1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng sử dụng nguồn vốn phân cấp cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 2015 và định hướng đến năm 2025 tại huyện hóc môn

127 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG: - Đánh giá thực trạng sử dụng nguồn vốn phân cấp cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2019, thực trạng thanh, quyết toán các

Trang 1

VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2025 TẠI

HUYỆN HÓC MÔN

Chuyên ngành: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

Mã chuyên ngành: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: TS Võ Văn Hợp

Người phản biện 1: TS Bùi Hữu Phước

Người phản biện 2: TS Nguyễn Duy Sữu

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh ngày 26 tháng 12 năm 2020

Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn thạc sĩ gồm:

1 PGS TS Phan Đình Nguyên - Chủ tịch Hội đồng

2 TS Bùi Hữu Phước - Phản biện 1

3 TS Nguyễn Duy Sữu - Phản biện 2

4 TS Nguyễn Hoàng Hưng - Ủy viên

5 TS Nguyễn Thị Mỹ Phượng - Thư ký

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA

TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

PGS.TS Phan Đình Nguyên

Trang 3

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: Phan Thị Ngọc Quân MSHV: 17000371

Ngày, tháng, năm sinh: 01/01/1983 Nơi sinh: Long An

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng Mã chuyên ngành: 60340201

I TÊN ĐỀ TÀI:

Đánh giá thực trạng sử dụng nguồn vốn phân cấp cho chương trình mục tiêu quốc

gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2025 tại

huyện Hóc Môn

NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

- Đánh giá thực trạng sử dụng nguồn vốn phân cấp cho chương trình mục tiêu quốc gia

xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2019, thực trạng thanh, quyết toán các công

trình sử dụng nguồn vốn nông thôn mới tại huyện Hóc Môn trong đầu tư xây dựng các

công trình thuộc đề án xây dựng nông thôn mới và định hướng đến năm 2025

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện về việc phân cấp, giải ngân và quyết toán các

công trình, dự án sử dụng nguồn vốn nông thôn mới

II NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: Theo Quyết định số 1065/QĐ-ĐHCN ngày 31 tháng

5 năm 2019 của Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

III NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: Ngày tháng năm 2020

IV NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Võ Văn Hợp

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020

TS Võ Văn Hợp

TRƯỞNG KHOA

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài Luận văn Thạc sĩ “Đánh giá thực trạng sử dụng nguồn vốn

phân cấp cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn

2011 - 2015 và định hướng đến năm 2025 tại huyện Hóc Môn”, tác giả đã nhận

được sự giúp đỡ của quý thầy (cô) Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trung tâm Thư viện, Phòng Quản lý Sau đại học - Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, hướng dẫn chuyên môn của thầy Võ Văn Hợp

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy (cô) Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trung tâm Thư viện, Phòng Quản lý Sau đại học - Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, thầy Võ Văn Hợp đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ tác giả hoàn thành tốt đề tài Luận văn Thạc sĩ

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

Một trong những nội dung quan trọng không thể thiếu để đạt tiêu chí nông thôn mới

đó chính là kết cấu hạ tầng nông thôn Thực hiện đề án nông thôn mới giai đoạn

2010 - 2015, Huyện Hóc Môn được duyệt 368 công trình được đầu tư từ nguồn vốn phân cấp có mục tiêu cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tổng vốn được thành phố giao kế hoạch vốn là 1.381 tỷ đồng Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các công trình và giải ngân, thanh, quyết toán nguồn vốn nêu trên, huyện gặp không ít bất cập và hạn chế Để sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, cần thực hiện tốt từ các bước chủ trương đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư đưa vào

sử dụng, thì tất cả các chủ đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước các cấp, các đơn vị thi công, nhà thầu đều phải có nhiệm vụ tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật

để tránh tình trạng không thể quyết toán được dự án, làm ảnh hưởng đến hiệu quả

dự án, dẫn đến ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội tại địa phương, ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng nông thôn mới

Luận văn đã phân tích, đánh giá Thực trạng sử dụng nguồn vốn phân cấp cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011- 2015, 2016-2019 từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý, sử dụng nguồn vốn nông thôn mới tại huyện Hóc Môn

- Thành phố Hồ Chí Minh Từ thực tiễn nghiên cứu, tác giả đề xuất một số giải pháp

và kiến nghị trong quản lý, sử dụng nguồn vốn phân cấp cho Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 6

One of the important content indispensable to meet the new rural criteria is rural infrastructure Implementing the new rural project in the period 2010 - 2015, Hoc MonDistrict has approved 368 projects to be invested from decentralized capital for the national target program to build a new countryside, with the total capital invested by the city capital plan assignment is 1,381 billion dong However, in the process of implementing the works and disbursement, payment and settlement of the above capital sources, the district encountered many shortcomings and limitations In order to use capital effectively, it is necessary to do well from the steps of investment policy, implementation of investment and ending the investment and put into use, all investors, state management agencies All levels, construction units, contractors all have the task of strictly complying with legal regulations to avoid the situation where the project cannot be finalized, affecting the project's effectiveness, leading to affects the local socio-economic development, affects the progress of new rural construction.

The thesis has analyzed and assessed the current situation of the use of decentralized capital for the national target program on new rural construction in the period of 2011-2015, 2016-2019 from which points out the achieved results, limitations and causes of the limitations in the management and use of new rural capital in Hoc Mon district - Ho Chi Minh City From the research practice, the

Trang 7

author proposes a number of solutions and recommendations in management and use of decentralized capital sources for the national target program on new rural construction in particular and state budget capital for general construction investment in Hoc Mon district, Ho Chi Minh City

Trang 8

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn Thạc sĩ “Đánh giá thực trạng sử dụng nguồn vốn phân cấp cho chương

trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2025 tại huyện Hóc Môn” là một công trình nghiên cứu của tác

giả dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Võ Văn Hợp

Tác giả đã thực hiện công trình nghiên cứu một cách nghiêm túc từ giai đoạn chuẩn

bị đến giai đoạn phân tích số liệu và viết báo cáo Luận văn Về nội dung cơ sở lý thuyết, tác giả có tham khảo một số tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước, có trích dẫn đầy đủ nguồn tham khảo

Nội dung báo cáo trong Luận văn Thạc sĩ “Đánh giá thực trạng sử dụng nguồn

vốn phân cấp cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2025 tại huyện Hóc Môn” là một công

trình nghiên cứu nghiêm túc của tác giả Đồng thời, được thầy Võ Văn Hợp kiểm duyệt nội dung một cách kĩ lưỡng

Học viên

Phan Thị Ngọc Quân

Trang 9

MỤC LỤC

MỤC LỤC vi

DANH MỤC HÌNH ẢNH ix

DANH MỤC BẢNG BIỂU x

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xi

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Các câu hỏi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 3

1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

1.7 Tình hình nghiên cứu đề tài 4

1.7.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 4

1.7.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 8

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC PHÂN CẤP CHO CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 11

