1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa chi ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế thực trạng tại việt nam

135 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với vai trò là một công cụ quan trọng của nhà nước nhằm cung cấp nguồn lực tài chính để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội thông qua các chính sách cụ thể, chi tiêu ngân sách đã

Trang 1

- THỰC TRẠNG TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

Mã chuyên ngành: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Ngọc Vân

Người phản biện 1: TS Võ Xuân Hồng

Người phản biện 2: TS Hà Văn Dũng Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh ngày 19 tháng 09 năm 2019

Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:

1 PGS.TS Trần Huy Hoàng - Chủ tịch Hội đồng

2 TS Nguyễn Thị Tuyết Nga - Thư ký

3 TS Võ Xuân Hồng - Phản biện 1

4 TS Hà Văn Dũng - Phản biện 2

5 TS Nguyễn Hoàng Hưng - Ủy viên

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Trang 3

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: VÕ THỊ MINH CHI MSHV: 16083591

Ngày, tháng, năm sinh: 04/11/1983 Nơi sinh: TP.HCM

Chuyên ngành: Tài Chính Ngân hàng Mã chuyên ngành: 60340201

I TÊN ĐỀ TÀI:

Mối quan hệ giữa chi ngân sách Nhà nước và tăng trưởng kinh tế - Thực trạng tại Việt Nam

NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

Tìm hiểu và nghiên cứu về mối quan hệ giữa chi ngân sách Nhà nước và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2011 – 2017

II NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: Theo Quyết định giao đề tài số 2018/QĐ- ĐHCN

ngày 27/09/2018

III NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 15/10/2019

IV NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: Tiến sỹ Phạm Ngọc Vân

Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2019

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đề tài “Mối quan hệ giữa chi ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế - Thực trạng tại Việt Nam” là nội dung tôi chọn để nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp sau hai năm theo học chương trình cao học chuyên ngành Tài chính Ngân hàng tại trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

Để hoàn thành quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này, lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến Thầy Phạm Ngọc Vân thuộc Khoa Tài chính Ngân hàng – Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Thầy đã trực tiếp chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thiện luận văn này Ngoài ra tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Tài chính Ngân hàng đã đã tạo điều kiện và thời gian cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, đóng góp những ý kiến quý báu cho luận văn

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên tôi hoàn thành khóa học và bài luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

Dựa trên các lý thuyết của trường phái kinh tế chính trị học, luận văn đã hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về tác động của chi tiêu ngân sách đối với tăng trưởng kinh tế, đồng thời phân tích kinh nghiệm ở một số quốc gia để làm cơ sở cho các bước nghiên cứu tiếp theo Dựa trên dữ liệu thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau, luận văn phân tích thực trạng việc chi NSNN đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam theo các phương diện chiều rộng và chiều sâu trong giai đoạn từ năm

2011 đến năm 2017 Kết quả cho thấy chi tiêu ngân sách có tác động tích cực đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế Với vai trò là một công cụ quan trọng của nhà nước nhằm cung cấp nguồn lực tài chính để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội thông qua các chính sách cụ thể, chi tiêu ngân sách đã góp phần không nhỏ vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế và thực hiện công bằng xã hội

Nhưng bên cạnh đó, việc chi ngân sách Nhà nước vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế Điều này đòi hỏi trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả chi tiêu ngân sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Chính phủ nên chú trọng đến các quan điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, việc huy động phân bổ và sử dụng chi tiêu ngân sách phải bảo đảm cho kinh tế tăng trưởng nhanh, ổn định và phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa; Thứ hai, chính sách chi tiêu ngân sách Nhà nước phải được xây dựng và điều hành dựa trên một nền tảng pháp lý chặt chẽ, đồng thời tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan và trình độ phát triển kinh tế thị trường của nền kinh tế; cuối cùng, cần xem chi tiêu ngân sách nói riêng và ngân sách Nhà nước nói chung không những là công cụ để quản lý và điều tiết kinh tế thông qua việc điều chỉnh nhịp độ tăng trưởng kinh tế mà còn là một công cụ định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Trang 6

ABSTRACT

Based on the theories of the school of political economics, the dissertation has systematized and clarified some theoretical issues about the impact of budget spending on economic growth, while analyzing experience in some countries as a basis for further research steps Based on data collected from various sources, the dissertation analyzes the state of the state budget spending on economic growth in Vietnam in terms of breadth and depth in the period from 2011 to 2017 The results show that budget spending has a positive impact on economic growth As an important tool of the state to provide financial resources to implement socio-economic objectives through specific policies, budget spending has contributed significantly to the process Vietnam's economic restructuring towards increasing the proportion of industries and services, gradually improving the quality, efficiency and competitiveness of the economy and implementing social

But besides, the state budget spending still exists many limitations This requires that in the future, to improve the efficiency of budget spending to promote economic growth in Vietnam, the government should focus on the following key points: First, mobilization and distribution supplementing and using budget spending to ensure that the economy grows quickly, stably and sustainably in a socialist orientation; Secondly, the state budget spending policy must be built and operated based on a strict legal foundation, while respecting objective economic rules and market economy Finally, it is necessary to see budget spending in particular and the state budget in general not only as a tool to manage and regulate the economy through adjusting the pace of economic growth but also as a guiding tool for socialist in a market economy in Vietnam

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các

số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án đo tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả

này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Học viên

Võ Thị Minh Chi

Trang 8

MỤC LỤC

MỤC LỤC V DANH MỤC HÌNH ẢNH IX DANH MỤC BẢNG BIỂU X

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Các nghiên cứu về mối quan hệ chi NSNN và tăng trưởng kinh tế 1

1.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài 2

1.2.2 Các nghiên cứu trong nước 3

1.2.3 Đánh giá chung tình hình nghiên cứu 4

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 6

1.3.1 Mục tiêu chung 6

1.3.2 Mục tiêu cụ thể 6

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 7

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu 7

1.5.2 Phạm vi nghiên cứu 7

1.6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8

1.6.1 Phương pháp luận tiếp cận vấn đề nghiên cứu 8

1.6.2 Phương pháp nghiên cứu 8

1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài 9

1.7.1 Ý nghĩa khoa học 9

1.7.2 Ý nghĩa thực tiễn 9

Trang 9

1.8 Bố cục của đề tài 9

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ LUẬN CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 11

2.1 Lý luận về NSNN và chi NSNN 11

2.1.1 Ngân sách Nhà nước 11

2.1.2 Chi NSNN 12

2.1.2.1 Khái niệm về chi NSNN 12

2.1.2.2 Nội dung chi ngân sách Nhà nước 12

2.1.2.3 Vai trò của chi NSNN 15

2.2 Những lý luận về tăng trưởng kinh tế 15

2.2.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế 15

2.2.2 Các kiểu tăng trưởng kinh tế 16

2.2.2.1 Tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng 16

2.2.2.2 Tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu 17

2.2.2.3 Tăng trưởng kinh tế kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu 18

2.2.3 Quan điểm của Việt Nam về tăng trưởng kinh tế 19

2.2.4 Một số chỉ tiêu phản ánh tính hiệu quả đầu tư đến tăng trưởng kinh tế 22

2.2.4.1 Chỉ số ICOR 22

2.2.4.2 Chỉ tiêu TFP 23

2.3 Các lý thuyết kinh tế về mối quan hệ giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh tế 24

2.3.1 Lý thuyết của Adolf Wagner và John Maynard Keynes (1936) 24

2.3.2 Lý thuyết đường cong Richard Rahn (1986) 27

2.3.3 Lý thuyết về nhà nước cuả Ph.Ăngghen và V.I.Lênin 28

2.3.4 Các mô hình nghiên cứu của các bài nghiên cứu trước 29

Trang 10

2.4 Nội dung phân tích mối quan hệ chi NSNN và tăng trưởng kinh tế 33

2.4.1 Mối quan hệ giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng 34

2.4.2 Mối quan hệ giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu 34

2.5 Các bài học kinh nghiệm về mối quan hệ giữa chi NSNN tác động đến tăng trưởng kinh tế ở một số quốc gia trên thế giới 35

