Thế giới nhân vật trong văn học trung đại Việt Nam rất phong phú, đa dạng.Nổi bật trong văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XV là các loại hình nhân vật: thiền sư,nho sĩ, hoàng đế, liệt nữ..
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Nho Thìn
TS Lê Thanh Nga
NGHỆ AN - 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới
sự hướng dẫn của GS TS Trần Nho Thìn và TS Lê Thanh Nga Những số liệu sửdụng trong luận án là trung thực Các kết quả rút ra từ công trình nghiên cứu chưa từngđược công bố Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu này
Nghệ An, ngày 25 tháng 5 năm 2021
Tác giả
Trịnh Huỳnh An
Trang 4Được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của các nhà khoa học, tôi đã hoàn thànhluận án Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến GS.TS Trần Nho Thìn - giảngviên Trường Đại học KHXH & NV ĐHQG Hà Nội và TS Lê Thanh Nga - giảng viêntrường Đại học Vinh.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các nhà khoa học thuộc bộ môn Vănhọc Việt Nam, Viện Sư phạm xã hội, Phòng Đào tạo Sau Đại học Trường Đại họcVinh, Trường Đại học Bình Dương cùng bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡtôi trong quá trình hoàn thành luận án
Xin trân trọng cảm ơn!
Nghệ An, ngày 25 tháng 5 năm 2021
Tác giả luận án
Trịnh Huỳnh An
Trang 51 Lí do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận án 5
6 Cấu trúc của luận án 5
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
1.1.1 Nghiên cứu chung về nhân vật hoàng đế trong văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XV6 1.1.2 Nghiên cứu về một số nhân vật hoàng đế tiêu biểu trong văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XV 9
1.2 Cơ sở lí thuyết của đề tài 16
1.2.1 Lý thuyết loại hình 16
1.2.2 Lý thuyết về mối quan hệ giữa văn hoá – tư tưởng và văn học 18
1.2.3 Lý thuyết liên văn bản 19
1.2.4 Lý thuyết diễn ngôn 21
Tiểu kết chương 1 23
Chương 2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH NHÂN VẬT HOÀNG ĐẾ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XV 24
2.1 Giới thuyết về nhân vật hoàng đế 24
2.1.1 Khái niệm nhân vật hoàng đế 24
2.1.2 Sự khác nhau giữa “Đế” và “Vương” 26
2.1.3 Mô hình hoàng đế lý tưởng trong tư duy chính trị Việt Nam trung đại 28
2.2 Những tiền đề của sự xuất hiện nhân vật hoàng đế trong văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV 32
2.2.1 Tiền đề lịch sử, xã hội 32
2.2.2 Tiền đề văn hoá, chính trị 35
2.2.3 Tiền đề văn học 38
2.3 Vị thế của nhân vật hoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam 43
2.3.1 Giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XV 43
2.3.2 Giai đoạn từ sau thế kỉ XV đến thế kỉ XIX 44
Tiểu kết chương 2 46
Trang 63.1 Nhân vật hoàng đế với tư cách là cái tôi tự biểu hiện 47
3.1.1 Nhân vật hoàng đế - thiên tử trong ý thức chính trị 47
3.1.2 Nhân vật hoàng đế - thiền nhân trong những suy tư mang màu sắc tôn giáo63 3.1.3 Nhân vật hoàng đế - thi sĩ trong cảm quan thẩm mĩ 70
3.2 Nhân vật hoàng đế với tư cách khách thể phản ánh 79
3.2.1 Nhân vật hoàng đế “thập toàn” của đấng “chăn dân” trong cảm hứng ngợi ca 79
3.2.2 Nhân vật hoàng đế “bất toàn” trong cảm hứng phê phán, phúng gián 92
Tiểu kết chương 3 107
Chương 4 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN NHÂN VẬT HOÀNG ĐẾ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XV 108
4.1 Sự thể hiện nhân vật hoàng đế nhìn từ việc lựa chọn thể loại 108
4.1.1 Thơ 108
4.1.2 Phú 114
4.1.3 Văn chính luận 121
4.2 Sự thể hiện nhân vật hoàng đế và những lựa chọn ngôn từ 127
4.2.1 Hệ thống ngôn từ bộc lộ khẩu khí của đế vương 127
4.2.2 Hệ thống ngôn từ thể hiện nhãn quan chính trị 129
4.2.3 Hệ thống ngôn từ thể hiện quan niệm thẩm mĩ 131
4.3 Sự vận dụng bút pháp 135
4.3.1 Bút pháp sử ký 135
4.3.2 Bút pháp trữ tình 142
4.3.3 Bút pháp khoa trương 144
Tiểu kết chương 4 146
KẾT LUẬN 147
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151
PHỤ LỤC 1 165
PHỤ LỤC 2 170
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc, chiến thắng của Ngô Quyền trước quânNam Hán trên sông Bạch Đằng đã mở ra kỉ nguyên tự chủ cho dân tộc Đất nướcbước vào thời kì xây dựng nền quân chủ chuyên chế tồn tại mười thế kỉ Trên bìnhdiện chính trị - văn hóa - xã hội, Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV ở vào giaiđoạn đầu của chế độ quân chủ chuyên chế - mô hình nhà nước mà ở đó hoàng đế(vua) đứng đầu triều đình, nắm quyền lực điều hành mọi phương diện của đấtnước, chi phối sâu sắc đến sự an nguy, thịnh suy, tồn vong của cả một chế độ, mộttriều đại Hoàng đế, theo đó cũng trở thành đối tượng phản ánh, thể hiện của vănhọc Nghiên cứu văn học giai đoạn đầu thời trung đại từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, vìthế không thể bỏ qua việc nghiên cứu về nhân vật hoàng đế
1.2 Là một kiểu nhân vật văn học - văn hóa đặc biệt, nhân vật hoàng đế hàmchứa trong nó nhiều nội dung chính trị, xã hội, văn hóa, văn học rất cần đượcnghiên cứu Về đường lối chính trị, hoàng đế tồn tại và hoạt động trong xã hội quânchủ chuyên chế chủ yếu theo đức trị Vậy kiểu hoàng đế như thế đã có vai trò lịch
sử tích cực nào và có những hạn chế nào? Về mặt văn học, điều ngày nay cần quantâm là các lý tưởng của người xưa, trước hết của trí thức nho sĩ, về một bậc quânvương đã được thể hiện như thế nào, bằng những phương tiện nghệ thuật gì, vớinhững thể loại văn học nào để vừa chuyển tải được những vấn đề đạo đức chính trịcủa hoàng đế mà lại vừa an toàn thân mệnh trong một kiểu xã hội mà một chữ viếtnhầm trong bài thi cũng có thể dẫn đến án tử? Thêm nữa, các hoàng đế thời trungđại trực tiếp sáng tác văn chương không chỉ để khoe tài mà chủ yếu hướng đếnmục đích phục vụ chính trị Họ dùng văn chương để khẳng định, bảo vệ tính chínhdanh của triều đại, của bản thân ngôi vị hoàng đế Đây là một loại diễn ngôn quyềnlực độc đáo trong văn hóa chính trị thời trung đại Câu hỏi đặt ra là mục đích sángtác văn chương đó đã được thực hiện bằng các phương tiện nghệ thuật nào, cũngnhư các vấn đề của hoàn cảnh sáng tác, cảm hứng, tư tưởng, môi trường xướnghọa…
1.3 Thế giới nhân vật trong văn học trung đại Việt Nam rất phong phú, đa dạng.Nổi bật trong văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XV là các loại hình nhân vật: thiền sư,nho sĩ, hoàng đế, liệt nữ Tuy nhiên, khi tiến hành nghiên cứu nhân vật trong vănhọc trung đại giai đoạn này, cho đến nay, phần lớn các công trình đều tìm hiểu các
Trang 8nhân vật là nhà nho, thiền sư, liệt nữ Chưa có công trình nghiên cứu nào có cáinhìn bao quát và mang tính hệ thống về nhân vật hoàng đế trong văn học trung đạiViệt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV Vì thế vấn đề này vẫn còn nhiều khía cạnhmới, cần được quan tâm nghiên cứu.
