1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tu tuong Ho Chi Minh ve duc tri the my cua connguoi Viet Nam

88 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 93,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lµm ®îc nh vËy, sù nghiÖp ®µo t¹o, ph¸t triÓn nguån lùc con ngêi cho chÕ ®é x· héi chñ nghÜa vµ céng s¶n chñ nghÜa míi cã thÓ tõng bíc trë thµnh hiÖn thùc sinh ®éng trong thùc tiÔn c¸ch[r]

Trang 1

Việt Nam phát triển đức, trí, thể, mỹ 91.2 Một số nội dung cơ bản trong t tởng Hồ Chí Minh về con ngời

Việt Nam phát triển các mặt đức, trí, thể, mỹ 18

Chơng 2: Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản trong

sự nghiệp phát triển đức, trí, thể, mỹ của ngời

57

Trang 2

Việt Nam

2.1 Những cống hiến của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản trong thực

2.2 Tiếp tục sự nghiệp của Hồ Chí Minh về xây dựng con ngời Việt

Nam phát triển đức, trí, thể, mỹ trong thời kỳ đẩy mạnh công

2.3 Phơng hớng, giải pháp đổi mới nền giáo dục đào tạo con ngời về

Danh mục tài liệu tham khảo 97

Trang 3

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vấn đề con ngời, xây dựng và phát triển con ngời là vấn đề muôn thủa,một đề tài tởng chừng đã cũ nhng luôn luôn mới Bởi lẽ thế giới xung quanhcon ngời và bản thân con ngời luôn vận động, biến đổi Xã hội ngày càng pháttriển, nhận thức của con ngời ngày càng sâu rộng thì những vấn đề về con ng-

ời đặt ra cũng ngày càng phức tạp, đa dạng hơn Con ngời và phát triển conngời đã trở thành đối tợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Đúng nhC.Mác đã dự báo, trong tơng lai mọi khoa học đều gặp nhau ở một khoa họccao nhất, đó là khoa học về con ngời Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề xâydựng và phát triển con ngời đang là một vấn đề thực tiễn sống động, ảnh hởng

đến các nền tảng phát triển của nhân loại

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một mong muốn tột bậc là đất

n-ớc đợc hoàn toàn độc lập, dân ta đợc hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng cócơm ăn, áo mặc ai cũng đợc học hành Thực chất là mong muốn giải phóngtriệt để con ngời Việt Nam, để có những con ngời phát triển toàn diện Giảiphóng con ngời, xây dựng con ngời mới phát triển toàn diện đủ năng lực làmchủ bản thân và xã hội là một trong những nội dung quan trọng, là vấn đề chiphối mọi t duy và hành động của Hồ Chí Minh từ lúc ra đi tìm đờng cứu nớccho đến lúc về nơi vĩnh hằng Đó là ớc mơ, khát vọng cháy bỏng, đồng thời là

sự nghiệp cao cả và vĩ đại nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nó chứa đựngnhững giá trị nhân văn sâu sắc

T tởng Hồ Chí Minh về xây dựng con ngời Việt Nam phát triển toàn diệntrên các mặt đạo đức, trí lực, thể lực, mỹ thuật (gọi tắt là đức, trí, thể, mỹ) đã gópphần to lớn vào việc đào tạo cho cách mạng Việt Nam những con ngời u tú, đủsức đa Việt Nam vợt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, liên tục giành nhữngthắng lợi to lớn, làm thay đổi sâu sắc địa vị nớc ta từ nớc thuộc địa, nô lệ trởthành một nớc độc lập và ngày càng có vị thế trên trờng quốc tế

Phát triển con ngời một cách toàn diện luôn là mục tiêu xuyên suốt mọichính sách của Đảng, Nhà nớc trong quá trình xây dựng và phát triển đất nớc,

là t tởng nhân văn quan trọng trong quản lý xã hội đơng đại và là sự vận dụngsáng tạo t tởng Hồ Chí Minh về phát triển con ngời Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ IX của Đảng đã xác định: “xây dựng con ngời Việt Nam pháttriển toàn diện về chính trị, t tởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo,

Trang 4

có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, lòng khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lốisống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội” [15,tr.114] Đây là đờng lối đúng đắn và quan trọng, song trong thực tế, ngay độingũ những ngời tiên phong - cán bộ đảng viên, một bộ phận không nhỏ vẫncha đáp ứng đợc những mong muốn đó Vì sao nh vậy? rất cần câu trả lời cócăn cứ khoa học

Bớc vào thế kỷ XXI, khi đất nớc từng bớc tiến sâu vào quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động mở cửa và hội nhập với khu vực và quốc

tế thì hàng loạt thách thức đã nảy sinh xung quanh việc xử lý vấn đề vì conngời, cho con ngời, phát huy nhân tố con ngời Nói cách khác hầu nh các v-ớng mắc trên con đờng phát triển, đều có nguyên nhân thuộc về vấn đề conngời Việt Nam cha đợc phát triển toàn diện - sản phẩm tất nhiên và đặcthù của lịch sử Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu t tởng Hồ Chí Minh về đức,trí, thể, mỹ của con ngời Việt Nam là hết sức cần thiết để tìm ra những

định hớng, nguyên tắc phơng pháp luận đúng đắn cho sự nghiệp xây dựngcon ngời Việt Nam làm chủ đất nớc, đủ tài, đức, sức khoẻ, đa đất nớc đilên chủ nghĩa xã hội Làm rõ đợc vấn đề này thực sự là một đòi hỏi bứcthiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Song, đây là vấn đề rất lớn,luận văn này chỉ mong góp phần nhỏ bé làm rõ về mặt lý luận một vàikhía cạnh nh khái niệm, cơ sở hình thành, điều kiện và nội dung xây dựngcon ngời phát triển toàn diện đức, trí, thể, mỹ trong t tởng Hồ Chí Minh

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Tư tưởng Hồ Chớ Minh về đức, trớ, thể, mỹ của con người Việt Nam " làm đề tài luận văn thạc sỹ

chuyên ngành Hồ Chí Minh học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề con ngời trong t tởng Hồ Chí Minh đã đợc nhiều nhà khoa họcnghiên cứu và đã có nhiều công trình khoa học có giá trị đợc công bố

- Về các đề tài khoa học:

+ Chơng trình khoa học cấp Nhà nớc KX02 (1991- 1995) có đề tài

KX02 05: “T tởng Hồ Chí Minh về vấn đề con ngời và chính sách xã hội đối với con ngời” do PGS TS Lê Sỹ Thắng làm chủ nhiệm Đề tài đã nghiên cứu

làm rõ những nội dung cơ bản của t tởng Hồ Chí Minh về vấn đề con ngời,chính sách xã hội của Đảng, Nhà nớc đối với con ngời

Trang 5

+ Chơng trình khoa học cấp Nhà nớc KHXH 04 (1996-2000) có đề tài

T tởng Hồ Chí Minh về văn hoá và xây dựng con ngời mới do Giáo s Đặng

Xuân Kỳ làm chủ nhiệm Đề tài làm rõ những nội dung cơ bản trong t tởng HồChí Minh về văn hoá và xây dựng con ngời Việt Nam mới, mối quan hệ giữaphát triển văn hoá và xây dựng con ngời mới

- Về các luận văn, luận án:

+ Nguyễn Hữu Công (2001) “T tởng Hồ Chí Minh về phát triển con

ng-ời toàn diện”, luận án tiến sỹ triết học, học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh Tác giả tập trung nêu lên t tởng về giáo dục, đào tạo phát triển con ngờitoàn diện của Hồ Chí Minh Về con đờng hình thành và phát triển con ngời toàndiện theo quan niệm của Hồ Chí Minh Từ đó tác giả đa ra hớng vận dụng và pháthuy t tởng phát triển con ngời toàn diện của Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựngcon ngời mới ở Việt Nam hiện nay

+ Phùng Thu Hiền (2002) “T tởng Hồ Chí Minh về nhân tố con ngời với việc phát huy nhân tố con ngời trong sự nghiệp đổi mới đất nớc hiện nay”,

luận văn thạc sỹ triết học, Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả

đã nêu khái niệm con ngời, nhân tố con ngời, chỉ ra cơ sở hình thành và nộidung t tởng Hồ Chí Minh về nhân tố con ngời, những quan điểm của Đảng vàNhà nớc ta vận dụng t tởng Hồ Chí Minh và chỉ ra một số giải pháp chủ yếunhằm phát huy nhân tố con ngời trong sự nghiệp đổi mới hiện nay

+ Nguyễn Văn Tuyên (2006) “Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng con

ng-ời Việt Nam", luận văn thạc sỹ Hồ Chí Minh học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ

Chí Minh Luận văn nêu quan điểm của Hồ Chí Minh về con ngời Việt Nam đợcgiải phóng và sự nghiệp giải phóng con ngời Việt Nam, từ đó luận văn chỉ ra sựvận dụng của Đảng ta về t tởng giải phóng con ngời trong công cuộc đổi mới đấtnớc và chỉ ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sự nghiệp giải phóng con ngời theo

t tởng Hồ Chí Minh

- Về sách chuyên khảo

+ Hồ Chí Minh về xây dựng con ngời mới, Nhà xuất bản Chính trị quốc

gia Hồ Chí Minh, H.1995 của tập thể tác giả: Nguyễn Huy Hoan, NguyễnXuân Thông, Nguyễn Thị Minh Hơng, Phạm Thị Lai, Nguyễn Thanh Nga.Tập thể tác giả đã su tầm, tuyển chọn đoạn trích trong Hồ Chí Minh toàn tập

do Nhà xuất bản Sự thật xuất bản lần thứ nhất từ 1980 đến 1989 và một số tácphẩm lẻ của Ngời, một số t liệu do Viện bảo tàng Hồ Chí Minh cung cấp Nội

Trang 6

dung “T tởng Hồ Chí Minh về xây dựng con ngời mới” đợc xắp sếp theo 6 vần đề

sau: Vai trò của con ngời và ý nghĩa việc xây dựng con ngời mới; đánh giá conngời; bồi dỡng con ngời về trí tuệ; bồi dỡng đạo đức; xây dựng mục đích và lốisống; chăm lo lợi ích và đời sống vật chất của con ngời

+ PGS TS Thành Duy (2001): “T tởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con ngời Việt Nam phát triển toàn diện", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,

Hà Nội Trong đó tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa văn hoá và việc xây dựng conngời mới ở Việt Nam, đồng thời chỉ rõ quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chấtcon ngời Việt Nam phát triển toàn diện trong bối cảnh hiện nay

+ TS Lê Quang Hoan (2002) “T tởng Hồ Chí Minh về con ngời” Nhà xuất

bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách đề cập một số nội dung sau: làm sâusắc thêm khái niệm con ngời, nhân tố con ngời, phát huy nhân tố con ngời theo ttởng Hồ Chí Minh Trình bày rõ thêm nguồn gốc, quá trình hình thành và pháttriển t tởng Hồ Chí Minh về con ngời Tập trung phân tích những nội dung cơbản của t tởng Hồ Chí Minh về con ngời, chỉ ra đặc điểm, nội dung chủ yếu, bảnsắc, giá trị t tởng Hồ Chí Minh về con ngời trong t tởng Hồ Chí Minh Trên cơ sở

đánh giá thực trạng phát huy nhân tố con ngời trong thời gian qua theo yêu cầuCNH, HĐH, kiến nghị phơng hớng và một số giải pháp cơ bản nhằm phát huynhân tố con ngời trong quá trình CNH, HĐH ở Việt nam hiện nay dới ánh sáng ttởng Hồ Chí Minh

- Về các bài tạp chí:

+ Tạp chí nghiên cứu lý luận (số 1/2000) đăng bài của PGS Trần Thành

- Lê Quang Hoan “Hồ Chí Minh với vấn đề nhân tố con ngời trong sự nghiệp CNH, HĐH” Các tác giả đã khái quát một số nội dung có ý nghĩa phơng pháp

luận của Hồ Chí Minh về vấn đề con ngời nh giáo dục chủ nghĩa yêu nớc, lý ởng XHCN, đạo đức cách mạng

t-+ Tạp chí Lịch sử Đảng (số 12/2005) đăng bài của PGS, TS Thành Duy

“T tởng Hồ Chí Minh về con ngời và chính sách đối với con ngời” PGS, TS

Thành Duy đã khái quát lại t tởng Hồ Chí Minh về vấn đề con ngời: Bản chấtcon ngời, những phẩm chất cơ bản của con ngời và một số chính sách đối vớivấn đề con ngời

+ Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông (Học viện Báo chí và tuyên

truyền, Số 5/2007) có bài của Lê Thị Hơng “Về một số phẩm chất cơ bản cần

có và định hớng phát huy nhân tố con ngời theo t tởng Hồ Chí Minh” Bài viết

chỉ ra một số phẩm chất của con ngời trong quan điểm Hồ Chí Minh: Cần,

Trang 7

kiệm, liêm, chính, chí công vô t, tinh thần lao động quên mình, có lối sốnglành mạnh văn minh và chỉ ra một số định hớng cơ bản về phát huy tiềm năng

và sáng tạo của con ngời theo t tởng Hồ Chí Minh

Những công trình trên đã nêu lên và khái quát đợc những nét lớn, chủyếu trong t tởng Hồ Chí Minh về con ngời, về giáo dục, đào tạo con ngời mớixã hội chủ nghĩa Một số tác phẩm bắt đầu đi vào khai thác, nghiên cứu nhữngkhía cạnh cụ thể của t tởng đó

Tuy nhiên, việc nghiên cứu t tởng Hồ Chí Minh về đức, trí, thể, mỹ củacon ngời Việt Nam còn nhiều mặt, nhiều nội dung ch a đợc đề cập đầy đủ,nhất là những cống hiến của Hồ Chí Minh trong việc tạo môi tr ờng và điềukiện cho con ngời Việt Nam phát triển toàn diện để có những thế hệ ngờiViệt Nam đủ đức, trí, thể, mỹ; vừa “hồng” vừa “chuyên” đủ khả năng đ aViệt Nam sánh vai các cờng quốc năm châu nh Hồ Chí Minh mong đợi Vìthế đề tài tác giả chọn không trùng lặp với các đề tài của những ng ời đi tr-

ớc Song kết quả nghiên cứu của những ngời đi trớc sẽ làm cơ sở để chúng

tôi tiếp tục nghiên cứu góp phần hoàn thiện và làm phong phú hơn: “ T tởng

Hồ Chí Minh về đức, trí, thể, mỹ của con ngời Việt Nam”.

