1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

(Mã Số 1) Nghiên Cứu Mô Hình Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương Và Đề Xuất Giải Pháp Trong Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương Việt Nam Giai Đoạn Hiện Nay

42 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Mô Hình Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương Và Đề Xuất Giải Pháp Trong Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương Việt Nam Giai Đoạn Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 62,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận môn Tổ chức chính quyền địa phương dành cho sinh viên. Đề tài tiểu luận được thực hiện hồi tháng 01/2021. Mô hình tổ chức chính quyền địa phương có vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước. Trong nhiều năm qua, vấn đề đổi mới tố chức và phương thức hoạt động của Chính quyền địa phương đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, một số chủ trương lớn đã được đặt ra và tổ chức thực hiện như: chủ trương cải cách hành chính đối với các nội dung thế chế, bộ máy, thủ tục hành chính, đội ngũ cán bộ, công chức, hiện đại hóa nền hành chính, tài chính công ); phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương trên một số lĩnh vực thí điểm không tố chức HĐND huyện, quận, phường đã đạt một số kết quả nhất định, tuy nhiên việc tiếp tục nghiên cứu đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Chính quyền địa phương để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và phát triển kinh tế xã hội là luôn cần thiết, để tiếp tục đưa ra phương hướng, giải pháp hợp lý cho chính quyền địa phương.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 4

LỜI MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 6

1.1 Khái niệm chung, vị trí, tính chất của các cơ quan chính quyền địa phương Việt Nam 6

 Khái niệm chung 6

 Vị trí 7

 Tính chất 9

1.2 Khái niệm chính quyền địa phương trong các văn kiện của Đảng 11

1.3 Chức năng, vai trò của tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam 11

 Chức năng 11

 Vai trò 13

1.4 Cơ cấu, mô hình tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam 13

 Cơ cấu 14

 Mô hình 15

1.5 Khái quát các cấp trong mô hình tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam 16

 Cấp xã 16

 Cấp huyện 17

 Cấp tỉnh 18

1.6 Các tiêu chí đánh giá về tổ chức và hoạt động của tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam 18

Trang 2

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRONG TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA

PHƯƠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 19

2.1 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của pháp luật hiện hành 19

 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã 19

 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện 20

 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 22

2.2 Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân các cấp theo quy định của pháp luật hiện hành 24

 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân 25

2.3 Một số tồn tại trong tổ chức, hoạt động của tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai đoạn hiện nay 26

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 31

3.1 Phương hướng hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan chính quyền địa phương Việt Nam giai đoạn hiện nay 31

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả trong tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai đoạn hiện nay 34

 Tiếp tục luật hóa sự phân định thẩm quyền đối với các cơ quan chính quyền địa phương 34

 Xây dựng cơ chế liên kết vùng giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt 35

 Hoàn thiện cơ chế kiểm soát của xã hội đối với các cơ quan chính quyền địa phương 36

 Tiếp tục xây dựng một mô hình tổ chức các cơ quan chính quyền địa phương đô thị năng động theo tinh thần của Hiến pháp 2013 37

Trang 3

 Tiếp tục hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân các cấp38

KẾT LUẬN 40 DANH MỤC TÀI LIỆU 41

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan tiểu luận “Nghiên cứu mô hình tổ chức chính quyền địa phương và đề xuất giải pháp trong tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai đoạn hiện nay” là bài nghiên cứu của cá nhân tôi.

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của các nội dung kháctrong tiểu luận của mình

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Thuật ngữ “Chính quyền địa phương” thường được hiểu là những đơn vị củachính quyền trực tiếp cung cấp dịch vụ cho công dân tại cấp trung gian thấp vàthấp nhất Tại một số nước trên thế giới, các đơn vị chính quyền địa phương đã

có quyền tự trị từ rất lâu trước khi các quốc gia đó được thành lập với cơ cấu tổchức chính quyền như hiện nay và do đó không cần sự phân cấp thẩm quyền từcấp chính quyền cao hơn cho các đơn vị này Tại một số nước có cơ cấu nhànước đơn nhất, chính quyền địa phương thi hành quyền lực của mình theonguyên tắc quyền lực của chính quyền cấp dưới do chính quyền Trung ương trựctiếp ủy nhiệm và cấp trung ương có thể bãi bỏ việc ủy nhiệm đó

Khác với chế độ tự quản địa phương của một số nước, chính quyền địaphương của Việt Nam là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nướcthống nhất, bao gồm các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dânđịa phương trực tiếp bầu ra và các cơ quan, tổ chức khác được thành lập trên cơ

sở các cơ quan quyền lực nhà nước này theo quy định của pháp luật nhằm quản

lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tậptrung dân chủ và kết hợp hài hoà giữa lợi ích nhân dân địa phương với lợi íchchung của cả nước

Với nội dung tiểu luận “Nghiên cứu mô hình tổ chức chính quyền địa phương và đề xuất giải pháp trong tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai đoạn hiện nay”, tôi mong muốn góp phần làm rõ hơn về mô hình tổ chức

chính quyền địa phương tại Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệuquả trong tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 6

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 1.1 Khái niệm chung, vị trí, tính chất của các cơ quan chính quyền địa phương Việt Nam.