1.4 Việc tìm hiểu ngọn nguồn, những đặc điểm của nhân vật hoàng đế, mốiquan hệ giữa nhân vật văn học này với bối cảnh lịch sử - xã hội đương thời… sẽgóp phần mang đến những bài học kinh nghiệm trị quốc an dân đối với hệ thốngchính trị đương đại
Những vấn đề nêu trên lý giải tính chất cấp thiết của đề tài luận án Bên cạnhviệc nghiên cứu về hoàng đế ở các góc độ: chính trị, quân sự, ngoại giao… thì việcnghiên cứu hoàng đế dưới góc độ văn học là việc làm cần thiết, vừa có ý nghĩa
khoa học vừa mang giá trị thực tiễn Vì thế chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Nhân
vật hoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV.
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của luận án là nhân vật
hoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung ở các sáng tác văn học giai đoạn từthế kỉ X đến thế kỉ XV có xuất hiện nhân vật hoàng đế Dĩ nhiên, chúng tôi cũngnhận thức được rằng, luận án chưa hẳn đã tái hiện nhân vật này đến mức chân xác,chi tiết tuyệt đối như đã được thể hiện trong các sáng tác văn học quá khứ, bởi vănhọc giai đoạn này mặc dù đông đảo về lực lượng sáng tác, đồ sộ về số lượng tácphẩm nhưng vì nhiều lí do mà không còn được lưu trữ đầy đủ
Tuy nhiên, những công trình biên tuyển văn học trung đại cũng có thể cung cấp
đủ tư liệu để thực hiện đề tài: Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam, Tổng tập văn
học Việt Nam (tập I – V), Nguyễn Trãi toàn tập, Tổng tập văn học Hán – Nôm, Thơ văn Lí – Trần, và các tuyển tập: Tuyển thơ các vua Trần, Thơ văn Lê Thánh Tông,
Trang 9cũng có thể tìm thấy những trang ghi chép có tính chất văn học; một ghi chép có tính
chất sử học như Lam Sơn thực lục cũng có những đoạn đậm chất văn chương Tam tổ thực lục tuy có tên gọi thể loại “thực lục” song không hề tương đồng với kiểu “thực lục” của sử học mà có tính cách như một tập chân dung bằng văn học Luận án, vì thế,
không chỉ nghiên cứu các thể loại thuần túy văn học mà còn quan sát, phân tích các tài
liệu có tính nguyên hợp: Đại Việt sử kí toàn thư, Tam tổ thực lục, Lam Sơn thực lục.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của luận án là nghiên cứu, rút ra những khái quát về đặcđiểm nội dung và hình thức biểu hiện nhân vật hoàng đế trong văn học trung đạiViệt Nam giai đoạn này thế kỷ X đến thế kỷ XV Qua đó, luận án cũng chỉ ra mốiquan hệ giữa văn học và chính trị thời trung đại - thời kì mà các nhà văn đồng thời
là những trí thức nhập thế, hành đạo (nhà nho) hoặc được triều đình coi là quốc sư(nhiều vị thiền sư) Đồng thời, luận án phác họa một bức tranh các loại hình nhân vật bên cạnh nhân vật hoàng đế
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Căn cứ mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận án giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Trình bày một cách tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
- Khảo sát và chỉ ra các cơ sở hình thành nhân vật hoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV
- Khảo sát và phân tích những đặc điểm nhân vật hoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV
- Khảo sát, phân tích và chỉ ra các phương thức thể hiện nhân vật hoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV
Cuối cùng rút ra kết luận về nhân vật hoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV và đề xuất một số vấn đề nghiên cứu có liên quan
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được nhiệm vụ đã đề ra của đề tài Nhân vật hoàng đế trong văn
học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, tác giả luận án vận dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó chủ yếu là các phương pháp sau:
Trang 104.1 Phương pháp liên ngành: Để có thể lí giải được các vấn đề liên quan đến
nhân vật hoàng đế trong văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, luận án đã vận dụng trithức của các lĩnh vực khác như: văn hóa học, triết học, luật học, tâm lý học, ngôn ngữhọc nhằm tham chiếu, soi rõ các nội dung được đề cập trong luận án
4.2 Phương pháp lịch sử - xã hội: Đây là phương pháp nghiên cứu văn học quá
khứ, gồm quy luật hình thành, phát triển của các hiện tượng và quá trình văn học diễn
ra trong những điều kiện lịch sử – xã hội nhất định như tác phẩm, tác giả, thể loại, tràolưu, các giai đoạn đã qua của nền văn học dân tộc Phương pháp này giúp cho việc táihiện những nét chính về bối cảnh lịch sử – văn hóa – xã hội có ảnh hưởng đến việchình thành nhân vật hoàng đế Đồng thời phương pháp này cũng giúp đưa ra nhữngkết luận về sự vận động và phát triển của nhân vật hoàng đế
4.3 Phương pháp phân loại – thống kê: Phương pháp này vận dụng các thao
tác phân loại – thống kê, xác lập dữ liệu khoa học làm cơ sở để góp phần bổ sungtính chặt chẽ của các luận điểm Từ việc vận dụng phương pháp này, luận án đi đếnxác định những đặc điểm cơ bản của các kiểu tác gia tác phẩm, thể loại văn học thểhiện nhân vật hoàng đế qua góc nhìn tự biểu hiện và là đối tượng được phản ánh
4.4 Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để
phân tích các tác phẩm, các vấn đề, trên cơ sở đó, tổng hợp theo định hướng nghiêncứu của luận án Từ những tư liệu tổng hợp được, luận án tiến hành phân tích cáctác phẩm theo khung thể loại, theo nhóm tác giả, theo giai đoạn lịch sử… để làmtiền đề so sánh, đối chiếu về sự vận động và phát triển hệ thống tư tưởng Nho –Phật – Đạo gắn với sự biến đổi, vận động của mẫu hình nhân vật hoàng đế Luận
án phân tích khả năng giao thoa, chuyển hóa, tiếp nối và hỗn dung giữa các tưtưởng trong cùng một loại hình tác gia hoàng đế
4.5 Phương pháp so sánh – loại hình: Phương pháp loại hình là phương
pháp nghiên cứu những sự việc, hiện tượng có chung những đặc trưng nào đó để cóthể khái quát và phân loại tìm ra quy luật của sự tương đồng Trong nghiên cứu vănhọc, để làm nổi bật bản chất của hiện tượng được đem ra so sánh, có thể so sánhhiện tượng văn học đó với các hiện tượng cùng loại hoặc có thể so sánh với cả cáchiện tượng đối lập Phương pháp này được dùng để đối chiếu, so sánh mẫu hìnhhoàng đế trong giai đoạn văn học này qua các loại hình tác giả tham gia viết vềhoàng đế Đồng thời, luận án bước đầu so sánh mẫu hình hoàng đế của giai đoạnnày với các giai đoạn sau trong văn học trung đại Việt Nam; so sánh mẫu
Trang 11hình hoàng đế Việt Nam và các nước Đông Á nói chung, Trung Quốc nói riêng đểthấy được sự tương đồng và khác biệt.
