháp hay nhận thức của chủ thể hoạt động… Thực tế ấy cho) những tâm lý này có thể chuyểnbiến theo hớng tích cực, nhng cũng có thể chuyển biến theo hớng hoàn toànngợc lại, nhất là khi những yếu tố tâm lý xã hội cũ đợc khơi dậy Thực tế đãchứng minh, tâm lý xã hội bảo thủ, lạc hậu không tự mất đi và cũng khôngmất đi ngay lập tức, trái lại nó có thể tồn tại trong một giai đoạn lịch sử nhấtdới những hình thức khác nhau Một yếu tố tâm lý xã hội nào đó, mặc dù bảothủ, lạc hậu nhng nếu bằng cách này hay cách khác đã tìm đợc cho mình mộtkhả năng thích ứng với những điều kiện mới thì nó có thể “ bùng lên” mạnh

mẽ và tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế- xã hội là vô cùng to lớn

Những xu hớng biến đổi của tâm lý xã hội cho thấy những mâu thuẫntrong việc thừa nhận và lựa chọn hệ giá trị chuẩn mực cũng nh sự phân hóatrong đời sống tâm lý tình cảm của con ngời Việt Nam hiện nay Từ những xuhớng vận động hết sức phức tạp, đan xen của tâm lý xã hội ở nớc ta hiện nay

mà sự tác động của tâm lý xã hội đối với những cơ sở kinh tế- xã hội đã làm

Trang 20

nảy sinh ra chúng cũng rất phong phú, đa dạng Vai trò của tâm lý xã hội đốivới sự phát triển xã hội phụ thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụthể, vào tính chất của các mối quan hệ kinh tế trên cơ sở đó mà tâm lý xã hộinảy sinh, vào mức độ phản ánh đúng đắn của tâm lý xã hội đối với những nhucầu phát triển xã hội và mức độ mở rộng của t tởng trong quần chúng.

1.2.2.2 Vai trò của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số

Trong việc thực hiện chính sách dân số ở nớc ta hiện nay, sự tác độngcủa tâm lý xã hội thể hiện rõ nét trên cả hai phơng diện: tác động tích cực vàtác động tiêu cực Nói cách khác, đó là sự tác động có tính chất đan xen, giữanhững tác động tiêu cực và những tác động tích cực không có một gianh giớituyệt đối Điều này vừa biểu hiện nh một mâu thuẫn bên trong, vừa biểu hiệntính chất hai mặt của tâm lý xã hội Có thể đứng trên nhiều góc độ để xem xét

sự tác động của tâm lý xã hội trong việc thực hiện chính sách dân số Vềnhững tác động của tâm lý xã hội trong việc thực hiện chính sách dân số, cụthể là vào quan niệm và quyết định sinh con, theo Tiến sỹ Nguyễn Thị Nga là

“ khá lặng lẽ nhng sâu sắc, âm thầm nhng dẻo dai, không ồn ào nhng cũngkhông kém phần quyết liệt” [41, tr.69] Cũng theo Tiến sỹ Nguyễn Thị Ngathì mọi hành vi của con ngời đều phản ánh thái độ và quan niệm của chính họ;tức là dù thừa nhận hay không thừa nhận thì quan niệm và thái độ của con ng-

ời cũng chi phối những hành vi của họ, mà quan niệm và thái độ của con ng ời

có đợc xét đến cùng đều xuất phát từ vấn đề nhận thức của họ Nh vậy thì sựtác động của tâm lý xã hội phụ thuộc vào sự thâm nhập, chuyển hóa của tâm

và cũng gây ra nhiều tác động không tốt đối với sự phát triển xã hội song vấn

đề lại nằm ở năng lực khai thác và mục đích sử dụng của chủ thể Vai trò củatâm lý xã hội trong việc thực hiện chính sách dân số ở nớc ta hiện nay thể hiện

ngay trong những tác động của tâm lý xã hội tới nhận thức, tình cảm, thái độ

và hành vi

… và hành vi của cá nhân trong việc thực hiện chính sách dân số

Thứ nhất, tác động tới nhận thức của mỗi cá nhân trong việc thực hiện

chính sách dân số Một trong những đặc điểm của tâm lý xã hội là “ tính lây

Trang 21

lan” nhanh và phạm vi ảnh hởng là rất rộng Tâm lý xã hội càng có phạm vi

ảnh hởng rộng thì càng có xu hớng thống nhất về nội dung các chuẩn mực,phán xét, đánh giá, càng làm cho ngời ta nhận thức sâu sắc hơn về những vấn

đề diễn ra trong xã hội Trong điều kiện môi trờng xã hội lành mạnh, không

có những lệch lạc về chuẩn mực và những thớc đo giá trị xã hội, các giá trịvăn hóa, truyền thống, phong tục tập quán đợc coi trọng thì nhân cách, trình

độ văn hóa của con ngời có điều kiện phát triển Một xã hội phát triển sẽ dẫndắt hành vi con ngời theo những chuẩn mực giá trị Ngợc lại, trong sự khủnghoảng, suy thoái, những giá trị văn hóa, tinh thần … Thực tế ấy cho bị coi nhẹ, hoặc tổn th-

ơng sẽ là “ mảnh đất hiện thực” vô cùng màu mỡ cho những hành vi phản vănhóa, trái đạo lý Tác dụng của tâm lý xã hội ở đây đó chính là sức mạnhchuyển tải thông tin, tuyên truyền phổ biến các giá trị, các quan điểm của của

Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nớc về chính sách dân số cũng nh việcthực hiện chính sách dân số