Khái niệm chung

Khái niệm chính quyền đại phương là khái niệm phát sinh từ khái niệm hệthống các cơ quan nhà nước ở địa phương Khái niệm này được sử dụng khá phổbiến trong nhiều văn bản pháp luật của nước ta Là một khái niệm được sử dụngnhiều trong tổ chức và hoạt động của nhà nước vào đời sống thực tế xã hội, tuynhiên hiện nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào định nghĩa khái niệmchính quyền địa phương bao gồm những thiết chế nào, mối quan hệ và cơ chếhoạt động cụ thể của các bộ phận cấu thành Xuất phát từ góc độ nghiên cứu lýluận, từ góc độ thực tiễn hay cách thức tiếp cận vấn đề nghiên cứu của các nhàkhoa học, các nhà thực tiễn và quản lý tập trung vào 3 quan niệm như sau:

a Chính quyền địa phương là khái niệm dùng chung để chỉ tất cả các cơ quannhà nước (mang quyền lực nhà nước) đóng trên địa bàn địa phương

b Cấp Chính quyền địa phương gồm hai phân hệ cơ quan – cơ quan quyềnlực nhà nước ở địa phương (Hội đồng nhân dân) và cơ quan hành chính nhànước ở địa phương (Uỷ ban nhân dân) (Hiến pháp Việt Nam có hiệu lực từ ngày01/01/2014)

c Chính quyền địa phương bao gồm 4 phân hệ cơ quan tương ứng với 4 phân

hệ cơ quan nhà nước tối cao ở trung ương (Quốc hội, Chính phủ, Toà án Nhândân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao) là cơ quan quyền lực nhà nước ởđịa phương (Hội đồng nhân dân các cấp), cơ quan hành chính nhà nước ở địaphương (Uỷ ban nhân dân các cấp), cơ quan tư pháp (Toà án nhân dân các cấp)

và cơ quan kiểm sát (Viện kiểm sát nhân dân các cấp)

Cơ quan địa phương là hệ thống chính quyền của một đô thị hay một khu vực

Trang 7

ra Hay đơn giản hơn nữa là: “Cơ quan địa phương là một nhóm người chịutrách nhiệm quản lý hành chính của một vùng lãnh thổ” Có những định nghĩa

mà mức độ cụ thể rất cao, xác định rõ nhiệm vụ của cơ quan địa phương như:

“Cơ quan địa phương là các tổ chức cung cấp những dịch vụ công trong một đôthi ̣hoặc một khu vực lãnh thổ được điều hành, kiểm soát bởi các công chứcđược lựa chọn trong bầu cử địa phương”

Ở góc nhìn của các nhà luật học, cơ quan địa phương được định nghĩa rõ hơn

cả cơ cấu tổ chức quyền lực của nó: cơ quan địa phương: Hệ thống chính quyềncủa những thị trấn, ở những khu vực (quận, huyện) được điều hành bởi nhữnghội đồng dân cử và những viên chức chấp hành (thừa hành)

Vị trí

Như đã phân tích ở trên, các cơ quan địa phương vừa có vị trí phụ thuộc vừa

có vị trí độc lập trong cơ cấu tổ chức của toàn thể bộ máy nhà nước Các cơquan cơ quan địa phương dù được nhìn nhận ở góc độ một chỉnh thể hay nhìntừng bộ phận cụ thể đều có thể thấy rõ tính phụ thuộc của nó

Xét về mặt cơ sở, chúng ta thấy rằng: sự tồn tại của cơ quan địa phương là

hệ quả của việc công nhận từ phía nhà nước Hơn nữa, hoạt động của cơ quanđịa phương luôn là đối tượng kiểm tra, giám sát của trung ương Nhìn cụ thể hơnvào các thiết chế bộ phận của cơ quan địa phương, chúng ta càng thấy rõ hơntính chất phụ thuộc của cơ quan địa phương đối với nhà nước trung ương Nhưhoạt động của cơ quan đại diện – quyết nghi ̣chẳng hạn, những nội dung mà các

cơ quan này bàn bạc, quyết nghi ̣ cũng không nằm ngoài phạm vi đã được xácđịnh và không thể trái với pháp luật, chính sách của nhà nước trung ương Đóvẫn là hoạt động chấp hành pháp luật, tổ chức thực hiện những quy định, nhữngchính sách đã định của chính quyền trung ương

Mặt khác, trong cơ cấu của cơ quan địa phương, cơ quan chấp hành đồngthời cũng là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và là một bộ phận trong

Trang 8

hệ thống hành chính thống nhất do Chính phủ lãnh đạo Tính chất phụ thuộc nàyđược bảo đảm bởi nhiều quy định của pháp luật, nhất là các quy định về thẩmquyền ban hành các mệnh lệnh hành chính và thẩm quyền về mặt tổ chức nhưphê chuẩn, điều động, cách chức những chức vụ của cấp trên đối với cấp dướitrong hệ thống hành chính.