2.1 Tổng quan về nông thôn mới 11

2.1.1 Khái niệm nông thôn 11

2.1.2 Khái niệm nông thôn mới 11

2.1.3 Xây dựng nông thôn mới 11

2.1.4 Đặc trưng của nông thôn mới 12

2.2 Sự cần thiết về vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản 12

2.2.1 Cơ sở pháp lý đối với vốn đầu tư xây dựng cơ bản 15

2.2.2 Phân cấp NSNN về chi đầu tư 18

2.2.3 Các tiêu chí đánh giá về việc sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước 19

2.3 Kinh nghiệm của các địa phương về nguồn vốn phân cấp cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới 21

Trang 10

2.3.1 Huyện Củ Chi 21

2.3.2 Huyện Bình Chánh 25

2.3.3 Huyện Nhà Bè 29

2.3.4 Huyện Cần Giờ 32

2.3.5 Bài học kinh nghiệm cho huyện Hóc Môn 36

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN VỐN PHÂN CẤP CHO CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI GIAI ĐOẠN 2011 - 2019 38

3.1 Đặc điểm, tình hình thực hiện nông thôn mới trên địa bàn Huyện Hóc Môn 38

3.2 Kết quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới 39

3.2.1 Giai đoạn 2010 - 2015 39

3.2.2 Giai đoạn 2016 - 2019 39

3.2.3 Kết quả thực hiện theo bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới (cấp xã) 40

3.2.4 Kết quả thực hiện theo bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới (cấp Huyện) 49

3.2.5 Kết quả huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện 56

3.2.6 Kết quả huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới và Đánh giá kết quả 10 năm thực hiện Phong trào thi đua “Thành phố chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2010 - 2019 57

3.2.7 Kết quả xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản trong thực hiện Chương trình 57

3.2.8 Kiểm tra, giám sát thực hiện Chương trình 58

3.3 Thực trạng sử dụng nguồn vốn phân cấp cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2019 59

3.3.1 Giai đoạn 2011 - 2015 59

3.3.2 Giai đoạn 2016 - 2019 67

3.3.3 Thực trạng việc quyết toán nguồn vốn phân cấp cho chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới 69

3.3.4 Đánh giá về thực trạng quản lý, sử dụng, thanh quyết toán các công trình nông thôn mới tại huyện Hóc Môn 83

3.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý, sử dụng, thanh quyết toán nguồn vốn phân cấp đầu tư cho các công trình nông thôn mới 88

Trang 11

3.3.6 Kết luận chương 3 90

CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN PHÂN CẤP CHO CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN HÓC MÔN 91

4.1 Định hướng phát triển của huyện Hóc Môn đến năm 2025 91

4.2 Các nhóm giải pháp 93

4.2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền 93

4.2.2 Nâng cao năng lực của chủ đầu tư, bổ sung nhân sự chuyên quản cho các cơ quan chuyên môn 93

4.2.3 Tăng cường công tác quản lý dự án 93

4.2.4 Về việc quản lý vốn phân cấp 94

4.2.5 Nhóm kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch giao 97

4.2.6 Hoàn thiện quy trình từ khâu thẩm định dự án đến giải ngân và quyết toán 100

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

LÝ LỊCH TRÍCH NGANG 113

Trang 12

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 3.1 Sơ đồ Quy trình quản lý thực hiện đầu tư dự án xây dựng cơ bản 21

Trang 13

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách thành phố phân cấp cho Chương trình mục tiêu quốc gia Nông thông mới giai đoạn

2011 - 2019 62 Bảng 3.2 Tình hình quyết toán vốn đầu tư nông thôn mới theo đề án giai đoạn

2010 - 2019 trên địa bàn huyện Hóc Môn 73 Bảng 3.3 Tình hình quyết toán vốn đầu tư nông thôn mới theo đề án giai đoạn2016

- 2019 trên địa bàn huyện Hóc Môn 81

Trang 14

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CNXH Chủ nghĩa xã hội

CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

ĐTPT Đầu tư phát triển

HĐND Hội đồng nhân dân

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

Một trong những nội dung quan trọng không thể thiếu để đạt tiêu chí nông thôn mới

đó chính là kết cấu hạ tầng nông thôn Huyện Hóc Môn là một huyện ngoại thành, mặc dù đã được các cấp, các ngành quan tâm đầu tư, tuy nhiên kết cấu hạ tầng nông thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi ) còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ; nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; giao thông nội đồng chưa được đầu tư đúng mức; hệ thống thuỷ lợi cần được đầu tư nâng cấp; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực

sự an toàn; cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn rất hạn chế, mạng lưới giao thông nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn

Thực hiện đề án nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2015, Huyện Hóc Môn được duyệt 368 công trình được đầu tư từ nguồn vốn phân cấp có mục tiêu cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (sau đây xin gọi tắt là vốn nông thôn mới), tổng vốn được thành phố giao kế hoạch vốn là 1.381 tỷ đồng Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các công trình và giải ngân, thanh, quyết toán nguồn vốn nêu trên, huyện gặp không ít bất cập và hạn chế Một số công trình vẫn chưa nghiệm thu, quyết toán, tất toán đúng tiến độ Việc giảm thất thoát, lãng phí vốn đầu

tư, đặc biệt trong khâu thanh quyết toán cũng đồng nghĩa với việc tăng nguồn vốn phát triển kinh tế xã hội cho huyện trong lĩnh vực xây dựng cơ bản sử dụng vốn ngân sách nhà nước Để giảm thất thoát, lãng phí, cần thực hiện từ các bước chủ

Trang 16

trương đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư đưa vào sử dụng, thì tất cả các chủ đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước các cấp, các đơn vị thi công, nhà thầu đều phải có nhiệm vụ tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật để tránh tình trạng không thể quyết toán được dự án, làm ảnh hưởng đến hiệu quả dự án, dẫn đến ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội tại địa phương, ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả

hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp

Vì vậy, việc “ Đánh giá thực trạng sử dụng nguồn vốn phân cấp cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến

năm 2025 tại huyện Hóc Môn” là yêu cầu bức thiết có ý nghĩa quan trọng

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng sử dụng nguồn vốn phân cấp cho chương

trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015, giai đoạn 2016-2019, thực trạng thanh, quyết toán các công trình sử dụng nguồn vốn nông thôn mới tại huyện Hóc Môn trong đầu tư xây dựng các công trình thuộc đề án xây dựng nông thôn mới Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện về việc sử dụng, cụ thể là giải ngân và quyết toán các công trình, dự án sử dụng nguồn vốn nông thôn mới, đồng thời định hướng đến năm 2025

Mục tiêu cụ thể:

Mục tiêu 1: Thông qua sự nghiên cứu và đánh giá thực trạng, thực tế tại huyện Hóc