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

- Nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống những cống hiến lý luận và thựctiễn của Hồ Chí Minh trong xây dựng con ngời Việt Nam trên các mặt đức,trí, thể, mỹ và việc Đảng Cộng sản Việt Nam kế tục sự nghiệp đó của Hồ ChíMinh trong công cuộc công nghiệp hoá đất nớc

3.2 Nhiệm vụ

- Trình bày và làm rõ về mặt lý luận một cách cơ bản, hệ thống nhữngvấn đề nh: khái niệm, cơ sở hình thành và nội dung đức, trí, thể, mỹ trong t t-ởng Hồ Chí Minh về con ngời Việt Nam phát triển toàn diện và những cốnghiến của Hồ Chí Minh trong thực tế xây dựng con ngời Việt Nam phát triển về

đức, trí, thể, mỹ

- Trình bày và phân tích định hớng phát triển con ngời toàn diện của

Đảng cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá nhằm kế tục t tởng

Hồ Chí Minh

- Đề xuất phơng hớng và giải pháp đổi mới giáo dục đào tạo con ngờitrong những năm tiến hành công nghiệp hoá

Trang 8

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tợng nghiên cứu

Hệ thống các quan điểm của Hồ Chí Minh về đức, trí, thể, mỹ của conngời Việt Nam đợc thể hiện trong những bài nói và viết của Ngời, các vănkiện của Đảng cộng sản Việt Nam; hoạt động thực tế của Hồ Chí Minh và

Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng con ngời mới xãhội chủ nghĩa (thực chất là con ngời phát triển toàn diện)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn tập trung nghiên cứu một số nội dung cơ bản trong t tởng

Hồ Chí Minh về con ngời Việt Nam phát triển trên các mặt nh: đức, trí, thể,mỹ

- Đảng ta vận dụng t tởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng conngời Việt Nam phát triển toàn diện trong công cuộc đổi mới

5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, t tởng HồChí Minh, các quan điểm, chủ trơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànớc về vấn đề xây dựng con ngời Việt Nam phát triển toàn diện

5.2 Phơng pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phơng pháp luận nghiên cứu khoa học củaChủ nghĩa Mác – Lênin: Lịch sử – lôgíc; phơng pháp diễn dịch; phơng phápphân tích – tổng hợp, so sánh; phơng pháp khái quát hoá … để làm rõ nộidung cơ bản của đề tài

6 Những đóng góp về khoa học của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ hơn những nội dung cơ bản t tởng Hồ ChíMinh về con ngời Việt Nam phát triển trên các mặt chủ yếu cấu thành phẩmchất, năng lực của nó, đó là: Đức, Trí, Thể, Mỹ; góp phần làm sâu sắc thêm ttởng nhân văn Hồ Chí Minh

7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Với những kết quả đạt đợc Luận văn có thể dùng làm tài liệu thamkhảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy t tởng Hồ Chí Minh ở trờng chính trị,cao đẳng và đại học

8 Kết cấu của luận văn

Trang 9

Ngoµi phÇn më ®Çu, kÕt luËn vµ danh môc tµi liÖu tham kh¶o, luËn v¨ngåm 2 ch¬ng, 5 tiÕt.

Trang 10

1.1.1 Khái niệm con ngời và bản chất con ngời trong t tởng Hồ Chí Minh

Khái niệm con ngời, bản chất con ngời trong t tởng của Hồ Chí Minh đã

đợc nhiều ngời nghiên cứu và có kết quả công bố Chúng tôi đồng tình vớinhững đánh giá, kết luận đã công bố trong các công trình của các nhà khoahọc đi trớc nh Đặng Xuân Kỳ, Thành Duy, Lê Quang Hoan, Nguyễn VănTuyên, Nguyễn Hữu Công… Với t cách là một khái niệm công cụ trongnghiên cứu đề tài này, đồng thời để góp thêm ý kiến, làm sáng tỏ câu trả lờicon ngời là gì, bản chất con ngời nh thế nào trong t tởng Hồ Chí Minh, chúngtôi xin nêu mấy vấn đề sau:

1.1.1.1 Hồ Chí Minh đã đa ra một định nghĩa về ngời: “Chữ ngời, nghĩa

hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nớc.Rộng nữa là cả loài ngời” [40, tr.644]

Lý giải thông thờng theo định nghĩa này (duy danh), “chữ ngời” mà HồChí Minh đề cập ở đây chủ yếu là con ngời cộng đồng, tồn tại ở ba khu vực

địa lý khác nhau (làng, nớc, thế giới) đợc hiểu ở ba nghĩa: hẹp, rộng và rấtrộng và đây chủ yếu là con ngời xã hội, có quan hệ xã hội và mang bản chấtxã hội Con ngời hình thành là do biết đối xử với ngời khác, giải quyết cácquan hệ xã hội từ hẹp (gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn) trong làng đến quan

Trang 11

hệ rộng là đồng bào cả nớc, rộng nữa là nhân loại cả thế giới Điều này cũng cónghĩa con ngời không thể tách biệt đồng loại, tách biệt xã hội, ngay quyền tựnhiên tạo hoá ban cho con ngời làm cha mẹ, anh em, chú bác chỉ có đợc trongquan hệ với cộng đồng xã hội, với làng, với nớc với nhân loại thế giới

Song, sự độc đáo của cách hiểu này là ở chỗ: “Chữ ngời” (có thể hiểu nh

là chữ ngời viết nghiêng), là chỉ cho con ngời cá thể (một con ngời), nhng con

ngời đó còn là một con ngời xã hội, là một thành viên của một cộng đồng xã

hội nhất định Cộng đồng đó, không chỉ là cộng đồng ba cấp nhà - làng - nớc

đã tồn tại từ lâu trong quan niệm của nhân dân ta, mà còn cụ thể hơn, rộng hơn

với 5 cấp là gia đình, họ tộc, làng xóm, dân tộc và nhân loại nh Hồ Chí Minh nêu trong định nghĩa Điều này cũng có nghĩa là để thành ngời (chữ ngời) thì điều kiện cần là con ngời cá thể, con ngời sinh vật học, nhng điều kiện đủ phải là con

ngời xã hội Nghĩa là nghiên cứu con ngời, bản chất con ngời phải đồng thời chú

ý cả hai mặt sinh vật học và xã hội

Cái độc đáo của định nghĩa này còn hàm chứa tiêu chuẩn con ngời khi nói

đến nghĩa hẹp, rộng và rộng nữa, tức là nói đến khả năng phát triển của con

ngời, đơn giản hay phong phú, trình độ cao hay thấp phụ thuộc vào kết quảcủa quá trình ứng xử, giải quyết các quan hệ xã hội xuất hiện đơn giản hayphức tạp, gia đình hay quốc gia hoặc quốc tế Con ngời sẽ phát triển hơn khi

đợc giao tiếp rộng hơn, “đi một đàng, học sàng khôn”

Cùng dùng với thuật ngữ chữ ngời, gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn,

đồng bào, nhân loại để chỉ cho “con ngời”, Hồ Chí Minh còn dùng các thuậtngữ khác nh: dân, dân chúng, quần chúng, sĩ, nông, công, thơng, già trẻ, gái,trai, cán bộ, đảng viên… cũng để nói về “con ngời” Mặc dù thuật ngữ “conngời” Hồ Chí Minh dùng rất ít (hai lần), nhng thông qua các thuật ngữ trên HồChí Minh đề cập đầy đủ các mặt của con ngời

1.1.1.2 Theo Hồ Chí Minh, con ngời muốn tồn tại thì phải có ăn, mặc, ở,

đi lại… Đó là những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống con ngời Con ngời sinh

vật học và con ngời xã hội (con ngời trí tuệ) đều có nhu cầu (bản năng) ăn, ở,

đi lại

Song, con ngời khác con vật ở chỗ, trong con ngời, ý thức thay thế bảnnăng, hoặc bản năng của con ngời là bản năng đã đợc ý thức ở con ngời cáibản năng đã đợc cải tạo, nhng không hề bị xoá bỏ, nó vẫn tác động tới toàn bộ

Trang 12

đời sống của con ngời Quá trình ngời hoá là quá trình duy nhất diễn ra trong

sự tơng tác giữa yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội

Thực ra không có hai loại con ngời tức con ngời sinh vật học và con ngờixã hội cùng sống trong xã hội loài ngời mà chỉ có những con ngời cụ thể đợcphát triển từ con ngời sinh học thành ngời khôn và trởng thành, hiện tồn tại làcon ngời trí tuệ, có ý thức Có thể thấy điều này qua cách lý giải của Hồ ChíMinh

Theo Hồ Chí Minh, dù sống ở quốc gia độc lập hay lệ thuộc, đã là dân thì:

“Dân dĩ thực vi thiên, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, không có ăn là không có trời Lại có câu có thực mới vực đợc đạo nghĩa là không có ăn chẳng làm đợc

việc gì” [42, tr.572] Và: “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi màdân đợc ăn no, mặc đủ” [39, tr.152] Chính vì vậy, để dân phân biệt đợc giá trịcủa tự do, độc lập:

Chúng ta phải thực hiện ngay:

1 Làm cho dân có ăn,

2 Làm cho dân có mặc,

3 Làm cho dân có chỗ ở,

4 Làm cho dân có học hành

Đi đến 4 điều đó để dân nớc ta xứng đáng với tự do, độc lập

và giúp sức đợc cho tự do, độc lập [39, tr.152]

Điều này có nghĩa là Hồ Chí Minh quan tâm đến nhu cầu tối thiểu củacon ngời, dù là con ngời sinh vật học hay con ngời xã hội để tồn tại nh mộtcon ngời phải có ăn, mặc, ở, đi lại Đó là nhu cầu để đợc sống, có sống mớinói đến làm đạo lý và các việc cao xa khác nh chính trị, quân sự, chinh phục

vũ trụ

Hồ Chí Minh cũng cho rằng con ngời không phải chỉ có nhu cầu vật chất,

mà còn có những nhu cầu về tinh thần, và nhu cầu tinh thần là cái đặc trng của

con ngời, cho con ngời Con ngời khác con vật chính ở nhu cầu tinh thần Tấtcả những nhu cầu vật chất và tinh thần đó có đợc đáp ứng hay không lại hoàn

toàn phụ thuộc vào chế độ xã hội, vào hình thái kinh tế - xã hộ mà họ đang

sống Dân nô lệ, thuộc địa nửa phong kiến có nhu cầu khác dân t bản, dân củanớc đế quốc thực dân và nhu cầu của con ngời ở mỗi quốc gia đợc đáp ứngcũng khác nhau

Trang 13

1.1.1.3 Theo Hồ Chí Minh, con ngời là bộ phận của tự nhiên, nhng con

ngời không phải chỉ biết thích nghi với tự nhiên, mà còn chinh phục tự nhiên;không phải chỉ chịu lệ thuộc vào tự nhiên, mà còn muốn cải tạo, làm chủ tựnhiên, không phải chỉ bằng lòng với cái tự nhiên vốn có, mà còn tạo ra cáithiên nhiên thứ hai để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con ngời Tronghoạt động đầy sáng tạo đó, mỗi con ngời cụ thể bao giờ cũng là thành viên củamột cộng đồng xã hội nhất định, tham gia vào chinh phục, cải tạo tự nhiêntheo chức năng và vai trò của cộng đồng mình

1.1.1.4 Chủ tịch Hồ Chí Minh phân biệt ngời này với ngời khác chủ yếu

không phải là vấn đề chủng tộc màu da (vàng, trắng, đỏ hay đen) hoặc vấn đề

dân tộc, mà từ nhận thức về chủng tộc, dân tộc đi đến nhận thức về giai cấp.

Đó là sự vận động của t duy Hồ Chí Minh về vấn đề con ngời Từ việc tìm câutrả lời: Vì sao ngời Việt Nam phải làm nô lệ, phải cùng khổ, mất nớc, ngờiViệt Nam da vàng bị mất nhân tính cũng nh nhiều dân tộc thuộc địa trên thếgiới đang bị đoạ đày, Hồ Chí Minh đã thấy đợc rằng chỉ có thể giải phóng giai

cấp mới giải phóng đợc các dân tộc trên thế giới Nhng Ngời không đi tới

nhận thức một cách cực đoan về vấn đề giai cấp, mà lại luôn luôn kết hợp dântộc với giai cấp trong mọi vấn đề của cách mạng Việt Nam, trong đó có vấn đềcon ngời

1.1.1.5 Từ các vấn đề nêu trên, bản chất con ngời theo t tởng Hồ Chí

Minh đợc bộc lộ rõ ràng Hồ Chí Minh luôn luôn đặt con ngời, mỗi cá nhân con ngời trong mối quan hệ ba chiều:

Quan hệ với một cộng đồng nhất định, trong đó mỗi ngời là một thành viên;Quan hệ với một chế độ xã hội nhất định trong đó con ngời đợc làm chủhay bị áp bức, bóc lột;

Quan hệ với tự nhiên, mà con ngời là một bộ phận không tách rời, nhnglại luôn luôn “ngời hoá” tự nhiên trong những cộng đồng xã hội nhất định và

bị quy định bởi những chế độ xã hội nhất định

Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm mác-xít về con ngời: "Con ngờikhông phải là một cái trừu tợng, cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiệnthực của nó, bản chất con ngời là tổng hoà những quan hệ xã hội” [34, tr.11]

Các quan hệ xã hội có nhiều loại, trong đó quan hệ sản xuất đóng vai trò

chi phối, quyết định các quan hệ xã hội khác, biểu hiện thành quan hệ giai

Trang 14

cấp Vì nó xác định con ngời thuộc các giai tầng xã hội khác nhau Do vậy,

nói đến bản chất con ngời trong xã hội có giai cấp thì trớc hết phải nói đến tính giai cấp của nó.