4.6 Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Phương pháp này được dùng để liên
kết, xâu chuỗi, hệ thống các vấn đề nghiên cứu trong tính thống nhất chỉnh thể Nógiúp luận án đưa ra những góc nhìn đa diện về nhân vật hoàng đế một cách thốngnhất theo hệ thống
5 Đóng góp của luận án
Luận án là một nỗ lực lần đầu tiên nghiên cứu không phải một nhân vậthoàng đế của một triều đại xác định mà là kiểu loại hình nhân vật hoàng đế trongvăn học một giai đoạn cụ thể
Nỗ lực nghiên cứu đó được thực hiện qua thao tác hệ thống hóa tư liệu nghiêncứu Luận án đã rà lại hệ thống các sáng tác văn học thể hiện cái nhìn chủ quan, tựthuật (cái nhìn từ bên trong) của các bậc hoàng đế và cái nhìn khách quan (cái nhìn
từ bên ngoài) của giới trí thức thiền sư và nho gia về một bậc hoàng đế lý tưởng
Từ hai điểm nhìn với hai bộ phận sáng tác này, luận án góp phần phác họa hìnhtượng nhân vật hoàng đế, một loại nhân vật quan trọng bậc nhất của hệ thống chínhtrị xã hội Việt Nam trung đại giai đoạn văn học thế kỷ X đến thế kỷ XV
Luận án trình bày hệ thống các yếu tố, phương diện nghệ thuật liên quan đếnnhân vật hoàng đế, một hệ thống cho đến nay chưa được chú ý đúng mức
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận án được
triển khai trong 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài Chương 2 Cơ sở hình thành nhân vật hoàng đế trong văn học trung đại Việt
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu chung về nhân vật hoàng đế trong văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XV
Mặc dù đã có một số bài viết, luận án, luận văn nghiên cứu về nhân vậthoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam nhưng nhìn chung các công trình nàymới chỉ dừng lại ở mức đề cập sơ lược về mẫu hình hoàng đế hoặc khảo sát mộtnhân vật hoàng đế trong một tác phẩm cụ thể Các công trình nghiên cứu về nhânvật hoàng đế được tập trung vào các vấn đề sau:
Trong công trình Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung (in lần đầu 1997), Trần Ngọc Vương đã có bài viết về “Mẫu hình hoàng đế và con đường
tìm kiếm sự thể hiện bản ngã trong triết học và văn học khu vực Đông Á” Ở bàiviết này, tác giả đã đi sâu tìm hiểu loại hình nhân vật hoàng đế trong triết học vàvăn học khu vực Đông Á Theo tác giả: “Ý niệm đế – như là vị quân chủ độc nhất,duy nhất và toàn quyền – đã xuất hiện từ rất sớm và có một quá trình hoàn thiệnlâu dài cả về lý thuyết lẫn thực tiễn” [215; 49] Tác giả đã khái quát về nhân vậthoàng đế từ mẫu hình hoàng đế Trung Hoa với mô hình “tam vị nhất thể”: thiênmệnh – thiên hạ – thiên tử Với vị trí bất khả xâm phạm, hoàng đế đã tồn tại nhiềuthế kỉ, ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam: “Loại hình nhân cách hoàng đế làmột loại hình nhân cách đặc biệt, có tác động vô cùng to lớn chi phối lịch sử hìnhthành và phát triển các loại hình nhân cách khác trong xã hội phương Đông” [215;53] Hoàng đế là thiên tử: “Đã là thiên tử – hoàng đế, kẻ duy nhất có mệnh (chânmệnh đế vương), tức là kẻ duy nhất đươc Thiên phụ giao cho thay mặt mình cai trịthiên hạ, thì có thể và phải thâu tóm mọi quyền lực vào tay” [215; 52] Hoàng đếđược trời trao cho thiên mệnh nhưng đòi hỏi người nhận được mệnh trời phải làngười có đức: “Trời giao nước, về nguyên tắc cho người có đức, có đại đức, mà đạiđức là hiếu sinh, là biết thương xót chăm sóc nuôi dưỡng cho các sinh mệnh khác.Bám vào nguyên lý đó, mà trong suốt lịch sử tồn tại của mình, Nho giáo luôn nhắcnhở đề cao, nhấn mạnh hay quyết liệt đòi hỏi người làm vua phải luôn tự thể hiện
là người chí đức” [215; 53]
Trang 13Trong bài viết này Trần Ngọc Vương còn đi đến phác họa lại cấu trúc lýthuyết của mô hình nhân cách hoàng đế Ông cho rằng “Với một nhân cách nửatrần gian, nửa thượng giới, hoàng đế – thiên tử khống chế và khống chế có hiệuquả sự xuất hiện của bất kì một loại nhân cách độc lập nào” [215; 61] Theo đó,hoàng đế là con trời và được sở hữu quyền lực tuyệt đối trong trị vì thiên hạ Mỗihoàng đế cần phải có các yếu tố: Chí hiếu, chí nhân, chí minh, chí thành chí kính.Tuy chưa đề cập đến thi pháp khắc họa nhân vật hoàng đế trong văn học trung đạiViệt Nam nhưng bài viết này là một phần cơ sở lí luận để chúng tôi tham khảotrong suốt quá trình thực hiện đề tài luận án.
Trong công trình Văn học Việt Nam thế kỉ X – XIX – Những vấn đề lí luận
và lịch sử do Trần Ngọc Vương chủ biên (2006), Đỗ Lai Thuý với bài viết “Loại
hình các nhân vật trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỉ X đến thế kỉ XIX” đã phân
ra ba loại hình nhân vật: Loại hình nhân vật mang tính vô ngã, loại hình nhân vậtquân tử và loại hình nhân vật tài tử Theo đó, tác giả nhận định hoàng đế thuộc vềloại hình nhân vật quân tử: “Trong xã hội quân chủ Nho giáo, chí ít là ở Việt Nam,nhà vua vẫn thuộc loại hình nhà nho, những dị biệt chỉ ở sắc thái nên không đáng
kể Bởi lẽ, trước khi anh ta lên ngôi vua, trở thành hoàng đế trị vì thì anh ta đã lànhà nho rồi” [216; 474]
Lịch sử nghiên cứu về nhân vật hoàng đế còn ghi nhận những đánh giá,nhận xét mang tính khái quát chung về một vương triều hay giai đoạn nhất định
Ở Con người nhân văn trong thơ ca Việt Nam sơ kì trung đại, Đoàn Thị Thu Vân
(2007) đã nhận định: “Những đặc điểm nổi bật của giai đoạn sơ kì trung đại khôngchỉ ở đường lối chính trị thân dân, sức mạnh đoàn kết toàn dân và những thành tựurực rỡ có từ đó, mà còn ở tinh thần rộng mở đặc biệt khó lặp lại ở đời
sau Chưa có một sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt giữa vua quan, quý tộc và
“trăm họ” Trong những lễ hội truyền thống, vua quan và thứ dân cùng tham giavui chơi” [197; 12 - 13] Qua nhận định của tác giả có thể thấy được tinh thần thândân, trọng dân của các hoàng đế Đại Việt từ thế kỉ X đến thế kỉ XV mà “khó lặp lại
ở đời sau”
Công trình nghiên cứu của Đoàn Thị Thu Vân không đi tìm kiếm mẫu hìnhnhân vật hoàng đế hoặc đưa ra những nhận định về đặc điểm của nhân vật này
Trang 14Tác giả chỉ hướng đến đối tượng là con người nhân văn trong văn học trung đạiViệt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV Tuy nhiên, những con người nhân văn mà tácgiả khảo sát chính là các hoàng đế Đại Việt từ thế kỉ X đến thế kỉ XV Khi nhận xét