Thứ hai, tác động tới tình cảm, tâm trạng … Thực tế ấy cho thái độ của cá nhân trongviệc thực hiện chính sách dân số Tình cảm, tâm trạng, xúc cảm và thái độ lànhững yếu tố cơ bản của tâm lý cá nhân Mặc dù về cơ bản nó đợc hình thànhmột cách tự phát dới những tác động của những điều kiện sinh sống hàngngày, tuy nhiên nó cũng không tách rời những yếu tố truyền thống, phong tụctập quán, những kinh nghiệm sống đã đợc tích lũy trong quá trình lịch sử Bảnchất con ngời “ không phải là một cái trừu tợng cố hữu của những cá nhânriêng biệt Trong tính hiện thực của nó,bản chất ngời là tổng hòa những quan

hệ xã hội” [29, tr.11] Tình cảm của cá nhân thờng đợc bộc lộ dới dạng nhữngphản ứng là tích cực hay tiêu cực của họ trớc những sự kiện, hiện tợng và cácquá trình diễn ra trong xã hội Tình cảm của cá nhân trong việc thực hiệnchính sách dân số biểu hiện trong thực tế đó là thái độ lên án hay đồng tình

đối với những hành vi dân số, ủng hộ hay thờ ơ trong việc thực hiện chínhsách dân số, có hay không việc đề cao trách nhiệm công dân … Thực tế ấy choCũng chính vìvậy mà mỗi cá nhân đều mong muốn tự kiểm soát đợc tình cảm và thái độ củamình phù hợp với tình cảm và thái độ chung của cả cộng đồng

Thái độ của cá nhân không những bị lệ thuộc vào tình cảm mà còn phụthuộc vào cả trạng thái tâm lý của họ Do ảnh hởng trực tiếp của những điềukiện sinh sống mà trạng thái tâm lý đợc thể hiện ở những trạng thái đối lập: h-

ng phấn hay ức chế, lạc quan hay bi quan, quan tâm hay thờ ơ … Thực tế ấy cho Tùy thuộcvào những trạng thái tâm lý mà thái độ của họ cũng có thể khác nhau Chẳng

Trang 22

hạn khi trong trạng thái hng phấn, nhiệt tình ngời ta thờng có những phản ứngmạnh mẽ, tích cực trớc những hành vi vi phạm chính sách dân số, ngợc lại ng-

ời ta thờng thờ ơ trớc những hành vi vi phạm chính sách dân số Những trạngthái tâm lý đó đợc bộc lộ trong nội dung các phán xét, đánh giá của tâm lý xãhội và qua đó, tâm lý xã hội tác động tới thái độ của con ngời trong việc thựchiện chính sách dân số

Thứ ba, tác động tới hành vi của cá nhân trong việc thực hiện chính

sách dân số Nói tới hành vi của con ngời trong việc thực hiện chính sách dân

số tức là nói tới việc tham gia của con ngời với t cách là chủ thể của chínhsách dân số Hành vi của con ngời trong việc thực hiện chính sách dân số làkết quả của những kinh nghiệm xã hội, những thuộc tính xã hội, những kếtquả của giáo dục, đào luyện mà họ đợc tiếp nhận từ xã hội; là cái cá thể và sựphát triển của cá thể hóa đã đạt đợc đến một mức nào đó thông qua tác độngcủa cái xã hội và quá trình xã hội hóa đối với con ngời Sự chuyển hóa củatâm lý xã hội trong tâm lý cá nhân cuối cùng biểu hiện ra ở việc cá nhân cóthể tự đánh giá và điều chỉnh hành vi ứng xử của mình trong xã hội Trongchừng mực nhất định hành vi của con ngời trong việc thực hiện chính sách dân

số là sự phản ánh nhận thức và thái độ của họ đối với việc thực hiện chínhsách dân số Trong trờng hợp này có thể coi tâm lý xã hội là “ tấm gơng” đểmỗi cá nhân tự soi mình vào đó mà định hớng, thực hiện cũng nh việc điềuchỉnh hành vi của mình theo những chuẩn mực xã hội đã trở thành thói quen,phong tục tập quán … Thực tế ấy cho trong tâm lý xã hội ở đây, sức mạnh điều chỉnh hành

vi của tâm lý xã hội khiến cho mỗi cá nhân phải đứng trớc những sự lựa chọnnhất định, phải suy nghĩ, đánh giá trớc khi thực hiện một hành vi dân số nào

đó Hành vi đó đúng hay sai, phù hợp hay không phù hợp? … Thực tế ấy cho Có thể thấy, tác

động của tâm lý xã hội đối với hành vi của con ngời trong việc thực hiện chínhsách dân số chính là ở cách thức mà con ngời lựa chọn cũng nh thực hiện hành

Trang 23

1.3.1 Hệ thống các cơ chế, chính sách và pháp luật

Đây là yếu tố có ảnh hởng trực tiếp và mạnh mẽ nhất Thực tế chothấy, sau khi có pháp lệnh dân số 2003 đợc ban hành, tỷ lệ các cặp vợ chồngsinh con thứ 3 trở lên lại có xu hớng tăng mạnh Có nhiều lý do đã đợc đa ra

để giải thích cho hiện tợng này và một trong những lý do đợc nhắc tới nhiềunhất lại nằm ở nội dung của pháp lệnh dân số Trong pháp lệnh dân số, lần