Môn về xây dựng nông thông mới, tác giả đã xây dựng các tiêu chí để đánh giá, phân tích một số điểm đạt được và một số điểm chưa đạt được, từ đó nhằm đề xuất cho Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới của Quốc gia nói chung và huyện Hóc Môn nói riêng

Trang 17

Mục tiêu 2: Dựa trên những thành quả đạt được, tác giả đề xuất tiếp tục nghiên

cứu, mở rộng cho các huyện lân cận để nghiên cứu ở trình độ cao hơn Mục đích cuối cùng của tác giả nhằm đưa ra các giải pháp ngắn hạn, cũng như dài hạn nhằm

ổn định tình hình chi ngân sách nhà nước trong việc phát triển Nông thôn mới của Quốc gia

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

a) Đối tượng nghiên cứu: cơ chế chính sách về đầu tư xây dựng cơ bản bằng

nguồn vốn phân cấp có mục tiêu của Thành phố cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (vốn nông thôn mới) liên quan đến quản lý chi phí và năng lực quản lý của đơn vị chủ đầu tư trong các khâu thanh toán, quyết toán vốn đầu tư

b) Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến sử dụng, thanh

toán, quyết toán các công trình thuộc đề án xây dựng nông thôn mới sử dụng nguồn

vốn nông thôn mới tại Huyện Hóc Môn

1.4 Các câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng việc sử dụng nguồn vốn phân cấp cho chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới từ năm 2011-2019 như thế nào?

- Trong việc giải ngân, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư từ nguồn vốn phân cấp cho Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tại huyện Hóc Môn

có những khó khăn, hạn chế, bất cập gì?

- Những giải pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn phân cấp cho Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tại huyện Hóc Môn?

1.5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

- Thu thập từ nguồn báo cáo các vấn đề liên quan đến xây dựng nông thôn mới của các xã, các chủ đầu tư trên địa bàn huyện Hóc Môn;

Trang 18

- Thu thập từ nguồn báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước cấp thành phố, cấp huyện về vấn đề nông thôn mới;

- Thu thập số liệu từ Kho bạc nhà nước huyện Hóc Môn

- Sử dụng phương phápđịnh tính dưa trên cơ sở lý luận về ngân sách nhà nước và một số phương pháp khác như thống kê, mô tả, phương pháp duy vật biện chứng…

1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Đề tài hệ thống hóa lý luận cơ bản vốn đầu tư dự án thuộc

nguồn vốn nông thôn mới theo giai đoạn thực hiện để làm cơ sở tổng hợp, phân tích, đánh giá về thực trạng sử dụng vốn đầu tư các công trình nông thôn mới, quản

lý chi phí trong thanh toán, quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nông thôn mới

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Trên cơ sở lý luận đã nêu, luận văn áp dụng để phân

tích thực trạng sử dụng nguồn vốn phân cấp cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015, làm căn cứ đề xuất định hướng đến năm

2025 Đồng thời áp dụng vào thực tiễn trong việc giải quyết những vướng mắc, khó khăn, bất cập trong công tác quản lý, điều hành, phân bổ và sử dụng vốn nông thôn mới tại huyện Hóc Môn

1.7 Tình hình nghiên cứu đề tài

1.7.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nguyễn Sinh Cúc (2013), trong bài : “Nhìn lại Chương trình xây dựng nông thôn mới sau 2 năm thí điểm” đã cho rằng chương trình XDNTM đã huy động được nguồn lực tài chính nhiều hơn cho xây dựng, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, các những bất cập cũng có rất nhiều như: chương trình này đòi hỏi nguồn vốn rất lớn nhưng nguồn lực từ Nhà nước và cộng đồng có hạn, có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước nên tiến độ triển khai các dự án rất chậm

Trang 19

Nguyễn Hoàng Hà (2014), trong đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp huy động vốn đầu tư cho Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn đến năm 2020” đã cho rằng những nguyên nhân chính làm hạn chế kết quả huy động vốn của Chương trình giai đoạn 2011- 2013 là khả năng của ngân sách trung ương; tư tưởng trông chờ vào nguồn đầu tư từ trung ương của các địa phương; khả năng hạn chế của ngân sách địa phương Tác giả cũng đề xuất nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp cụ thể hoàn thiện chính sách huy động vốn đối với các nguồn trong thời gian tới

Đoàn Thị Hân (2012), cho rằng các xã có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội thì việc huy động sự đóng góp của các đơn vị, cá nhân trên địa bàn đạt kết quả khá tốt; ngược lại, ở những xã nghèo thì vấn đề huy động sự đóng góp các nguồn lực cho XD NTM là hết sức khó khăn, vấn đề đầu tư cho chương trình

XD NTM chủ yếu phải trông chờ vào nguồn đầu tư từ ngân sách

Hoàng Văn Hoan (2014), trong công trình nghiên cứu “Xây dựng mô hình nông thôn mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc nước ta hiện nay” đã cho rằng để tăng cường huy động vốn cho phát triển nông thôn vùng Tây Bắc, cần những giải pháp cơ bản như: (i) quy hoạch lại dân cư để tránh đầu tư tốn kém ở các vùng dân

cư thưa thớt, (ii) thực hiện lồng ghép các chương trình nhằm tăng thêm nguồn lực; (iii) huy động vốn phải đi kèm với phân bổ hợp lý, (iv) Nhà nước cần quy định các doanh nghiệp phải trích một tỷ lệ nhất định lợi nhuận cho XDNTM, (v) tăng cường tuyên truyền vận động đóng góp của các hộ dân

Nguyễn Quế Hương (2013), Công trình nghiên cứu: “Một số giải pháp tăng cường thu hút sự tham gia, đóng góp của người dân vào chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đan Phượng - Thành phố Hà Nội” cho rằng XDNTM là chương trình có cách tiếp cận và triển khai thực hiện khác với các chương trình phát triển nông thôn trước đây, đó là tiếp cận từ dưới lên, tiếp cận có sự tham gia, lấy người dân làm trung tâm, người dân là chủ thể, do vậy vấn đề nâng cao vai trò của người dân, thu hút sự tham gia đóng góp của người dân vào chương trình này là vấn

Trang 20

đề then chốt quyết định sự thành công của chương trình Theo tác giả, sự sẵn lòng tham gia đóng góp của người dân chịu ảnh hưởng của hai nhóm nhân tố chính là: Mức độ người dân được tham gia ra quyết định và trực tiếp tham gia vào các hoạt động cụ thể của chương trình và Chất lượng của công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động nhân dân

Nguyễn Thành Lợi (2012) trong bài:“Xây dựng nông thôn mới của Nhật Bản và một số gợi ý cho Việt Nam" cho rằng Nhật Bản đã rất sáng tạo trong quá trình phát triển nông thôn khi xác định nhiệm vụ trọng tâm theo từng giai đoạn: Trong giai đoạn đầu Nhà nước tăng cường nguồn vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường các khoản cho vay từ các quỹ tín dụng nông nghiệp của Chính phủ và các phương thức hỗ trợ đặc biệt; Sang giai đoạn hai, chính sách tập trung vào đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và nâng cao đời sống của người dân, thu hẹp khoảng cách thành thị và nông thôn; Giai đoạn 3 hướng tới việc lựa chọn ra những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển Yếu tố thành công chủ yếu của phong trào là nhận biết những nguồn lực chưa được sử dụng tại địa phương trước khi vận dụng nguồn lực một cách sáng tạo để cung cấp trên thị trường