về vẻ đẹp của sự điềm tĩnh và thông tuệ của các nhà cầm quyền trị nước thời Lý,tác giả cho rằng: “Vô vi như một triết lí chính trị đơn giản mà ảo diệu, bài họckhông chỉ cho một đời mà nhiều thế hệ Đó là vẻ đẹp của con người trong hành xửchính trị ở vị trí nắm giữ trọng trách quốc gia” [197; 20] Về các hoàng đế triềuTrần, tác giả đánh giá: “Chinh chiến là việc không thể không làm, khi cần thiết bảo
vệ cõi bờ, lãnh thổ, dù người cầm vũ khí tha thiết yêu hoà bình Vua quan, tướnglĩnh và quân dân thời Trần đã làm như thế, dũng cảm, hết mình, không tiếc máuxương” [197; 33] Tác giả đánh giá cao tinh thần phản tỉnh của các hoàng đế triềuTrần: “Dưới thời phong kiến, những lỗi lầm của một vị hoàng đế trong quá trìnhcầm quyền không phải là ít nhưng sự nhận ra và quan trọng hơn, dũng cảm thừanhận, ăn năn về những lỗi lầm đó lại không phải là nhiều, nếu muốn nói là rấthiếm” [197; 36] Thế mà các hoàng đế triều Trần đã làm được điều đó: “đặt lươngtâm con người lên trên lòng tự tôn và quyền lực của một vị quân vương để tự tróimình trong nỗi đau suốt đời” [197; 36]
Trịnh Văn Định trong Tự do và quyền lực (2018) đã nhận xét: “thiết chế
chuyên chế mà đại diện hoàng đế là nhân vật có quyền uy tối thượng, chi phối toàn
xã hội ở dưới gầm trời, cả thế quyền và thần quyền” [43; 11]
Luận án tiến sĩ Hệ thống nhân vật và thi pháp thể hiện chúng trong văn học
trung đại Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ thứ X đến thế kỉ thứ XV (2014) của Nguyễn
Thị Giang cũng đã khái quát hệ thống nhân vật trong văn học trung đại Việt Namdưới góc nhìn thi pháp Luận án đã hệ thống hoá ba loại nhân vật: Thiền sư, liệt nữ
và hoàng đế Trong đó, nhân vật hoàng đế cũng đã được tác giả khai thác và đưa ranhững đặc điểm khái quát Tuy nhiên về cơ bản, luận án chỉ khái quát đặc điểmnhân vật hoàng đế qua những sáng tác của Lê Thánh Tông
Có thể nói việc nghiên cứu mẫu hình nhân vật hoàng đế còn nhiều mới mẻ.Bởi phần lớn các hoàng đế đều được nghiên cứu dưới góc độ khảo cổ học, chính trịhọc, văn hoá học… mà chưa có công trình nghiên cứu nào có cái nhìn tổng thể vềnhân vật hoàng đế dưới góc nhìn là một nhân vật văn học – nhân vật trữ tình
Trang 151.1.2 Nghiên cứu về một số nhân vật hoàng đế tiêu biểu trong văn học từ thế kỉ
X đến thế kỉ XV
Cho đến nay vẫn thiếu những công trình nghiên cứu tổng thể và hệ thống vềnhân vật hoàng đế trong văn học Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XV.Các công trình chỉ đi vào nghiên cứu văn học Lý – Trần, Lê sơ hoặc phân tíchriêng rẽ một số hoàng đế tiêu biểu Có thể nói Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông,
Lê Thánh Tông là những trường hợp tiêu biểu cho mẫu hình hoàng đế trong giaiđoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XV Cuộc đời, sự nghiệp chính trị và sự nghiệp văn họccủa các hoàng đế này đủ để tạo nên một mẫu hình nhân vật văn hoá chính trị vàvăn học Ngoài sự nghiệp chính trị vẻ vang, những hoàng đế này còn là tác giả củanhiều áng văn chương đặc sắc Văn chương của họ không chỉ có tính chức năng màcòn giàu chất nghệ thuật Người viết sẽ điểm qua sơ lược những công trình về bahoàng đế tiêu biểu này
Hoàng đế Trần Thái Tông: Đây là hoàng đế đầu tiên của triều Trần Có
nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vị hoàng đế này nhưng phần lớn đều gắn
liền với cả giai đoạn văn học Lý – Trần Quốc Chấn trong công trình Những vua
chúa Việt Nam hay chữ (2009) nhận xét: “Thái Tông đã không đi tu ở chùa, mà
làm vua cai trị cả một quốc gia để vừa học hành, nghiền ngẫm triết lí của đạo Phật,vừa ứng dụng vào cuộc sống của bản thân và cuộc sống xã hội” [11; 16]
Các tác giả Lịch sử tư tưởng Việt Nam văn tuyển (tâp II) (2014) đánh giá về
Trần Thái Tông: “Ông đưa ra nhiều quan điểm mới về vai trò của Phật giáo, chứcnăng của Nho giáo, tam giáo đồng nguyên Đó là quan điểm thân dân, trách nhiệmcủa bậc nhân quân, quan niệm về nghĩa và lý theo Nho giáo” [208; 10]
Bài viết “Kiểu tác gia Hoàng đế – Thiền sư – Thi sĩ Trần Thái Tông” (2015)của Nguyễn Hữu Sơn có nhiều góc độ liên quan đến đề tài luận án Nguyễn HữuSơn nhận định: “Hoàng đế Trần Thái Tông nằm trong mẫu hình tác gia hoàng đếphương Đông, đặc biệt tương đồng với mẫu hình hoàng đế vùng Đông Á Các bậchoàng đế này có uy quyền tuyệt đối và thường sử dụng thi ca để nói chí và tuyêntruyền cho vương triều và vị thế của mình” [151] Trên cơ sở khảo sát các tác phẩmcủa Trần Thái Tông, Nguyễn Hữu Sơn coi Trần Thái Tông là người mở đầu choloại hình tác gia hoàng đế – thiền sư – thi sĩ của triều Trần: “Mặc dù với số
Trang 16lượng thơ viết về vị thế hoàng đế cũng như thơ thế sự thông qua cách nhìn của bậchoàng đế không nhiều song những dấu hiệu tư duy nghệ thuật đã nêu cũng đủ xácđịnh vị thế mẫu hình tác gia hoàng Trần Thái Tông – người mở đầu cho loại hìnhtác gia hoàng đế – thiền sư – thi sĩ triều Trần” [151] Đưa ra những lập luận thuyếtphục trên cơ sở khảo sát các tác phẩm của Trần Thái Tông, tác giả đã chỉ ra được
sự dung hoà giữa vương quyền và thần quyền của hoàng đế này: “Từ vị thế hoàng
đế, Trần Thái Tông đã mở rộng đường biên tư tưởng và đạt tới sự hòa hợp Nho –Phật, dung hòa giữa đời sống thế tục vương quyền và tâm linh thần quyền” [151].Tác giả đánh giá cao những sáng tác của Trần Thái Tông, cho rằng chúng khôngphải là những tác phẩm chỉ dừng lại ở văn học chức năng: “Trần Thái Tông khôngchỉ là một nhà tư tưởng nhân văn mà còn tiếp tục mở rộng cảm quan thẩm mỹ bằngnhững sáng tạo thi ca và ngay cả phương tiện ngôn ngữ truyền giáo cũng đậm chấtthi ca Mặc dù các tác phẩm của ông còn in đậm dấu ấn chức năng, chưa nhiềunhững sáng tác hướng về cuộc sống đời thường nhưng cũng đủ cho thấy nhữngkhía cạnh chính yếu để hoàn chỉnh một kiểu tác gia hoàng đế – thiền sư – thi sĩ”[151] Mặc dù Nguyễn Hữu Sơn chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu về hoàng đế TrầnThái Tông nhưng bài viết này có gợi ý quan trọng để người viết tiếp tục nghiên cứu
về mẫu hình hoàng đế – thiền sư – thi sĩ
Từ những đánh giá mang giá trị khoa học của Nguyễn Hữu Sơn và các tácgiả khác có thể kết luận văn chương Trần Thái Tông nghiêng hẳn về Phật giáonhưng vẫn rất giàu tính văn chương Những tác phẩm của Trần Thái Tông đãtruyền tải được những suy tư về thế sự về xây dựng, bảo vệ vương triều và hoằngdương Phật giáo