2.5.1 Tại Trung Quốc 35

2.5.2 Tại Singapore 37

2.5.3 Những bài học kinh nghiệm được rút ra 38

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2011-2017 41

3.1 Khái quát tình hình Chi NSNN tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2017 41

3.2 Khái quát tình hình tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2017 45

3.2.1 Về tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP, GDP/người) 45

3.2.2 Về hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) 48

3.2.3 Về đóng góp vốn, lao động, TFP 49

3.3 Phân tích mối quan hệ giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2017 52

3.3.1 Mối quan hệ giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng 52

3.3.2 Mối quan hệ giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu 60

3.3.2.1 Sự đóng góp của Chi NSNN và sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, chi tiết cho ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ 60

3.3.2.2 Sự đóng góp của Chi NSNN trong sự phát triển của nguồn lao động, khoa học công nghệ, con người 70

Trang 11

3.3.2.3 Sự đóng góp của Chi NSNN trong sự thay đổi của năng suất lao động,

TFP 79

3.4 Đánh giá chung mối quan hệ chi NSNN đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2017 84

3.4.1 Những thành tựu và nguyên nhân 84

3.4.1.1 Những thành tựu đạt được 84

3.4.1.2 Nguyên nhân 84

3.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 85

3.4.2.1 Những hạn chế 85

3.4.2.2 Nguyên nhân 89

CHƯƠNG 4 KHUYẾN NGHỊ - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHI NSNN TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 93

4.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam và quốc tế hiện nay 93

4.1.1 Bối cảnh quốc tế 93

4.1.2 Bối cảnh trong nước 94

4.2 Quan điểm của Việt Nam về phương hướng nâng cao hiệu quả chi NSNN nhằm tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới 95

4.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chi NSNN tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHỤ LỤC 111

LÝ LỊCH TRÍCH NGANG CỦA HỌC VIÊN 119

Trang 12

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 2.1 Sự kết hợp của định luật Wagner và quan điểm của Keynes 27

Hình 2.2 Đường cong Rahn 28

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ % của các khoản chi NSNN/ Tổng chi NSNN theo dự toán Quốc Hội tại Việt Nam các năm 2011-2017 45

Biểu đồ 3.2 Gía trị tăng trưởng kinh tế Việt Nam qua các năm 2011-2017 46

Biểu đồ 3.3 Mức tăng trưởng kinh tế Việt Nam qua các năm 2011-2017 47

Biểu đồ 3.4 GDP/người tại Việt Nam qua các năm 2011-2017 48

Biểu đồ 3.5 Tốc độ tăng GDP, vốn, lao động, TFP tại Việt Nam các năm 2011-2017 51

Biểu đồ 3.6 Đóng góp của các yếu tố trong tốc độ tăng GDP (%) tại Việt Nam các năm 2011-2017 52

Biểu đồ 3.7 Tổng GDP, Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tại Việt Nam các năm 2010 -2017 54

Biểu đồ 3.8 Tốc độ tăng giá trị tăng thêm hàng năm của ngành công nghiệp chế tạo, chế biến tại Việt Nam giai đoạn 2011-2017 66

Biểu đồ 3.9 Tốc độ tăng NSLĐ, GDP, GDP bình quân đầu người tại Việt Nam giai đoạn 2006-2017 82

Biểu đồ 3.10 Tốc độ tăng trang bị vốn trên lao động, TFP, NSLĐ Việt Nam giai đoạn 2011-2017 83

Trang 13

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Giá trị thu NSNN của Việt Nam giai đoạn 2011-2017 42

Bảng 3.2 Tỷ lệ % chi NSNN/GDP của Việt Nam giai đoạn 2011-2017 43

Bảng 3.3 Chi tiết các khoản chi NSNN của Việt Nam giai đoạn 2011-2017 44

Bảng 3.4 Chỉ số ICOR của Việt Nam qua các năm 2011-2017 49

Bảng 3.5 Hệ số ICOR của một số nước trong khu vực 49

Bảng 3.6 Tốc độ tăng GDP, vốn, lao động, TFP và đóng góp của các yếu tố vào tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2011-2017 50

Bảng 3.7 Tỷ lệ tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội / Tổng GDP tại Việt Nam giai đoạn 2010-2017 54

Bảng 3.8 Chi tiết mức tăng tổng GDP và mức tăng tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tại Việt Nam giai đoạn 2011-2017 55

Bảng 3.9 Tỷ lệ Chi NSNN đầu tư phát triển so với Giá trị GDP tại Việt Nam giai đoạn 2011-2017 57

Bảng 3.10 Tỷ lệ nguồn vốn NSNN trong vốn đầu tư từ khu vực nhà nước so với Tổng chi NSNN cho đầu tư phát triển tại Việt Nam giai đoạn 2011-2017 58

Bảng 3.11 Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng GDP tại Việt Nam giai đoạn 2015-2017 61

Bảng 3.12 Vốn đầu tư thực hiện của khu vực kinh tế Nhà nước phân theo ngành kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2011-2017 62

Bảng 3.13 Tỷ lệ Chi NSNN thường xuyên so với Giá trị GDP tại Việt Nam giai đoạn 2010-2017 71

Bảng 3.14 Mức tăng và tỷ lệ Chi NSNN thường xuyên so với Giá trị GDP tại Việt Nam giai đoạn 2011-2017 71

Bảng 3.15 Chi tiết Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi phân theo vùng và theo thành thị, nông thôn tại Việt Nam giai đoạn 2014-2017 74

Bảng 3.16 Chi tiết nguồn chi của khoản chi sự nghiệp y tế, dân số và gia đình tại Việt Nam giai đoạn 2011-2016 77

Bảng 3.17 Chi tiết khoản chi NSNN Việt Nam giai đoạn 2011-2017 79

Trang 14

Bảng 3.18 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật tại Việt Nam giai đoạn 2011-

2017 80Bảng 3.19 Lao động và cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc hàng năm phân theo ngành kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2011-2017 81

Trang 15

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CHỮ

VIẾT TẮT

NỘI DUNG

BOT Build-Operate-Transfer Xây dựng-Vận hành-Chuyển giao

CPTPP

Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

FDI Foreign direct investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTA Free trade agreement Hiệp định thương mại tự do

GNI Gross National Income Tổng sản lượng quốc gia

GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc gia

thôn

Trang 16

CHỮ

VIẾT TẮT

NỘI DUNG

ODA Official Development Assistance Hình thức đầu tư nước ngoài

PCI Provincial Competitiveness Index Quy mô sản lượng quốc gia tính

bình quân trên đầu người

PMI Purchasing Managers Index Chỉ số Quản lý thu mua

TFP Total factor productivity Năng suất các nhân tố tổng hợp

WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới

VEC Viet Nam expressway services

engineering joiny stock company

Công ty CP Dịch vụ kỹ thuật đường cao tốc Việt Nam

Trang 17

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do chọn đề tài

Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập sâu rộng như hiện nay, vai trò điều tiết vĩ

mô của nhà nước càng được đề cao và nhấn mạnh hơn bao giờ hết Để đảm trách vai trò đó, Nhà nước phải nghiên cứu nghiêm túc việc sử dụng các công cụ điều tiết

vĩ mô để tạo một động lực phát triển kinh tế - xã hội đúng hướng kế hoạch mà nhà nước hàng năm đã đề ra Một trong những công cụ sắc bén được nhà nước ưu tiên

sử dụng để can thiệp vào toàn diện nền kinh tế là ngân sách Nhà nước (NSNN), cụ thể là chi NSNN Chi NSNN phản ánh khía cạnh đặc biệt nguồn lực của quốc gia và

có tác động to lớn mọi phương diện của đời sống xã hội Thông qua việc hình thành

và sử dụng NSNN, nhà nước phân bổ các nguồn lực kinh tế một cách hợp lý trong các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia mình cũng như đảm bảo công bằng xã hội cho người dân trong cả nước

Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển vượt bậc về kinh tế - xã hội của Việt Nam trên trường quốc tế, quy mô chi NSNN ở Việt Nam càng có xu hướng gia tăng Ngoài ra, việc chi NSNN trong thời gian qua cũng gặp không ít khó khăn và trở ngại về trong việc định hướng chi NSNN của chính phủ hay sự thất thoát lãng phí trong thực thi chi NSNN,… Cho nên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế -

xã hội tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, việc quản lý và chi NSNN có thật sự hiệu quả hay không, có đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế, có tránh được sự lãng phí nguồn NSNN, là vấn đề cần được nghiên cứu chuyên sâu

và chi tiết Vì vậy, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa chi ngân

sách Nhà nước và tăng trưởng kinh tế -Thực trạng tại Việt Nam” làm luận văn

tốt nghiệp của mình

1.2 Các nghiên cứu về mối quan hệ chi NSNN và tăng trưởng kinh tế

Vấn đề nghiên cứu về mối quan hệ giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh tế đã được

đề cập trong rất nhiều nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam Dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu:

Trang 18

1.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài

(Abu Nurudeen; Abdullahi Usman, 2010) nỗ lực điều tra mối quan hệ giữa chi NSNN đối với tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1970 -2008 Kết quả cho thấy tổng chi tiêu của Chính phủ (TCAP), tổng chi thường xuyên (TREC) và chi tiêu Chính phủ cho giáo dục (EDU) có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Ngược lại, việc tăng chi tiêu của Chính phủ về giao thông và truyền thông (TRACO) và sức khỏe (HEA) dẫn đến sự gia tăng tăng trưởng kinh tế Đề xuất của nhóm tác giả bao gồm những đề xuất sau đây: Chính phủ nên tăng cả chi tiêu vốn và chi thường xuyên, bao gồm cả chi tiêu cho giáo dục, cũng như đảm bảo rằng các quỹ dành cho sự phát

triển của các lĩnh vực này được quản lý đúng cách; Thứ hai, Chính phủ cần tăng

cường đầu tư vào phát triển giao thông và truyền thông để tạo môi trường thuận lợi

cho doanh nghiệp phấn đấu; Thứ ba, Chính phủ nên tăng chi tiêu của mình trong sự

phát triển của ngành y tế vì nó sẽ nâng cao năng suất lao động và tăng trưởng kinh

tế; Cuối cùng, Chính phủ nên khuyến khích và tăng cường tài trợ của các cơ quan

chống tham nhũng để giải quyết mức độ tham nhũng cao được tìm thấy trong lĩnh vực công

(Komain Jiranyakul, 2007) nghiên cứu nền kinh tế của Thái Lan từ 1993 đến năm

2006 Tác giả đã đưa ra nhận định tổng chi NSNN của Chính phủ gây ra tăng trưởng kinh tế nhưng tăng trưởng kinh tế không làm cho chi NSNN của Chính phủ

mở rộng Nói cách khác, có một mối quan hệ nhân quả một chiều giữa chi NSNN

và tăng trưởng kinh tế Những phát hiện ở đây hỗ trợ phương pháp tiếp cận Keynes, quy định rằng quan hệ nhân quả chạy từ chi tiêu Chính phủ đến tăng trưởng kinh tế

Về bản chất, bài nghiên cứu này cung cấp thông tin liên quan cho các nhà hoạch định chính sách để theo đuổi các chính sách quản lý nhu cầu thích hợp và phát triển các kế hoạch hành động nhằm đáp ứng với sự thay đổi về kinh tế và khí hậu chính trị

(Dimitrios Paparas; Christian Richter, 2015) nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách tài chính và tăng trưởng kinh tế trong EU-15, cố gắng xác định những công cụ chính sách tài khóa nào tăng cường tăng trưởng kinh tế: Chi NSNN và thuế trong

Trang 19

thời gian nghiên cứu là 14 năm Kết quả nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra sự gia tăng chi tiêu ngân sách của Chính phủ trong đầu tư phát triền cơ sở hạ tầng có tác động tích cực đối với nền kinh tế ở các quốc gia Trong khi đó chi tiêu cho các vấn đề xã hội lại không ảnh hưởng nhiều đến tăng trưởng kinh tế

1.2.2 Các nghiên cứu trong nước

(Nguyễn Thị Bích Hồng, 2007) đã phân tích tăng trưởng kinh tế của thành phố Đà Nẵng từ năm 1997 - 2006 trên các lĩnh vực theo tiêu chí chất lượng tăng trưởng kinh tế, từ đó, nhìn nhận được mối quan hệ giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh tế tại Đà Nẵng thể hiện cụ thể qua các chỉ tiêu đóng góp chi NSNN trong sự thay đổi của vốn, lao động, TFP, …

(Phạm Thế Anh, 2008) nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa cơ cấu chi NSNN và tăng trưởng kinh tế trong quá trình chuyển đổi ở các tỉnh của Việt Nam giai đoạn 2001–2005 Kết quả cho thấy có sự chênh lệch khá lớn về tính hiệu quả giữa các khoản chi NSNN khác nhau đối với tăng trưởng kinh tế Các khoản chi đầu tư phát triển có tác động tích cực hơn các khoản chi thường xuyên trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, giáo dục và y tế Kết luận này ngược lại cho ngành giao thông vận tải Cả chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên cho ngành giao thông vận tải, giáo dục, có vai trò tích cực lớn hơn đối với tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn so với khoản chi tương ứng cho ngành nông lâm thủy sản và ngành y tế Đồng thời, tác giả cũng kết luận chi NSNN cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu các ngành trong nền

kinh tế và góp phần không nhỏ cho sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam

(Bùi Đại Dũng, 2012) cho rằng chi tiêu ngân sách phân tán, thiếu những tiêu chí minh bạch Tình trạng chi NSNN kém hiệu quả thường xảy ra khi Chính phủ chi tiêu quá mức, chi sai chức năng và sai thứ tự ưu tiên Các khoản chi NSNN hiện nay

ở các quốc gia còn mang tính chính trị Vì vậy, quy trình chi tiêu NSNN cần được hoàn thiện, được lập kế hoạch cụ thể và theo các thứ tự ưu tiên của phát triển kinh

tế

Trang 20

(Lê Thanh Liêm, 2014) nghiên cứu đã tìm hiểu mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế ở Vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2009-2015 Tác giả đã thu thập dữ liệu, so sánh, phân tích vốn đầu tư công, và xác định chi tiêu công có mối quan hệ chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế của Vùng, đặc biệt là giúp GDP vùng tăng trưởng tốt, chuyển dịch cơ cấu ngành sản xuất, nâng cao đời sống người dân Bên cạnh đó, tác giả cũng tìm thấy các tác động tích cực của đầu tư tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế Vùng Tuy nhiên, chi tiêu công cũng còn tình trạng lãng phí và thất thoát nên Nhà nước cần các biện pháp quản lý chặt chẽ nguồn chi tiêu công tại Vùng đồng bằng sông Cửu Long