Là thiết chế công quyền ở địa phương, đương nhiên các cơ quan địa phươngphải có vi ̣trí độc lập tương đối Tính độc lập tương đối được xem xét trên haimối quan hệ: với cơ quan trung ương và với các cơ quan địa phương khác

Vi ̣trí độc lập tương đối của cơ quan địa phương với nhà nước trung ươngđược phản ánh qua địa vi ̣pháp lý của các cơ quan đại diện với những phạm viquyền tự chủ đã được phân cấp quản lý Đối với các quốc gia thiên về cơ chế địaphương tự quản, phạm vi quyền hạn của các cơ quan đại diện rất cao Do vậy, cóthể nói các cơ quan đại diện – quyết nghi ̣ của địa phương có thể độc lập quyếtđịnh các vấn đề của địa phương theo các mức độ khác nhau là thể hiện rõ nétquyền tự chủ ở mỗi cấp chính quyền

Việc tổ chức và hoạt động theo mô hình tự quản địa phương vẫn còn chưađược áp dụng ở một số quốc gia, nhưng xét về quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ

và thực tiễn hoạt động trong tiến trình mở rộng và phát huy dân chủ, có thể thấyrằng ở chừng mực nào đó, tính độc lập, tự quản địa phương cũng đã cơ bản đượcnhiều quốc gia xác định, nhất là đối với cấp cơ sở Việt Nam là một trong nhữngquốc gia từ Quốc hội đến Hội đồng nhân dân các cấp không hình thành một hệ

Vì vậy, mối quan hệ giữa các địa phương là mối quan hệ phối hợp, hợp tác.Việc thiết lập quan hệ này vừa là nguyên nhân tự thân của các cơ quan địaphương nhưng cũng thể hiện tính bắt buộc của pháp luật Trong một quốc gia,địa phương không thể không tham gia vào các quan hệ hợp tác với các địaphương khác, vì quyền lợi cục bộ của riêng địa phương mình mà có những hành

xử, quyết định mang tính địa phương cát cứ Vi ̣trí phụ thuộc cũng như độc lập

Trang 9

tương đối của cơ quan địa phương đối với chính quyền trung ương cơ bản đãđược Hiến pháp và đạo luật quy định, hoàn thiện.

Tính chất

Các cơ quan địa phương là những tổ chức công quyền, là những cơ quan nhànước ở địa phương Đây chính là tính chất của các cơ quan địa phương trongtổng thể bộ máy nhà nước

Cơ quan địa phương là cơ quan nhà nước ở địa phương, là cánh tay nối dàicủa chính quyền trung ương trong thực hiện quyền lực nhà nước Như vậy, trongmối quan hệ với quyền lực nhà nước thống nhất, cơ quan địa phương là cái bộphận trong cái toàn thể – một kết cấu trong hệ thống cơ quan nhà nước thốngnhất Hay nói cách khác, việc cho rằng có “nhà nước trung ương” và “nhà nướcđịa phương” là một quan điểm thực sự nhầm lẫn

Tuy nhiên, cơ quan địa phương không chỉ đại diện cho quyền lực nhà nướccủa cả quốc gia mà còn đại diện cho lợi ích, ý chí, nguyện vọng của các cộngđồng dân cư trong phạm vi lãnh thổ Phải thấy rằng, cơ quan địa phương luôn làthiết chế do nhân dân địa phương bầu ra nên tất yếu nó phải là tổ chức của nhândân, do nhân dân và vì nhân dân trong phạm vi một địa phương cụ thể Đượcnhân dân địa phương bầu ra, được giao những quyền tự chủ cần thiết để độc lậpgiải quyết các công việc, cơ quan địa phương là cơ quan nhà nước có chức năng,nhiệm vụ thực hiện những nhu cầu sát thực của nhân dân trong một cộng đồngdân cư nhất định Đây là vấn đề hệ trọng trong nhận thức, đánh giá và thiết kếmột mô hình cơ quan địa phương phù hợp, đảm bảo tính thống nhất của bộ máynhà nước và phát huy tính dân chủ tổ chức và hoạt động của các thiết chế nhànước nói chung, cơ quan địa phương nói riêng