Nguyễn Ngọc Luân (2011), trong đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu kinh nghiệm huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới nhằm đề xuất cơ chế chính sách áp dụng cho xây dựng nông thôn mới”, đã khẳng định vai trò tham gia của cộng đồng trong XDNTM là đặc biệt quan trọng, có tính quyết định cho sự thành công của chương trình

Chu Tiến Quang (2005) trong tài liệu: “Huy động và sử dụng các nguồn lực trong phát triển kinh tế nông thôn: Thực trạng và giải pháp”, cho rằng để đảm bảo tính hiệu quả của quá trình huy động và sử dụng các nguồn vốn cho phát triển nông thôn, cần có nhiều giải pháp như: (i) Nhà nước cần giữ vai trò chủ lực trong đầu tư hướng dẫn các nguồn vốn của khu vực tư nhân đầu tư về nông thôn; (ii) Tạo cơ chế mới hấp dẫn để huy động nhiều hơn các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), các nguồn vốn của doanh nghiệp trong nước và vốn của dân cư đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn;

Trang 21

(iii) Hợp lý hóa và giám sát chặt chẽ việc phân bổ sử dụng nguồn vốn tập trung do Nhà nước trực tiếp đầu tư; (iv) Xây dựng chính sách khuyến khích các doanh nghiệp cùng Nhà nước đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn; (v) Phát triển nhanh thị trường vốn và thị trường tín dụng ở nông thôn

Hoàng Vũ Quang (2014), trong đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu đóng góp của hộ nông thôn vào các hoạt động kinh tế xã hội địa phương” đã cho thấy: thực tiễn tại các địa phương, việc huy động sự đóng góp của người dân cho phát triển kinh tế xã hội của địa phương được thực hiện thông qua việc thu các quỹ gồm các quỹ bắt buộc theo quy định của Nhà nước và những quỹ tự nguyện Sự đóng góp của người dân vào chương trình XD NTM được thực hiện qua việc thu quỹ xây dựng nông thôn mới

Nguyễn Mậu Thái (2015) trong công trình: “Nghiên cứu xây dựng nông thôn mới các huyện phía Tây thành phố Hà Nội”, cho rằng ngoài sự hỗ trợ của NSNN, nguồn lực để XDNTM tại các xã trong vùng chủ yếu trông chờ vào nguồn lực đất đai, dựa vào các dự án đấu giá quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Nguyễn Quốc Thái (2012) trong đề tài:“Tín dụng hỗ trợ xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam - một số vấn đề lý thuyết” đã cho rằng cần phải tăng cường nguồn vỗn tín dụng hỗ trợ cho chương trình XDNTM, các giải pháp đưa ra là: tăng cường khả năng cung ứng tín dụng, hoàn thiện cơ chế, quy trình và thủ tục trong tín dụng; giám sát, kiểm tra, thanh tra và tổng kết, rút kinh nghiệm trong hoạt động tín dụng

hỗ trợ xây dựng nông thôn mới

Vũ Nhữ Thăng (2015) trong đề tài nghiên cứu khoa học: “Nghiên cứu đổi mới chính sách để huy động và quản lý các nguồn lực tài chính phục vụ xây dựng nông thôn mới“, cho rằng cơ chế, chính sách có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả huy động

và quản lý các nguồn lực tài chính phục vụ xây dựng nông thôn mới của cả nước Tác giả cho rằng vấn đề mẫu chốt để tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho XD NTM thì cần hoàn thiện các chính sách chính sách về huy động quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính

Trang 22

Đoàn Phạm Hà Trang (2011), trong bài “Xây dựng nông thôn mới: Vấn đề quy hoạch và huy động các nguồn tài chính” cho rằng ở nước ta trong giai đoạn đầu xây dựng nông thôn mới, vốn ngân sách đóng vai trò rất quan trọng, có ý nghĩa tạo đà

và niềm tin để huy động các khoản đóng góp khác Tuy nhiên, xuất phát điểm của mỗi xã sẽ rất khác nhau, cần phải tính toán kỹ để có chương trình huy động vốn phù hợp với điều kiện riêng của mỗi địa phương

1.7.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Phạm Anh - Văn Lợi (2011) trong bài “Xây dựng nông thôn mới: Bài học và kinh nghiệm từ Trung Quốc” đã đi đến nhận định các nguồn lực thực hiện chương trình phát triển nông thôn tập trung từ nguồn NSTW và ngân sách địa phương, một phần

là huy động từ dân và các nguồn lực xã hội khác NSNN chủ yếu dùng làm đường, công trình thủy lợi…, một phần dùng để xây nhà ở cho dân Tuy nhiên, trong bài chưa đề cập chi tiết đến từng nguồn cụ thể đã đóng góp như thế nào cho quá trình xây dựng nông thôn mới ở các địa phương

Nguyễn Thành Lợi (2012) trong bài: “Xây dựng nông thôn mới của Nhật Bản và một

số gợi ý cho Việt Nam" cho rằng Nhật Bản đã rất sáng tạo trong quá trình phát triển nông thôn khi xác định nhiệm vụ trọng tâm theo từng giai đoạn: Trong giai đoạn đầu Nhà nước tăng cường nguồn vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường các khoản cho vay từ các quỹ tín dụng nông nghiệp của Chính phủ và các phương thức

hỗ trợ đặc biệt; Sang giai đoạn hai, chính sách tập trung vào đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và nâng cao đời sống của người dân, thu hẹp khoảng cách thành thị và nông thôn; Giai đoạn 3 hướng tới việc lựa chọn ra những sản 6 phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển Yếu tố thành công chủ yếu của phong trào

là nhận biết những nguồn lực chưa được sử dụng tại địa phương trước khi vận dụng nguồn lực một cách sáng tạo để cung cấp trên thị trường

Dakley và cộng sự (1991) trong nghiên cứu: “Dự án phát triển con người: Nghiên cứu thực tiễn trong phát triển nông thôn" cho rằng: phát triển nông thôn phải theo hướng bền vững, phải kết hợp hài hoà trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên

Trang 23

thiên nhiên với nguồn lực con người, phải tạo được cơ chế để người nông dân tham gia vào thực thi, kiểm tra, giám sát các chương trình, dự án về xây dựng và phát triển nông thôn

Frans Ellits (1994) trong nghiên cứu : “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển” đã cho rằng đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển vùng nông thôn, là động lực để huy động sự tham gia đóng góp và thúc đẩy ý chí phát triển kinh tế của mỗi gia đình, tạo động lực phát triển vùng nông thôn Để sự hỗ trợ của Nhà nước đạt hiệu quả thì cần phải có một quy trình cấp vốn hợp lý và cần được quản lý chặt chẽ