đầu tiên “ quyền sinh sản” của công dân đợc khẳng định: “ Bảo đảm việc chủ

động, tự nguyện, bình đẳng của mỗi cá nhân, gia đìng trong kiểm soát sinhsản, chăm sóc sức khỏe sinh sản, lựa chọn nơi c trú và thực hiện các biện phápnâng cao chất lợng dân số” [44, tr.8- 9] Điều 10 của pháp lệnh ghi rõ: “ Mỗicặp vợ chồng và cá nhân có quyền: Quyết định về thời gian sinh con, số con

và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khỏe,

điều kiện học tập, lao động,công tác, thu nhập và nuôi dạy con của cá nhân,cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng”[44, tr 13]

Pháp lệnh Dân số 2003 thể hiện một bớc tiến lớn trong nhận thức vàhoạt động thực tiễn của Đảng và nhà nớc ta Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thểnớc ta nó thực sự cha mang lại hiệu quả mong muốn Nh vậy là có một thực

tế, một chính sách (mà cụ thể là chính sách dân số) có thể phù hợp với xu ớng vận động và phát triển chung nhng có thể lại là cha phù hợp với những

h-điều kiện lịch sử cụ thể Sự phù hợp hay không phù hợp của chính sách dân sốvới những đặc điểm và diễn biến tâm lý xã hội có một ý nghĩa rất quan trọng,

nó chi phối sự tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sáchdân số Cùng với chế độ sở hữu, hệ thống tổ chức bộ máy và các thiết chếquyền lực nói chung, hệ thống pháp luật và các công cụ, phơng tiện quản lý làmột đảm bảo cần thiết về t tởng và tinh thần cho xã hội ảnh hởng của cơ chế,chính sách pháp luật thờng bằng những phơng thức và công cụ quản lý nhất

định, Với hệ thống cơ chế, chính sách và pháp luật, nhà nớc thực hiện sự kiểmsoát, điều chỉnh của mình đối với hành vi của mỗi công dân

1.3.2 Mức độ thâm nhập và chuyển hóa tâm lý xã hội trong tâm lý cá nhân

Nh chúng ta đã phân tích, giữa tâm lý xã hội và tâm lý cá nhân có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau, nhng tâm lý cá nhân không phải là “ bản sao” đầy

đủ của ý thức xã hội Sự hình thành và phát triển của tâm lý cá nhân là mộtquá trình phức tạp, bao gồm sự tác động của nhiều yếu tố Tâm lý học Mác-

Trang 24

xít không phủ nhận yếu tố bẩm sinh, di truyền nhng coi yếu tố này chỉ là cơ

sở, là tiền đề vật chất có ảnh hởng nhất định đối với mặt nào đó của tâm lýcá nhân chứ không phải là yếu tố duy nhất quyết định sự hình thành và pháttriển của tâm lý cá nhân Sự thâm nhập và chuyển hoá của tâm lý xã hộitrong tâm lý cá nhân phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của cá nhân Tâm

lý cá nhân không phải là đợc “ hấp thụ” một cách trực tiếp từ trong xã hội

mà là kết quả của một một quá trình rèn luyện, thể nghiệm bản thân lâu dài,gian khổ, phức tạp Do đó, một mặt mỗi cá nhân phải luôn thể hiện tính tíchcực, chủ động của mình, biết phân tích, tiếp thu một cá ch có phê phán đốivới những quan điểm và hành vi trong xã hội Mặt khác, nó cũng đòi hỏi sự

định hớng và chỉ đạo thống nhất ở đây, vai trò của những nhà quản lý xã hội,các tổ chức xã hội nh: Mặt trận tổ quốc, hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, … Thực tế ấy cho là rấtlớn

Bản thân các t tởng không thể “ cải biến” đợc hiện thực T tởng nóichung và tâm lý xã hội nói riêng chỉ có thể phát huy sức mạnh cải tạo hiệnthực khi nó thâm nhập đợc vào quần chúng và định hớng cho hoạt động thựctiễn Nội dung của đời sống tâm lý cá nhân là sự phản ánh thế giới khách quanthông qua hoạt động của mỗi cá nhân Sự hình thành và phát triển của tâm lýcá nhân quyết định việc phát huy vai trò của cá nhân đối với xã hội

1.3.3 Chế tài xử lý của pháp luật

Có thể nói để pháp luật dân số thực sự đi vào đời sống xã hội và ngàycàng phát huy hiệu quả thì ý thức pháp luật của ngời dân phải đợc nâng cao.Ngoài việc nâng cao chất lợng hệ thống văn bản pháp luật, đẩy mạnh công táctuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật dân số nóiriêng chúng ta cần chú ý tới cả vấn đề cần phải có những biện pháp mạnh,

đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Một trong những nguyên nhân làmcho việc vi phạm pháp luật dân số diễn ra khá phổ biến và trong một thời giandài đó là việc ban hành hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, văn bản đợc đa ranhng thiếu chế tài xử lý làm cho những cơ quan chuyên trách, các cấp ủy đảng

và chính quyền nhiều địa phơng hết sức lúng túng Đơn cử một ví dụ: Pháplệnh Dân số đợc ra đời từ ngày 9 tháng 1 năm 2003 và chính thức có hiệu lực

từ ngày 1 tháng 5 năm 2003 nhng đến ngày 16 tháng 9 năm 2003 mới có nghị

định hớng dẫn thực hiện và hớng dẫn xử lý vi phạm Nh vậy, việc ban hànhPháp lệnh Dân số và một số chính sách khác thiếu chặt chẽ cùng với sự chậmtrễ kể trên đã tạo “ điều kiện pháp lý” cũng nh đủ thời gian cho sự ra đời của “

Trang 25

cả một thế hệ” Và khi có văn bản hớng dẫn thực hiện thì hậu quả của nó đãhiện hữu và công tác xử lý chỉ còn là xử lý vấn đề “ đã xảy ra” Hơn nữa,trong công tác xử lý vi phạm pháp luật dân số cũng cha đợc thực hiện mộtcách triệt để, thiếu kiên quyết, nhất là đối với cán bộ, đảng viên vi phạm Đếnlúc này có thể khẳng định rằng với một hệ thống pháp luật cha đồng bộ, chếtài xử lý của pháp luật vừa thiếu, vừa yếu đã trở thành “ cơ hội” cho sự trỗidậy và tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ởnớc ta thời gian vừa qua và là một trong những nguyên nhân làm cho việc sinhcon thứ 3 khó kiểm soát.