Nhng bản chất con ngời không phải chỉ do quan hệ sản xuất tạo ra, cũngkhông thể chỉ quy bản chất con ngời vào tính chất giai cấp của nó Nếu quan

hệ sản xuất thể hiện bản chất tầng một của con ngời thì các quan hệ xã hội khác thể hiện bản chất tầng hai của con ngời và lại đợc thể hiện thông qua

bản chất tầng một, tạo nên những khác biệt giữa con ngời với con ngời, giữanhà t sản này với nhà t sản khác, giữa công nhân này với công nhân khác, cha

kể sự khác biệt giữa công nhân với t bản…

Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa khẳng định quan hệ sản xuất đã phân chia conngời thành “giống ngời bóc lột và giống ngời bị bóc lột”, đồng thời lại thấy chỉ

có tổng hoà tất cả các quan hệ xã hội thì mới tạo thành bản chất con ngời

Ng-ời không coi nhẹ mặt quan hệ sản xuất, nhng cũng không tuyệt đối hoá quan

hệ sản xuất, và cũng không coi quan hệ sản xuất là quan hệ duy nhất tạo thànhbản chất con ngời

Các quan hệ xã hội không phải nhất thành bất biến: có loại thay đổinhanh, có loại thay đổi chậm; có loại tồn tại tơng đối lâu, trong đó những gìtốt đẹp vẫn đợc giữ lại để kế thừa, phát triển trong những điều kiện lịch sử mới(quan hệ đạo đức, quan hệ thiện ác, quan hệ gia đình, họ tộc, làng xã, dântộc…), có loại lại bị thay thế bởi cái khác khi những điều kiện lịch sử cụ thể

để nó tồn tại không còn nữa (quan hệ sản xuất, quan hệ giai cấp)

Từ đó có thể thấy rằng bản chất con ngời cũng biến đổi cùng với sự biến

đổi của các quan hệ xã hội Chính điều này mà Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vấn đề cải tạo con ngời cũ, xây dựng con ngời mới khi chế độ thực dân

phong kiến ở nớc ta đã bị lật đổ, khi cả một dân tộc đã bắt tay vào xây dựngmột chế độ xã hội mới dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản

1.1.2 Về phát triển toàn diện con ngời và bản chất con ngời Việt Nam phát triển toàn diện trong t tởng Hồ Chí Minh

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chỉ rõ, con ngời Việt Nam đợc sự dìudắt, giáo dục, đào tạo của Đảng cộng sản và Hồ Chí Minh đã trở thành yếu tốquyết định, là động lực thực sự cho sự phát triển của cách mạng trong suốttám, chín chục năm qua Hơn thế nữa, đối với Hồ Chí Minh, con ngời không

Trang 15

chỉ là động lực mà còn là mục tiêu cao cả nhất, là cái đích hớng tới của cáchmạng Việt Nam Chúng ta làm cách mạng là để giải phóng dân tộc, giải phóngxã hội, giải phóng và phát triển con ngời, nâng vị thế của con ngời lên mộttầm cao mới, xứng đáng là chủ thể của mọi quá trình phát triển trong xã hộimới xã hội chủ nghĩa Vì vậy, sau khi giành đợc chính quyền về tay nhân dân,dân tộc Việt Nam đợc giải phóng về chính trị thì phát triển con ngời về mọimặt để không ngừng năng cao trình độ, phẩm chất, năng lực của ngời chiến sĩcách mạng, của công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp nhân dân lao

động (nói chung là ngời Việt Nam) là t tởng rất quan trọng, mang ý nghĩanhân văn sâu sắc của Hồ Chí Minh

Phát triển toàn diện con ngời, xây dựng con ngời mới xã hội chủ nghĩa

và đào tạo con ngời phát triển toàn diện là các phạm trù đợc Hồ Chí Minhdùng nhiều, tuy có khác nhau về từ ngữ nhng có nội dung, ý nghĩa giốngnhau là hình thành con ngời Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh – thời đại độc lậpdân tộc và chủ nghĩa xã hội

Quan điểm phát triển toàn diện con ngời của Hồ Chí Minh đợc trình

bày một cách trực tiếp và gián tiếp qua rất nhiều tác phẩm, cũng nh qua nhữnghành động cụ thể trong hoạt động thực tiễn của Ngời Đáng chú ý là: “Th gửicác học sinh” nhân ngày khai trờng đầu tiên của chế độ mới (tháng 9/1945);

Hồ Chí Minh chỉ rõ các học sinh đợc hấp thụ: “Một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn các năng lực sẵn có của các em” (TG nhấn mạnh) [39, tr.32].

Quan điểm này trở thành mục tiêu đào tạo của giáo dục Việt Nam

Trong Báo cáo chính trị, trình bày tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ

II của Đảng (tháng 2-1951), lần đầu tiên, vấn đề xây dựng con ngời mới đợc

Hồ Chí Minh chính thức nêu ra, cần “Xúc tiến công tác văn hoá để đào tạocon ngời mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc” [40,tr.173] Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, nói chuyện tại Lớp đào tạo h -ớng dẫn viên các trại hè cấp I, (12-6-1956), Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mục đích

giáo dục bây giờ là phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đào tạo lớp ngời, lớp cán bộ mới” [43, tr.183].

Khái niệm ngời xã hội chủ nghĩa, con ngời mới xã hội chủ nghĩa đợc Hồ

Chí Minh chính thức đề cập tới trong bài nói chuyện với thầy và trò trờng ChuVăn An (Hà Nội) ngày 31-12-1958, Ngời khẳng định: “Muốn xã hội chủ

nghĩa, phải có: ngời xã hội chủ nghĩa” [44, tr.296] Từ đó, khái niệm con ngời

Trang 16

xã hội chủ nghĩa đợc Hồ Chí Minh nhắc đến nhiều lần Nói chuyện với Hội

nghị bồi dỡng cán bộ lãnh đạo các cấp toàn miền Bắc nhằm quán triệt Nghịquyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, tháng 3-1961, Hồ Chí Minh một lần

nữa khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trớc hết cần có những con ngời xã hội chủ nghĩa” [45, tr.310].

Luận điểm trên của Hồ Chí Minh trở thành luận điểm kinh điển khi đềcập đến vấn đề xây dựng con ngời trong chủ nghĩa xã hội Có thể hiểu luận

điểm này với những nội dung chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra con ngời xã hội chủ nghĩa - chủ thể

của toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Không xây dựng chủ nghĩaxã hội thì không thể nói đến việc xây dựng con ngời xã hội chủ nghĩa, ngợclại, không có những con ngời xã hội chủ nghĩa thì không thể xây dựng đợcchủ nghĩa xã hội

Thứ hai, không phải chờ cho kinh tế, văn hoá phát triển cao rồi mới xây

dựng con ngời xã hội chủ nghĩa, cũng không phải xây dựng xong những conngời xã hội chủ nghĩa rồi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội Việc xây dựng conngời xã hội chủ nghĩa phải đợc đặt ra ngay từ đầu và phải đợc Đảng, Nhà nớc,nhân dân, mỗi gia đình và cá nhân đặc biệt quan tâm trong suốt tiến trình xâydựng chủ nghĩa xã hội

Thứ ba, trớc hết cần có những con ngời xã hội chủ nghĩa, điều đó không

có nghĩa là tất cả mọi ngời phải và có thể trở thành con ngời mới xã hội chủnghĩa thật đầy đủ, thật hoàn chỉnh ngay một lúc Điều đó chỉ có nghĩa là, trớchết, cần có những con ngời tiên tiến, có đợc những nét tiêu biểu của con ngờimới xã hội chủ nghĩa có thể làm gơng cho ngời khác, từ đó lôi cuốn toàn xãhội đẩy mạnh việc xây dựng con ngời mới xã hội chủ nghĩa

Phát triển toàn diện con ngời, xây dựng con ngời mới xã hội chủ nghĩa,

đào tạo con ngời phát triển toàn diện đợc Hồ Chí Minh khái quát trong sự nghiệp trồng ngời của cách mạng Việt Nam Sự nghiệp trồng ngời của Hồ Chí

Minh, của Đảng ta và toàn dân ta không chỉ giới hạn trong việc vun trồng cácmầm non tơng lai của nớc nhà mà tiến hành suốt quá trình phát triển của đờingời nhằm hình thành ở Việt Nam những con ngời mới đủ sức làm chủ cáchmạng, làm chủ xã hội phát triển Đó là những con ngời có giác ngộ lý tởng xãhội chủ nghĩa; có kiến thức, hiểu biết, nắm vững khoa học kỹ thuật; có đạo

đức cách mạng: trung với nớc, hiếu với dân; yêu thơng con ngời; cần kiệm

Trang 17

liêm chính, chí công vô t; có tinh thần quốc tế trong sáng; sống có lý tởng, cóbản lĩnh, biết làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân; biết sống

“mình vì mọi ngời, mọi ngời vì mình”; lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, lao

động có năng suất, chất lợng, hiệu quả; không sợ gian khổ, khó khăn, vì lợiích của bản thân, tập thể và xã hội; có năng lực để làm chủ tự nhiên, làm chủ

xã hội và làm chủ bản thân Điều này cũng có nghĩa là kết quả của sự nghiệp

trồng ngời là con ngời mới phát triển toàn diện.

Đặc biệt, Hồ Chí Minh nhìn nhận, tiếp cận con ngời Việt Nam đơng đạitrên các mặt chủ yếu hình thành nên phẩm chất và năng lực của nó, đó là: Thểlực, Trí tuệ, Thẩm mỹ, Đạo đức Điều này thể hiện qua nhiều bài viết, bài nói

của Ngời nh: Đời sống mới”, “Th gửi lớp chuẩn bị tổng phản công” của trờng trung học lục quân Trần Quốc Tuấn ngày 9/11/1949; “Gửi tớng Nguyễn Sơn” tháng 3/1948; “Nhiệm vụ của ngời làm tớng” (8/1948) và nhất là trong bài

“Gửi các em học sinh” trên báo Nhân dân ngày 24/10/1955.

Trong bức th này, Hồ Chí Minh đã đứng trên quan niệm về bản chất

(những điều cốt lõi) của con ngời phát triển toàn diện là Đức, Trí, Thể, Mỹ, để

đặt yêu cầu phải rèn luyện, giáo dục, đào tạo, phát triển con ngời theo nhữngtiêu chí đó Ngời viết:

Đối với các em việc giáo dục gồm có:

- Thể dục: Để làm cho thân thể khoẻ mạnh

- Trí dục: Ôn lại những điều đã học, học thêm tri thức mới

- Mỹ dục: Để phân biệt cái đẹp, cái gì không đẹp

- Đức dục: Là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêukhoa học, yêu của công (năm cái yêu) [43, tr.75]

T tởng này đợc Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định trong “Báo cáo về Dự thảo Hiến Pháp sửa đổi” tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá I nớc Việt Nam

Dân chủ cộng hoà (1959) Ngời viết: “Nhà nớc chú trọng đặc biệt việc giáodục thanh niên về Đức dục, Trí dục, Thể dục” [44, tr.593]

Nh vậy, con ngời phát triển toàn diện trong quan niệm của Hồ Chí Minhhiện ra nh một thực thể vẹn toàn mà trong nó sự mạnh khoẻ về mặt thể chất,

sự phong phú về mặt trí tuệ (tri thức mới và cũ), sự hiểu biết sâu sắc về cái haycái đẹp, cái tốt, cái cao cả cũng nh những phẩm chất đạo đức trong sáng, cao

đẹp là những điểm cơ bản và chủ yếu nhất

Trang 18

1.2 một số nội dung cơ bản trong T tởng Hồ Chí Minh về con ngời Việt Nam phát triển các mặt đức, trí, thể, mỹ

1.2.1 Cơ sở hình thành t tởng Hồ Chí Minh về con ngời Việt Nam phát triển các mặt đức, trí, thể, mỹ

1.2.1.1 Hồ Chí Minh tiếp thu những kinh nghiệm đào tạo, phát triển con ngời của dân tộc Việt Nam

Dân tộc nào cũng phải đào tạo những ngời lao động Lao động sản sinhcon ngời và lao động cũng cải tạo, phát triển con ngời Ngời Việt Nam luôn

mong ớc trở thành ngời lao động giỏi, thành ngời khổng lồ, thành các thần,

các thánh trong lao động chinh phục tự nhiên, thành các “ông tát bể, ông kểsao, ông đào sông, ông trồng cây, ông xây rú ” (đồng dao), thành Sơn Tinhchống lại Thuỷ Tinh tợng trng cho sức mạnh lũ lụt để bảo vệ sản xuất và an clạc nghiệp

Việt Nam là một quốc gia nằm ở cửa ngõ Đông Nam châu á, khí hậukhắc nghiệt, môi trờng sống khó khăn, thiên tai thờng xuyên đe doạ sự tồnvong của cộng đồng và cá nhân Việt Nam lại ở cạnh một quốc gia rộng lớn,luôn có tham vọng bành trớng xuống phía nam Trong lịch sử, nhân dân ta th-ờng xuyên phải đối đầu với các cuộc xâm lợc không chỉ từ Phơng Bắc mà cảPhơng Tây Đặc điểm đó đòi hỏi ngời Việt Nam phải luôn cảnh giác, phảiquan tâm đến rèn luyện sức khoẻ, luyện võ nghệ, rèn tài và kỹ năng chiến đấu,

hun đúc tinh thần sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc, để trở thành ngời anh hùng có kỹ thuật xây thành đắp luỹ và kỹ sảo chế tác nỏ thần nh An Dơng V-

ơng trong chiến đấu chống ngoại xâm

Bên cạnh ngời yêu nớc, ngời lao động, ở Việt Nam cũng sớm hình thành ngời văn hoá Do tiếp biến, giao thoa của các nền văn hoá ấn Độ, Trung Hoa

và sau này là Pháp, đời sống tinh thần, t tởng ngời Việt chịu ảnh hởng lớn củaPhật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và Ki tô giáo Trong đó Nho giáo có u thế hơn

so với các tôn giáo khác bởi nó có một hệ thống phạm trù, khái niệm khá hoànchỉnh, phù hợp với sự thống trị của giai cấp phong kiến Việt Nam Hơn nữa,Nho giáo không chủ trơng ngu dân để dễ cai trị mà còn muốn có một xã hộihọc tập, mọi ngời đi học “mấy chữ để làm ngời” Nho giáo còn xây dựng đợcmẫu ngời lý tởng cho xã hội phong kiến đó là những ngời “quân tử”, những

“kẻ sĩ”, những “đại trợng phu” mà ở họ các năng lực, phẩm chất và ý chí tinhthần đợc coi trọng và đề cao Nho giáo còn đề ra những phơng sách cụ thể để

Trang 19

đào tạo và phát triển con ngời, trong đó nhấn mạnh yếu tố tự giác “tu thân”của các cá nhân để tề gia mà vơn tới trị quốc, bình thiên hạ.