Hanho Kim, Yong-Kee Lee (2004) trong bài: “Cải cách chính sách nông nghiệp và điều chỉnh cấu trúc" khi phân tích chính sách nông nghiệp qua các thời kỳ ở Hàn Quốc và Nhật Bản đã cho rằng cả hai nước này đều đã trải qua thời kỳ dài bảo hộ nông nghiệp và an ninh lương thực được đề cao, sau đó là chuyển đổi mạnh mẽ hướng tới thị trường nhằm tăng năng suất lao động và tính cạnh tranh của nông nghiệp trong nước, đồng thời phát triển khu vực nông thôn không còn chênh lệch quá xa so với thành thị Trong cả hai thời kỳ này, vấn đề đầu tư các nguồn lực và tạo cơ chế quản lý các nguồn lực có ý nghĩa hết sức quan trọng để tạo động lực cho

sự phát triển của khu vực nông thôn

Yunus (2005) trong nghiên cứu “ Mở rộng tài chính vi mô để đạt mục tiêu phát triển thiên niên kỳ“ đã đưa ra nhận định rằng đầu tư tài chính cho nông thôn có vai trò đặc biệt quan trọng để phát triển nông thôn và trực tiếp tạo ra những kết quả tích cực trong quá trình giảm đói nghèo cho người dân nông thôn

Ngân hàng thế giới (1998) trong nghiên cứu: “Nông nghiệp và môi trường, nhận thức về Phát triển nông thôn bền vững" đã khuyến cáo với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển rằng: Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn, phải đặc biệt coi trọng việc gắn kết hài hoà giữa phát triển sản xuất với gìn giữ và bảo vệ môi trường, nhất là môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí và môi trường rừng Các quốc gia chỉ có thể đạt được sự thành

Trang 24

công trong phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn khi đi theo hướng phát triển bền vững

Những công trình trên đây đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những dữ liệu rất quan trọng cho việc xây dựng chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân trong thời kỳ mới ở nước ta

Những vấn đề thuộc đề tài Luận văn chưa được các công trình đã công bố nghiên cứu, giải quyết

Trong đề tài của luận văn sẽ đề cập đến những vấn đề chưa được các công trình nghiên cứu đã công bố đề cập nghiên cứu giải quyết như sau:

Huyện Hóc Môn được duyệt 368 công trình được đầu tư từ nguồn vốn phân cấp có mục tiêu cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (sau đây xin gọi tắt là vốn nông thôn mới), tổng vốn được thành phố giao kế hoạch vốn là 1.381

tỷ đồng.Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các công trình và giải ngân, thanh, quyết toán nguồn vốn nêu trên, huyện gặp không ít bất cập và hạn chế Một số công trình vẫn chưa nghiệm thu, quyết toán, tất toán đúng tiến độ Việc giảm thất thoát, lãng phí vốn đầu tư, đặc biệt trong khâu thanh quyết toán cũng đồng nghĩa với việc tăng nguồn vốn phát triển kinh tế xã hội cho huyện trong lĩnh vực xây dựng cơ bản

sử dụng vốn ngân sách nhà nước.Trong thực tế, chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá thực trạng sử dụng nguồn vốn phân cấp cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015, 2016-2019 chưa nghiên cứu thực trạng thanh, quyết toán các công trình sử dụng nguồn vốn nông thôn mới tại huyện Hóc Môn trong đầu tư xây dựng các công trình thuộc đề án xây dựng nông thôn mới và định hướng đến năm 2025

Đề tài sẽ phân tích thực trạng sử dụng nguồn vốn phân cấp cho chương trình mục

tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015, 2016-2019 làm căn cứ

đề xuất định hướng đến năm 2025 Đồng thời áp dụng vào thực tiễn trong việc giải quyết những vướng mắc, khó khăn, bất cập trong công tác quản lý, điều hành, phân

Trang 25

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC PHÂN CẤP CHO CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

2.1 Tổng quan về nông thôn mới

2.1.1 Khái niệm nông thôn

Đến nay, khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định tại Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành

phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã"

2.1.2 Khái niệm nông thôn mới

Là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới

Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội

2.1.3 Xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng

dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

Trang 26

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả

hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp

Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh

2.1.4 Đặc trưng của nông thôn mới

Theo cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” (Nhà xuất bản Lao động

2010), đặc trưng của Nông thôn mới thời kỳ CNH –HĐH, giai đoạn 2010-2020, bao gồm:

- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao;

- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;

- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;

- An ninh tốt, quản lý dân chủ

- Chất lương hệ thống chính trị được nâng cao

2.2 Sự cần thiết về vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản

- Chi đầu tư phát triển: Chi đầu tư phát triển là những khoản chi mang tính chất

tích lũy phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng gắn với việc xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho việc bỏ vốn đầu tư của các doanh nghiệp vào các lĩnh vực cần thiết, phù hợp với mục tiêu của nền kinh tế Nói khác đi, việc chi cho đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước nhằm mục đích tạo ra một sự khởi động ban đầu, kích thích qúa trình vận đông các nguồn vốn trong xã hội để hướng tới sự tăng trưởng

Trang 27

Chi đầu tư phát triển được cấp phát chủ yếu từ ngân sách trung ương và một bộ phận đáng kể của ngân sách địa phương và bao gồm các khoản chi cơ bản sau đây: Chi đầu tư xây dựng cơ bản; Chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhà nước; Chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhà nước; Chi góp vốn cổ phần, vốn liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết; Chi cho các quỹ hỗ trợ

đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển; Chi dự trữ nhà nước

+ Chi đầu tư xây dựng cơ bản: là khoản chi tài chính nhà nước được đầu tư cho

các công trình thuộc kết cấu hạ tầng (cầu cống, bến cảng, sân bay, hệ thống thuỷ lợi, năng lượng, viễn thông…) các công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình và dự án phát triển văn hóa xã hội trọng điểm, phúc lợi công cộng nhằm hình thành thế cân đối cho nền kinh tế, tạo ra tiền đề kích thích qúa trình vận động vốn của doanh nghiệp và tư nhân nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân

Chi đầu tư xây dựng cơ bản có tầm quan trọng trong việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế và xã hội, góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý theo định hướng của nhà nước, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng cao năng suất lao động xã hội