(Mai Đình Lâm, 2015) nghiên cứu tác động của khoản chi NSNN đến tăng trưởng kinh tế tại 19 tỉnh thành phía Nam ở Việt Nam giai đoạn 2000 –2013 Kết quả nghiên cứu cho rằng chi ngân sách có tác động dương lên tăng trưởng kinh tế, nếu tách phân tích chi thường xuyên có tác động dương tới đến tăng trưởng kinh tế, còn chi đầu tư thì chưa thấy hiệu ứng rõ rệt Chi đầu tư ở các tỉnh thành còn yếu, thiếu tính chiến lược do chỉ tập trung vào gia tăng mức đầu tư mà không tính toán đến hiệu quả đầu tư, dẫn đến nguồn NSNN thường xuyên bị thiếu hụt Đồng thời, nguồn NSNN còn trang trải cho nhiều dự án, thiếu tính đồng bộ và thứ hạn ưu tiên của dự

án nên tiến độ thi công dự án bị kéo dài, dẫn đến sự lãng phí vốn đầu tư từ NSNN (Nguyễn Thị Kim Tuyến, 2015) nghiên cứu về việc thu chi ngân sách tác động lên tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn từ năm 1984 đến năm 2013 Bằng nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đã đưa ra nhận xét thu NSNN và tổng sản phẩm quốc nội có tác động tích cực đến chi NSNN Còn nếu xét quan hệ Granger thì chi ngân sách tăng thì thu ngân sách sẽ tăng và không có mối quan hệ ngược lại

1.2.3 Đánh giá chung tình hình nghiên cứu

Nhìn chung các tác giả trước thường nghiên cứu sự tác động của chi NSNN hay chi tiêu của Chính phủ tác động đến tăng trưởng kinh tế theo các quan điểm như sau: Quan điểm 1: Chi NSNN có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế

Quan điểm 2: Chi NSNN có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế

Trang 21

Nguyên nhân chủ yếu của những luận điểm khác nhau về tác động của chi NSNN đến tăng trưởng kinh tế là do các nghiên cứu được thực hiện ở các quốc gia khác nhau, các thời điểm khác nhau, các giai đoạn kinh tế - xã hội khác nhau của quốc gia được nghiên cứu

Tổng hợp các nghiên cứu về tác động của chi NSNN đến tăng trưởng kinh tế như trình bày ở trên cũng cho thấy những nghiên cứu trước đây chỉ chú trọng phân tích mối quan hệ giữa sự chi tiêu của Chính phủ hay chi NSNN đến chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế là GDP của quốc gia đó hoặc có bài phân tích tăng trưởng kinh

tế cho một tỉnh thành cụ thể tại Việt Nam (ví dụ như: Bài nghiên cứu của tác giả (Nguyễn Thị Bích Hồng, 2007) và (Lê Thanh Liêm, 2014)) thông qua các chỉ tiêu đóng góp của vốn, lao động, TFP,…

Trên cơ sở kế thừa của những nghiên cứu trước, luận văn xác định hướng nghiên cứu tiếp theo là làm rõ hơn tác động của chi NSNN đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam một cách rõ ràng hơn trên hai phương diện khác nhau:

Về kiểu tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng: Tăng trưởng kinh tế dựa trên việc gia tăng số lượng các yếu tố đầu vào như vốn, tài nguyên thiên nhiên, lao động làm chủ yếu Mối quan hệ chi NSNN và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam thông qua đánh giá giữa chi NSNN đến các chỉ tiêu phản ánh giá trị tăng trưởng kinh tế theo

hệ thống tài khoản quốc gia như: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), quy mô sản phẩm quốc nội tính bình quân trên đầu người (GDP/người)

Về tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu: Sự tăng trưởng kinh tế dựa trên việc vận dụng khoa học – công nghệ để nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào

Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu thường gắn với những nền kinh tế có công nghệ hiện đại, lực lượng lao động trình độ cao chiếm tỷ trọng lớn và có năng lực thiết kế, chế tạo những sản phẩm có giá trị gia tăng cao, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cao Để đánh giá mối quan hệ giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, tác giả đánh giá dựa trên các tiêu chí Chất lượng tăng trưởng kinh tế được biểu hiện ở sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế, thể hiện trên

Trang 22

các mặt sau: (1) Tốc độ tăng trưởng cao và được duy trì trong một thời gian dài, (2) Nền kinh tế phát triển có hiệu quả thể hiện ở năng suất lao động cao, hiệu quả sử dụng vốn cao, sức cạnh tranh của nền kinh tế cao thông qua chỉ tiêu TFP, (3) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, hiện đại thông qua tiêu chí chuyển dịch

cơ cấu giữa các ngành kinh tế (Công nghiệp – Nông nghiệp – Dịch vụ); (4) Tăng trưởng kinh tế gắn liền với việc giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái thông qua các tiêu chí các phúc lợi xã hội mà con người trong xã hội đạt được, trình độ người lao động, mức sống của người lao động

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

1.3.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh tế Từ đó, tác giả đưa ra các gợi ý về giải pháp nâng cao hiệu quả của chi NSNN nhằm thúc đẩy tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong thời gian sắp tới

1.3.2 Mục tiêu cụ thể

Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các mục tiêu sau:

- Nghiên cứu lý luận về chi NSNN, tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh tế

- Phân tích thực trạng vấn đề chi NSNN và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2011–2017

- Đánh giá mối quan hệ giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2011–2017

- Trên cơ sở phân tích và đánh giá nêu trên, tác giả nghiên cứu đề xuất các quan điểm và gợi ý một số giải pháp để nâng cao hiệu quả việc chi NSNN để thúc đẩy tích cực đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới

Trang 23

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

Luận văn cần trả lời được những câu hỏi nghiên cứu sau:

- Thực trạng của việc chi NSNN và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2011–2017 như thế nào?

- Mối quan hệ giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2017 như thế nào?

- Đề xuất các khuyến nghị về chi NSNN để tăng trưởng kinh tế ổn định tại Việt Nam trong thời gian tới

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu

Dựa trên góc độ khoa học, đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ về mặt kinh tế xã hội giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh tế

1.5.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung:

Luận văn tập trung chủ yếu vào phân tích mối quan hệ chi NSNN và tăng trưởng kinh tế Cụ thể là mối quan hệ chi NSNN (được phân tích trên chỉ tiêu chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên) đối với tăng trưởng kinh tế xã hội Luận văn không

đề cập các khoản mục chi khác trong cơ cấu chi NSNN và không nghiên cứu các vấn đề thuộc về kỹ thuật và nghiệp vụ quản lý ngân sách

Về mặt không gian: Nghiên cứu trên lãnh thổ Việt Nam

Về mặt thời gian:

Luận văn phân tích và đánh giá trên thực trạng chi NSNN giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2017 Sau đó, đưa ra những khuyến nghị và giải pháp cho chi NSNN trong thời gian tới

Trang 24

1.6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

1.6.1 Phương pháp luận tiếp cận vấn đề nghiên cứu

Dựa vào lý thuyết về tăng trưởng kinh tế của các nhà kinh tế học, trên cơ sở kết quả các nghiên cứu thực nghiệm của những nhà khoa học đã công bố, tác giả tiến hành phân tích mối quan hệ giữa chi ngân sách của Việt Nam với chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế Từ đó, tìm ra những hiện tượng mang tính quy luật gắn với đặc điểm của kinh tế - xã hội Việt nam, tiếp tục có những khuyến nghị cần thiết giúp nhà quản lý

vĩ mô có cái nhìn chân thực nhất về tác động của chi NSNN đến sự tăng trưởng kinh tế

1.6.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu theo phương pháp định tính, cụ thể:

- Tập hợp, thống kê toàn bộ các số liệu theo mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Các khoản chi NSNN tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2017, các chỉ tiêu tăng trưởng kinh

tế tại Việt Nam giai đoạn 2011 -2017

- So sánh, phân tích các số liệu để tìm ra mối quan hệ giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2017

- Nguồn dữ liệu được thu thập: Dữ liệu thứ cấp của các nguồn sau:

1 (Tổng cục thống kê)

2 (Cổng thông tin điện tử nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam)

3 (Ngân hàng thế giới)

4 (Quỹ tiền tệ quốc tế)

5 (Key Indicators for Asia anh the Pacific)

6 (Báo cáo của Viện Năng suất Việt Nam)

Trang 25

1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài

1.7.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn góp phần tổng hợp, phân tích, đánh giá các lý luận về mối quan hệ giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh tế Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung thêm bằng chứng thực tế tại Việt Nam

Cần đảm bảo cơ cấu chi NSNN hợp lý để phát triển tăng trưởng kinh tế cho từng thời kỳ nhất định

1.8 Bố cục của đề tài

Luận văn được bố trí bao gồm 4 chương

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan lý luận về chi NSNN và tăng trưởng kinh tế

Chương 3: Thực trạng về mối quan hệ chi NSNN và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011- 2017

Chương 4: Khuyến nghị những giải pháp nâng cao hiệu quả chi NSNN tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới

Trang 26

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương đầu tiên của đề tài tập trung trình bày lý do, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa học và các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh tế Lấy mục tiêu chính là nghiên cứu mối quan hệ của chi NSNN đối với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2011–2017 Từ đó, tác giả đưa ra các gợi ý về khuyến nghị nâng cao hiệu quả chi NSNN nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế Việt nam tốt hơn trong giai đoạn sắp tới

Trang 27

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ LUẬN CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

2.1 Lý luận về NSNN và chi NSNN

2.1.1 Ngân sách Nhà nước

Thuật ngữ “Ngân sách nhà nước” chỉ mới được sử dụng từ thế kỷ XVII trở lại đây

Sự ra đời thể chế NSNN là kết quả của tiến trình đấu tranh liên tục của giai cấp tư sản đối với nhà nước phong kiến trong giai đoạn đầu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa để mở đưởng cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường NSNN là một phạm trù kinh tế mang tính lịch sử, nó phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội trong điều kiện tồn tại quan hệ hàng hóa - tiền tệ và được sử dụng như một công cụ thực hiện các chức năng Nhà nước

Xét về mặt thực thể, NSNN bao gồm những nguồn thu, khoản chi cụ thể và được định lượng rõ ràng Các nguồn thu chi quỹ này có quan hệ ràng buộc với nhau gọi là cân đối Cân đối thu - chi NSNN là một cân đối lớn trong nền kinh tế thị trường và được Nhà nước đặc biệt quan tâm

Xét về các quan hệ kinh tế, các nguồn thu và khoản chi trong NSNN đều phản ánh những mối quan hệ kinh tế nhất định giữa nhà nước và đối tượng nộp giữa Nhà nước đối với đối tượng thụ hưởng

Vì thế, “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (Quốc hội, 2015)

Trang 28

2.1.2 Chi NSNN

2.1.2.1 Khái niệm về chi NSNN

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển, hoạt động của Chính phủ không mang lại cho quốc gia về mặt kinh tế, việc chi tiêu của Chính phủ thông qua ngân sách chỉ là những khoản tiêu dùng Cho nên, cần giới hạn tối đa mọi khoản chi tiêu của Chính phủ để tránh thất thoát, lãng phí nguồn lực của quốc gia

Nhưng đến thời kinh tế học hiện đại, vai trò của Nhà nước đã được làm rõ ràng hơn Theo quan điểm của Paul Samuelra - Nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng để điều hành một nền kinh tế không có cả Chính phủ lẫn thị trường cũng như định vỗ tay bằng một bàn tay Theo các quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, sự phát triển của xã hội trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại đã cho thấy chi tiêu ngân sách hoàn toàn không phải là hoạt động tiêu dùng bình thường mà nó tạo ra sự phân phối giữa các khu vực kinh tế, Chính phủ đóng vai trò trung tâm của quá trình tái phân phối thu nhập Thông qua việc chi NSNN, Chính phủ “bơm ra” lại cho xã hội những khoản thu nhập đã lấy đi của xã hội từ các khoản nộp thuế bằng việc cung cấp những hàng hóa công cần thiết mà khu vực tư nhân không có khả năng cung cấp hoặc cung cấp không hiệu quả Với cơ chế này, Chính phủ sẽ thực hiện tái phân phối thu nhập của toàn xã hội nhằm khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường, đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng ổn định Hầu hết các biện pháp can thiệp của Chính phủ vào nên kinh tế để thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô của mình đều thông qua chi tiêu ngân sách của Chính phủ

Thống kê lại, thuật ngữ “Chi NSNN” theo cách tiếp cận của luận văn là “Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, chi trả nợ của Nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật” (Luật NSNN,2015)

2.1.2.2 Nội dung chi ngân sách Nhà nước

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chi NSNN được xem xét đến theo tính chất kinh tế là chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên

Trang 29

Chi đầu tư phát triển:

Chi có tính chất tích lũy hay còn gọi là chi đầu tư phát triển bao gồm những khoản chi phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng, gắn liền với việc xây dựng, mở rộng

cơ sở hạ tầng kinh tế Chi đầu tư phát triển luôn là khoản chi tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, nhằm phát triển năng lực sản xuất, tăng tích luỹ tài sản của nền kinh tế quốc dân Việc Nhà nước thực hiện chi đầu tư phát triển chính là việc NSNN bỏ vốn vào các hoạt động kinh tế xã hội để hướng đến những lợi ích kinh tế xã hội lớn hơn trong tương lai nên các khoản chi đầu tư phát triển ít thu hút tư nhân tham gia đầu

tư Chính vì vậy, vai trò của nhà nước rất quan trọng trong việc thực hiện các khoản chi này

Nếu căn cứ vào mục đích sử dụng, chi đầu tư phát triển thường có những khoản chi lớn hay được kể đến là:

- Chi đầu tư xây dựng cơ bản: Khoản chi này được NSNN dùng để chi cho việc đầu tư, xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội mà không có khả năng thu hồi vốn

- Chi đầu tư, hỗ trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, lĩnh vực quan trọng mà cần thiết phải có sự tham gia của Nhà nước Những khoản chi này góp phần quan trọng để nhà nước thực hiện vai trò định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế xã hội theo đúng mục tiêu đã đề ra trong từng thời kỳ

- Chi dự trữ Nhà nước là khoản chi để mua hàng hoá, vật tư dự trữ nhà nước có tính chiến lược của quốc gia hoặc hàng hoá, vật tư dự trữ mang tính chuyên ngành

- Chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình, mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước chẳng hạn như: Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, chương trình nước sạch nông thôn, phủ xanh đồi trọc…

Chi đầu tư phát triển có đặc điểm không có tính ổn định do thứ tự và tỷ trọng ưu tiên trong chi đầu tư phát triển của NSNN cho từng nội dung chi, từng lĩnh vực kinh

tế xã hội ở mỗi giai đoạn là khác nhau Phạm vi và mức độ chi đầu tư phát triển của

Trang 30

NSNN luôn gắn liền với việc thực hiện mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ

Chi thường xuyên:

So với nhóm các khoản chi có tính chất tích lũy hay còn gọi là chi đầu tư phát triển, nhóm các khoản chi có tính chất tiêu dùng đa dạng và phức tạp hơn Chi thường xuyên của NSNN thể hiện quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ NSNN để đáp ứng cho các nhu cầu gắn liền với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy Nhà nước Chi thường xuyên bao gồm 4 nhóm chi chủ yếu được xác định:

- Chi cho hoạt động của các cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng: Chi quản lý hành chính của các cơ quan Nhà nước ở các cấp Nhà nước ngày càng có xu hướng giảm thiểu đến mức tối đa có thể được các khoản chi năm trong nhóm này, nhằm mục đích tăng thu và tiết kiệm chi cho NSNN, tiến đến tinh gọn bộ máy quản lý hành chính Nhà nước các cấp sao cho hiệu suất làm việc đạt mức cao nhất

- Chi cho các hoạt động sự nghiệp: Chi cho các hoạt động kinh tế, giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học, đào tạo, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, trợ cấp chính sách xã hội và bảo hiểm xã hội… Chi hỗ trợ cho hoạt động của các tổ chức chính trị

- xã hội, chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp…Đây là nhóm chi chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng số chi có tính chất tiêu dùng của NSNN

- Chi cho quốc phòng và an ninh: Là khoản chi hết sức cần thiết của quốc gia, nhăm bảo đảm điều kiện vật chất cho sự nghiệp quốc phòng, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội

- Chi khác: Chi trợ giá theo chính sách của Nhà nước, phần chi thường xuyên trong các chương trình, mục tiêu quốc gia

Chi thường xuyên có tính chất ổn định, ít phụ thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội thay đổi, chẳng hạn như: Khoản chi lương của công chức, viên chức Các khoản chi thường xuyên có hiệu lực tác động trong thời gian ngắn và mang tính tiêu dùng xã hội, nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính Nhà nước, quốc phòng

Trang 31

an ninh, các hoạt động sự nghiệp,…Đặc biệt chi thường xuyên cần được quản lý theo dự toán và được sử dụng theo nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả

2.1.2.3 Vai trò của chi NSNN

Xuất phát từ chức năng, vai trò quản lý toàn diện trong nền kinh tế của Nhà nước nên đặc điểm nổi bậc của chi NSNN là nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân cư của một quốc gia và thực hiện xuyên suốt theo định hướng phát triển của nền kinh tế xã hội của một quốc gia Các khoản chi NSNN hoàn toàn mang tính chất công cộng, mang tính không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp Do đó, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, chi NSNN có những vai trò sau:

- Ổn định kinh tế vĩ mô: thông qua việc tăng giảm chi tiêu ngân sách, Chính phủ tác động vào cung cầu thị trường nhằm đảm bảo thị trường hàng hóa cân bằng và

ổn định phát triển

- Phân phối lại thu nhập: Chi NSNN là cách thức phổ biến và có hiệu quả trong việc đều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư thông qua các chương trình viện trợ, trợ cấp xã hội,…

- Phân bổ nguồn lực kinh tế, chuyển dịch cơ cấu sản xuất của nền kinh tế: Khi xây dựng định hướng phát triển nền kinh tế cho từng giai đoạn cụ thể của một quốc gia, Chính phủ sẽ chú trọng phát triển nguồn lực kinh tế nào, tăng tỷ trọng sản xuất của một ngành nào thì nguồn chi tiêu của NSNN sẽ được tập trung chi tiêu nhiều hơn các lĩnh vực khác

2.2 Những lý luận về tăng trưởng kinh tế

2.2.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm)

Sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào hai quá trình: sự tích lũy tài sản (vốn, lao động và đất đai) và đầu tư những tài sản này có năng suất hơn Tiết kiệm và đầu tư

Trang 32

là trọng tâm nhưng đầu tư phải hiệu quả thì mới đẩy mạnh tăng trưởng Chính sách Chính phủ, thể chế, sự ổn định chính trị và kinh tế, đặc điểm địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên và trình độ y tế và giáo dục, tất cả đều đóng vai trò nhất định ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như: việc làm, giảm thất nghiệp, nâng cao mức sống của dân cư, tạo tiền đề vật chất để giảm bớt tình trạng đói nghèo, lạc hậu của quốc gia Đặc biệt, tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề vật chất để gia tăng tích lũy cho nền kinh tế, củng cố quốc phòng an ninh, củng cố chế độ chính trị, tăng uy tín và vai trò quản lý của Nhà nước đối với xã hội

2.2.2 Các kiểu tăng trưởng kinh tế

Dựa vào tính chất của tái sản xuất, nền kinh tế có các kiểu tăng trưởng kinh tế như sau:

2.2.2.1 Tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng

Đặc trưng của tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng là tăng khối lượng sản xuất bằng cách đơn thuần là gia tăng yếu tố đầu vào như vốn, lao động và tiêu hao vật chất mà không có tiến bộ khoa học – công nghệ Các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh (W.Petty, A.Smith, D.Ricardo) cho rằng cần gia tăng về số lượng các nguồn lực cho sản xuất như tài nguyên thiên nhiên (chủ yếu là đất đai), tư bản và lao động Trong đó, yếu tố lao động là nguồn gốc tạo ra của cải xã hội, còn yếu tố tài nguyên thiên nhiên là yếu tố giới hạn của tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, theo hai nhà kinh tế Roy Harrod của Anh và Evsey Domar của Mỹ đưa ra vào những thập niên 40 của thế kỷ 20 thì hai ông dựa trên hai tiền đề: Một là, tích lũy là phần tất yếu của thu nhập quốc dân, nó tăng lên với nhịp độ đúng bằng nhịp độ tăng trưởng của thu nhập; Hai là, khối lượng vốn đầu tư thực hiện là hàm số của mức tăng trưởng nhân với hệ số vốn phải bằng tỷ trọng của tích lũy trong thu nhập quốc dân hay cầu giữa hai giai đoạn Từ đó, hai ông kết luận định mức tăng trưởng nhân với hệ số vốn phải bằng tỷ trọng của tích lũy tư bản trong thu nhập quốc dân

Trang 33

Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng thường gắn với những nền kinh tế có công nghệ lạc hậu, lực lượng lao động có trình độ thấp là chủ yếu, khai thác tài nguyên thô và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thấp

2.2.2.2 Tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu

Đặc trưng của kiểu tăng trưởng theo chiều sâu là tăng trưởng dựa trên cơ sở biến đổi về chất của các yếu tố sản xuất Nhân tố chủ yếu của tăng trưởng kinh tế là việc

sử dụng những công nghệ mới, những nguyên liệu mới, nguồn năng lượng và trí tuệ mới cũng như cải tiến việc sử dụng những yếu tố của sản xuất

Từ đó, cho thấy, tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu sẽ dựa vào khoa học và công nghệ hiện đại, nâng cao hiệu quả, chất lượng của tăng trưởng như: nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng năng suất lao động, nâng cao sự đóng góp của nhân tố năng suất tổng hợp (TFP), hướng hoạt động của nền kinh tế vào các ngành, lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, giảm chi phí sản xuất, chủ động sản xuất và xuất khẩu hàng hóa

có hàm lượng công nghệ cao, trên cơ sở khai thác triệt để các lợi thế của đất nước Tăng trưởng theo chiều sâu không chỉ nâng cao chất lượng, hiệu quả nền kinh tế mà còn gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, cải thiện phúc lợi xã hội Có rất nhiều nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu và điển hình là ông R.Solow