Hoàng đế Trần Nhân Tông: Ông là một triết gia lớn của Phật học Việt Nam
và là người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông vừa là một triết gia,một hoàng đế anh minh vừa là một nhà thơ, nhà văn hoá lớn Trần Nhân Tôngđược giới nghiên cứu quan tâm tìm hiểu ở nhiều góc độ Riêng góc độ văn chương,thơ Thiền của ông được nghiên cứu nhiều hơn Tuy nhiên phần nhiều các nghiêncứu này đều nằm rải rác trong các công trình chung về giai đoạn văn học Lý –Trần
Trang 17Trong Trần Nhân Tông nhân cách văn hoá lỗi lạc (2003), Đỗ Thanh Dương
khảo sát về hoàng đế Trần Nhân Tông qua ba phương diện: chính khách kiệt xuất –thi sĩ trác việt – vua phật Tác giả nhận xét: “Thơ Trần Nhân Tông cao khúc khảihoàn ca chiến thắng ngoại xâm, nhưng cũng dìu dặt khúc ca nhân nghĩa yêu hoàbình” [33; 56] Những dẫn chứng tác giả đưa ra trong công trình nghiên cứu đãthêm cơ sở thuyết phục cho mẫu hình hoàng đế – thiền sư – thi sĩ trong sáng táccủa Trần Nhân Tông: “Cảm hứng yêu nước anh hùng, cảm hứng nhân sinh thế sự,cảm hứng thiên nhiên và cảm quan Phật là những chủ đề lớn trong thơ Trần NhânTông Các cảm hứng ấy có sự hoà quyện đan xen, đều toát lên tâm hồn tư tưởngcủa một nhân cách lớn Minh quân – Phật tử – Triết gia” [33; 74 - 75]
Các tác giả của Lịch sử tư tưởng Việt Nam văn tuyển (tập II), (2004) đánh
giá về Trần Nhân Tông: “Các tư tưởng cơ bản của Trần Nhân Tông là tư tưởng tựhào dân tộc, quan niệm về hữu – vô; an nhiên tự tại, xa lánh bụi trần; đề cao giá trịđạo đức Phật giáo; Phật tại gia, tại tâm” [208; 96 - 97]
Trong bài viết “Căn rễ văn hoá của nền văn học thời Lí - Trần”, (quyển Văn
học Việt Nam thế kỉ X – XIX - Những vấn đề lí luận và lịch sử do Trần Ngọc
Vương chủ biên năm 2006), Nguyễn Hữu Sơn nhận định: “Trần Nhân Tông làngười kết tinh truyền thống văn hoá Phật giáo thời Trần, đóng vai trò quyết địnhtrong việc xác lập diện mạo và truyền thống Phật giáo Đại Việt… người có tưtưởng thân dân, chủ trương nới sức dân… bản thân ông có được sự kết hợp nhuầnnhị giữa tư cách một hoàng đế anh minh, một thiền sư – thi sĩ mẫu mực” [216; 94]
Đoàn Thị Thu Vân, trong Con người nhân văn trong thơ ca Việt Nam sơ kì
trung đại (2007), dành riêng một phần để viết về Trần Nhân Tông Bài viết đánh
giá cao những rung cảm tế vi và nhạy bén tâm hồn của hoàng đế này Tác giả nhậnxét: “Các nhà thơ đời Trần đã có những vần thơ viết về thiên nhiên mới lạ và tươiđẹp với thần thái rất riêng, để lại một ấn tượng khó nhầm lẫn với đời sau Trong đó,những bài thơ thiên nhiên của Trần Nhân Tông, ông vua – thiền gia – thi sĩ có thểxem là đặc sắc vào loại bậc nhất” [197; 50]
Quốc Chấn đánh giá về Trần Nhân Tông trong Những vua chúa Việt Nam
hay chữ (2009): “Lên làm vua, Nhân Tông vẫn suy ngẫm về giáo lí đạo Phật bởi
Trang 18thấy có những điều giúp cho con người biết tu thân, xử thế, yêu nước, thương dân.Trong thời gian trị vì, cũng như suốt cuộc đời, nhà vua đã chủ trương đức trị thầndân, xem nhẹ địa vị, vinh hoa, coi trọng thiện tâm nhân ái và lấy đó làm phươngchâm xử thế” [11; 30].
Nhận xét về tính nhân văn trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông, BùiHuy Du cho rằng: “Tinh thần nhân văn ấy chính là quan điểm khẳng định và tintưởng vào bản tính tốt đẹp vốn có trong tâm can mỗi con người; là quan điểm đềcao vai trò, trách nhiệm của con người đối với non sông đất nước; là quan điểmquan tâm đến đời sống của dân, dưỡng dân giáo dân; cao hơn nữa, đó là tinh thầnđánh giặc cứu nước, cứu dân, xây dựng một xã hội lý tưởng, thanh bình thịnh trị[29]
Nhìn chung những công trình nghiên cứu chưa quan tâm hoàng đế Trần NhânTông như là một nhân vật văn học Những công trình phần lớn tập trung góc độ chínhtrị, triết học hoặc thơ Thiền của Trần Nhân Tông trong văn học Lý – Trần
Hoàng đế Lê Thánh Tông: Trải qua quá trình tìm kiếm nhiều thế kỷ, có thể
nói đến thế kỉ XV dưới sự trị vì của Lê Thánh Tông, Việt Nam đã tìm được mẫuhình hoàng đế lí tưởng Nhà nước phong kiến Đại Việt đạt đến đỉnh cao dưới thờitrị vì của Lê Thánh Tông Từ tầm vóc chính trị đến nền văn chương khá đồ sộ,hoàng đế Lê Thánh Tông được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu
Có nhiều công trình, luận án, luận văn nghiên cứu về nhân vật hoàng đế Lê
Thánh Tông Trong đó, tiêu biểu phải kể đến công trình Hoàng đế Lê Thánh Tông
nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà thơ lớn (1998) Công trình này tập
hợp nhiều bài viết có cái nhìn tổng thể về hoàng đế Lê Thánh Tông trên cả baphương diện: chính trị, văn hóa và văn học
Về góc độ chính trị, Lê Thánh Tông được xem là vị hoàng đế có công lớntrong sự nghiệp mở mang bờ cõi Trong bài viết “Sự nghiệp mở mang bờ cõi
xuống phương Nam của Lê Thánh Tông”, tác giả Đặng Việt Bích nhận xét: “Giữ
vững biên cương phía Bắc, mở rộng lãnh vực xuống phía Nam, đó là công việc mà
Lê Thánh Tông đã làm được trong suốt thời gian trị vì” [15; 176] Hoàng đế LêThánh Tông đã thống lĩnh quân đội chinh phạt Chămpa, vượt Trường Sơn đánhchiếm Bồn Man và Lão Qua để mở mang bản đồ Đại Việt Không chỉ giỏi trong
Trang 19việc dựng nước, việc giữ nước cũng được Lê Thánh Tông thực hiện hoàn thành tốt
sứ mệnh “thiên tử” Trong bài viết “Lê Thánh Tông trong chính sách đối ngoại vàbảo vệ lãnh thổ Đại Việt”, Tạ Ngọc Liễn nhận xét: “Lê Thánh Tông đã thực hiệnmột chính sách đối ngoại tích cực, khôn khéo, biểu lộ qua những biện pháp đốiphó, cách giải quyết những vấn đề gay cấn, phức tạp nẩy sinh trong quan hệ giữanước ta với nước láng giềng phương Bắc, phương Nam mà quan trọng nhất là vấn
đề biên giới, vấn đề bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của nước Đại Việt” [15; 152]
Lê Thánh Tông đã kiến tạo một nhà nước được quản lí bởi pháp luật TrầnTrọng Hựu trong bài viết “Lê Thánh Tông với việc hình thành một nhà nước phápluật” đã có nhận xét: “Quốc triều hình luật là sự pháp điển hóa hoàn chỉnh nhất và
ở trình độ cao nhất pháp luật của Nhà nước phong kiến Việt Nam” [15; 189 - 190]
Vũ Ngọc Lý trong bài viết “Lê Thánh Tông và bộ Quốc triều hình luật” đã đưa rakết luận: “Lê Thánh Tông tỏ rõ là một ông vua có vai trò tích cực trong việc củng
cố Nhà nước phong kiến quan liêu, đồng thời cũng có tác dụng tích cực trong sựnghiệp bảo vệ, xây dựng đất nước vào nửa sau thế kỉ XV” [15; 230]