Đối với nền kinh tế nói chung và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa xã hội như nước ta nói riêng thì đầu tư công từ nguồn vốn NSNN là một trong những công

cụ điều hành của Nhà nước, góp phần tạo nền tảng cơ bản cho sự phát triển của nền kinh tế và thúc đẩy dẫn dắt đầu tư của các thành phần kinh tế khác, kích thích các thành phần kinh tế phát triển có hiệu quả hơn và đồng đều hơn Bởi lẽ, như một tất yếu khách quan đầu tư của tư nhân và nước ngoài chỉ chủ yếu tập trung vào các ngành nghề, khu vực có khả năng sinh lời cao, mức độ an toàn lớn, dẫn đến mất cân đối trong các ngành cũng như các vùng kinh tế Do vậy, để nền kinh tế phát triển một cách đồng bộ, hài hòa

và hợp lý thì Chính phủ sẽ dùng vốn đầu tư công từ nguồn vốn NSNN để đầu tư vào môt số lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không đủ khả năng hoặc không được phép đầu tư, chẳng hạn các dự án có vốn đầu tư lớn, khả năng thu hồi vốn chậm hoặc

Trang 28

không thể thu hồi vốn hay đối với những lĩnh vực mang tính chủ quyền quốc gia, tài nguyên quốc gia

Sự cần thiết về vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản được thể hiện trên

ba khía cạnh quan trọng sau:

Một là, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên việc đầu tư cho các công trình hạ tầng, cơ

sở vật chất - kỹ thuật tối thiểu chung cho xã hội Đây cũng đồng thời tạo những điều kiện thiết yếu cho các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư và phát triển

Hai là, góp phần làm giảm khoảng cách giàu nghèo, giảm bất bình đằng, bất công trong

xã hội bằng các chương trình, dự án kinh tế hỗ trợ các vùng khó khăn, vùng sâu vùng

xa, các dân tộc thiểu số (chương trình 134, 135 của Chính phủ, Chương trình 30a, các chương trình xóa đói giảm nghèo hỗ trợ sản xuất ), nâng cao và ổn định đời sống người dân

Ba là, đảm bảo ổn định và không ngừng tăng cường quốc phòng, an ninh Các công trình, dự án về an ninh quốc phòng đều không mang lại hiệu quả kinh tế trước mắt nên khu vực tư nhân không thể và cũng không muốn đầu tư vào lĩnh vực này Nhưng đó lại

là cơ sở quan trọng của đất nước để bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia

Qua đó có thể thấy, đầu tư công từ nguồn vốn NSNN có tác động khá lớn tới tăng trưởng kinh tế, điều chỉnh và chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư theo định hướng đề ra Hoạt động đầu tư công từ nguồn vốn NSNN góp phần tái tạo và tăng cường năng lực sản xuất để tăng năng suất lao động, tăng thu nhập quốc dân và tăng thu nhập bình quân đầu người Mặc khác, đầu tư công từ nguồn vốn NSNN cũng một phần tăng tích lũy vốn, thu hút người lao động, giải quyết việc làm, sử dụng có hiệu quả tài nguyên của quốc gia Đồng thời, nó sẽ tạo ra cơ cấu kinh tế mới, hình thành những ngành mới, tăng cường chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội

Nói tóm lại, hoạt động đầu tư công từ nguồn vốn NSNN có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển các mặt của nền kinh tế, đời sống xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, là một

Trang 29

công cụ góp phần điều tiết kinh tế, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô Nó mang tính định hướng, dẫn dắt, hỗ trợ phát triển cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân

2.2.1 Cơ sở pháp lý đối với vốn đầu tư xây dựng cơ bản

- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định nhiệm vụ xây dựng “Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới”

- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010

- 2020;

- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ

về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;

- Quyết định số 10/2009/QĐ-UBND ngày 22 tháng 01 năm 2009 của Ủy ban nhân dân thành phố về ban hành Kế hoạch của Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện Chương trình hành động của Thành ủy về nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X

- Quyết định số 15/2011/QĐ-UBND ngày 18 tháng 03 năm 2011 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc ban hành Chương trình mục tiêu về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 – 2020

- Luật Đầu tư công ngày 18 tháng 6 năm 2014;

- Luật Xây dựng ngày 18 tháng 6 năm 2014;

- Luật Ngân sách nhà nước ngày 25 tháng 6 năm 2015;

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;

Trang 30

- Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về quản

lý dự án đầu tư xây dựng;

- Nghị định số 77/2015/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ về kế hoạch đầu tư trung hạn và hàng năm;

- Nghị định số 136/2015/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư công;

- Nghị định số 42/2017/NĐ-CP ngày 05 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng;

- Nghị định số 161/2016/NĐ-CP ngày 02 tháng 12 năm 2016 của Chính phủ về cơ chế đặc thù trong quản lý đầu tư xây dựng đối với một số dự án thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020;

- Quyết định số 41/2016/QĐ-TTg ngày 10 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý điều hành thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia;

- Thông tư số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;

- Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18 tháng 01 năm 2016 của Bộ Tài chính Quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước; Thông tư số 108/2016/TT-BTC ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18 tháng 01 năm

2016 của Bộ Tài chính quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước;

Trang 31

- Thông tư số 09/2016/TT-BTC ngày 18 tháng 01 năm 2016 của Bộ Tài chính Quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước;

Căn cứ Thông tư số 349/2016/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ Tài chính Quy định về thanh toán, quyết toán nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020;

- Thông tư số 01/2017/TT-BKHĐT ngày 14 tháng 02 năm 2017 của Bộ Kế hoạch

và Đầu tư hướng dẫn quy trình lập kế hoạch đầu tư cấp xã thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia;

- Thông tư số 72/2017/TT-BTC ngày 17 tháng 7 năm 2017 của Bộ Tài chính quy định về quản lý, sử dụng các khoản thu từ hoạt động quản lý dự án của các chủ đầu

tư, ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước;

- Quyết định số 04/2018/QĐ-UBND ngày 12 tháng 02 năm 2018 về việc ban hành Quy định cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng, quản lý nguồn vốn đầu tư tại các xã nông thôn mới trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2017-2020

- Quyết định số 4081/QĐ-UBND ngày 01 tháng 8 năm 2017 của Ủy ban nhân dân Thành phố về kiện toàn Hội đồng thẩm định chủ trương đầu tư các chương trình, dự án đầu tư công và giao cơ quan thẩm định báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, nguồn vốn và khả năng cân đối vốn của các dự án đầu tư công

- Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 07 tháng 5 năm 2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công của Thành phố năm 2018

- Kế hoạch số 1985/KH-UBND ngày 09 tháng 5 năm 2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố về triển khai thực hiện Quyết định số 63/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án cơ cấu lại đầu tư công giai đoạn 2017-2020 và định hướng đến năm 2025

Trang 32

- Quyết định số 18/2018/QĐ-UBND ngày 25 tháng 5 năm 2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố về ban hành Quy định về quản lý thực hiện chương trình, dự án sử dụng vốn đầu tư công của Thành phố Hồ Chí Minh