Ông R.Solow (1956) ngoài xem xét lại các lý thuyết tăng trưởng của các thế hệ đi trước, ông còn đưa thêm yếu tố mới vào tăng trưởng năng suất Trong ngắn hạn, tăng trưởng được xác định bằng sự dịch chuyển đến trạng thái dừng mới, trạng thái

mà chỉ được tạo ra từ sự thay đổi trong nguồn vốn đầu tư, lực lượng lao động và tỷ

lệ khấu hao Sự thay đổi trong nguồn vốn đầu tư bắt nguồn từ sự thay đổi trong tỷ lệ tiết kiệm Đồng thời, mô hình Solow tiêu chuẩn dự đoán rằng trong dài hạn, tăng trưởng chỉ có thể đạt được thông qua tiến bộ công nghệ Mô hình Solow được sử dụng để cho phép một điều kiện tăng trưởng được tiếp diễn trong dài hạn Trong mô hình Solow-Swan, sự thay đổi không thể giải thích được trong sự tăng trưởng của sản lượng đầu ra sau khi đã tính đến tác động của tích lũy tư bản được gọi là phần

dư Solow Phần dư này đo lường sự gia tăng ngoại sinh trong năng suất nhân tố

Trang 34

tổng hợp (Total Factor Productivity – TFP) trong một khoảng thời gian nhất định

Sự gia tăng trong TFP thường được chuyển toàn bộ vào tiến bộ công nghệ Sự gia tăng TFP bao gồm bất kì sự cải tiến năng suất lâu dài bắt nguồn từ việc cải thiện các hoạt động quản lý trong lĩnh vực tư nhân hay công cộng của nền kinh tế Nghịch lý thay, mặc dù sự tăng trưởng TFP là biến ngoại sinh trong mô hình này, nó không thể quan sát được, nên nó chỉ có thể ước lượng được khi kết hợp đồng thời với ước lượng về sự hiệu quả của tích lũy tư bản đối với tăng trưởng trong một khoảng thời gian nhất định

So với tăng trưởng theo chiều rộng thì tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu có nhiều

ưu điểm hơn như :

- Mô hình tăng trường kinh tế phức tạp hơn vì tiến bộ khoa học kỹ thuật dần đóng vai trò chính trong quá trình tăng trưởng Điều đó đòi hỏi trình bộ của lực lượng sản xuất phải phát triển cao, có khả năng sáng tạo trong sản xuất tốt hơn

- Mô hình tăng trưởng thao chiều sâu sẽ khắc phục vấn đề về hạn chế của nguồn nhân lực Có nghĩa, trong một trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến, sự gia tăng khối lượng sản phẩm sản xuất trong xã hội sẽ cần ít nguồn lao động hơn

2.2.2.3 Tăng trưởng kinh tế kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu

Là mô hình tăng trưởng kinh tế không chỉ chú trọng tới các yếu tố tăng trưởng về số lượng mà quan trọng hơn là chất lượng và sự kết hợp giữa chúng trên cơ sở ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ Trong bộ Tư bản, K.Marx nêu những yếu tố tác động tới tăng trưởng là đất đai, lao động, vốn, tiến bộ kỹ thuật Trong đó, ông đặc biệt quan tâm tới yếu tố lao động và vai trò của nó trong việc sáng tạo ra giá trị thặng dư Theo Marx, sức lao động đối với nhà tư bản là một hàng hóa đặc biệt, nó cũng như các hàng hóa khác được các nhà tư bản mua trên thị trường và tiêu thụ trong quá trình sản xuất Nhưng trong quá trình tiêu thụ, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động không giống với giá trị sử dụng hàng hóa khác Nó có thể tạo ra giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó, giá trị đó bằng giá trị sức lao động cộng với giá trị thặng dư Marx đưa ra quan hệ tỷ lệ phản ánh sự phân phối thời gian lao động

Trang 35

của công nhân, một phần làm việc cho bản thân, một phần sáng tạo ra cho nhà tư bản và địa chủ.Về yếu tố kỹ thuật- mục đích của nhà tư bản là tăng giá trị thặng dư, nên họ tìm mọi cách tăng thời gian làm việc của công nhân, giảm tiền công của công nhân hoặc nâng cao năng suất lao động bằng cải tiến kỹ thuật Marx cho rằng, tiến bộ kỹ thuật làm tăng số máy móc và dụng cụ lao động giành cho người thợ, nghĩa là cấu tạo hữu cơ của tư bản có xu hướng ngày càng tăng Do đó, các nhà tư bản cần nhiều tiền vốn hơn đề khai thác sự tiến bộ kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động của công nhân

Chính K.Marx đã chỉ ra nền sản xuất xã hội bao gồm hai lĩnh vực là sản xuất tư liệu sản xuất và sản xuất tư liệu tiêu dùng Marx nghiên cứu các luồng dịch chuyển hiện vật và giá trị giữa hai lĩnh vực này và tìm ra những điều kiện cân bằng trong tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng trên phạm vi toàn xã hội theo cơ chế thị trường Nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế được khẳng định là do sản xuất vật chất, mức độ tăng trưởng được quyết định bởi quy mô của tích lũy trước hết là trong khu vực sản suất tư liệu sản xuất và ông luôn khẳng định vai trò của khoa học công nghệ trong quá trình tái sản xuất mở rộng

2.2.3 Quan điểm của Việt Nam về tăng trưởng kinh tế

Trong gần 25 năm qua (1986-2011), nền kinh tế Việt Nam đã có số tăng trưởng liên tục, tốc độ cao, khá ấn tượng và rất đáng tự hào Thể hiện thời kỳ Chiến lược 1991-

2000 đạt 7,4 %/năm và thời kỳ 10 năm 2001-2010 đạt 7,2%/năm Tính từ năm 1976 đến nay, thời gian tăng trưởng liên tục của nền kinh tế Việt Nam là gần 30 năm, vượt kỷ lục 23 năm của Hàn Quốc

Nhờ có sự tăng trưởng liên tục và cao trong nhiều năm, quy mô của nền kinh tế đã lớn lên đáng kể Năm 2010, GDP/người/năm đạt 1.200 USD (năm 1990 là gần 100 USD)

Tăng trưởng kinh tế ngay sau khi đổi mới đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài nhiều năm sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất đã đưa Việt Nam

Trang 36

thoát khỏi tình trạng nước kém phát triển và bước vào nhóm nước đang phát triển

có nhu nhập trung bình thấp theo xếp hạng của WB

Tăng trưởng kinh tế đã góp phần giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc: Lao động, việc làm, thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống, xóa đói giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội, tiến bộ và công bằng xã hội từng bước được thực hiện

Tuy nhiên, nhìn nhận một các khách quan có thể thấy rằng tốc độ phát triển kinh tế chưa thật tương xứng với tiềm năng và cơ hội mà đất nước đã có được Tăng trưởng kinh tế trong những năm qua vẫn chủ yếu theo bề rộng, chưa chú trọng phát triển theo chiều sâu, chất lượng tăng trưởng thấp, hiệu quả của tăng trưởng hạn chế, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm hàng hóa còn thấp kém

Cụ thể:

- Tăng trưởng kinh tế của nước ta chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, tăng vốn đầu tư và lao động rẻ

- Hiệu quả và chất lượng đầu tư thấp (chất lượng tăng trưởng thấp)

- Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, vùng kinh tế ngày càng dựa nhiều và vốn FDI, nhưng nguồn vốn này phân bổ không đều, chất lượng chưa cao

- Đầu tư dàn trải, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu

tư thấp, nhất là nguồn vốn đầu tư của nhà nước

- Những nền tảng cơ bản của tăng trưởng (ổn định kinh tế vĩ mô, thể chế kinh tế -

xã hội, giáo dục và y tế cơ bản, cơ sở hạ tầng) còn nhiều bất cập, năng lực cạnh tranh chậm được cải thiện

Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội X và Chiến lược phát

triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001-2010) Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm:

Phải thực sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững, nâng cao chất lượng, hiệu quả nền kinh tế; đồng thời, duy trì tốc độ tăng trường hợp

lý, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô

Trang 37

Đại hội lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: ''Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu

kinh tế từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hài hòa giữa chiều rộng

và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng chất lượng, hiệu quả''