Về góc độ văn hóa, giáo dục, Lê Thánh Tông được xem là hoàng đế cónhiều đổi mới trong quan điểm giáo dục, khoa cử Đặc biệt, dưới triều đại của ông,Nho học đã bước sang giai đoạn thịnh trị Trong bài viết “Lê Thánh Tông và thời
thịnh trị của Nho học”, Trần Đình Hượu đã nhận xét: “Nho học Việt Nam đến thời
Lê Thánh Tông đã đạt đến điểm cực thịnh” [15; 276] Lê Thánh Tông dùng đạoNho để trị nước Ông quan tâm đến việc tìm kiếm nhân tài, mở các khoa thi đểchọn người tài phụng sự cho đất nước Dưới thời Lê Thánh Tông giáo dục pháttriển mạnh bởi những chính sách tiến bộ của nhà vua Vũ Ngọc Khánh trong bàiviết “Thử tìm hiểu quan niệm và đường lối giáo dục của Lê Thánh Tông” có nhậnxét: “Nhà vua có ý thức giáo dục khá toàn diện, bao hàm cả phần chất, phần văn cảphương hướng mục tiêu và cả biện pháp điều hành” [15; 302]
Hoàng đế Lê Thánh Tông có nhiều đóng góp lớn cho nền văn học dân tộc.Ngoài việc sáng tác khối lượng lớn tác phẩm có giá trị, ông còn sáng lập ra HộiTao đàn – hội thơ xướng họa ở cung đình Bùi Duy Tân trong bài viết “Hội Taođàn – Quỳnh uyển cửu ca và vai trò Lê Thánh Tông” có nhận xét: “Từ Lê Thánh
Tông đến Quỳnh uyển cửu ca, đến Hội Tao đàn, khẳng định những thành tựu mà
Trang 20thi xã, thi phẩm, thi gia đã cống hiến cho sự phát triển của văn học dân tộc” [15;380] Sự nghiệp sáng tác của Lê Thánh Tông rất phong phú Ông có nhiều tácphẩm được viết bằng chữ Hán lẫn chữ Nôm, phong phú thể loại từ thơ ca đến
truyện kí văn học Trong bài viết “Thánh Tông di thảo – Bước đột khởi trong tiến
trình phát triển của thể loại truyện ngắn Việt Nam trung cổ” tác giả Vũ Thanh nhận
định những bước đột phá của Thánh Tông di thảo khi tác phẩm thoát khỏi ảnh
hưởng quá lớn từ văn học dân gian: “Thánh Tông di thảo chính là bước đột phá đầutiên nhằm dần thoát khỏi những ảnh hưởng thụ động và lệ thuộc ấy Các chất liệuhuyền thoại, thần kỳ mờ nhạt dần và hạt nhân hiện thực, vốn đã chứa đựng ít nhiềutrong các tập truyện trước đó, ngày càng có vai trò to lớn trong các tác phẩm” [15;423] Lê Thánh Tông là một trong những vị hoàng đế tiên phong trong việc sửdụng ngôn ngữ dân tộc vào sáng tác văn chương Vũ Đức Phúc trong bài viết “Vềmột số bài thơ Nôm của Lê Thánh Tông” kết luận: “Ông đã sử dụng thơ văn Nômtrong công việc triều đình và cả thờ cúng trang nghiêm, dụng thành bia đá, biểnthờ Bản thân ông là một nhà thơ tiếng Việt lớn có phong cách riêng biệt vừa giản
dị vừa cao cả, giàu cảm xúc và lòng yêu dân, xứng đáng với thơ của một đế vươnghay chữ và sáng suốt” [15; 482]
Cho đến nay, quyển Lê Thánh Tông - Về tác gia và tác phẩm (2001) do Bùi
Duy Tân biên soạn, tập hợp vẫn được xem là “cẩm nang” dành cho những ai quantâm, tìm hiểu vị minh quân thánh đế này Trong bài viết “Lê Thánh Tông - Vịhoàng đế anh minh, nhà văn hóa lỗi lạc, một văn hào dân tộc”, Bùi Duy Tân đãcung cấp cho độc giả một cái nhìn khá toàn diện về Lê Thánh Tông Xét về góc độvăn học, Bùi Duy Tân đánh giá Lê Thánh Tông là một văn hào dân tộc: “Là mộtvăn hào dân tộc, đồng nghĩa một nhà thơ lớn, nhà văn lớn, Lê Thánh Tông có một
sự nghiệp văn chương linh ứng với ngôi vị một hoàng đế anh minh và thấm đậmthân mệnh một nhà văn hoá lỗi lạc” [160; 35] Về thiên nhiên trong thơ Lê ThánhTông, Bùi Duy Tân nhận định: “Vị thi sĩ - hoàng đế này thả tâm hồn theo vẻ đẹpcủa thiên nhiên đất nước, song dòng suy nghĩ lại luôn gắn chặt với cảnh tượng tháibình, thịnh trị của xã hội và đường lối nhân chính ái dân của nhà vua” [160; 62].Qua những nhận định của Bùi Duy Tân có thể thấy sự dung hoà giữa thi sĩ vàhoàng đế trong Lê Thánh Tông Ông không chỉ là một hoàng đế tài ba mà còn là
Trang 21một thi sĩ có nhiều đóng góp ở cả hai mảng sáng tác: chữ Hán và chữ Nôm Cũngtrong công trình này, trong bài viết “Lê Thánh Tông và bước phát triển mới củavăn học trung đại Việt Nam”, Bùi Duy Tân đã có sự đề cao vai trò của Lê ThánhTông trong nền văn học trung đại dân tộc Ông so sánh vai trò thi sĩ của các hoàng
đế và rút ra kết luận: “Riêng Lê Thánh Tông, có phần nổi trội hơn cả, ở chỗ sángtác văn học của ông như cột mốc, đánh dấu bước phát triển của văn học trung đại”[160; 349]
Nguyễn Huệ Chi đánh giá về văn chương Lê Thánh Tông (trong bài viết
“Những vấn đề đặt ra trong hội thảo khoa học về Lê Thánh Tông”): “Ông xứngđáng với danh hiệu Tao đàn nguyên suý không chỉ vì ông là vị hoàng đế đươngtriều mà chính vì những tìm tòi nghệ thuật có giá trị hàng đầu trong sáng tác” [160;156]
Nguyễn Hữu Sơn trong bài viết “Lê Thánh Tông – Đời thơ và những dấu hiệutrữ tình” đã nhận định: “ông vừa hướng thượng đóng vai một vị hoàng đế để cónhững bài thơ thắng thưởng vịnh đề mang đầy tính khoa trương vừa phần nàobộc lộ tâm sự riêng qua loạt bài tự thuật, ngẫu thành, cảm hoài Lê Thánh Tôngbộc lộ mình với tất cả sự siêng năng, bổn phận và trách nhiệm” [160; 414]
Đặng Thanh Lê nhận xét về Lê Thánh Tông trên cả tư cách chính trị và tưcách văn chương: “Danh hiệu nhà vua - nhà thơ là chưa thích đáng đối với nhân vậtlịch sử có gương mặt đẹp đẽ hào hùng như Lê Thánh Tông Vinh hiệu Thánh chúa– Thi nhân có thể sẽ biểu đạt được tầm vóc lịch sử của con người mà hôm naychúng ta trân trọng ” [160; 603]
Sự nghiệp chính trị và văn học của Lê Thánh Tông là đề tài được giới nghiêncứu dày công khảo sát Tuy nhiên, những công trình có giá trị khoa học ấy vẫnchưa đưa đến được một kết luận chung về mẫu hình nhân vật hoàng đế trong vănchương
Qua việc điểm lại các công trình nghiên cứu có thể kết luận: tuy đã có không
ít các nghiên cứu lớn nhỏ về các vị hoàng đế cụ thể nhưng các công trình trên mớichỉ đề cập đến các phương diện tiểu sử, sự nghiệp sáng tác Chưa có công trình nàonghiên cứu về các vị hoàng đế này trên phương diện hình tượng tác giả văn học
Trang 221.2 Cơ sở lí thuyết của đề tài
1.2.1 Lý thuyết loại hình
Loại hình học là khoa học nghiên cứu về các loại hình để tìm ra quy luật về
sự tương đồng Phương pháp loại hình được áp dụng từ những năm 20 của thế kỉ
XX Đến những năm 70 của thế kỉ XX, phương pháp này mới được nhiều học giả
chú ý vận dụng Có thể liệt kê những công trình tiêu biểu: N.I Konrad với Phương
Đông và phương Tây, D X Likhachop với Bảy thế kỉ trong văn học Nga, B.L.