Trong lịch sử cha ông ta đã sử dụng một hệ thống phơng pháp giáo dục,

đào tạo, phát triển con ngời khá phong phú nh:

- Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đức dục với trí dục

- Kết hợp giữa tri và hành

- Khích lệ, động viên và khuyến khích tinh thần tự giác vơn lên của mỗicon ngời

Học tập kinh nghiệm cha ông, Hồ Chí Minh đã kết hợp chặt chẽ giáo dục

đạo đức cách mạng, lý tởng, quan điểm sống với tri thức khoa học xã hộinhân văn cho ngời Việt Nam Theo Hồ Chí Minh, có làm tốt điều đó chúng tamới có thể tạo ra đợc những con ngời mới đức tài vẹn toàn; đạo đức và tài năng,

lý trí và tình cảm không thể tách rời trong nhân cách của ngời cách mạng “Có

đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”; “có tài mà không có đức ví nh mộtanh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhng lại để thụt két” [43, tr.126] Vì vậy, kếthợp chặt chẽ giữa giáo dục đức dục với trí dục là phơng pháp hết sức quan trọng

để đào tạo cho cách mạng những con ngời “vừa hồng, vừa chuyên”

“Tri và hành” là một phơng pháp đào tạo, phát triển con ngời của nềngiáo dục truyền thống Việt Nam Mặc dù trong thực tế vấn đề này làm cha tốt,kinh nghiệm còn ít, song giá trị tinh thần, tiến bộ và ý nghĩa tích cực của nótrong việc xây dựng, hoàn thiện và phát triển nhân cách con ngời là điều đángghi nhận và cần phải tiếp thu Hồ Chí minh luôn nhấn mạnh kết hợp học vớihành, lý luận phải gắn với thực tế, học tập kết hợp với lao động sản xuất HồChí Minh viết: “Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế, chỉ thuộc lòng để đem loèthiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích Vì vậy, chúng ta cần phải gắng học, đồngthời học thì phải hành” [40, tr.235]; “chỉ biết lý luận mà không biết thực hànhthì cũng là tri thức một nửa lý luận kết hợp với thực hành, học tập kết hợpvới lao động sản xuất” [44, tr.174]; theo Hồ Chí Minh nếu thực hiện tốt “tri vàhành”; giữa nhận thức với hoạt động thực tiễn, làm cho mọi ngời biết lấy việcphục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc làm mục đích tối caocho việc học tập, nâng cao trình độ mọi mặt của mình sẽ là biện pháp hữu hiệuthúc đẩy sự ra đời phát triển của con ngời toàn diện ở nớc ta

Động viên, khích lệ tinh thần hiếu học, cần học là phơng pháp mà cha

ông ta a dùng nh: niêm danh, yết bảng các sĩ tử thi đỗ; khắc tên vào bảng

Trang 20

vàng, bia đá; tổ chức lễ vinh quy bái tổ một cách trịnh trọng; ban thởng yếntiệc, mũ áo, ruộng đất, tớc lộc Sinh thời Hồ Chí Minh cũng có những hình thứckhen thởng xứng đáng cho những ngời chăm ngoan, học giỏi; tặng giấy khen,bằng khen; danh hiệu học sinh giỏi, danh hiệu cháu ngoan Bác Hồ, ngời tốt, việctốt; gửi ra nớc ngoài tiếp tục đào tạo; u tiên tuyển chọn vào biên chế; nâng lơngtrớc thời hạn; đề bạt vào những cơng vị lãnh đạo phù hợp

1.2.1.2 Hồ Chí Minh tiếp thu những quan điểm phát triển con ngời toàn diện của chủ nghĩa Mác - Lênin

Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đợc vũ trang những quan

đạo của giai cấp vô sản;

- Đặc biệt, Hồ Chí Minh tiếp nhận đợc quan điểm của các nhà kinh điển

về con ngời phát triển toàn diện

theo chủ nghĩa Mác - Lênin, con ngời phát triển toàn diện là con ngờiphát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có trên tất cả các mặt: đạo đức, trí tuệ,thể lực, tình cảm, năng lực nhận thức và hành động, óc thẩm mỹ và khảnăng cảm thụ cái đẹp, hiểu biết đợc các hiện tợng tự nhiên, xã hội diễn raxung quanh, đồng thời có thể sáng tạo ra những cái mới theo năng lực của

họ có lợi cho sự phát triển của mỗi cá nhân và cả cộng đồng Lênin coi đó

là “những con ngời phát triển về mọi mặt, đợc chuẩn bị về mọi mặt và biếtlàm mọi việc”

Vì vậy, phát triển toàn diện con ngời trớc hết là sự phát triển khôngngừng của các mặt hợp thành nhân cách của nó, tạo nên một chỉnh thể sinh

động của con ngời, làm cho con ngời có sự phát triển về chất trong nhận thức

và thực tiễn của mình Sự phát triển mọi mặt của con ngời không mâu thuẫnvới sự phát triển thiên hớng, phát triển năng khiếu chuyên biệt, mà trái lại,chính sự phát triển toàn diện các mặt là điều kiện, là nền tảng cho các nănglực chuyên biệt phát triển tốt hơn, hoàn thiện hơn

Trang 21

Các nhà kinh điển mác-xít còn chỉ ra những nguyên tắc, điều kiện để đàotạo, giáo dục những con ngời phát triển về mọi mặt cho xã hội mới Đó là sựkết hợp hợp lý giữa giáo dục đạo đức, thể dục, trí dục và lao động sản xuất và

sự kết hợp giữa lao động sản xuất với thực hiện giáo dục kỹ thuật tổng hợp,giữa học tập lý luận, kiến thức chung với hoạt động thực tiễn

Xã hội ngày càng phát triển, lực lợng sản xuất không ngừng đổi mới vànâng cao Điều này đòi hỏi con ngời phải có tri thức ngày càng cao về mọimặt để làm chủ quá trình sản xuất xã hội, làm chủ cuộc sống của bản thân và

đóng góp tích cực cho sự phát triển của cộng đồng Vì vậy, con ngời phát triểntoàn diện phải là những ngời có kiến thức phong phú về tự nhiên, xã hội vànhân văn, đáp ứng đợc yêu cầu ngày càng cao của xã hội Do đó, Mác,

Ăngghen, Lênin chủ trơng phải trang bị cho con ngời, đặc biệt là thế hệ trẻnhững tri thức khoa học hiện đại vì “khoa học là lực lợng thúc đẩy cách mạngtrong lịch sử” và tơng lai “tri thức xã hội sẽ trở thành lực lợng sản xuất trựctiếp” [34, tr.373] Từ đó các ông cho rằng phải giáo dục, tạo điều kiện để mọingời đợc học tập, tiếp cận với các ngành khoa học nh vật lý, toán học, hoáhọc, sinh học, thiên văn học, cơ học, lịch sử, địa lý, văn học, dân tộc học, triếthọc, kinh tế học, ngoại ngữ

Theo các nhà kinh điển, không có đạo đức chung chung, trừu tợng, đạo

đức bao giờ cũng nảy sinh trên mảnh đất hiện thực, góp phần giải quyết nhữngvấn đề của cuộc sống đang đặt ra Trong xã hội có đối kháng giai cấp, đạo đứcbao giờ cũng mang tính giai cấp Các ông đã phân tích sâu sắc tính chất tiêntiến của đạo đức vô sản Đó là đạo đức đợc thiết lập trên cơ sở phơng thức sảnxuất hiện đại và của những con ngời mang tính cách mạng triệt để, đó là đạo

đức mới, thấm đậm tính nhân văn, nhân ái sâu sắc “vì con ngời, vì cuộc sốngtốt đẹp của con ngời” Tiêu chuẩn của đạo đức mới là kiên quyết đấu tranhchống áp bức nô dịch, chống đày đoạ con ngời, xoá bỏ mọi chế độ bóc lột ng-

ời, tham gia lao động tự giác, tích cực vì lợi ích chung của quần chúng cần laotrên thế giới Đạo đức vô sản cũng đòi hỏi mỗi cá nhân có cuộc sống riêngtrong sáng Hiểu theo quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin đạo đức khôngchỉ hình thành ở con ngời những chuẩn mực quan hệ ứng xử nh là đức hạnh,

mà đó còn là lập trờng t tởng, ý thức giai cấp, là nhân sinh quan và thế giớiquan khoa học Cho nên sự phát triển toàn diện, hài hoà, cân đối của con ngời,

đòi hỏi ở họ phải có đạo đức, lý tởng, quan niệm sống đúng đắn, để góp phần

Trang 22

tạo lập nên những quan hệ mới tốt đẹp: “Sự phát triển tự do của mỗi ngời là

điều kiện để phát triển tự do của mọi ngời” và cũng để xoá bỏ quan hệ ngờivới ngời là chó sói “hoặc anh cớp đoạt của ngời khác, hoặc ngời khác cớp đoạtcủa anh Hoặc anh làm thuê cho ngời khác, hoặc ngời khác làm thuê cho anh.Hoặc anh là chủ nô, hoặc anh là nô lệ”

Con ngời phát triển toàn diện là phải biết rung động và cảm thụ cái đẹp,cái cao cả, có quan điểm thẩm mỹ đúng đắn và có khả năng sáng tạo ra cái

đẹp Mỹ học mác-xít quan niệm giáo dục thẩm mỹ là giáo dục cái đẹp cho conngời, nhằm tạo lập nên quan hệ tốt đẹp giữa con ngời với nhau, giữa con ngờivới tự nhiên cũng nh giữa cá nhân với cộng đồng Vì vậy, các nhà kinh điểncho rằng để có con ngời phát triển toàn diện thì ngay từ bé họ phải đợc trang

bị những kiến thức về hội hoạ, âm nhạc, điêu khắc, thi ca

Mác, Ăngghen, Lênin đánh giá cao vai trò của thể lực, sức khoẻ con

ng-ời Một thân thể cờng tráng, một lý tởng, quan niệm sống đúng đắn tích cực,một khối lợng tri thức phong phú về mọi mặt đó là hình mẫu của con ngời xãhội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Việc xuất hiện và phát triểnkhông ngừng con ngời xã hội chủ nghĩa, không chỉ phản ánh mối quan hệ tốt

đẹp giữa ngời với ngời trong cộng đồng xã hội mà còn là điều kiện để thúc

đẩy phát triển tự do và toàn diện của các cá nhân Trong xã hội mới, sự phát triểntoàn diện của cá nhân này không nhằm tớc đoạt sự phát triển đầy đủ, toàn diệncủa các cá nhân khác, không nhằm đi tới sự áp bức, bóc lột ngời khác nh trongxã hội có đối kháng giai cấp, mà ngợc lại là tạo điều kiện cho các cá nhân và cảcộng đồng cùng phát triển Đó là đặc điểm nổi bật thể hiện tính nhân văn sâu sắccủa xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa

Với t cách là học thuyết tổng kết quá khứ, giải thích và cải tạo hiện tại,chuẩn bị và hớng dẫn tơng lai, chủ nghĩa Mác - Lênin đã vạch ra những quyluật tất yếu của quá trình vận động và phát triển của lịch sử nhân loại nóichung cũng nh tiến trình phát triển của con ngời nói riêng, đã chỉ ra nhữngcon đờng, phơng hớng cơ bản để xây dựng xã hội mới và phát triển con ngờicho xã hội tơng lai Bằng những luận chứng khoa học các nhà kinh điển mác-xít đã khẳng định: con ngời phát triển toàn diện là đỉnh cao trong quá trìnhphát triển con ngời, là bớc đi tất yếu của nhân loại để giải phóng con ngời mộtcách triệt để nhất, đem lại cho con ngời sức mạnh và quyền năng mới, xứng

đáng là ngời chủ chân chính trên trái đất này Tuy nhiên, các ông cũng lu ý

Trang 23

quá trình hình thành của con ngời phát triển toàn diện không phải một sớmmột chiều mà diễn ra lâu dài “chỉ đạt tới sau bao năm lâu dài nữa” và là kếtquả tác động tổng hợp của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.Bởi vậy, khi xây dựng và phát triển con ngời toàn diện cần phải tính đến điềukiện lịch sử cụ thể của mỗi nớc, yêu cầu đặt ra của cách mạng của từng thời

kỳ, để có những bớc đi thích hợp Làm đợc nh vậy, sự nghiệp đào tạo, pháttriển nguồn lực con ngời cho chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩamới có thể từng bớc trở thành hiện thực sinh động trong thực tiễn cách mạngmỗi nớc cũng nh trên phạm vi toàn thế giới

Lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung mà trực tiếp là lý luận về phát triểncon ngời toàn diện nói riêng có ảnh hởng rất to lớn với việc hình thành t tởngphát triển con ngời toàn diện của Hồ Chí Minh Có thể nói, đây là nhân tố cơbản có ý nghĩa quyết định nâng t tởng phát triển con ngời toàn diện của HồChí Minh lên ngang tầm thời đại, làm cho nó có tính cách mạng và khoa họcsâu sắc, đồng thời góp phần to lớn vào quá trình đào tạo, phát triển cho dântộc và cách mạng Việt Nam những thế hệ ngời vừa hồng thắm vừa chuyên sâu,

đủ năng lực “xây dựng một nớc Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dânchủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[47, tr.512], đa dân tộc ta từng bớc “sánh vai với các cờng quốc năm châu”[39, tr.33]

1.2.2 Nội dung t tởng Hồ Chí Minh về con ngời Việt Nam phát triển các mặt đức, trí, thể, mỹ

Với quan niệm và cách nhìn nhận con ngời toàn diện nh là một thểthống nhất, sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố, các mặt: thể lực, trí tuệ, trình

độ thẩm mỹ, đạo đức cách mạng , Hồ Chí Minh cho rằng phát triển toàn diệnngời Việt Nam trớc hết phải tập trung phát triển các bộ phận cấu thành nênchỉnh thể đó

1.2.2.1 Con ngời Việt Nam phát triển về mặt đạo đức

Xây dựng và phát triển đạo đức là nhu cầu tất yếu, khách quan của bất

cứ xã hội nào Bởi đây là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sốngxã hội cũng nh đời sống của mỗi cá nhân Đạo đức là gốc của con ngời Thựctiễn lịch sử cho thấy, khi con ngời đợc soi sáng bởi một lý tởng đạo đức tiến

bộ, khi sự hiểu biết về cái thiện, cái ác, về lơng tâm, danh dự, trách nhiệm,nghĩa vụ của họ đợc nâng cao thì hoạt động của họ càng hớng tới phục vụ lợi

Trang 24

ích chung của cộng đồng, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội Vì vậy,

từ xa tới nay, các giai cấp, các dân tộc, các thủ lĩnh, các lãnh tụ đều rất quan tâm

đến việc giáo dục đạo đức cho mỗi thành viên trong cộng đồng, hớng họ tớinhững việc làm có ích cho sự tồn tại và phát triển của xã hội

Tuy nhiên, coi trọng đạo đức đến đâu, chú trọng đến những nội dungnào của đạo đức, đề cao những phạm trù nào, đặt đạo đức trên cơ sở thế giớiquan nào thì lại tuỳ thuộc vào các điều kiện lịch sử cụ thể và lợi ích của mỗigiai cấp, mỗi tập đoàn trong xã hội

Tiếp nối truyền thống coi trọng đạo đức của dân tộc Việt Nam và tiếp thunhững tinh hoa của đạo đức nhân loại, đồng thời căn cứ vào thực tiễn cách mạngnớc ta, Hồ Chí Minh hết sức chăm lo giáo dục, bồi dỡng đạo đức mới - đạo đứccách mạng cho con ngời Việt Nam, nhằm phát triển họ về mặt đạo đức

Khi đề cập đến vấn đề đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh thờng sử dụngcác thuật ngữ “Đạo đức mới” [40, tr.252], “đạo đức cách mạng” [40, tr.252];

“đạo đức xã hội chủ nghĩa” [46, tr.224]; “đạo đức cộng sản” [45, tr.679]; “đạo

đức tập thể” [45, tr.306]; “đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản” [46, tr.375];

đạo đức vô sản” [46, tr.375]

Theo Hồ Chí Minh, gọi “đạo đức mới” bởi vì “đạo đức đó không phải là

đạo đức thủ cựu” [40, tr.252], nó cha hề xuất hiện trong lịch sử mà chỉ hìnhthành và phát triển cùng với tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc và xâydựng chủ nghĩa xã hội trên đất nớc ta Đạo đức mới khác hẳn với đạo đức cũ:

Đạo đức cũ nh ngời đầu ngợc xuống đất, chân chổng lêntrời Đạo đức mới nh ngời hai chân đứng vững đợc dới đất đầungẩng lên trời Bọn phong kiến ngày xa nêu ra cần, kiệm, liêm,chính nhng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân ta phải tuântheo để phục sự quyền lợi cho chúng Ngày nay ta đề ra cần,kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gơng cho nhân dânnoi theo để lợi cho nớc, cho dân [41, tr.321]

Gọi là “đạo đức cách mạng” vì nó là đạo đức phục vụ cách mạng, đạo

đức mà ngời cách mạng cần phải có Đó là đạo đức đợc nảy sinh và phát triểntrong cuộc đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ và hy sinh của nhândân ta Đạo đức cách mạng là “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”[44, tr.287]; “đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết,trớc hết” [47, tr.439]; “có tinh thần hy sinh cho cách mạng, có tinh thần trách

Trang 25

nhiệm để vợt mọi khó khăn" [42, tr.233]; “trong mọi công tác, xung phong đitrớc là để lôi kéo quần chúng chứ không phải xa rời quần chúng” [43, tr.261];

“bất kỳ ở cơng vị nào, bất kỳ làm công việc gì đều không sợ khó, sợ khổ, đềumột lòng một dạ phục vụ lợi ích của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục

đích xây dựng chủ nghĩa xã hội” [45, tr.306] Đạo đức cách mạng là “cần,kiệm, liêm, chính, chí công vô t” [47, tr.534]; “khiêm tốn, cần cù, hăng hái,dũng cảm ” [43, tr.261]; “nói tóm tắt, thì đạo đức cách mạng là: Quyết tâmsuốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng Đó là điều chủ chốt nhất” [44,tr.258] Đối với Hồ Chí Minh đạo đức cách mạng là “đạo đức mới, đạo đức vĩ

đại, nó không vì danh vị cá nhân, mà vị lợi ích của Đảng, của dân tộc, của loàingời” [40, tr.252] Vì vậy, Ngời cho rằng: “ở bất kỳ cơng vị nào, làm côngviệc gì đều phải trau dồi đạo đức cách mạng” [45, tr.5]; “có gì sung sớng, vẻvang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào côngcuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và giải phóng loài ngời” [44, tr.293]

Theo Hồ Chí Minh để nâng cao sự hiểu biết về đạo đức cách mạng chocon ngời Việt Nam, trớc hết cần làm cho họ hiểu sâu sắc vai trò cực kỳ quantrọng của đạo đức trong nhân cách cũng nh trong hoạt động thực tiễn của ngờicách mạng Xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam, Hồ Chí Minh luônluôn khẳng định đạo đức là “gốc” là cái “căn bản” của ngời cách mạng, bởitheo Ngời:

Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ, xây dựng một xã hộimới là một sự nghiệp rất vẻ vang; nhng nó cũng là một nhiệm vụrất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ.Sức có mạnh mới gánh đợc nặng và đi đợc xa, ngời cách mạngphải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành đợcnhiệm vụ cách mạng vẻ vang [44, tr.293];

Cũng nh sông có nguồn mới có nớc, không có nguồn thìsông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo ngời cáchmạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũngkhông lãnh đạo đợc nhân dân Vì muốn giải phóng dân tộc, giảiphóng cho loài ngời là một công việc to tát, mà tự mình không có

đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì cònlàm nổi việc gì [40, tr.252 – 253]

Trang 26

Hồ Chí Minh cho rằng, việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ vai trò to lớncủa đạo đức trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách cũng nh ýnghĩa sâu sắc của nó trong việc định hớng giá trị cho hoạt động của con ngờiViệt Nam trong thời đại cách mạng mới là tiền đề cơ bản để mỗi ngời ViệtNam tự giác học tập rèn luyện, tu dỡng và không ngừng nâng cao đạo đứccách mạng nhằm cống hiến ngày càng nhiều hơn sức lực, trí tuệ cho sự pháttriển của đất nớc và thắng lợi của cách mạng nớc ta.

Giáo dục, bồi dỡng tri thức đạo đức cách mạng cho con ngời là biệnpháp vô cùng quan trọng mà Hồ Chí Minh rất quan tâm để con ngời Việt Namphát triển về mặt đạo đức Nội dung đạo đức cách mạng theo quan điểm của

Hồ Chí Minh có nhiều vấn đề với những tri thức rất phong phú Để khôngngừng nâng cao sự hiểu biết và phát triển nhận thức của con ngời Việt Nam về

đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh tập trung bồi dỡng những kiến thức về thiện

- ác; trung – hiếu; về cần, kiệm, liêm, chính, về chí công vô t; về đấu tranhchống chủ nghĩa cá nhân

Thiện, ác là hai phạm trù cơ bản trong đạo đức học dùng để đánh giá

đạo đức và hành vi con ngời Thiện là sự đánh giá, khẳng định đối với nhữnghành vi phù hợp với nguyên tắc và quy phạm đạo đức của một xã hội hay mộtgiai cấp nào đó đặt ra Hồ Chí Minh cho rằng, con ngời ai cũng cần phải hiểu

đợc thế nào là thiện, là ác để biết hớng tới cái thiện, cái tốt, từ bỏ cái ác,không làm điều xấu Đó là vấn đề có ý nghĩa trong nhận thức và hành độngcủa mỗi con ngời Vì vậy, sinh thời Ngời luôn quan tâm đến việc bồi dỡng,nâng cao sự hiểu biết cho nhân dân ta về “cái thiện”, “cái ác” với một quan

điểm mới mang tính cách mạng sâu sắc

Theo Hồ Chí Minh, “Trong xã hội có thiện và ác” [43, tr.276]; “trong

bản thân và t tởng của mỗi một ngời cũng có thiện và ác” [43, tr.276]; “Thiện

nghĩa là tốt đẹp vẻ vang Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụlợi ích của nhân dân” [43, tr.276]; “Nhà nớc xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhândân chỉ lo làm lợi cho nhân dân, trớc hết là nhân dân lao động ngày càng tiến

bộ về vật chất và tinh thần, làm cho trong xã hội không có ngời bóc lột ngời Thế

là thiện” [43, tr 276]; “nói về mỗi một chúng ta, nếu hết lòng phụng sự Tổ quốc,phục vụ nhân dân thế là thiện” [43, tr.277]; “T bản, đế quốc và phong kiến chỉ

lo bóc lột nhân dân thậm chí gây chiến tranh giết hại nhân dân, để chỉ làm lợicho một nhóm ít ngời Thế là ác” [43, tr.276] ; “nếu chỉ lo lợi ích riêng mình,

Trang 27

không lo đến lợi ích chung của nớc nhà, của dân tộc Thế là ác” [43, tr.276];

“Thực hành chí công vô t, cần kiệm liêm chính thế là thiện Nếu phạm phảiquan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lời biếng, thế là ác” [43, tr.277] Ngời cho rằng:

“Thiện và ác là hai cái mâu thuẫn, luôn đấu tranh gay gắt với nhau Cuộc đấutranh ấy phải trờng kỳ và gian khổ, nhng cuối cùng ác nhất định bại, thiệnnhất định thắng” [43, tr.277] Đó là định hớng t tởng hết sức quan trọng của HồChí Minh, giúp cho mỗi ngời Việt Nam hiểu rõ đợc cái thiện, các ác trong thời

đại cách mạng mới, vững tin vào chiến thắng của cái thiện, cái tốt đối với cái

ác, cái xấu xa cũng nh vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp cách mạng vẻvang của Đảng và của dân tộc Từ đó tích cực vơn lên rèn luyện, tu dỡng “làmcho cái phần thiện trong con ngời nảy nở để đẩy lùi phần ác” [47, tr.558] gópphần hoàn thiện và phát triển đạo đức của con ngời Việt Nam

Cùng với giáo dục tri thức về thiện và ác, Hồ Chí Minh cũng rất chútrọng bồi dỡng và nâng cao sự hiểu biết cho con ngời Việt Nam về cần, kiệm,liêm, chính, chí công vô t Có thể nói, các thuật ngữ này đối với mỗi con ngờiViệt Nam không xa lạ vì nó khá phổ biến ở xã hội Việt Nam hàng ngàn nămqua, song hiểu cho đúng và làm cho tốt vấn đề này không phải dễ, bởi nó phụthuộc rất nhiều vào bản chất chế độ xã hội cũng nh lý tởng chính trị, lý tởng

đạo đức của mỗi thành viên trong cộng đồng – nhất là những ngời tham gia

bộ máy chính quyền các cấp

“Cần, kiệm, liêm, chính” là cụm khái niệm chỉ những đức tính cần thiếtcủa những ngời có trách nhiệm ở các thời Ban đầu chúng thuộc phạm trù luân

lý đạo đức của Nho giáo, qua chiều dài lịch sử, nó đã có chỗ đứng nhất địnhtrong t tởng và tâm lý của nhân dân Việt Nam Đến Hồ Chí Minh, Ngời đã bổsung thêm nội dung và mở rộng thêm đối tợng thực hiện, dùng vào việc dạycán bộ và nhân dân ta

Theo Hồ Chí Minh đây là bốn đức tính căn bản nhất của đạo đức conngời “Cần là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, dẻo dai”; “cần tức là tăng năngsuất trong công tác, bất kỳ công tác gì” [42, tr.392]; “chữ cần có hai ý nghĩa:một ý nghĩa làm việc phải cần cù, siêng năng, chớ lời biếng, chớ ăn thật, làmdối Một ý nghĩa nữa là phải tìm mọi cách để ít ngời mà làm đợc nhiều việc”[46, tr.29]

Hồ Chí Minh cũng lu ý, “cần” phải đi đôi với “chuyên” “Chuyên là dẻodai, bền bỉ Nếu không chuyên, nếu một ngày cần mà mời ngày không cần thìcũng vô ích” [40, tr.633], cần muốn đạt đợc kết quả tốt “phải có kế hoạch cho

Trang 28

mọi công việc, phải tính toán cẩn thận, sắp xếp gọn gàng’ [40, tr.632] “phải phâncông cho khéo” [40, tr.633] Hơn nữa, phải hiểu cần cho đúng “cần không phải

là làm xổi Nếu làm cố chết, cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng

đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc, nh vậy không phải là cần” [40, tr.634] mà

“phải biết nuôi dỡng tinh thần và lực lợng của mình để làm việc lâu dài” [40,tr.634]

Kiệm trong t tởng đạo đức Hồ Chí Minh là “tiết kiệm, không xa xỉ,không phung phí, không bữa bãi” [41, tr.636]; “là thi đua tiết kiệm, khônglãng phí, quý trọng của công” [41, tr.425]; là “không lãng phí thì giờ, của cảicủa mình và của nhân dân” [42, tr.392]

Hồ Chí Minh cho rằng, kiệm không phải là bủn xỉn, mà phải dùng tiềnbạc, sức lực, vật t cho đúng đắn, phù hợp Những việc đem lại lợi ích chodân, cho nớc thì dù tốn kém cũng phải làm và làm cho tốt Ngời dạy mọi ngờicách nhìn, cách hiểu đúng đắn về tiết kiệm: “Khi không nên tiêu sài thì một

đồng xu cũng không tiêu Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào,cho Tổ quốc thì dù hao bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng nhthế mới đúng Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn chứ không phải là tiếtkiệm” [40, tr.637] Tiết kiệm phải gắn với tăng gia sản xuất bởi “tiết kiệm màkhông tăng gia thì lấy gì mà tiết kiệm? Mục đích của tiết kiệm không phải làbớt ăn mà là thêm ăn, làm cho bộ đội no” [41, tr.513] Muốn tiết kiệm thờigiờ, tiền bạc, sức lực thì mọi công việc “phải sắp xếp gọn gàng, hợp lý, mọingời có công việc thiết thực” [41 tr.513] và phải luôn gắn với cần cù, siêngnăng, bởi theo Ngời “Kiệm mà không cần cũng vô ích” [44, tr.549] Hơn nữa,

Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh, cùng với việc thực hiện cần, kiệm phải ra sức

đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu, vì đó “là kẻ thù nguy hiểm”; “làbạn đồng minh của thực dân, phong kiến”; nó “làm hỏng công việc của ta”;

“làm chậm chễ công cuộc kháng chiến, kiến quốc”; “phá hoại đạo đức cáchmạng của ta” [41, tr.490]

Nâng cao hiểu biết về “Liêm, Chính” cũng là một nội dung quan trọngtrong giáo dục tri thức đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh cho con ngờiViệt Nam Theo Hồ Chí Minh “Liêm là trong sạch” [40, tr.640]; “liêm tức làkhông tham ô và luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của nhân dân” [42,tr.392] Ngời cho rằng nếu nh dới chế độ phong kiến trớc đây, chữ liêm chỉdùng theo nghĩa hẹp để chỉ “những ngời làm quan không đục khoét dân thì

Trang 29

gọi là liêm” [40, tr.640] còn trong chế độ mới của chúng ta “chữ liêm có nghĩarộng hơn là: Mọi ngời đều phải liêm” [40, tr.640].

Hồ Chí Minh quan niệm về “chính”; “chính là không tà, nghĩa là thẳngthắn, đúng đắn Điều gì không thẳng thắn, đúng đắn tức là tà” [40, tr.643]; “làviệc phải thì dù nhỏ cũng phải làm, việc trái dù nhỏ cũng tránh” [42, tr.392];

“ngời làm việc công, phải có công tâm Chớ đem của công dùng vào việc t.Chớ đem ngời t làm việc công Việc gì cũng phải công bình, chính trực, khôngnên vì t ân, t huệ, t oán” [40, tr.105] Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính Nh mộtcái cây cần có gốc rễ, lại cần có nhánh lá, hoa, quả mới hoàn toàn, một ngời phảicần, kiệm, liêm nhng cũng cần có chính mới là ngời hoàn toàn Đó là t tởng nhấtquán của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức con ngời

Hồ Chí Minh xem “chí công vô t” là một trong những nội dung cơ bảncủa đạo đức cách mạng, do đó ngời cách mạng phải hiểu để thực hiện cho tốt

“Chí công vô t” là “ham làm những việc ích quốc lợi dân, không ham địa vị vàcông danh phú quý Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ mình trớc, khi h-ởng thụ thì mình nên đi sau” [58, tr.92]; “lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổquốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô t” [40, tr.251]; “phải

đặt quyền lợi của nhân nhân lên hết thảy” [39, tr.48]; “phải để công việc nớclên trên, trớc việc t, việc nhà Đã phụ trách việc gì thì quyết tâm làm cho kỳ đ-

ợc, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm” [40,tr.645]

Ngời cho rằng, một số cán bộ đảng viên sở dĩ còn mắc những khuyết

điểm, sa vào chủ nghĩa cá nhân là do cha nắm vững và thực hiện đúng chícông vô t Hồ Chí Minh viết: “Trong Đảng ta còn những ngời cha học đợc, chalàm đợc bốn chữ chí công, vô t, cho nên mắc phải chủ nghĩa cá nhân” [40,tr.254] Vì vậy, giáo dục, nâng cao sự hiểu biết về đạo đức cách mạng nói chung

và tinh thần chí công, vô t nói riêng là hết sức cần thiết để “trau dồi đạo đức cáchmệnh: chí công, vô t, cần, kiệm, liêm, chính” [41, tr.461] cho mỗi ngời ViệtNam góp phần xây dựng nên những con ngời mới “có đạo đức cần, kiệm,liêm, chính, chí công vô t, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cáchmạng” [43, tr.137]

Trung, hiếu là một nội dung quan trọng của đạo đức mới mà Hồ ChíMinh thờng xuyên quan tâm giáo dục để phát triển đạo đức của con ngời ViệtNam Hồ Chí Minh đã lọc bỏ những nội dung cũ của Nho giáo là trung với

Trang 30

vua và đa vào đó những nội dung mới: trung với nớc, với Đảng, với dân, vớichế độ xã hội chủ nghĩa Ngời viết: “Trung là tuyệt đối trung thành với Tổquốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng” [40, tr.480]; là “đối với chínhphủ và tuyệt đối trung thành” [41, tr.406]; “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành,khó khăn nào cũng vợt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” [46, tr.504]; “là sẵnsàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội” [46,tr.349].

Chữ “Hiếu” ở Ngời không chỉ bó hẹp trong phạm vi đạo làm con đối vớicha mẹ mình, mà đây là hiếu thảo với nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ, khôngchỉ yêu thơng cha mẹ mình “mà còn yêu thơng cha mẹ ngời” [40, tr.640] và làm

“cho mọi ngời biết yêu thơng cha mẹ” [40, tr.640] Hơn nữa, đối với Hồ ChíMinh, chữ hiếu không chỉ dừng lại ở tình thơng chung chung mà tình thơng

đó, lòng hiếu thảo phải biến thành những hành động, việc làm cụ thể Trongkhi đất nớc bị nô lệ, hàng triệu ông bố, bà mẹ bị áp bức bóc lột thì lòng hiếuthảo đó phải thể hiện ở việc kiên quyết tham gia cách mạng để giải phóng dântộc, giải phóng bố mẹ mình và bố mẹ ngời khác Theo Hồ Chí Minh đó mới là

“đa tình, chí hiếu nhất” [42, tr.60] Với ý nghĩa rộng lớn ấy “Hiếu thảo” trong

t tởng đạo đức Hồ Chí Minh gắn liền với “Hiếu trung” phải “hy sinh tình nhàvì phải lo việc nớc” [41, tr.114]

Khi đất nớc đã giành đợc độc lập, thì trung, hiếu phải là ra sức bảo vệ

và xây dựng và phát triển đất nớc, hết lòng, hết sức phục vụ nhân nhân HồChí Minh xác định:

Chúng ta phải hiểu rằng các cơ quan của chính phủ từ toàn quốccho đến làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việcchung cho dân chứ không phải đè đầu dân nh trong thời kỳ dới sựthống trị của Pháp – Nhật

Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm Việc gì có hại đếndân ta phải hết sức tránh Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dânmới yêu ta, kính ta [39, tr.56 - 57]

Đồng thời phải chăm lo đến đời sống mọi mặt của nhân dân, từ “những việcnhỏ nh tơng cà mắm muối cần thiết cho đời sống hàng ngày” đến “đổi nền kinh tế,văn hoá lạc hậu của nớc ta thành một nền kinh tế, văn hoá tiên tiến” [45, tr.4]nhằm phục vụ tốt hơn việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

Trang 31

Hơn nữa, theo Hồ Chí Minh thực hiện “trung hiếu” trong thời kỳ Đảngcầm quyền phải luôn luôn “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng làngời lãnh đạo, ngời đầy tớ thật trung thành của nhân dân” [47, tr.510].

Bên cạnh đó, phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân HồChí Minh cho rằng, muốn phát triển con ngời về mặt đạo đức, nhất thiết phảitiến hành cuộc đấu tranh rộng lớn và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, làmcho mỗi ngời Việt Nam hiểu đợc sự nguy hiểm, nguy hại của nó đối với bảnthân cũng nh sự phát triển của xã hội

Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là “việc gì cũng chỉ lo cho lợi íchcủa riêng mình, không quan tâm đến lợi ích của tập thể Miễn là mình béo mặcthiên hạ gầy” [45, tr.306]; “Tự t, tự lợi, chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của mình,không chăm lo đến việc chung” [44, tr.530]; “lúc tính toán công việc, thì đặt lợiích của cá nhân mình, của nhóm mình lên trên lợi ích chung” [40, tr.509]; “làmviệc gì cũng thiếu kiên quyết, lúc vui hứng lên thì làm Nếu gặp trở ngại hay thấtbại thì thụt lùi, vì không kiên quyết nên dễ lung lung lay” [42, tr.34]; “kémtinh thần, trách nhiệm, không chấp hành đúng đờng lối, chính sách của Đảng

và Nhà nớc làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân” [46, tr.439]

Tóm lại, “chủ nghĩa cá nhân trái ngợc với đạo đức cách mạng” [44, tr.283];

“cái gì trái với đạo đức cách mạng đều là chủ nghĩa cá nhân” [44, tr.448] Hồ ChíMinh cho rằng, chủ nghĩa cá nhân là thứ “bệnh mẹ” đẻ ra nhiều thứ “bệnh con”rất nguy hiểm nh “tham ô”, “lãng phí”, “ích kỷ”, “lời biếng”, ‘kiêu ngạo”,

“hiếu danh”, “công thần, địa vị”, “thiếu kỷ luật”, “óc hẹp hòi”, “óc địa

ph-ơng”, “óc lãnh tụ” [40, tr.255 – 256] và các tệ nạn “quan liêu, làm việc quachuyện”, “hách dịch”, “ham chuộng hình thức” [40, tr.509] Vì vậy, “nó làthứ vi trùng rất độc” [40, tr.225]; “là một thứ rất gian xảo, xảo quyệt” bởi “nókhéo dỗ dành ngời ta đi xuống dốc Mà ai cũng biết rằng, xuống dốc thì dễhơn lên dốc Vì thế mà càng nguy hiểm” [44, tr.292]

Từ đó, Ngời xác định: “Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác củachủ nghĩa xã hội Ngời cách mạng phải tiêu diệt nó” [44, tr.292]

Theo Hồ Chí Minh, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trên bìnhdiện mỗi con ngời và toàn xã hội là hết sức khó khăn, gian khổ, lâu dài, phứctạp bởi “chúng ta không thể chấn áp nó, mà phải cải tạo nó một cách rất cẩnthận, rất chịu khó và rất lâu dài” [44, tr.287]; “phải tắm rửa lâu mới sạch” Vìvậy, Ngời cho rằng: “Để ngăn ngừa cái xấu ấy Đảng ta từ trên xuống dới phải

Trang 32

chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng, tăng cờng tinh thần cảnh giác, mởrộng tự phê bình và phê bình” [42, tr.569]; “muốn gột sạch vết tích xấu xa củaxã hội cũ, muốn rèn luyện đạo đức cách mạng, thì chúng ta phải ra sức họctập, tu dỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi” [44, tr.284] Đối với Hồ Chí Minh, việchọc tập một cách đúng đắn sẽ giúp mỗi ngời Việt Nam nâng cao hiểu biết về

sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Đó “là sự nghiệp gian nan cực khổphải có lòng kiên quyết và chí hy sinh” [40, tr.254]; phải luôn luôn “vị côngvô t giữ chủ nghĩa cho vững, hy sinh, ít lòng ham muốn vật chất” [16, tr.16]

Có hiểu rõ điều đó thì mỗi ngời tham gia vào sự nghiệp cao cả nhng cũng đầygian khổ, hy sinh này mới tự giác cống hiến, tự nguyện đặt lợi ích của Đảng,của nhân dân trên lợi ích của bản thân, mới có ý thật sự đấu tranh chống thứ

“giặc bên trong” cực kỳ nguy hiểm là chủ nghĩa cá nhân, góp phần hoàn thiện

và nâng cao phẩm chất đạo đức của ngời cách mạng

Muốn đẩy lùi và xoá bỏ chủ nghĩa cá nhân, mỗi cán bộ, đảng viên vàcác tầng lớp nhân dân phải thờng xuyên rèn luyện, trau dồi phẩm chất đạo

đức Đó là quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh trong quá trình chỉ đạo cuộc

đấu tranh chống “thứ cỏ dại” này và xây dựng “những con ngời của chủ nghĩaxã hội” “Con ngời phải đi đến hoàn toàn không có chủ nghĩa cá nhân” [44,tr.448] Theo Ngời, đạo đức cách mạng của mỗi ngời không tự nhiên mà có,

nó là kết quả của quá trình “đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà pháttriển và củng cố Cũng nh ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càngtrong” [44, tr.293]; “muốn rèn luyện đạo đức cách mạng thì chúng ta phải rasức học tập, tu dỡng, tự cải tạo mình để tiến bộ mãi” [44, tr.284] Hồ ChíMinh cho rằng việc rèn luyện đạo đức cách mạng ở mỗi một ngời phải đợctiến hành một cách liên tục “ví nh rửa mặt thì phải rửa hàng ngày” [44,tr.448] Đó là cách có hiệu quả để “nâng cao đạo đức cách mạng quét sạchchủ nghĩa cá nhân” [47, tr.483] trong cán bộ, đảng viên và nhân dân

Tiến hành tự phê bình và phê bình một cách thẳng thắn, trung thực trêntình đồng chí, theo Hồ Chí Minh là biện pháp vô cùng quan trọng và có ýnghĩa thiết thực để chống chủ nghĩa cá nhân, củng cố và phát triển đạo đứcmới cho mỗi ngời Việt Nam Phê bình là nêu u điểm và chỉ ra khuyết điểmcủa đồng chí mình Tự phê bình là nêu u điểm và vạch ra khuyết điểm củamình Quá trình này phải đi đôi với nhau Mục đích là làm cho mọi ngời họctập u điểm của nhau và giúp nhau sửa chữa khuyết điểm Đó là vũ khí sắc bén

Trang 33

để giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân “sửa chữa khuyết điểm, phát triển u điểm,tiến bộ không ngừng” [42, tr.575] Ngời cho rằng, có khuyết điểm mà khôngthực hiện tự phê bình và phê bình đúng đắn thì “nhiều khuyết điểm nhỏ sẽ thànhkhuyết điểm to, nó sẽ rất tai hại cho công tác” [42, tr.576]; “không chịu tự phêbình, tự chỉ trích thì không bao giờ tấn tới đợc” [39, tr.26] Cho nên, ngời cáchmạng chân chính không sợ phê bình, luôn luôn mong muốn đồng chí, đồng bàophê bình mình và bản thân “thờng xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình” [47,tr.510] Còn “chủ nghĩa cá nhân không dám tự phê bình, không muốn ngời taphê bình mình, không kiên quyết sửa chữa Vì vậy, mà thoái bộ chứ khôngphải là tiến bộ” [44, tr.556].