1.3.4 Trình độ dân trí

Trình độ dân trí có liên quan tới những điều kiện và khả năng tiếpnhận các thông tin xã hội cùng với năng lực nhận thức, đánh giá đúng đắn cácthông tin đó Đồng thời nó cũng có ảnh hởng trực tiếp tới hành vi của con ng-

ời Khi trình độ dân trí đợc nâng cao, ngời dân có những điều kiện để nhậndiện đợc đâu là những giá trị văn hóa đích thực, những tình cảm, thói quen,truyền thống tâm lý có tác dụng cho cuộc sống và hoàn thiện con ngời Nhìnchung thì trình độ học vấn có ý nghĩa to lớn trong việc thẩm định các giá trị,chuẩn mực trong xã hội, từ đó tạo d luận tiến bộ trong cộng đồng

Trình độ dân trí cơ bản đợc biểu hiện ở trình độ học vấn học vấn củadân c Đây là cơ sở vững chắc cho sự phát triển dân số hợp lý trong quá trìnhphát triển Mức sinh phụ thuộc rất nhiều vào trình độ học vấn của dân c mà tr-

ớc hết là trình độ học vấn của phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ và sắp bớc vào độ tuổisinh đẻ Kết quả điều tra nhân khẩu học cho thấy: Phụ nữ có trình độ học vấncao thờng có ít con bởi vì họ có khả năng kiểm soát đợc những yếu tố tác

động tới mức sinh Số con đã sinh trung bình của một phụ nữ thờng tỉ lệnghịch với trình độ học vấn của ngời mẹ Điền này không chỉ phụ thuộc trình

độ học vấn của phụ nữ nói chung mà còn phụ thuộc vào cả tỷ lệ phụ nữ cótrình độ học vấn cao trong tổng số phụ nữ

Bảng 1.1: Quan hệ giữa số con trung bình và trình độ học vấn của phụ nữ

[66, tr 64]

Không đợc

đi học

Cha tốt nghiệp tiểu học

Tốt nghiệp tiểu học

Tốt nghiệp trung học cơ sở

Tốt nghiệp THPT trở lên

Trang 26

Số con TB của

Ngoài những vấn đề nêu trên còn phải kể tới một số yếu tố khác nữa nhtuổi kết hôn, đời sống kinh tế, việc làm, thu nhập, tốc độ đô thị hóa… Thực tế ấy chovà ngaycả mức sống, mức độ phổ biến của tâm lý xã hội cụ thể, chúng đều ảnh hởngtới sự tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ởnhững mức độ khác nhau

Tóm lại, tâm lý xã hội là sản phẩm của quá trình phát triển lịch sử lâu

dài Với t cách là một bộ phận của ý thức xã hội thông thờng, tâm lý xã hộiphản ánh tồn tại xã hội ít nhiều mang tính tự phát, đây là một đặc điểm hết sứcquan trọng giúp chúng ta phần nào có thể lý giải đợc vì sao tâm lý xã hội nóichung có tính chất kinh nghiệm, bảo thủ và trì trệ Tuy vậy tâm lý xã hội vẫn

là một bộ phận không thể thiếu, đồng thời giữ vị trí vô cùng quan trọng trongtoàn bộ đời sống tinh thần của con ngời

Tâm lý xã hội của con ngời Việt Nam là kết quả của sự kết hợp chặtchẽ giữa những yếu tố truyền thống bản địa với những yếu tố từ bên ngoài tác

động vào nh những t tởng của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo… Thực tế ấy choCũng nh toàn

bộ ý thức xã hội, tâm lý xã hội có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội vàchi phối những hiện tợng và quá trình diễn ra trong xã hội, sự tác động nàydiễn ra theo hai xu hớng: tác động tích cực và tác động tiêu cực Sức mạnh củatâm lý xã hội là sức mạnh của truyền thống, của tập quán, của thói quen, của

d luận xã hội, … Thực tế ấy chodo vậy, tác động của tâm lý xã hội là âm thầm, bền bỉ, nhngvô cùng quyết liệt về mức độ và tác hại thì cũng rất khó lờng Việc nghiên cứumột cách có hệ thống những tác động của tâm lý xã hội đối với các lĩnh vựccủa đời sống xã hội không những giúp chúng ta có thể hạn chế những tác

động tiêu cực của nó mà còn có thể phát huy những giá trị cũng nh tác độngtích cực của nó trong đời sống xã hội

Trang 28

Chơng 2

tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở hải dơng và những giải pháp cơ bản nhằm khắc phục tác động tiêu cực của tâm lý xã hội

đối với việc thực hiện chính sách dân số hiện nay

2.1 Việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dơng những năm qua- thành tựu và những vấn đề đặt ra

2.1.1 Đặc điểm kinh tế- xã hội tỉnh Hải Dơng

Hải Dơng là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía bắc (Hànội- Hải Phòng- Quảng Ninh), phía bắc giáp Bắc Ninh, Bắc Giang, QuảngNinh; phía đông giáp Quảng Ninh, Hải Phòng; Phía tây giáp Hng Yên; phíanam giáp Thái Bình Diện tích tự nhiên là 1660,8 km2, dân số hơn 1,7 triệu ng-