Riptin với Loại hình học và các mối quan hệ qua lại của các nền văn học trung đại.
Theo M.B Khrapchenko, nghiên cứu văn học bằng phương pháp loại hình là
“tìm hiểu những nguyên tắc và những cơ sở cho phép nói tới tính cộng đồng nhấtđịnh về mặt văn học – thẩm mĩ, tới việc một hiện tượng nhất định thuộc về mộtkiểu, một loại hình nhất định” [42; 43]
Nguyễn Văn Dân nhận định: “Phương pháp loại hình có hai phương pháp ápdụng: Dùng phương pháp loại hình để phân loại các hiện tượng văn học trên cơ sởcủa việc chứng minh các nhóm hiện tượng giống nhau theo một tiêu chuẩn nào đó;
từ những đặc điểm chung của một loại hiện tượng văn học, ta có thể chứng minhcho sự tồn tại của một loại hình văn học nào đó, biện hộ cho quyền tồn tại và hiệuquả thẩm mỹ của nó” [27; 294]
Về khái niệm loại hình, Biện Minh Điền viết: “Khái niệm chỉ tập hợp những
sự vật, hiện tượng cùng có chung những đặc trưng cơ bản nào đó Chỉ có thể nóiđến loại hình (type) khi các hiện tượng cùng có một quan hệ cộng đồng giá trị” [42;42-43] Ở góc độ nghiên cứu văn chương bằng phương pháp loại hình “không đơngiản liệt kê, miêu tả sự tương đồng, giống nhau bề ngoài của các hiện tượng vănhọc Điều quan trọng hơn nhiều, là phải tìm cho ra được tính quy luật của sự tươngđồng, giống nhau ấy…” [42; 44]
Như vậy, lý thuyết loại hình là nghiên cứu và tìm ra “mẫu số chung” của cáchiện tượng văn học Nghiên cứu văn học bằng phương pháp loại hình sẽ đưa rađược những kết quả mang tính đặc thù của một đối tượng văn học cụ thể Từ yêucầu của đề tài nghiên cứu, luận án sẽ vận dụng lý thuyết loại hình học để làm sáng
tỏ một số góc độ sau:
Trang 23Với mục tiêu nghiên cứu của luận án, lý thuyết về loại hình tác giả sẽ đượcvận dụng nhìn từ góc độ ý thức hệ tư tưởng văn hoá Ở góc nhìn này, loại hình tácgiả trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV sẽ bao gồm haikiểu tác giả: Thiền gia và Nho gia Ở thời Lý, kiểu tác giả cơ bản là các thiền sư.Đến thời Trần, kiểu tác giả tiêu biểu là hoàng đế – thiền sư – thi sĩ, bắt đầu xuấthiện kiểu tác giả nhà nho Đến thế kỉ XV, khi Nho giáo có địa vị như là quốc giáo,văn chương đã định hình được kiểu tác giả Nho gia Mỗi kiểu tác giả sẽ đưa vàovăn chương những quan niệm liên quan đến tư tưởng chính thống như: kiểu tác giảthiền sư sẽ gắn liền với quan niệm “sắc, không”, “sinh, lão, bênh, tử”, “sống gửithác về” kiểu tác giả hoàng đế – thiền sư – thi sĩ đưa vào văn chương quan niệm
về mối quan hệ giữa đạo và đời, về nhân nghĩa, đạo hiếu trung… không chỉ tu thiền
mà còn tích cực tham gia mọi mặt của đời sống Kiểu tác giả nhà nho hành đạo gắnliên với tư tưởng quân – thần, tam cương, ngũ thường, thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tảiđạo còn đối với kiểu tác giả nhà nho ẩn dật sẽ gắn với quan niệm về ẩn dật, nhàn,
“đắc thú lâm tuyền” Mỗi kiểu tác giả đóng góp những quan niệm văn chương đểđúc kết nên những đặc điểm về nhân vật hoàng đế trong văn học giai đoạn này
Phần lớn các tác phẩm văn học giai đoạn này hướng đến mục đích phục vụchính trị Vì thế, nhân vật trong văn học giai đoạn này được phân loại dựa trên góc
độ xã hội Có hai loại hình nhân vật phổ biến trong văn học trung đại Việt Nam từthế kỉ X đến thế kỉ XV: loại hình nhân vật thiền sư, loại hình nhân vật hoàng đế.Việc vận dụng lý thuyết loại hình sẽ tìm ra quy luật tương đồng của từng loại hìnhnhân vật từ đó giải quyết được vấn đề đặt ra ở mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Việc vận dụng lý thuyết loại hình trong nghiên cứu nhân vật hoàng đế là cầnthiết, bởi nhân vật hoàng đế vừa hội tụ những tiêu chí về những đặc điểm chungvừa có những đặc điểm đặc thù khác biệt so với các kiểu nhân vật khác Lý thuyết
về loại hình thực sự đã trở thành mã khoá quan trọng để người viết đi sâu vào tìm
ra những đặc điểm của nhân vật hoàng đế
Trang 241.2.2 Lý thuyết về mối quan hệ giữa văn hoá – tư tưởng và văn học
Từ buổi bình minh của nền văn học viết, văn học trung đại Việt Nam đã chịu
sự ảnh hưởng và chi phối mạnh mẽ từ nền văn học Trung Hoa – nền văn học ngay
từ thời cổ đại đã gắn liền những vấn đề văn hóa – tư tưởng: triết học, tôn giáo, đạođức, chính trị Thực tế này đã thể hiện rất rõ trong văn học Việt Nam sơ kì trungđại
Khổng Tử - ông tổ của đạo Nho chủ trương quan niệm văn chương gắn liềnvới xã hội, chính trị Theo đó, thơ ca không phải là phương tiện để bày tỏ tình cảm
cá nhân mà là dùng để bày tỏ chí Nó phải gắn liền với những vấn đề chính trị, gắn
với quốc kế dân sinh Trong Kinh Thi, Khổng Tử cho rằng: “Từ nước Bội trở
xuống, có nước bình trị, có nước loạn lạc không đồng nhau, có người hiền, có ngườichẳng hiền khác nhau Niềm rung cảm mà phát ra lời thơ có tà có chính, có phải có
trái không đều nhau” [192; 34] Thi đại tự – bài tựa của Kinh Thi cũng khẳng định
thơ là tiếng vọng của thời đại “âm thanh thịnh thì yên vui, vì chính sự thời ấy ônhoà Âm thanh thời loạn thì oán mà giận vì chính sự thời ấy sai trái” Nhà nho đã rấtxem trọng yếu tố văn hoá, chính trị trong văn chương
Ở thiên Thời Tự trong Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp đã bàn đến sự chuyển
biến của văn chương qua các triều đại “cố tri biến nhiễm hồ thế tình, hưng phế hồthời tự” Văn chương hưng thịnh, mạnh hay suy đều gắn liền với yếu tố chính trị.Lưu Hiệp đã đưa ra những minh chứng cụ thể về mối quan hệ này Thời ĐườngNghiêu: “Văn chương thời ấy đẹp quá! Bởi vì tâm tình vui vẻ thì âm thanh thưthái” Từ thời Hiến Đế dời đô: “Đó là thời thế loạn ly, phong tục suy vi, nhân tâmsầu oán Người làm văn suy nghĩ sâu xa, bút mực tung hoành, văn chương khảngkhái mà nhiều khí lực” [64; 495]
Ở Trung Hoa từ Tiên Tần đến Lưỡng Hán đã đặt văn chương trong mối quan
hệ mật thiết với văn hoá chính trị Tiếp thu sự ảnh hưởng từ nền văn học