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh ở nơi nào phê bình và tựphê bình lặng xuống thì ở nơi đó chủ nghĩa cá nhân có điều kiện phát triển

Nh vậy, ở Việt Nam căn cứ vào nhiệm vụ đặt ra trong sự nghiệp giải phóngdân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng và phát triển con ngời của dân tộc ViệtNam, Hồ Chí Minh đã xác định: Thể lực sức khoẻ là cơ sở, là tiền đề cơ bảncho sự tồn tại và phát triển của con ngời Việt Nam Chỉ trên một cơ thể khoẻmạnh thì các phẩm chất và năng lực khác của con ngời mới có điều kiện nảy

nở và phát triển Đạo đức cách mạng, đạo đức xã hội chủ nghĩa là “gốc”, lànền tảng, là phẩm chất hàng đầu tạo nên nhân cách vẹn toàn của con ngờitrong chế độ mới Còn tri thức về khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoahọc xã hội và nhân văn, trình độ thẩm mỹ, khả năng khám phá và sángtạo tức là những năng lực thực tiễn của con ngời là mặt cực kỳ quan trọng, có

ý nghĩa quyết định “trình độ ngời” trong con ngời Việt Nam

Quá trình phát triển của con ngời là quá trình không chỉ lớn lên về thểxác mà còn là sự thay đổi về chất trong nhận thức và hành động Sự phát triểnmọi mặt của con ngời trên thực tế là sự gia tăng giá trị của nó trong mối quan

hệ với tự nhiên và xã hội Vì thế Hồ Chí minh đã thấy đợc mối quan hệ biệnchứng, sự tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành con ngời Theo Hồ Chíminh đó là một cấu trúc mang tính hệ thống rất chặt chẽ mà trong đó sự pháttriển của bất kỳ thành tố nào cũng bị chi phối và có tác động của các thành tốkhác ở các mức độ khác nhau Vì thế, muốn con ngời phát triển một cách hàihoà, cân đối, cần thiết phải quan tâm đến tất cả các mặt đức, trí, thể, mỹ

Nhờ quán triệt sâu sắc và hành động tích cực theo phơng hớng đó,chúng ta đã đào tạo đợc cho dân tộc Việt Nam những ngời chiến sĩ cách mạng

“kiên cờng”, những ngời “kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hông vừachuyên”, đủ khả năng, năng lực đa đất nớc vợt qua những thử thách hiểm

Trang 34

nghèo, bảo đảm cho sự trờng tồn và phát triển vững chắc của dân tộc và cáchmạng Việt Nam.

1.2.2.2 Con ngời Việt Nam phát triển về trí tuệ

Trí tuệ và hoạt động trí tuệ là phẩm chất riêng có ở con ngời Đây làmặt căn bản chi phối mọi nhận thức và hành động của con ngời, biểu hiện rõrệt nhất “trình độ ngời” trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân

Trí tuệ của con ngời có đợc chủ yếu là nhờ những nỗ lực của xã hội vàcá nhân trong việc chuyển giao, tiếp nhận các lý luận, tri thức, kinh nghiệmcủa các thế hệ đi trớc để lại và sự nghiên cứu, tổng kết thực tiễn công cuộc cảitạo tự nhiên, cải tạo xã hội đang diễn ra Xã hội càng phát triển thì khối lợngkiến thức con ngời cần đến rất lớn, do đó, để tiếp thu, đổi mới và nâng caokhông ngừng kiến thức khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội

và nhân văn của bản thân, con ngời cần phải có một trình độ văn hoá, trình độnhận thức ngày càng cao trong dòng chảy vô tận của đời sống hiện thực, cáitrờng tồn và ngày càng tỏ rõ vai trò quyết định của nó đối với sự phát triển củalịch sử đó là tri thức, là trí tuệ của con ngời Các nhà tơng lai học dự báo trongthế kỷ XXI không phải là tiền bạc mà là trí tuệ sẽ có quyền lực tuyệt đối Sự

đổi ngôi này mang tính tất yếu và làm cho nguồn lực con ngời trở thành độnglực chủ yếu cho sự phát triển rất cao của loài ngời trong thế kỷ tới

Nh chúng ta đã biết, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩacộng sản chỉ có thể thành công nếu các chủ thể của nó biết tiếp thu vận dụng

đúng đắn, có hiệu quả những thành tựu về văn hoá, khoa học - công nghệ củanhân loại Hơn thế nữa họ còn biết sáng tạo và phát triển các tri thức mớinhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn vận động của sự nghiệpxây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Từ rất sớm Hồ Chí Minh đãxác định: “Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học chắc chắn sẽ đa loài ngời đếnhạnh phúc vô tận” [44, tr.131]; “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất

định phải có học thức, cần phải học văn hoá, chính trị, kỹ thuật, cần phải học

lý luận Mác - Lênin, kết hợp đấu tranh và công tác hàng ngày Học đi đôi vớihành” [45, tr.306]

Công cuộc sáng tạo ra xã hội mới ở Việt Nam cũng không nằm ngờiquy luật đó Vì vậy, ngay từ khi miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, trong điềukiện chiến tranh, Hồ Chí Minh vẫn luôn đề ra nhiều chủ trơng biện pháp đểphát triển mặt trí tuệ cho con ngời Việt Nam, để họ có đủ kiến thức về khoa

Trang 35

học - kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn, về trình độ chuyên môn, kỹ năngnghề nghiệp Đó là bớc chuẩn bị hết sức có ý nghĩa cho sự phát triển lâu dàicủa đất nớc cũng nh cho việc hình thành và phát triển toàn diện phẩm chất củacon ngời Việt Nam.

Để phát triển mặt trí tuệ của con ngời Việt Nam, Hồ Chí Minh chủ

tr-ơng trớc hết phải giáo dục lý tởng cách mạng

Sự nghiệp mà cách mạng mà nhân dân ta tiến hành dới sự lãnh đạo của

Đảng cộng sản, là sự nghiệp khó khăn gian khổ, đòi hỏi ở mỗi ngời sự cống hiến,

hy sinh to lớn Nếu không đợc trang bị lý tởng cách mạng vững vàng, không cómột lập trờng chính trị đúng đắn, không có ý chí cách mạng kiên cờng, tinh thầnxả thân vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì cách mạng nớc ta không thể đitới thành công Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam Hồ ChíMinh hết sức coi trọng việc giáo dục chính trị, bồi dỡng lý tởng cách mạng chocon ngời Việt Nam Theo Hồ Chí Minh, trong thời đại ngày nay, nếu con ngờikhông có định hớng chính trị đúng đắn, không đợc trang bị lý tởng cách mạng tiêntiến thì “nh ngời nhắm mắt mà đi” [43, tr.221]; “nh đi ban đêm không có đèn,không có gậy, dễ vấp té” [50, tr.120]; “nh ngời không có trí khôn, tàu không cóbàn chỉ nam” [16, tr.24]; “nhất định không thể hăng hái đấu tranh cho nhân dân,cho cách mạng” [42, tr.328]

Hồ Chí Minh cho rằng, lý tởng chính trị của ngời Việt Nam là độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội “phấn đấu cho Tổ quốc ta hoàn toàn độc lập, cho chủnghĩa xã hội toàn thắng trên đất nớc ta và trên toàn thế giới” [46, tr.372]

Lý tởng này là định hớng chính trị xuyên suốt, soi sáng nhận thức vàhành động của mọi ngời Việt Nam yêu nớc Nó có ý nghĩa quyết định quy tụ,tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân đấu tranh cho nền độc lập dân tộc vàxây dựng xã hội mới: Xã hội chủ nghĩa Theo Hồ Chí Minh, để lý tởng độc lậpdân tộc và chủ nghĩa xã hội thực sự ngấm sâu vào trái tim, khối óc, trở thànhkim chỉ nam định hớng cho nhận thức và hành động của mỗi ngời Việt Nam,cần phải tiến hành sâu rộng việc giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, bồi dỡng vànâng cao tinh thần yêu nớc, yêu chủ nghĩa xã hội cho các tầng lớp nhân dân

Đối với Hồ Chí Minh, suốt cả đời hoạt động cách mạng của mình, Ngờiluôn luôn khẳng định Chủ nghĩa Mác - Lênin là “phát minh vĩ đại nhất” [42,tr.147] trong các phát minh của nhân loại trong suốt mấy trăm năm trở lại đây;

là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất” [16, tr.24]; “là

Trang 36

kim chỉ nam”; “mặt trời soi sáng cho chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng đi tới chủnghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản” [45, tr.128] Vì vậy, Hồ Chí Minh cho rằng

“phải dạy chủ nghĩa Mác - Lênin cho mọi ngời” [40, tr.47]; “phải chịu khóhọc tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin” [47, tr.92]; “phải nâng cao giác ngộchính trị” [41, tr.184] cho các tầng lớp nhân dân Đó là biện pháp quan trọng

và rất có ý nghĩa, để giữ vững củng cố và nâng cao lý tởng cách mạng, lập ờng giai cấp công nhân cho cán bộ, đảng viên và quần chúng Đây là yếu tố cơbản để con ngời Việt Nam nắm bắt đợc quy luật vận động của lịch sử, vững tinvào tơng lai phát triển của đất nớc, của nhân loại, của con ngời dới chế độ xãhội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Từ đó, đem hết sức mình cho sự nghiệpcách mạng vẻ vang của Đảng và của dân tộc Việt Nam Giáo dục, bồi dỡngtinh thần yêu nớc là mặt vô cùng quan trọng để củng cố và phát triển lý tởng

tr-độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cho con ngời Việt Nam Hồ Chí Minh chorằng “yêu nớc là thứ của quý” [41, tr.172] “là truyền thống quý báu của ta”[40, tr.171] Truyền thống đó có sức mạnh to lớn, đã từng “nhấn chìm tất cảbọn cớp nớc và bè lũ bán nớc” [41, tr.171] là “động lực” cho sự nghiệp bảo vệ

và xây dựng đất nớc của dân tộc Việt Nam Hồ Chí Minh viết: “Lòng yêu ớc của nhân dân ta là một lực lợng vô cùng to lớn không ai thắng nổi” [41,tr.281] Do đó, bồi dỡng và nâng cao tinh thần yêu nớc là một nội dung quantrọng trong giáo dục chính trị, xây dựng lý tởng cách mạng cho con ngời ViệtNam mà sinh thời Hồ Chí Minh hết sức quan tâm Theo Ngời, “cách dạy trẻcần làm cho chúng biết yêu Tổ Quốc, thơng đồng bào” [40, tr.712]; “cốt nhấtphải dạy cho học trò biết yêu thơng nòi quyết không chịu làm nô lệ” [41,tr.102]

n-Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng lu ý, bồi dỡng và nâng cao lòng yêu nớcphải trên lập trờng quan điểm của giai cấp công nhân Đó là “tinh thần yêu n-

ớc, chân chính khác hẳn với tinh thần “vị quốc” của bọn phản động Nó là một

bộ phận của tinh thần quốc tế” [41, tr.172]

Cùng với việc tăng cờng bồi dỡng và nâng cao giác ngộ chính trị và lý ởng cách mạng, vấn đề giáo dục kiến thức văn hoá, khoa học kỹ thuật, khoahọc xã hội và nhân văn, kỹ năng nghề nghiệp để phát triển trí lực của conngời toàn diện Việt Nam cũng đợc Hồ Chí Minh hết sức chú trọng Ngời viết:

t-“Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo t tởng tốt, phải phấn đấu năng

Trang 37

cao chất lợng văn hoá và chuyên môn Trong một thời gian không xa, đạt tới

đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật” [45, tr.727]

Chúng ta biết rằng, chính sách thống trị phản động mà thực dân Phápthực hiện trong hơn 80 năm đô hộ nớc ta đã để lại những hậu quả nặng nề vàtai hại cho sự phát triển mọi mặt của con ngời Việt Nam nói chung và mặt trítuệ nói riêng Vì vậy, xoá nạn mù chữ, chống đói, bồi dỡng và nâng cao kiếnthức về mọi mặt cho con ngời Việt Nam đợc Hồ Chí Minh hết sức quan tâm