2.2.2 Phân cấp NSNN về chi đầu tư

Phân cấp quản lý đầu tư công gắn với phân cấp về nguồn tài chính Có hai nguồn, một là nguồn từ Trung ương, hai là nguồn khai thác tại chỗ ở địa phương Một cách tương đối nhất quán, chính quyền cấp tỉnh được quyền quyết gần như hoàn toàn đối với các dự án đầu tư từ ngân sách địa phương Vốn đầu tư công được phân bổ theo hai cấp ngân sách là ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương Phần lớn nguồn lực đầu tư công đều được phân cấp cho ngành và địa phương quản

lý Và hệ quả tất yếu là việc quyết định đầu tư công đã tách rời việc bố trí vốn Các ngành và địa phương quyết định về dự án đầu tư, nhưng nguồn vốn đều được ghi là “xin vốn từ ngân sách trung ương”

Nguyên tắc phân cấp đầu tư từ Trung ương xuống địa phương vẫn được thực hiện theo quy mô và tầm quan trọng của dự án, được chia thành các dự án quan trọng của quốc gia là nhóm A, nhóm B, và nhóm C

Trong nguồn tài chính khai thác tại địa phương, ngoài hình thức huy động đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng từ người dân, một hình thức khá phổ biến là khai thác

từ tài nguyên mà chủ yếu là từ quỹ đất đai Vào thời kỳ thị trường bất động sản đang sôi động, nhiều địa phương đã thu những khoản tiền rất lớn từ nguồn này, đặc biệt là đất tại những khu vực đô thị Địa phương nào thu càng lớn thì đầu tư càng nhiều, từ đó nảy sinh vấn đề xây dựng tràn lan, không có kế hoạch và không có

sự liên kết đấu nối

Bên cạnh đó, mặc dù phân cấp quản lý đầu tư công từ NSNN mạnh nhưng vẫn còn thiếu sự kiểm tra, hướng dẫn từ cấp có thẩm quyền phân cấp dẫn tới việc cấp dưới được phân cấp có thể làm những việc vượt thẩm quyền, quyết định dự án đầu tư nhưng nguồn vốn lại đề nghị cấp trên cân đối; hoặc để tự cân đối ngân sách tại chỗ thì các cấp dưới được phân cấp phải chật vật tìm cách tăng thu, dẫn đến việc thu

Trang 33

hút đầu tư bằng mọi giá, làm trầm trọng thêm tình trạng phát triển tự phát, không theo quy hoạch

Có thể nói, chính những yếu kém, hạn chế trong công tác phân cấp quản lý đầu tư công từ NSNN là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải, chồng chéo, công trình thi công chậm, thiếu đồng bộ, sản phẩm dở dang nhiều dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp Bản thân Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/20/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư công từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ cũng đã thừa nhận “do phân cấp quá rộng lại thiếu các biện pháp quản lý đồng bộ dẫn tới tình trạng phê duyệt quá nhiều dự án vượt khả năng cân đối vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ, thời gian thi công kéo dài, kế hoạch đầu tư bị cắt khúc ra từng năm, hiệu quả đầu tư kém, gây phân tán và lãng phí nguồn lực của nhà nước”

Luật Đầu tư công năm 2014 đã có sự thay đổi trong phân cấp quyết định chủ trương đầu tư cũng như thẩm định nguồn vốn, khả năng cân đối vốn… đã cơ bản khắc phục được tình trạng yếu kém trước đây

2.2.3 Các tiêu chí đánh giá về việc sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước

- Quản lý quy hoạch và phân bổ vốn đầu tư;

- Quản lý công tác thẩm định dự án;

- Quản lý công tác lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng:

- Quản lý công tác đền bù giải phóng mặt bằng;

- Quản lý công tác giải ngân vốn;

- Quản lý công tác thi công xây dựng công trình;

- Thẩm tra quyết toán, thanh tra, kiểm toán dự án hoàn thành

+ Các chỉ tiêu phản ánh kết quả đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn: tài sản cố định huy động, năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm

Trang 34

+ Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước: chỉ tiêu giá trị gia tăng của dự án đầu tư, chỉ tiêu khả năng thu hút lao động của dự án đầu tư, khả năng tác động đến thu chi ngân sách nhà nước, chỉ tiêu tích lũy để đầu tư phát triển, khả năng sử dụng nguyên vật liệu trong nước, tác động dây chuyền để thúc đẩy sự phát triển của các ngành liên quan, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của địa phương, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và nâng cao mức sống Nhân dân

* Quy trình thực hiện quản lý đầu tư công

Quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước được tiến hành xuyên suốt từ khâu lập kế hoạch ban đầu, phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định phê duyệt dự án đầu tư cho đến giai đoạn thi công công trình, bàn giao công trình và thanh tra, quyết toán công trình

Quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản được phân thành 3 giai đoạn:

- Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: tổ chức lập kế hoạch, phê duyệt chủ trương đầu tư, tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo kinh tế

- kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án

- Giai đoạn thực hiện dự án bao gồm các công việc: thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có), chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác

Trang 35

- Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng gồm các công việc: quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo hành công trình xây dựng

Các lĩnh vực quản lý cụ thể của dự án bao gồm:

Hình 3.1 Sơ đồ Quy trình quản lý thực hiện đầu tư dự án xây dựng cơ bản

2.3 Kinh nghiệm của các địa phương về nguồn vốn phân cấp cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Triển khai thực hiện dự

án

Nghiệm thu bàn giao sử dụng

Đánh giá đầu

Trang 36

năm 2015, 20/20 xã và huyện được Ủy ban nhân dân thành phố và Trung ương công nhận là xã và huyện nông thôn mới

- Đến nay sau 10 năm xây dựng nông thôn mới, trên địa bàn huyện Củ Chi đã có nhiều thay đổi tích cực Có thể kể đến là chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, đường giao thông và vận động người dân sử dụng nước sạch

- Về chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn

2009 - 2019 tăng bình quân 8,24%/năm Nông sản trên địa bàn huyện có quy mô lớn về số lượng, tổng đàn heo trên 139.000 con, tổng đàn bò khoảng 100.000 con trong đó khoảng 60.000 con bò sữa, 598 ha hoa kiểng, trong đó 167 ha hoa lan; 1.642 ha canh tác rau các loại; 260 ha nuôi trồng thủy sản, trong đó có 18 ha nuôi cá cảnh và 20 ha sản xuất cá giống Sản lượng nông sản cung cấp hằng năm khoảng 208.000 tấn rau; 8.000 tấn thủy sản các loại, trong đó 1.000 tấn cá giống và 7 triệu con cá cảnh các loại; 110.000 tấn sữa bò tươi và 35.000 tấn thịt các loại 22,4 triệu cành lan mỗi năm Doanh thu bình quân trên 1 ha đất nông nghiệp năm 2018 đạt

500 triệu đồng/ha/năm, riêng mô hình trồng lan cho doanh thu bình quân 700 triệu đồng/ha/năm, rau an toàn cho doanh thu bình quân 400 triệu đồng/ha/năm, hoa kiểng 600 triệu đồng/ha/năm