ời Có thể nói, Hải Dơng là một tỉnh “ đất chật, ngời đông” với mật độ dân sốtrung bình khoảng 1035 ngời/ km2 Toàn tỉnh có 12 huyện và thành phổ, trong

đó có 2 Huyện miền núi thấp Theo số liệu báo cáo của Uỷ ban Dân số- gia

đình- trẻ em tỉnh Hải Dơng, đơn vị có mật độ dân số đông nhất là thành phốHải Dơng: 3772 ngời/ km2, đơn vị có mật độ thấp nhất là huyện chí Linh: 524ngời/ km2, các huyện khác: Cẩm Giàng: 1103; Gia Lộc: 1234; Kim Thành:

1109 … Thực tế ấy choĐây là một vùng đất giàu truyền thống cánh mạng và nhiều tiềm năngphát triển Trong hành trình lịch sử của dân tộc, nhân dân Hải Dơng đã cùngnhân dân cả nớc viết lên những trang sử huy hoàng Con ngời Hải Dơng kiêncờng bất khuất trong chiến đấu, cần cù sáng tạo trong lao động, đoàn kết gắn

bó trong xây dựng quê hơng, đất nớc Sau 20 năm đổi mới, với sự nỗ lực phấn

đấu cao, Đảng bộ và nhân dân Hải Dơng đã đạt đợc nhiều thành tựu to lớn trênhầu hết các lĩnh vực kinh tế- xã hội

Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV Đảng bộ tỉnh Hải Dơng (12/2005)nêu rõ: năm 2005 Hải Dơng hiện đang đứng thứ 13 trong 64 tỉnh, thành phố cảnớc; thứ 4 trong 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng về tốc độ phát triển kinh

tế, thu ngân sách nhà nớc đạt trên 2000 tỉ đồng, thu nhập bình quân 450 USD/ngời/năm Cơ cấu kinh tế năm 2005: Nông nghiệp 27,5%, Công nghiệp và xâydựng 43%, Dịch vụ 29,5% (năm 1985: Nông nghiệp 53,2%, Công nghiệp vàxây dựng 20,4%, Dịch vụ 26,4%) So với năm 1985, tổng sản phẩm năm 2005

đã tăng gấp 5 lần, bình quân tăng 8,39%/ năm Kết cấu hạ tầng phát triểnmạnh, nhất là về giao thông, thủy lợi, mạng lới điện, thông tin liên lạc, trờnghọc, bệnh viện, khu đô thị và nhà ở Quan hệ sản xuất tiếp tục đợc đổi mới vàcủng cố, các thành phần kinh tế phát triển hết sức năng động và không ngừng

Trang 29

lớn mạnh Sự nghiệp phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, … Thực tế ấy cho tiếp tục phát triểnnhanh chóng Tính đến ngày 31/ 12/ 2004, toàn tỉnh có 375 làng và khu dân cvăn hóa, trên 90% số làng, khu dân c xây dựng và thực hiện quy ớc, hơng ớc;68% gia đình đạt danh hiệu “ gia đình văn hóa” Tình hình an ninh chính trị vàtrật tự ân toàn xã hội nhìn chung đợc đảm bảo.

Nh vậy, có thể nhận định rằng, cùng với đà phát triển kinh tế- xã hộichung trên cả nớc, bộ mặt kinh tế- xã hội Hải Dơng đã có nhiều thay đổi theohớng tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nhân dân lao động

đã đợc nâng lên rõ rệt Mặc dù vậy, đối với Hải Dơng nông nghiệp và nôngthôn vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng Có lẽ đây cũng chính là một yếu tốhết sức cơ bản làm cho những tập quán, truyền thống của nền sản xuất sảnxuất nông nghiệp lạc hậu, tâm lý xã hội bảo thủ, lỗi thời có một “ mảnh đấthiện thực” để tồn tại và tác động mạnh mẽ đối với mọi mặt đời sống xã hộicủa con ngời trong quá khứ cũng nh hiện tại, mà điển hình là tác động đối vớiviệc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dơng hiện nay

2.1.2 Thành tựu trong việc thực hiện chính sách dân số ở Hải

D-ơng thời gian qua

Trong quá trình thực hiện chính sách dân số, đặc biệt là sau hơn 10năm thực hiện Nghị quyết TW 4 khóa VII về chính sách dân số- kế hoạch hóagia đình, đợc sự quan tâm của các cấp ủy đảng và chính quyền, các đoàn thể,

tổ chức xã hội từ tỉnh tới cơ sở, nhất là sự ủng hộ và tích cực tham gia củanhân dân, việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dơng ngày càng hiệu quả và

đi vào chiều sâu Chúng ta thể đánh giá kết quả của công tác dân số- kế hoạchhóa gia đình ở Hải Dơng thời gian qua trên các mặt cơ bản sau đây:

Một là, nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành, đoàn

thể và nhân dân về dân số- phát triển và chăm sóc sức khỏe sinh sản đợc nânglên rõ rệt, công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình đã đợc coi là bộ phận quantrọng trong chiến lợc phát triển kinh tế- xã hội ở địa phơng, là yếu tố cơ bản

để nâng cao chất lợng cuộc sống Trong đại bộ phận nhân dân quan niệm vềsinh đẻ đã có những chuyển biến tích cực Công tác dân số- kế hoạch hóa gia

đình từng bớc đợc xã hội hóa Mô hình “ Lồng ghép yếu tố dân số với pháttriển bền vững thông qua hoạt động tín dụng tiết kiệm và phát triển kinh tế gia