Điều này thể hiện rõ qua những bài báo đầu tiên mà Ngời đã viết, những lớphuấn luyện mà ngời tổ chức và giảng dạy từ những năm hai mơi cho đến trớcCách mạng tháng 8-1945 cũng nh về sau này

Sau khi giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy ánh sáng thời đại, tìmthấy con đờng cứu nớc đúng đắn, Hồ Chí Minh đã khẳng định nhiệm vụ củamình là phải đem ánh sáng chân lý đến với nhân dân Việt Nam, phải thực hiệngiáo dục, huấn luyện để nâng cao hiểu biết của mỗi ngời Việt Nam, phục vụcho sự nghiệp giải phóng dân tộc Ngời viết: “Đối với tôi câu trả lời đã rõràng: trở về nớc, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ huấn luyện họ, đa họ ra

đấu tranh giành tự do, độc lập”

Trong tác phẩm “Đờng cách mệnh” xuất bản 1927, tập hợp những bàigiảng của Hồ Chí Minh cho các lớp huấn luyện các chiến sĩ yêu nớc ViệtNam, Ngời nhắc lại lời dạy của Lênin: “Không có lý luận Cách mệnh, thì sẽkhông có Cách mệnh vận động” [16, tr.15] và nêu rõ mục đích của cuốn sách

là nhằm nâng cao hiểu biết và nhận thức của mọi ngời về con đờng cách mạngViệt Nam để đoàn kết đứng lên làm cách mạng “Sách này chỉ ao ớc cho đồngbào xem rồi nghĩ, nghĩ rồi tỉnh, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau mà làmCách mệnh” [16, tr.18]

Từ khi giành đợc chính quyền, Hồ Chí Minh đã thực hiện một sự nghiệp

mở mang dân trí, chống dốt rộng lớn cha từng có trong lịch sử nớc ta và thu

đ-ợc những kết quả hết sức tốt đẹp, mặc dù sự nghiệp ấy đđ-ợc tiến hành trong

điều kiện chiến tranh Ngay sau ngày tuyên bố với thế giới về nền độc lập củaViệt Nam, trong phiên họp đầu tiên của chính phủ Hồ Chí Minh đã xác địnhchống “giặc dốt” là nhiệm vụ trọng tâm thứ hai và việc “giáo dục lại nhân dânchúng ta” [39, tr.8] từng bị chủ nghĩa thực dân “dùng mọi thủ đoạn hủhoá bằng những thói xấu trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nớc, yêu lao

động ”, “bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính” [39, tr.9] là nhiệm vụ

Trang 38

thứ t trong sáu nhiệm vụ cấp bách nhất của đất nớc lúc này Thực hiện chiến

l-ợc xoá nạn mù chữ, nâng cao trình độ học vấn của nhân dân, Hồ Chí Minh vàchính phủ đã chủ trơng đẩy mạnh phong trào “bình dân học vụ” và “đời sốngmới” Phong trào này đã lôi cuốn đợc cả dân tộc vào mặt trận diệt giặc dốt,xoá bỏ hủ tục, nâng cao dân trí, phát triển trí lực của con ngời Việt Nam trongthời kỳ mới “để xứng đáng với nớc Việt Nam độc lập” [39, tr.8]

Khi miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ mới của cách mạng

đặt ra cho mỗi ngời Việt Nam thật nặng nề nhng cũng hết sức vẻ vang: Sángtạo ra xã hội mới trong những điều kiện cha có tiền lệ trong lịch sử (vừa tiếnhành giải phóng dân tộc, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện chốngchiến tranh phá hoại ác liệt của kẻ thù) Điều này đòi hỏi ở con ngời Việt Nammột năng lực trí tuệ mới, một sự hiểu biết ngày càng cao những trí thức vềkhoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học - kỹ thuật, khoa học quản lý,chuyên môn nghề nghiệp cũng nh trình độ văn hoá Theo Hồ Chí Minh: “Cáchmạng xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự phát triển khoa học kỹ thuật, với sựphát triển văn hoá của nhân dân” [44, tr.586] Vì vậy, từ khi miền Bắc bớc vàothời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bên cạnh việc chăm lo phát triển khoahọc, kỹ thuật, trang bị máy móc, công cụ lao động ngày càng hiện đại cho nềnkinh tế quốc dân, Hồ Chí Minh đã giành sự quan tâm đặc biệt đến việc đàotạo, bồi dỡng, nâng cao trình độ học vấn, kiến thức văn hoá, khoa học, kỹthuật cho con ngời Việt Nam Theo Hồ Chí Minh, con ngời cần phải có mộttrình độ học vấn, kiến thức văn hoá nhất định mới có thể tiếp thu đợc khoahọc, công nghệ mới sử dụng có hiệu quả máy móc, kỹ thuật ngày càng hiện

đại Ngời chỉ rõ: “Nếu không có trình độ văn hoá thì không học tập đợc kỹthuật, không học tập đợc kỹ thuật thì không theo kịp đợc nhu cầu kinh tế nớcnhà” [42, tr.490] Văn hoá là nền tảng của trí tuệ con ngời, là cơ sở để pháttriển con ngời về mọi mặt Vì vậy, muốn phát triển con ngời về mặt trí tuệphải chú trọng nâng cao trình độ học vấn, kiến thức văn hoá cho mỗi ngời vàtoàn xã hội Đây là điều kiện tiên quyết để con ngời tiếp cận, nắm bắt nhữngthành tựu văn hoá, văn minh của nhân loại phục vụ cho sự phát triển trí tuệcủa bản thân cũng nh đóng góp cho sự phát triển của xã hội Vì vậy, Hồ ChíMinh cho rằng, mỗi ngời Việt Nam phải không ngừng nâng cao trình độ văn

hoá, tiếp thu ngày càng nhiều hơn, tốt hơn tri thức văn hoá của nhân loại Điều

này không chỉ có có ý nghĩa đối với sự hoàn thiện và phát triển trí tuệ con

Trang 39

ng-ời Việt Nam mà còn là yếu tố cơ bản bảo đảm cho sự thắng lợi của sự nghiệpxây dựng chủ nghĩa xã hội, giải phóng, bảo vệ và phát triển đất nớc của nhândân ta Hồ Chí Minh khẳng định: “Trình độ văn hoá của nhân dân nâng cao sẽgiúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ.Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xâydựng nớc ta thành một nớc hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàumạnh” [42, tr.55].

Trong nội dung quan điểm phát triển con ngời về trí tuệ của Hồ ChíMinh có phép biện chứng giữa cái phổ cập và cái nâng cao

Khi bớc vào xây dựng xã hội mới, di sản mà nền văn hoá giáo dục củachủ nghĩa thực dân phong kiến để lại là hơn 90 % dân số nớc ta không biếtchữ Phần lớn nông dân sống ở các làng quê đều không biết đọc, biết viết,không hiểu biết đợc những tri thức khoa học đơn giản, phổ thông, không có quan

hệ với sự tiến bộ bên ngoài Cả một biển ngời “nhà quê” sống dới ngọn đèn dầu,

có nơi không có dầu thắp, ban đêm họ đốt lá làm đèn hoặc lấy ánh trăng để soisáng Hàng chục triệu con ngời đợc cách mạng giải phóng nhng vẫn sống trongtình trạng u mê, dân trí quá thấp Trớc tình hình đó, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đềphổ cập giáo dục, nâng cao dân trí một cách mạnh mẽ, quyết liệt: “Chính phủ đã

ra hạn trong một năm tất cả mọi ngời Việt Nam đều phải biết chữ Quốc ngữ Mọi ngời Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải

có kiến thức mới để tham gia vào công cuộc xây dựng nớc nhà, và trớc hết phảibiết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ” [39, tr.36]

Xoá nạn mù chữ là công việc đầu tiên của phổ cập giáo dục, phát triển

trí tuệ trong chiến lợc xây dựng con ngời mới ở Việt Nam của Hồ Chí Minh

Ng-ời đã phát động một phong trào rộng lớn khắp cả nớc để tiêu diệt giặc dốt HồChí Minh nói rằng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”; “Dốt thì dại, dại thìhèn Vì không chịu dại, không chịu hèn cho nên thanh toán nạn mù chữ là mộttrong những việc cấp bách và quan trọng của nhân dân” [43, tr.64], “Muốn giảithoát nạn mù chữ cho số đông nhân dân mà đại đa số là nông dân thì phongtrào bình dân học vụ phải là phong trào quần chúng, phải đi sát quần chúng,bàn bạc với quần chúng, áp dụng những hình thức, phơng pháp thích hợp vớisinh hoạt của quần chúng” [43, tr.205]

Phong trào bình dân học vụ do Hồ Chí Minh khởi xớng đợc thiết chếthành một cơ quan chỉ đạo là Nha bình dân học vụ Dới sự chỉ đạo của Nha

Trang 40

bình dân học vụ, công tác bình dân dạy học toàn dân không cần trờng lớp diễn

ra ở khắp nơi: học tại nhà dân, học sau giờ lao động, học ở nơi nghỉ giải laongoài cánh đồng, trong cơ quan, xởng máy và trên thao trờng Tất cả các lứa tuổi

đèn dầu “cắp sách đến trờng”, ngời biết chữ nhiều dạy ngời biết chữ ít Công tác

s phạm tự lực cánh sinh, vừa lao động, vừa đánh giặc, vừa học

Phong trào bình dân học vụ theo t tởng Hồ Chí Minh đợc dấy lên khắpchợ, cùng quê, mờng bản, làng xã, thành thị Các ngọn đèn dầu đợc thắp sángtrên mọi vùng của Tổ Quốc, trong các lớp học “i-tờ” Không khí học tập, thi

đua học tập nh một ngày hội cách mạng

Trong quan điểm Hồ Chí Minh phát triển con ngời về trí tuệ, phongtrào phổ cập giáo dục là một quá trình nâng cao dân trí về mọi mặt Đây làmột phong trào vừa rộng, vừa sâu và phải tiến hành lâu dài để duy trì và nângcao trình độ văn hoá chung của xã hội Phong trào này tiến hành sâu rộngcùng với cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân Pháp và tiếp tục trêntoàn miền Bắc sau năm 1954, khi chúng ta đã đánh bại chủ nghĩa thực dânPháp, giành đợc thắng lợi trên nửa đất nớc

Cùng với phong trào bình dân học vụ, Hồ Chí Minh đã ký các đạo luật

về giáo dục trình độ văn hoá phổ thông Hồ Chí Minh nói rằng: “Về bình dânhọc vụ nhờ sự hy sinh cố gắng của nam nữ giáo viên đã có kết quả rất tốt đẹp.Bây giờ, số đồng bào đã biết đọc, biết viết, thì chúng ta phải có một chơngtrình để nâng cao trình độ văn hoá phổ thông của đồng bào” [40, tr.462]

Từ ngày nhân dân ta nắm đợc chính quyền đến nay, 13 triệunam nữ đồng bào đã đợc học, đã biết chữ Đó là một thắng lợi vẻvang to lớn

Nhng chúng ta phải cố gắng nữa, phải làm thế nào cho mộtthời gian gần đây, tất cả đồng bào Việt Nam, từ 8 tuổi trở lên đềubiết đọc, biết viết [41, tr.147]

“Lúc cha biết chữ thì học cho biết chữ Biết chữ rồi phải tiến lên nữa”[43, tr.206]

Trong quan điểm phát triển con ngời về trí tuệ của Hồ Chí Minh, phổcập là để nâng cao và nâng cao để cho xã hội càng ngày càng văn minh, tiến

bộ “Chúng ta phải học nhiều, phải cố gắng học Nếu không chịu khó học thìkhông tiến bộ đợc Không tiến bộ đợc là thoái bộ Xã hội còn đi xa Công việc

Ngày đăng: 26/05/2021, 01:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và vận dụng tư tưởng đó trong điều kiện nước ta hiện nay, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người vàvận dụng tư tưởng đó trong điều kiện nước ta hiện nay
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Năm: 2003
2. Bộ Giáo dục và đào tạo (2005), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2005
3. Nguyễn Hữu Công (2001), Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện, Luận án tiến sỹ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển conngười toàn diện
Tác giả: Nguyễn Hữu Công
Năm: 2001
4. Nguyễn Trọng Chuẩn (2005), “Để phát triển con người một cách bền vững”, Tạp chí Triết học, (1), tr.5-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để phát triển con người một cách bềnvững”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2005
5. Thành Duy (2000), “Hồ Chí Minh với việc phát huy sức mạnh của văn hoá trong đấu tranh giữ nước, giải phóng dân tộc”, Tạp chí Triết học, (5), tr.31-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với việc phát huy sức mạnh của vănhoá trong đấu tranh giữ nước, giải phóng dân tộc”, "Tạp chí Triếthọc
Tác giả: Thành Duy
Năm: 2000
6. Thành Duy (2001), Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng conngười Việt Nam phát triển toàn diện
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
7. Thành Duy (2005), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách xã hội đối với con người”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (12), tr.24-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sáchxã hội đối với con người”, "Tạp chí Lịch sử Đảng
Tác giả: Thành Duy
Năm: 2005
8. Lê Văn Dương (1995), “Một số nét cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nét cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minhvề con người”, "Tạp chí Nghiên cứu lý luận
Tác giả: Lê Văn Dương
Năm: 1995
9. Phạm Văn Đồng (1993), Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên conđường dân giàu nước mạnh
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên CNXH
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ 4, khoá VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ4, khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ 2, khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ2, khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ 4, khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ4, khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng toàn tâp, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tâp
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 1998
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ 5, khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ5, khoá X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
19. Phạm Văn Đức (1999), “Một số giải pháp nhằm khai thác và sử dụng nguồn lực con người”,Tạp chí Triết học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nhằm khai thác và sử dụngnguồn lực con người”",Tạp chí Triết học
Tác giả: Phạm Văn Đức
Năm: 1999
20. Nguyễn Tĩnh Gia (2000), Tư tưởng Triết học về con người trong chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, chương V cuốn "Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh”, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết họcHồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Tĩnh Gia
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w