Mặc dù vậy, cũng cần phải giải quyết một cách thấu đáo về mặt lý luận kháiniệm “tính chất kép” của cơ quan địa phương Tính thống nhất của quyền lựcnhà nước rõ ràng là rất quan trọng nhưng vấn đề đảm bảo ý chí, nguyện vọng,

Trang 10

phát huy sức mạnh dân chủ của nhân dân địa phương cũng luôn là một nhu cầu

vô cùng bức xúc, nhất là trong giai đoạn hiện nay Trước hết, phải khẳng địnhquan điểm về tính chất kép của cơ quan địa phương là quan niệm có cơ sở khoahọc Tùy từng cấp chính quyền, tùy từng giai đoạn phát triển của đất nước, của

xã hội mà mức độ của quyền lực của trung ương hay mức độ tự quản sẽ cao hơn.Nếu thuần túy về mặt lý thuyết, nhà nước trung ương có thể cử bộ máy củamình xuống để quản lý địa phương Việc bao biện này đưa đến ách tắc và thiếusót và sự cồng kềnh, lãng phí của bộ máy thực thi Do vậy, tất yếu phải địaphương hóa, khơi dậy tính chủ động, khai thác hết mọi tiềm năng của cơ sởtrong hoạt động quản lý địa phương Từ lập luận trên, chúng ta thấy rằng tínhchất quyền lực nhà nước của bộ máy cơ quan địa phương là tính chất quantrọng, không thể thiếu

Tự quản địa phương được hiểu là cơ chế mà bằng hiến pháp và pháp luật,nhà nước trung ương chuyển giao cho cơ quan địa phương những quyền hạntương đối độc lập để thực hiện công việc quản lý trong một phạm vi lãnh thổ vàchịu trách nhiệm trước chính quyền trung ương về các quyết định của mình Cơquan địa phương không phải thực thi các mệnh lệnh trực tiếp của nhà nước trungương mà chỉ tuân thủ pháp luật, thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của mình

đã được pháp luật quy định Phải chăng như vậy thì vai trò quản lý điều hànhcủa chính quyền trung ương không tồn tại? Đây là điểm mấu chốt của vấn đề.Trong một xã hội mà trình độ quản lý phát triển thì ý chí của chính quyền trungương không cần phải thể hiện qua những cánh tay nối dài của mình xuống cơ sở

mà nó được thể chế hóa thành pháp luật

Tuân thủ đúng Hiến pháp và pháp luật chính là tuân thủ ý chí của chínhquyền trung ương Gọi là tự quản, chẳng qua là vì hoạt động này được thực hiệnbởi tổ chức và con người của địa phương mà thôi Đành rằng trong quá trìnhthực hiện, giữa hai ý chí này sẽ không tránh khỏi xung đột, nhưng với nhận thứcsáng suốt, con người và các tổ chức nhà nước của mình chắc chắn sẽ có những

Trang 11

điều chỉnh phù hợp Sự thống nhất giữa quyền lực nhà nước trung ương và địaphương luôn thực sự là đích đến của mọi nền chính tri ̣ – hành chính.

Như vậy, nhìn ở góc độ quyền lực nhân dân thì quan hệ giữa “thực hiệnquyền lực của nhà nước trung ương” và “tự quản địa phương” là mối quan hệmâu thuẫn

1.2 Khái niệm chính quyền địa phương trong các văn kiện của Đảng.

Trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước Việt Nam, khái niệm chínhquyền địa phương được sử dụng để chỉ tổ chức và hoạt động của hai cơ quan làHội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Nghị quyết lần thứ ba Ban Chấp hànhtrung ương Đảng (khoá VIII) ngày 18 tháng 6 năm 1997 tại phần III, mục 4 vềtiếp tục cải cách hành chính nhà nước đối với chính quyền địa phương chỉ đềcập tới việc kiện toàn củng cố Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp

và hướng cải cách tổ chức và hoạt động của hai cơ quan này mà không đề cậptới các cơ quan nhà nước khác trong hệ thống các cơ quan nhà nước ởđịa phương Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Hội đồngnhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 chính quyền địa phương được tổ chức ở

3 cấp tương ứng đối với các đơn vị hành chính sau đây:

a Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh)

b Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện)

c Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)

1.3 Chức năng, vai trò của tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam.

Chức năng

Chức năng của một cơ quan nhà nước thường được hiểu là những hoạt độngchủ yếu, thường xuyên, liên tục, có tính chất ổn định tương đối, thể hiện trựctiếp và tập trung tính chất, nhiệm vụ của cơ quan đó Chức năng của các cơ quan

cơ quan địa phương chính là sự khái quát hóa hoạt động của các thiết chế này

Trang 12

trong bộ máy nhà nước Xác định đúng đắn các chức năng cơ bản của các cơquan cơ quan địa phương là một vấn đề rất quan trọng về mặt lý luận.