đình” đạt hiệu quả tốt và đợc đề nghị nhân rộng

Hai là, quy mô dân số ngày càng ổn định Số ngời trung bình trong

một hộ đã giảm từ 4,01 ngời/ hộ vào năm 1999 xuống còn 3,8 ngời/ hộ vào

Trang 30

năm 2004 Dân số vào thời điểm 1/ 4/ 2004 so với thời điểm 1/ 4/ 1999 tăng44.024 ngời (2,7%) Nh vậy, tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm thời kỳ1999- 2004 là 0,53% chậm hơn 0,38% so với thời kỳ 1989- 1999 (0,91%).Kết quả này đã góp phần quan trọng vào công tác xóa đói, giảm nghèo,nâng cao chất lợng cuộc sống, đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, làm tiền

đề vững chắc để Hải Dơng bớc vào thực hiện Chiến lợc Dân số Việt Nam2001- 2010

Theo báo cáo quý 3 năm 2005 của Uỷ ban dân số- gia đình & trẻ emtỉnh Hải Dơng, tính đến tháng 9 năm 2005, dân số của tỉnh là 1.707.131 ngờivới 432.938 hộ; Nữ 15- 49 tuổi là 461.217 ngời, trong đó số nữ có chồng là319.851 ngời; Số sinh là 14.871 cháu, trong đó có 1.260 cháu là con thứ 3 trởlên

Ba là, về mức sinh ở Hải Dơng liên tục có chiều hớng giảm từ 2,05

con năm 1999 xuống 2 con vào năm 2002 và duy trì mức sinh tơng đối ổn

định cho đến nay Tỷ suất sinh thô từ 15,72% năm 2001 xuống còn14,45% năm 2004 Tỷ lệ sinh con thứ 3 mặc dù gần đây có tăng mạnh nh-

ng vẫn ở mức thấp so với toàn quốc, dao động trong khoảng từ 8,7 đến9,7% [52, tr.3]

Bốn là, về việc các cặp vợ chồng thực hiện các biện pháp tránh thai đã

tăng đáng kể Tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh thai đạt từ73,3% năm 2000 lên 75,5% vào các năm 2004, 2005 Đảm bảo đa dạng hóacác biện pháp tránh thai hiện đại an toàn, hiệu quả, đáp ứng một cách tốt nhấtnhững nhu cầu của đối tợng sử dụng [52, tr.3]

Thành tựu đạt đợc trong việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dơngnhững năm qua là cơ bản Tuy nhiên, mấy năm gần đây, cũng nh nhiều địa ph-

ơng khác, việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dơng đã vấp phải những khókhăn mới nảy sinh, ví dụ nh tình trạng sinh con thứ 3 trở lên Theo thống kêthì hầu hết các huyện trong tỉnh đều xuất hiện tình trạng sinh con thứ 3, thậmchí có những nơi tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên khá cao: điển hình là ThanhMiện: 14,99%; Bình Giang: 14,36% … và hành vi [52, tr.3- 4].

Nh chúng ta đã biết việc sinh con thứ 3 trở lên chỉ là một trong nhiềunguyên nhân đã và đang gây cản trở đối với việc thực hiện chính sách dân số ởnớc ta nói chung và Hải Dơng nói riêng Điều đó cho thấy thực tiễn đã và

đang đặt ra những vấn đề cấp bách đòi hỏi chúng ta cần phải nhận thức và giảiquyết kịp thời

Trang 31

2.1.3 Những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện chính sách dân số

ở Hải Dơng hiện nay

Thứ nhất, những năm qua ở Hải Dơng xu hớng giảm sinh tiếp tục đợc

duy trì, tốc độ gia tăng dân số mặc dù vẫn trong phạm vi kiểm soát songnhững kết quả đạt đợc là cha thực sự vững chắc Xu hớng giảm sinh chững lại

và báo hiệu rằng kết quả của những năm tới sẽ gặp nhiều khó khăn Điều này

đợc thể hiện ở bảng tổng hợp dới đây:

Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả thực hiện Ch ơng trình dân số- KHHGĐ của

tỉnh hải D ơng - Giai đoạn 1996- 2005 [53]

Tỷ suất sinh giảm

bình quân Giai đoạn 1996- 2000 giảm 0,64 %0/ năm Giai đoạn 2001- 2005 giảm 0,31%0/ năm

Có thể thấy rằng xu hớng giảm sinh ở Hải Dơng đã đợc giữ vững trongnhiều năm liên tục, tỷ lệ sinh con thứ 3 ở Hải Dơng cũng ở mức thấp so vớinhiều tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ và đã xấp xỉ đạt mức sinh thay thế Nếutheo quy luật chung, khi đã đạt mức sinh thay thế thì xu hớng giảm sinh sẽchững lại Tuy nhiên, điều đáng chú ý ở đây vẫn là tình trạng tăng mạnh trở lạicủa việc sinh con thứ 3 trở lên

Thứ hai, từ sau khi Pháp lệnh dân số 2003 đợc ban hành, tỷ lệ các

cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên có chiều h ớng tăng mạnh (nhất là vàonhững năm 2003 và 2004) Đáng chú ý là sự “ lây lan” của hiện t ợng nàydiễn ra tơng đối nhanh trên một phạm vi rất rộng và khó kiểm soát Trớc

đây, tình trạng sinh con thứ 3 hầu hết rơi vào những gia đình đã sinh haicon là gái và một số ít gia đình đã có hai con trai Tuy nhiên, hiện nay tìnhtrạng này lại xuất hiện khá nhiều ở những gia đình đã có cả con trai và congái, theo thống kê toàn tỉnh tỷ lệ này khoảng 30% Dĩ nhiên, nguyên nhânkhông chỉ nằm ở " những kẽ hở" của Pháp lệnh dân số 2003 hay sự chậmtrễ trong việc ban hành nghị định hớng dẫn thực hiện pháp lệnh mà thựcchất nó chỉ là những " lí do" để biện hộ cho sự tồn tại và tác động của

Trang 32

những yếu tố tâm lý xã hội từ bao đời đang đè nặng lên đầu óc những conngời đang sống.