- Sau 10 năm xây dựng nông thôn mới (2010-2020) huyện Củ Chi có mạng lưới giao thông tương đối hoàn chỉnh gồm 2.107 tuyến đường và 213 tuyến hẻm, có chiều dài 1.434 km (trong đó đường bê tông nhựa nóng 413 tuyến dài 431km; đường nhựa thường 89 tuyến dài 153km; bê tông xi măng, các tuyến đường giao thông còn lại 1.818 tuyến dài 850km)

- Hiện nay, hệ thống giao thông của huyện được phát triển đồng bộ đã kết nối liên thông các tuyến đường, kết nối liên thông từ huyện đến xã, phục vụ tốt cho việc đi lại của người dân, vận chuyển nông sản và vật tư phục vụ sản xuất

(Nguồn: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tại huyện Củ Chi)

Trang 37

* Kết quả huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện

a) Kết quả huy động nguồn lực giai đoạn 2010-2015

Tổng kinh phí đã thực hiện: 17.445,391 tỷ đồng, trong đó:

- Ngân sách Trung ương: 10,23 tỷ đồng, chiếm 0,06%;

- Ngân sách thành phố: 1.289,773 tỷ đồng, chiếm 7,39%;

- Ngân sách huyện: 107,04 tỷ đồng, chiếm 0,61%;

- Vốn cộng đồng (dân và doanh nghiệp, tín dụng): 16.038,348 tỷ đồng, chiếm 91,93%

Trong đó:

- Vốn đầu tư phát triển sản xuất: 4.696,503 tỷ đồng

- Vốn nhân dân hiến đất, vật chất kiến trúc : 355,223 tỷ đồng

- Vốn hỗ trợ xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương: 58,428 tỷ đồng

Trang 38

* Bài học kinh nghiệm:

- Xây dựng nông thôn mới phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn tại địa phương, cộng đồng dân cư đóng vai trò chủ đạo trong thực hiện giám sát và hưởng thụ; huy động nguồn lực nhân dân phải gắn liền với bồi dưỡng sức dân, thông qua các đề án hợp lòng dân, được nhân dân đồng tâm hiệp lực chung sức xây dựng nông thôn mới

- Trong thực hiện các công trình “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, công tác tuyên truyền, vận động, giải thích, thuyết phục người dân có tính quyết định vì không thể

sử dụng các biện pháp hành chính, quyền lực Nhà nước Do vậy, cần phải xây dựng lực lượng nòng cốt, kiên trì, đeo bám, phát huy vai trò cán bộ hưu trí, cựu chiến binh, người có uy tín trong khu vực để tuyên truyền vận động, phát huy tính gương mẫu và đặc biệt có chính sách vận động thật cụ thể, công khai rõ ràng thì các công trình, dự án được thực hiện tốt về số lượng, chất lượng và cả tiến độ thời gian

- Trong quá trình thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới phải gắn liền với quy chế dân chủ cơ sở, tổ chức họp dân, bàn bạc, lắng nghe ý kiến và thống nhất chủ trương, đảm bảo công khai, công bằng, tạo được sự ủng hộ trong nhân dân, đồng thời quan tâm đến hộ dân nghèo, hộ dân thuộc diện chính sách khó khăn, khi đưa ra họp tổ nhân dân cần tìm biện pháp hỗ trợ, vận động cá nhân đóng góp, giúp

đỡ ổn định cuộc sống Chú trọng ý kiến đánh giá, góp ý của nhân dân, xem đây là yếu tố quan trọng, quyết định tính bền vững trong xây dựng nông thôn mới

Trang 39

- Phải thực sự phát huy vai trò chủ thể của người dân Công tác tuyên truyền, vận động quần chúng phải là giải pháp quan trọng hàng đầu Làm cho dân hiểu, dân tin, dân hưởng ứng bằng sự tham gia bàn bạc, hiến kế, đóng góp công, của và chủ động thực hiện các nhiệm vụ của mình là yếu tố quyết định sự thành công của Chương trình

- Phải có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên sâu sát, quyết liệt của các cấp ủy, chính quyền, sự tham gia tích cực và phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể Trong đó, người đứng đầu cấp ủy và chính quyền có vai trò quan trọng Thực tiễn cho thấy nơi nào các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể thực sự quan tâm vào cuộc thường xuyên, quyết liệt thì trong cùng hoàn cảnh còn nhiều khó khăn vẫn tạo ra sự chuyển biến rõ nét

- Phải có hệ thống chỉ đạo, đồng bộ, hiệu quả; có bộ máy giúp việc đủ năng lực, chuyên nghiệp, sát thực tế sẽ là yếu tố quan trọng đảm bảo cho công tác chỉ đạo có hiệu quả

- Phải lồng ghép sử dụng có hiệu quả sự hỗ trợ ngân sách của Nhà nước và các nguồn lực đa dạng; việc huy động, đóng góp của người dân phải được thực hiện trên cơ sở thực sự tự nguyện, bàn bạc dân chủ không gượng ép quá sức dân

Từ năm 2010, huyện Bình Chánh bắt đầu xây dựng nông thôn mới tại xã điểm Tân Nhựt Giai đoạn 2010 - 2015, đã có 12/14 xã được Ủy ban nhân dân Thành phố

Trang 40

công nhận xã đạt chuẩn xã nông thôn mới Giai đoạn 2016 - 2020, đã có 3/14 xã cơ bản đạt 19/19 tiêu chí, đang hoàn chỉnh thủ tục trình Thành phố xem xét công nhận hoàn thành giai đoạn nâng chất

(Nguồn: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tại huyện Bình Chánh)

* Kết quả huy động nguồn lực giai đoạn 2010-2015: Với tổng kinh phí 3.641 tỷ

527 triệu đồng, trong đó:

- Vốn từ ngân sách tập trung thành phố: 1.268 tỷ 985 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 34,85%

- Vốn nông thôn mới: 1.646 tỷ 727 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 45,22%

- Vốn dân: 622 tỷ 485 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 17,09% (Có 4.921 hộ dân hiến

1.244.970 m 2 đất mở rộng các tuyến đường và ngày công lao động vào các công trình phục vụ xây dựng nông thôn mới)

- Vốn cộng đồng (doanh nghiệp, tín dụng ): 85 tỷ 550 triệu đồng, chiếm tỷ lệ

2,34% (vay phát triển sản xuất 53 tỷ 792 triệu đồng, xã hội hóa giáo dục 27 tỷ 800 triệu đồng, xây dựng cầu Xóm Gò xã Phong Phú 3 tỷ 958 triệu đồng)

- Vốn các đơn vị chung sức: 17 tỷ 780 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 0,5%

(Nguồn: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tại huyện Bình Chánh)

* Kết quả huy động nguồn lực giai đoạn 2016-2019: Với tổng kinh phí 963 tỷ 037

triệu đồng, trong đó:

- Vốn nông thôn mới: 394 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 40,91%

- Vốn phân cấp: 107 tỷ 500 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 11,16%

Ngày đăng: 25/05/2021, 22:47

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w