Ngày nay, việc tổ chức bộ máy nhà nước luôn gắn liền với nguyên lý phânquyền, tức là tư duy phân công và kiểm soát quyền lực Chức năng của cơ quanđịa phương cần được khái quát theo việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhànước của hệ thống các cơ quan này

Ngoài ra còn có chức năng hành pháp, đây là một trong những chức năngquan trọng của cơ quan địa phương trong hệ thống bộ máy nhà nước Pháp luậtđược xác định có nội hàm khá rộng, đó là các văn bản luật của các cơ quan lậppháp, các quy phạm pháp luật được ban hành bởi các cơ quan nhà nước trungương

Chấp hành các nghi ̣quyết, quyết định, nghị định và chỉ thi ̣của Chính phủ,Thủ tướng Chính phủ Đây chính là các văn bản chứa đựng các mệnh lệnh củacác cơ quan nhà nước trung ương để các cơ quan địa phương thực hiện một cách

cụ thể, trong những trường hợp nhất định

Chấp hành các nghi ̣quyết, quyết định của cơ quan địa phương cấp trên Bởi

cơ quan địa phương là một hệ thống đa cấp, do vậy cơ quan địa phương cấpdưới có nhiệm vụ thực hiện các quy đi ̣nh, mệnh lệnh của cơ quan địa phươngcấp trên Quan điểm này hoàn toàn hợp lý bởi chủ trương, đường lối của đảngcầm quyền sẽ được thể chế hóa thành pháp luật của nhà nước và việc thực hiệnchủ trương, đường lối chính là thực hiện các quy định pháp luật của quốc gia đó.Nếu nhìn một cách cặn kẽ thì hoạt động chấp hành, thực thi ý chí của nhà nướctrung ương, của cấp trên chính là việc thực thi quyền lực nhà nước được ủyquyền từ trung ương, từ chính quyền cấp trên

Chức năng này được nhà nước bảo đảm trước hết là các công cụ pháp luậtquy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan địa phương Đểđảm bảo cho việc chấp hành, thực thi ý chí của nhà nước trung ương, cần có một

Trang 13

cơ chế trong việc kiểm soát nhân sự của nhà nước trung ương đối với cơ quanđịa phương Đây là dấu vết của cơ chế tản quyền còn lưu giữ lại Đành rằng, bộmáy cơ quan địa phương là do nhân dân địa phương lập ra qua hoạt động bầu cửnhưng cũng phải chịu sự kiểm soát của chính quyền trung ương và trong nhữngtrường hợp nhất định nào đó phải có sự điều động nhân sự của chính quyềntrung ương.

Các cơ quan nhà nước là những thiết chế được thành lập để thực hiện quyềnlực nhà nước trong quản lý xã hội nói chung Nguồn của quyền lực mà cơ quan

đó được nhân dân trao cho để sử dụng là vô cùng quan trọng Ngoài quyền lựcđược nhân dân trao cho thông qua Hiến pháp, pháp luật từ nhà nước trung ương,

Cơ quan địa phương còn trực tiếp nhận quyền lực từ cộng đồng nhân dân địaphương để tổ chức thực hiện nó

Vai trò

Chính quyền địa phương ở Việt Nam có vai trò hai mặt Một mặt, với tưcách là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước thống nhất, chính quyền địaphương thay mặt nhà nước tổ chức quyền lực, thực thi nhiệm vụ quản lý trênlãnh thổ địa phương trong cơ cấu quyền lực nhà nước thống nhất trên lãnh thổViệt Nam Mặt khác, chính quyền địa phương lại là cơ quan do nhân dân địaphương lập ra (trực tiếp và gián tiếp) để thực hiện các nhiệm vụ ở địa phươngnhằm phục vụ nhu cầu của nhân dân địa phương trên cơ sở các quy định củaHiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên Vai trò như vậycủa chính quyền địa phương được thể hiện tập trung về nguyên tắc tập trung dânchủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, của bộ máy nhà nướcnói chung Trong đó, tập trung thống nhất là yếu tố có tính chủ đạo Tư tưởng cơbản trong tổ chức chính quyền địa phương theo nguyên tắc đó là vừa bảo đảm sựtập trung thống nhất, vừa phát huy vai trò chủ động tích cực của địa phương

1.4 Cơ cấu, mô hình tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam.

Trang 14

Cơ cấu

Điều 111 Hiến pháp năm 2013 quy định: Chính quyền địa phương được

tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Với quy định này, Hiến pháp năm 2013 khẳng định chính quyền địa phươngđược tổ chức ở tất cả các đơn vị hành chính, nhưng không phải ở tất cả các đơn

vị hành chính, chính quyền địa phương cũng được tổ chức giống nhau Đồngthời, không phải chính quyền ở bất kỳ một đơn vị hành chính nào cũng là mộtcấp chính quyền