Bảng 2.2: Kết quả giảm sinh ở Hải Dơng giai đoạn 2001- 2005

[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dơng năm 2004]

Đơn vị tính Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Dự tính 2005

Thứ ba, xu hớng sinh con thứ 3 trở lên tăng mạnh trong nhóm gia đình có

điều kiện kinh tế khá giả, học vấn cao Số liệu thống kê của xã Lê Thanh Miện cho thấy từ năm 2002 đến nửa đầu năm 2005 trên địa bàn xã,trong số các trờng hợp sinh con thứ ba trở lên không có trờng hợp nào lại nằmtrong diện kinh tế khó khăn Có thể nói đây là một xu hớng mới, thậm chí tráingợc với những quan niệm trớc đây cho rằng nguyên nhân sinh con thứ ba trởlên là do những nguyên nhân nh: điều kiện kinh tế khó khăn, nhận thức thấp, điều này làm cho công tác tuyên truyền gặp rất nhiều khó khăn D

kinh tế xã hội càng ổn định, đời sống càng đợc nâng lên thì nguy cơ của giatăng dân số ngày càng lớn

Bảng 2.3: Cơ cấu sinh con thứ 3 trở lên giai đoạn 2002- 2005 xã Lê

Hồng-Thanh Miện- Hải Dơng [60]

Số gia

đình sinh con thứ

3 trở lên

Đã sinh con một bề

Đã có trai, có gái

Điều kiện kinh tế khá

Điều kiện kinh tế TB

Điều kiện kinh

tế khó khăn

Đảng viên, công chức

Dân ờng

Thứ t, một vấn đề cũng rất đáng lo ngại là tình trạng sinh con thứ ba

đã xuất hiện trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chứcnhà nớc và ở hầu hết các địa phơng Việc Pháp lệnh dân số năm 2003 ra

Trang 33

đời là một bớc tiến trong nhận thức và công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thựchiện chính sách dân số ở nớc ta Đây là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất

từ trớc tới nay và có ý nghĩa rất lớn trong việc định h ớng một cách sâu sắc

và toàn diện công tác dân số Rõ ràng, không chỉ trong lĩnh vực này, "quyền" và " nghĩa vụ" không tách rời nhau thực tế cho thấy không thể có

" quyền" vợt quá khỏi khuôn khổ giới hạn của " nghĩa vụ" Đành rằng, nếuquá nhấn mạnh mục tiêu có thể dẫn tới một số biểu hiện của việc vi phạmquyền con ngời song xét đến cùng mọi quyền mà con ng ời có và đợc đảmbảo bao giờ cũng trên cơ sở việc thực hiện nghĩa vụ của mọi công dântrong xã hội Đáng tiếc nhiều ngời, trong số đó có cả cán bộ, đảng viên,công chức nhà nớc lại không hiểu hay cố tình hiểu sai điều đó Điều này

đã ảnh hởng lớn đến nhận thức và hành vi của quần chúng nhân dân

Tóm lại, căn cứ vào tình hình thực tiễn với những vấn đề cấp bách

đang đặt ra, nhất là qua các số liệu nêu trên cho thấy những tác động của tâm

lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số là không nhỏ, thậm chí cónơi, có lúc nó đã trở thành nhân tố cơ bản dẫn tới việc sinh con thứ 3 trở lêntăng mạnh Dù những tác động này ở mức độ nh thế nào thì việc nghiên cứu

sự tác động một cách có hệ thống cũng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sứcsâu sắc

2.2 tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dơng hiện nay

Việc tìm hiểu và đánh giá về những tác động tích cực hay tác động tiêucực của tâm lý xã hội đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội baogiờ cũng gặp rất nhiều khó khăn Bởi lẽ, giữa những tác động tích cực hay tiêucực của tâm lý xã hội không có một ranh giới tuyệt đối Trong thực tế, cónhững tâm lý xã hội mà nếu theo những tiêu chí đánh giá khác nhau có thểvừa chỉ ra đợc những tác động theo hớng tích cực, đồng thời lại vừa có thể tìm

ra ở nó cả những tác động tiêu cực Mặc dù vậy, dới góc độ nghiên cứu khoahọc, chúng ta hoàn toàn có thể đề cập tới hai xu hớng tác động của tâm lý xãhội đối với việc thực hiện chính sách dân số nh là những xu hớng tác độngmột cách độc lập Trong quá trình thực hiện đề tài này, để tránh sự trùng lắp

và thuận lợi cho quá trình nghiên cứu, phân tích, tác giả chỉ đề cập tới nhữngtâm lý xã hội tiêu biểu cho hai xu hớng tác động nêu trên

2.2.1 Những tác động tiêu cực của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dơng hiện nay

Trang 34

Chiến lợc dân số Việt Nam 2001- 2010 khẳng định những mục tiêucủa công tác dân số ở nớc ta hiện nay:

Mục tiêu tổng quát:

Thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, tiến tới ổn định quy môdân số ở mức hợp lý để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nâng caochất lợng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lợng cao đáp ứngnhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần vào sự phát triểnnhanh và bền vững đất nớc