Có thể hiểu và cụ thể hóa tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2011-2020 như sau: Bảo đảm sự hài hòa giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng

Phấn đấu ổn định kinh tế vĩ mô, giữ tốc độ tăng GDP hợp lý, cao và ổn định trong dài hạn Chú trọng đến chất lượng tăng trưởng: Nâng cao hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, giảm chỉ số ICOR, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng suất lao động xã hội, tăng mức đóng góp của yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp (TFP)

Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp phụ trợ

Phát triển mạnh công nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh, tạo nền tảng cho một nước công nghiệp theo hướng tăng hàm lượng khoa học

- công nghệ và tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm Chú trọng phát triển công nghiệp phụ trợ, công nghiệp phục vụ nông nghiệp - nông thôn, từng bước phát triển công nghiệp sinh học và công nghiệp môi trường…

Đẩy mạnh công nghiệp hóa nông thôn và phát triển mạnh các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao và hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật

Đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp, phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững

Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ có lợi thế cạnh tranh, có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng như: du lịch, hàng hải, hàng không, tài chính - ngân hàng (kể cả bảo hiểm), các dịch vụ kinh doanh khác (maketing, dịch vụ pháp lý, tư vấn đào tạo, các dịch vụ phần mềm máy tính )

Phát triển nhanh, hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật đồng bộ với một số công trình hiện đại, trước hết là hệ thống giao thông (nhất là giao thông đô thị),

Trang 38

cung cấp năng lượng (điện), thủy lợi đảm bảo sử dụng tiết kiệm các nguồn lực và hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường

Phát triển và khai thác tối đa thị trường trong nước, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu

Gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội

và bảo vệ môi trường

Như vậy, trong thời kỳ đổi mới Đảng luôn chủ trương phát triển kinh tế phải gắn kết chặt chẽ tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội; coi hai mục tiêu này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong đó, tăng trưởng kinh tế là cơ sở, làm tiền đề và điều kiện cho nhau, ngược lại, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là điều kiện quan trọng thúc đẩy và bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao và bền vững

2.2.4 Một số chỉ tiêu phản ánh tính hiệu quả đầu tư đến tăng trưởng kinh tế

2.2.4.1 Chỉ số ICOR

Vốn là một trong những yếu tố quan trọng trong việc tăng trưởng và phát triển kinh

tế Chỉ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio) là chỉ số thường được sử dụng

để đo lường hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của nền kinh tế Chỉ số ICOR thấp mang ý nghĩa với việc cần ít đơn vị đầu tư để làm gia tăng một đơn vị GDP, hiệu quả kinh

tế sẽ cao Chỉ số ICOR cao thì trong ngắn hạn cũng chưa đưa ra một nhận xét gì vì công trình được đầu tư xây dựng trong ngắn hạn chưa có tác động nhiều vào nền kinh tế Nhưng trong dài hạn, nếu chỉ số ICOR vẫn cao thì chứng tỏ nền kinh tế đang sử dụng vốn đầu tư chưa hiệu quả

Công thức tính ICOR:

ICOR: Incremental Capital Output Ratio: Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

Trang 39

V1 = Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội của năm nghiên cứu

GDP1: GDP của năm nghiên cứu

GDP0: GDP của năm liền kề trước đó

Tăng trưởng kinh tế do nhiều yếu tố, công thức trên giả định rằng:

- Mọi nhân tố khác không thay đổi;

- Chỉ có gia tăng vốn dẫn tới gia tăng sản lượng

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội: là toàn bộ tiền vốn bỏ ra để làm tăng hoặc duy trì năng lực sản xuất và nguồn lực để nâng cao mức sống vật chất và tinh thần toàn xã hội trong một thời kỳ (ở đây tính theo năm)

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội sẽ bao gồm các khoản mục: Vốn đầu tư tạo ra tài sản cố định, vốn đầu tư làm tăng tài sản lưu động, vốn đầu tư làm tăng năng lực phát triển của xã hội

Mục đích, ý nghĩa khi sử dụng chỉ số ICOR: Hệ số ICOR là một trong những chỉ

tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư để tăng trưởng kinh tế Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư là một trong những cơ sở để rà soát và sửa đổi mục tiêu đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả về chất lượng sử dụng vốn đầu tư

2.2.4.2 Chỉ tiêu TFP

Chỉ tiêu TFP được sử dụng để phân tích đầy đủ hơn về các yếu tốc tác động tới tăng trưởng và cho thấy rõ hiệu quả tổng hợp của nền kinh tế Tăng TFP gắn liền với áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến trình độ tay nghề của người lao động… Tăng vốn và lao động có thể mang lại cho tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, phù hợp với gia đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa Tăng TFP mới là nguồn gốc tăng trưởng dài hạn, hướng vào chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững Tăng trưởng kinh tế có được do sự gia tăng của lao động, vốn và phần còn lại dựa trên gia tăng năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) Trong đó, các yếu tố làm gia tăng

Trang 40

TFP là phân bổ và sử dụng đúng các nguồn lực, môi trường kinh doanh công bằng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển giáo dục và cơ sở hạ tầng,

2.3 Các lý thuyết kinh tế về mối quan hệ giữa chi NSNN và tăng trưởng kinh

tế

2.3.1 Lý thuyết của Adolf Wagner và John Maynard Keynes (1936)

“Khi xã hội càng văn minh, Nhà nước càng phải chi tiêu nhiều hơn”, đó là nhận định của Adolf Wagner (1835-1917), một nhà kinh tế học người Đức vào năm

1872 Nhà kinh tế học người Đức Adolf Wagner là người đầu tiên nghiên cứu về mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và sự gia tăng các hoạt động của chính

phủ Trong tác phẩm Những nền tảng của kinh tế học xuất bản năm 1876, đã phản

ánh lên tính hợp pháp của những chuyển dịch xã hội, tính hợp pháp của sự can thiệp của nhà nước vào lĩnh vực kinh tế và vai trò của nhà nước

Định luật Wagner (Wagner’s Law) hay còn được biết đến là định luật về sự gia tăng chi tiêu của chính phủ cho thấy đối với bất kỳ quốc gia nào, chi tiêu ngân sách đều

có xu hướng gia tăng Định luật này dự đoán rằng sự phát triển của một nền công nghiệp sẽ kèm thao đó là sự gia tăng tỷ trọng chi tiêu ngân sách trong tổng sản phẩm quốc gia Khi các nền kinh tế được công nghiệp hóa ngày càng cao thì hệ thống các mối quan hệ xã hội, thương mại, pháp lý trong nền kinh tế càng trở nên phức tạp, do đó, chính phủ phải xác lập vị thế của mình với một tổ chức hệ thống mạnh hơn để giải quyết các mối quan hệ đó Điều này tất yếu dẫn đến sự gia tăng chi tiêu ngân sách cho luật phát và duy trì trật tự cho giao thông và liên lạc.Khi đó,

sẽ xuất hiện “Độc quyền tự nhiên” dưới sự điều tiết và bảo hộ của nhà nước làm cho quy mô ngân sách ngày càng mở rộng

Một nhận xét khác của ông đã biến thành “Định luật” thành tất yếu vì hai lý do: Một mặt, bởi vì hoạt động của nền kinh tế, để phát triển, cần đến những cơ sở hạ tầng mà chỉ có Nhà nước mới có thể thúc đẩy và tài trợ: đường bộ giao thông, đường sắt, hệ thống nước sinh hoạt và thoát nước (ngày nay chúng ta có thể thêm vào sân bay, hệ thống cung cấp điện, mạng 4G, v.v.) Mặt khác, bởi vì mức sống càng tăng cao, nhu

Ngày đăng: 25/05/2021, 22:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w