Mô hình tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam thể hiện trên hai điểm

cơ bản sau:

Mỗi đơn vị hành chính thành lập hai loại cơ quan là Hội đồng nhân dân và

Uỷ ban nhân dân

Giữa chính quyền địa phương và chính quyền trung ương và giữa các cấpchính quyền địa phương không có tính độc lập cao, tuy rằng trong quá trình cảicách bộ máy nhà nước đã đẩy mạnh việc phân cấp quản lý cho các cấp chínhquyền địa phương Nguyên tắc cơ bản và hàng đầu trong tổ chức và hoạt độngcủa bộ máy chính quyền địa phương là tập trung dân chủ Đây là điểm rất đángchú ý trong tổ chức chính quyền địa phương nước ta Nó chứng tỏ rằng, chínhquyền địa phương Việt Nam không có “chủ quyền” trong việc thực hiện cácnhiệm vụ, quyền hạn được giao Quy định ở Điều 7 của Luật Tổ chức Hội đồngnhân dân và Uỷ ban nhân dân thể hiện rõ hơn này khi ghi nhận trong hệ thống

cơ quan hành chính nhà nước từ Chính phủ đến Uỷ ban nhân dân cấp xã có sựchỉ đạo trong quản lý nhà nước từ trên xuống dưới Đây chính là điểm khác vềbản chất so với chính quyền địa phương tự quản

Do đó, có thể gọi là mô hình chính quyền địa phương nước ta là mô hìnhchính quyền địa phương tập trung dân chủ

Trang 15

Thực tiễn tổ chức và hoạt động của các cơ quan địa phương vô cùng sinhđộng có rất nhiều mô hình cơ quan địa phương được sử dụng trên thế giới Mỗiquốc gia, vùng lãnh thổ đã chọn cho mình những mô hình các cơ quan địaphương được xem là phù hợp đồng thời không ngừng cải tiến sao cho thiết chếnày ngày càng phục vụ hiệu quả hơn yêu cầu của nhân dân – chủ thể tối cao củaquyền lực nhà nước.

Mô hình

Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đượcphân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tỉnhchia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc Trungương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; huyệnchia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã;quận chia thành phường Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thànhlập

Như vậy, về cơ bản Hiến pháp năm 2013 tiếp tục kế thừa quy định của Hiếnpháp năm 1992 về các đơn vị hành chính nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ,

ổn định trong cấu trúc hành chính ở nước ta; đồng thời có bổ sung thêm các quyđịnh sau:

Ở thành phố trực thuộc Trung ương, ngoài đơn vị hành chính có tính truyềnthống còn có “đơn vị hành chính tương đương” với cấp quận, huyện, thị xã.Đơn vị hành chính tương đương này có thể là thành phố trong thành phố trựcthuộc Trung ương như đề xuất của thành phố Hồ Chí Minh trong Đề án thí điểm

mô hình chính quyền đô thị

Quy định mang tính mở này tăng khả năng dự báo và tính ổn định của Hiếnpháp trong việc đáp ứng nhu cầu khách quan của quá trình phát triển kinh tế - xãhội

Trang 16

Bổ sung quy định “đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thànhlập” nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong điều kiện kinh tế thịtrường, khai thác tiềm năng kinh tế của một số địa phương nhất định.

Thực chất, vấn đề này cũng đã được quy định tại khoản 8 Điều 84 của Hiếnpháp năm 1992 nhưng lại nằm ở Chương quy định về Quốc hội, chứ không phải

ở Chương quy định về chính quyền địa phương

Đây là quy định được bổ sung trên cơ sở ý kiến đề xuất của các vị đại biểuQuốc hội, Chính phủ và các cơ quan, tổ chức, các tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương nhằm đáp ứng nhu cầu thiết lập các đơn vị hành chính - kinh tế đặcbiệt đang đặt ra ở một số địa phương như huyện đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang,huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh…

Vì vậy, khi xây dựng Luật tổ chức chính quyền địa phương cần phải tính toánmột cách khoa học, thực tiễn và có quy định địa vị pháp lý riêng cho đơn vịhành chính - kinh tế đặc biệt này

Xuất phát từ quan điểm chủ quyền Nhân dân và phát huy quyền làm chủ củaNhân dân, sự tham gia của Nhân dân vào việc xây dựng Nhà nước, bảo đảmquyền dân chủ trực tiếp của Nhân dân đã được ghi nhận tại Điều 6 Hiến phápnăm 2013 và bảo đảm tính ổn định các đơn vị hành chính, tránh tình trạng “nhập

- tách” có phần dễ dãi, thiếu căn cứ, tiêu chí minh bạch, công khai, khoản 2 Điều