Mục tiêu cụ thể:

Mục tiêu 1: Duy trì xu thế giảm sinh một cách vững chắc để

đạt mức sinh thay thế bình quân trong toàn quốc vào năm 2005, ởvùng sâu, vùng xa và vùng nghèo chậm nhất vào năm 2010 để quymô, cơ cấu dân số và phân bổ dân c phù hợp với sự phát triển kinh tếxã hội vào năm 2010

Mục tiêu 2: Nâng cao chất lợng dân số về thể chất, trí tuệ vàtinh thần, phấn đấu đạt chỉ số phát triển con ngời (HDI) ở mức trungbình tiên tiến thế giới vào năm 2010 [65, tr.11]

Thực hiện Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIV, đồng thờitrên cơ sở Chiến lợc Dân số Việt Nam 2001- 2010, Nghị quyết 47/ NQ- TWngày 22/ 3/ 2005 của Bộ chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sáchdân số- kế hoạch hóa gia đình, Tỉnh ủy Hải Dơng đã xây dựng Chơng trìnhhành động số 41/ CTR/ TU ngày 1/ 7/ 2005 về thực hiện công tác dân số, gia

đình, trẻ em giai đoạn 2006- 2010, trong đó xác định các chỉ tiêu dân số cần

đạt vào năm 2010:

- Dân số cả tỉnh không vợt quá 1,8 triệu ngời

- Tỷ lệ tăng dân số dới 0,8%

- Hạ tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên xuống dới 7%

- Tăng tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các BPTT lên 75,5% … Thực tế ấy cho

Căn cứ vào những mục tiêu của Chiến lợc dân số Việt Nam

2001-2010 và Chơng trình hành động số 41/ CTR- TU của Tỉnh ủy Hải Dơng chúng

ta có thể đánh giá những tác động tiêu cực của tâm lý xã hội tới việc thực hiệnchính sách dân số ở Hải Dơng hiện nay trên các mặt sau đây:

2.2.1.1 Tâm lý xã hội cản trở thực hiện mục tiêu gia đình ít con

Ngày đăng: 26/05/2021, 05:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Phơng Bích (1963), “Phơng thức sản xuất châu á là gì?” Nghiên cứu lịch sử , (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Phơng Bích (1963), “Phơng thức sản xuất châu á là gì?” "Nghiêncứu lịch sử
Tác giả: Nguyễn Phơng Bích
Năm: 1963
2. Trơng Chính (1994), Cha ông ta đã tiếp thu những gì tích cực ở các ý thức hệ phong kiến của Trung Quốc, Nho giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trơng Chính (1994), "Cha ông ta đã tiếp thu những gì tích cực ở các ý thứchệ phong kiến của Trung Quốc
Tác giả: Trơng Chính
Nhà XB: Nxb Khoa họcxã hội
Năm: 1994
3. Phan Đại Doãn- Nguyễn Toàn Minh (1997), Một số vấn đề làng xã trong lịch sử Việt Nam, (Chuyên đề lịch sử Việt Nam), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Đại Doãn- Nguyễn Toàn Minh (1997), "Một số vấn đề làng xã tronglịch sử Việt Nam
Tác giả: Phan Đại Doãn- Nguyễn Toàn Minh
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 1997
4. Quang Đạm (1991), Khổng giáo và gia đình, Nho giáo xa và nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quang Đạm (1991), "Khổng giáo và gia đình
Tác giả: Quang Đạm
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 1991
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), "Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thờikỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Tập 1,Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (giữa nhiệm kỳ), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VII (giữa nhiệm kỳ)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ t Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khóa VII, Lu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), "Văn kiện Hội nghị lần thứ t Ban Chấphành Trung ơng Đảng khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung -ơng Đảng lần thứ 5 (khóa IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), "Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung -"ơng Đảng lần thứ 5 (khóa IX)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
14. Nguyễn Thị Minh Đức (1995), Tâm lý “ trọng nam khinh nữ” trong xã hội hiện nay, Khoa học về phụ nữ, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Minh Đức (1995), Tâm lý “ trọng nam khinh nữ” trong xã hộihiện nay," Khoa học về phụ nữ
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Đức
Năm: 1995
15. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Giàu (1980), "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc ViệtNam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1980
16. Trần Văn Giàu (1994), Đạo đức Nho giáo và đạo đức truyền thống Việt Nam, Nho giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Giàu (1994), "Đạo đức Nho giáo và đạo đức truyền thống ViệtNam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
17. Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (1978), Tâm lý học Liên- Xô, (Tiếng Việt), Nxb Tiến bộ, Maxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (1978), "Tâm lý học Liên- Xô
Tác giả: Phạm Minh Hạc (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
18. Trơng Mỹ Hoa (1995), Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế- xã hội, tham gia quản lý nhà nớc và định hớng phát triển đến năm 2000, Tạp chí Cộng sản, (14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trơng Mỹ Hoa (1995), "Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinhtế- xã hội, tham gia quản lý nhà nớc và định hớng phát triển đếnnăm 2000, Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Trơng Mỹ Hoa
Năm: 1995
19. Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (Dự án VIE/97/P17) (2000), Dân số và phát triển một số vấn đề cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (Dự án VIE/97/P17) (2000),"Dân số và phát triển một số vấn đề cơ bản
Tác giả: Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (Dự án VIE/97/P17)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
20. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Giáo trình TCLLCT) (2004), Văn hóa- xã hội, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Giáo trình TCLLCT) (2004),"Văn hóa- xã hội
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Giáo trình TCLLCT)
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2004

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w