110 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điềuchỉnh địa giới đơn vị hành chính phải lấy ý kiến Nhân dân địa phương và theotrình tự, thủ tục do luật định”

1.5 Khái quát các cấp trong mô hình tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam.

Cấp xã

Đây là chính quyền của các đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn, phường Ủy

Trang 17

Nam Ủy ban nhân dân cấp xã có từ 04 đến 05 thành viên, gồm Chủ tịch, 02 PhóChủ tịch , 01 Ủy viên quân sự và 01 Ủy viên công an Người đứng đầu Ủy bannhân dân cấp xã là Chủ tịch Ủy ban nhân dân do do Hội đồng nhân dân của xã,thị trấn hay phường đó bầu ra bằng hình thức bỏ phiếu kín Thông thường, Chủtịch Ủy ban nhân dân xã, thị trấn hay phường sẽ đồng thời là một Phó Bí thưĐảng ủy của xã , thị trấn hay phường đó.

Bộ máy giúp việc của Ủy ban nhân dân cấp xã có các công chức: Tư pháp

Hộ tịch, Địa chính - Xây dựng, Tài chính - Kế toán, Văn phòng - Thống kê, Vănhóa - Xã hội, Chỉ huy trưởng quân sự, Trưởng công an

Cấp huyện

Đây là chính quyền của các địa phương cấp huyện, quận, thành phố trựcthuộc tỉnh, thị xã, Ủy ban nhân dân cấp huyện có từ 09 đến 13 thành viên, gồmChủ tịch, 02-03 Phó Chủ tịch và các ủy viên Thường trực Ủy ban nhân dân cấphuyện gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và ủy viên thư ký Người đứng đầu Ủyban nhân dân cấp huyện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân, trên danh nghĩa là do Hộiđồng nhân dân huyện bầu ra Thông thường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện sẽđồng thời là một Phó Bí thư Huyện ủy

Các cơ quan giúp việc của chính quyền địa phương cấp huyện thông thườnggồm các phòng, ban trực thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân, Phòng Tài chính -

Kế hoạch Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Tài nguyên - Môitrường, Phòng Kinh tế và Hạ tầng, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,Phòng Tư pháp, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Văn hóa - Thông tin, Phòng

Y tế, Thanh tra huyện, Phòng Nội vụ, Phòng Văn hóa - Thông tin

Một số cơ quan nhà nước ở cấp huyện như Chi cục Thuế Chi cục Thống kê,Huyện đội, Công an huyện không phải là cơ quan của chính quyền địa phươngcấp huyện mà là cơ quan của chính quyền Trung ương đặt tại huyện (đóng trênđịa bàn huyện)

Trang 18

Cấp tỉnh

Đây là chính quyền của các địa phương cấp tỉnh và thành phố trực thuộcTrung ương, Ủy ban nhân dân có từ 11 đến 17 thành viên gồm Chủ tịch, các PhóChủ tịch, 1 ủy viên thư ký và các ủy viên khác Thường trực Ủy ban Nhân dâncấp tỉnh gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và ủy viên thư ký

Người đứng đầu chính quyền địa phương cấp tỉnh là Chủ tịch ủy ban Nhândân Trên danh nghĩa, vị trí này do Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định bằng bầu

cử theo hình thức bỏ phiếu Giúp việc cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là các Sở,ngành tỉnh

1.6 Các tiêu chí đánh giá về tổ chức và hoạt động của tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam.

Tiêu chí đánh giá tổ chức và hoạt động của các cơ quan địa phương là nhữngcăn cứ (những biểu hiên cơ bản) phản ánh rõ tính chất, chức năng hoạt động để

từ đó xác định được những ưu điểm, nhươc điểm cũng như hiệu quả của các cơquan địa phương trong thực tiễn gồm các tiêu chí:

+ Tính hợp lý trong phân định thẩm quyền của các cơ quan chính quyền địaphương

+ Sự tham gia của người dân trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan chínhquyền địa phương

+ Tính kiểm soát quyền lực, cơ chế chịu trách nhiệm trong tổ chức và hoạt độngcủa các cơ quan chính quyền địa phương

Trang 19

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRONG TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA

PHƯƠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 2.1 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của pháp luật hiện hành.

Theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm

2015 thì Hội đồng nhân dân được xác định là “cơ quan quyền lực nhà nước ở địaphương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân địaphương, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địaphương và cơ quan nhà nước cấp trên” Đại, minh bạch, phục vụ nhân dân , chịu

sự giám sát của Nhân dân

Như vậy, so với quy định vỏn vẹn về nguyên tắc tập trung dân chủ như trướcđây, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân đã được quy định

cụ thể, phong phú

Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã

Hội đồng nhân dân cấp xã có Thường trực Hội đồng nhân dân nhưng chỉ Hộiđồng nhân dân gồm : Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân Thành viên củaThường trực Hội đồng nhân dân cấp xã không thể đồng thời là thành viên của

Uỷ ban nhân dân cùng cấp, Hội đồng nhân dân xã không thành lập các Ban.Theo quy định tại Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015, số lượngđại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã là:

+ Xã, thị trấn miền xuôi có từ 4.000 người trở xuống được bầu 25 đại biểu,

có trên 4.000 người thì cứ thêm 2.000 người được bầu thêm 01 đại biểu nhưngtổng số không quá 35 đại biểu

+ Xã, thị trấn miền núi và hải đảo có từ 3.000 người trở xuống đến 2.000người được bầu 25 đại biểu, có trên 3.000 người thì cứ thêm 1.000 người đượcbầu thêm 01 đại biểu nhưng tổng số không qua 35 đại biểu

Trang 20

+ Xã, thị trấn có dưới 2.000 người trở xuống đến 1.000 người được bầu 20đại biểu, xã, thị trấn có dưới 1.000 người thì người được bầu 15 đại biểu.

+ Phương có từ 8.000 người trở xuống được bầu 25 đại biểu, có trên 8.000người thì cứ thêm 4.000 người được bầu thêm 01 đại biểu nhưng tổng số khôngquá 35 đại biểu

Nhìn chung, so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dânnăm 2003, quy định của Luật tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 không

có thay đổi về cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân phường, xã Chỉ có quyđịnh về hoạt động chuyên trách của Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân phường, xã

và nâng số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân các xã miền núi, vùng cao và hảiđảo có số dân từ trên 1000 đến 2000 dân được bầu 20 đại biểu (thay vì 19 đạibiểu như Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003)

Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Luật tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 đã có sự thay đổi về cơ cấu

tổ chức của Thường trực Hội đồng nhân dân huyện gồm: Chủ tịch và hai Phóchủ tịch (Phó chủ tịch là đại biểu chuyên trách) và các Ủy viên là Trưởng bancủa Hội đồng nhân dân huyện (02 ban, nếu không có Ban dân tộc) Hội đồngnhân dân quận, thành phố, thị xã thuộc tỉnh cũng cơ cấu tương tự như cơ cấu củaHội đồng nhân dân huyện

Hội đồng nhân dân cấp huyện có Thường trực Hội đồng nhân dân và các ban,Thường trực Hội đồng nhân dân gồm: Chủ tịch, hai Phó Chủ tịch và các Ủy viên

là trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân cấp huyện Các Ban của Hội đồngnhân dân gồm : Ban Kinh tế – xã hội, Ban Pháp chế Nơi nào có nhiều đồng bàodân tộc thiểu số thì thành lập Ban Dân tộc Theo quy định tại Điều 25 Luật Tổchức Chính quyền địa phương năm 2015: số lượng thành viên của các Ban củaHội đồng nhân dân của cấp huyện do Hội đồng nhân dân cung cấp quyết định.Thành viên của Thường trực Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành

Trang 21

viên của Uỷ ban nhân dân cùng cấp (Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ bannhân dân 2003 quy định chủ quy định thành viên các Bạn không là thành viêncủa Uỷ ban nhân dân cung cấp đồng thời không là thủ trưởng các cơ quanchuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sat nhân dân,Chánh án Tòa án nhân dân cung cấp) Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấphuyện được Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 quy định:

+ Huyện miền xuôi và quận có từ 80.000 người trở xuống được bầu 30 đạibiểu, có trên 80.000 người thì cứ thêm 10.000 người được bầu thêm 01 đại biểu,nhưng tổng số không quá 40 đại biểu

+ Huyện miền núi và hải đảo có từ 40.000 người trở xuống được bầu 30 đạibiểu, có trên 40.000 người thì cứ thêm 5.000 người được bầu thêm 01 đại biểu,nhưng tổng số không quá 40 đại biểu

+ Thị xã có từ 70.000 người trở xuống được bầu 30 đại biểu, có trên 70.000người thì cứ thêm 10.000 người được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng sốkhông quá 40 đại biểu

+ Thị xã có từ 70.000 người trở xuống được bầu 30 đại biểu, có trên 70.000người thì cứ thêm 10.000 người được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng sốkhông quá 40 đại biểu

+ Thành phố thuộc tỉnh có từ 100.000 người trở xuống được bầu 30 đại biểu,

có trên 100.000 người thì cứ thêm 10.000 người được bầu thêm 01 đại biểu,nhưng tổng số không quá 40 đại biểu

+ Đối với các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nói trên nếu có từ 30đơn vị trực thuộc trở lên được bầu 40 đại biểu, số lượng cụ thể do Ủy banThường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhândân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Ngày đăng: 25/05/2021, 23:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w