Trung Hoa, văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV cũng đã đề cập rất nhiềuđến văn hoá chính trị Theo Trần Nho Thìn, “sáng tác văn học trước hết là một hànhđộng văn hoá Tác phẩm văn học, sự kiện văn học là một loại chứng tích văn hoá”[177; 5] Có thể nói văn học và văn hoá có mối quan hệ khăng khít và không thểtách rời Văn học thể hiện văn hoá và chịu sự quy định của văn hoá Để giải
Trang 25mã chính xác một tác phẩm văn học cần có nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiênkhông thể bỏ qua góc nhìn từ không gian văn hoá mà tác phẩm đó ra đời Văn hoá
có sức sống lâu bền hơn chính trị Thể chế chính trị có thể thay đổi nhưng nền vănhoá của thể chế cũ không thể thay thế ngay lập tức mà kéo dài cả một quá trình.Kiểu xã hội chuyên chế đã chi phối mạnh mẽ đến hành vi ứng xử và sáng tác củacác tác giả văn học văn học giai đoạn này Xã hội chuyên chế không đặt vấn đềpháp trị mà tập trung đề cao vai trò của đức trị Bởi vì pháp trị đòi hỏi sự bình đẳngcủa tất cả mọi người trước pháp luật, điều không thể có được trong xã hội chuyênchế
Ở thời Thịnh Đường, tư tưởng văn chương gắn với chính trị xã hội cũng
được bắt gặp trong tứ thơ Bạch Cư Dị Trong Thư gửi Nguyên Chẩn, tác giả cho rằng
giá trị của văn thơ nằm ở chỗ phúng thích chính trị “vì vua vì tôi vì vật mà viết chứkhông vì văn mà viết vậy”
Giải mã một tác phẩm văn chương phải quan tâm đến không gian xã hội màtác phẩm thể hiện Trong văn học trung đại, không gian xã hội phổ biến chính làkhông gian mang màu sắc chính trị Nhất là ở giai đoạn đầu của nền văn học viết,không gian sáng tác chủ yếu tập trung ở cung đình và lực lượng sáng tác cũng chính
là các nhân vật chính trị Từ đó, không gian chính trị đã chi phối phần lớn nhữngsáng tác văn học Xã hội Đại Việt xem trọng văn chương và dùng văn chương làmthước đo đánh giá tài năng Các hoàng đế đã sớm ý thức được con đường trị nướcbằng văn trị, đức trị Văn chương trở thành hình thức để tuyển chọn nhân tài, làphương tiện để quan lại, vua chúa bộc lộ tài năng Từ đó, văn chương từng bước trởthành phương tiện để thực hiện các nhiệm vụ của văn hoá
Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hoá chính trị phù hợp với văn họctrung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV Văn học giai đoạn này hướng đếnmột xã hội đức trị lấy nhân vật trung tâm là những con người gắn liền với đời sốngchính trị Đây còn là giai đoạn mà quan niệm văn chương hướng hoàng đế đến môhình thánh nhân quân tử với lí tưởng thân dân
1.2.3 Lý thuyết liên văn bản
Liên văn bản là khái niệm xuất hiện từ những năm 60 của thế kỉ XX Liên văn bản được xem là một thủ pháp, một phương thức tồn tại của tác phẩm văn
Trang 26học Nguyễn Văn Thuấn nhận định: “Tính liên văn bản vì vậy có thể được hiểu làmối quan hệ tương hỗ, tương giao, đan cài vào nhau giữa hai hay nhiều văn bản”[182; 7] Ông cho rằng: “Tính liên văn bản là quan hệ tương giao, cộng sinh giữacác văn bản, được thực hiện trong sự sản xuất văn bản của tác giả và tiêu thụ vănbản của người đọc Nó chống lại mọi định kiến về cội nguồn, sự độc sáng, tính tựtrị, tính biệt lập của các tác giả, văn bản, độc giả” [182; 8].
Lý thuyết liên văn bản góp phần đổi mới cách tiếp cận văn học Sự ra đờicủa mỗi tác phẩm văn học là một quá trình kết nối, đối thoại với các văn bản khác
R Barthes cho rằng: “Bất kì văn bản nào cũng là liên văn bản” Bất kì tác phẩmvăn học nào đều có thể trở thành chất liệu để sản sinh ra một tác phẩm văn họckhác ra đời sau nó Không có tác phẩm nào đứng riêng lẻ mà nó luôn có sự tươngđồng với một số tác phẩm khác Vì thế, để có một góc nhìn đầy đủ về một văn bảnvăn học cần đặt nó trong cùng mạng lưới với các văn bản liên quan để tìm ra nhữngkết nối về ngôn từ, hình tượng, các thủ pháp
Lý thuyết liên văn bản đưa văn bản vào mạng lưới thể loại của nó để khámphá ra những tương đồng, những đặc điểm ngôn ngữ, các yếu tố hình thức và cácbiện pháp nghệ thuật gắn với từng thể loại văn học cụ thể Ngoài ra, lý thuyết liênvăn bản còn hướng đến việc đặt văn bản văn học vào bối cảnh lịch sử, xã hội Thaotác này giúp người nghiên cứu tìm hiểu được các xu hướng chính trị, tư tưởng triếthọc, tôn giáo chi phối đến tác giả trong quá trình sáng tạo ra tác phẩm
Từ những cơ sở trên có thể thấy lý thuyết liên văn bản góp phần quan trọngtrong việc giải quyết các nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của luận án Các tácphẩm trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV phần lớn gắn liềnvới đời sống chính trị và văn hoá Do đó, việc tìm hiểu các văn bản văn học khôngthể tách rời với các văn bản có liên quan, nhất là những ghi chép sử học Việcnghiên cứu liên văn bản sẽ góp phần tìm hiểu sâu hơn từng tác phẩm trong mốiquan hệ liên văn bản với văn hoá, chính trị, lịch sử và trong cùng một hệ thống thểloại để tạo nên sự phong phú, đa diện, đa chiều về đặc điểm nhân vật hoàng đếtrong văn học giai đoạn này từ nội dung và hình thức thể hiện
Trang 271.2.4 Lý thuyết diễn ngôn
Lý thuyết diễn ngôn có nguồn gốc từ Châu Âu, ra đời từ những năm 60 củathế kỉ XX Ở Việt Nam, lý thuyết diễn ngôn trở thành trào lưu nghiên cứu từ nhữngnăm 80 của thế kỉ XX Trong nghiên cứu văn học, lý thuyết diễn ngôn được tiếpcận ở các góc độ: ngữ học, lí luận văn học và xã hội học lịch sử tư tưởng Lý thuyếtdiễn ngôn đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đưa ra những nhận định:
Widdowson định nghĩa: “Diễn ngôn là một quá trình giao tiếp Kết quả vềmặt tình huống của quá trình này là sự thay đổi trong sự thể: thông tin được truyềntải, các ý định được làm rõ, và sản phẩm của quá trình này là văn bản” [231; 100]
Trần Đình Sử trong bài viết Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học
hôm nay đã đưa ra ba khuynh hướng nghiên cứu về diễn ngôn: “Một là ngữ học do
các nhà ngữ học đề xuất Hai là lí luận văn học do M Bakhtin nêu ra và ba là xã hộihọc lịch sử tư tưởng mà tiêu biểu là Foucault” [157] Sau khi xét trên nhiều góc độ,tác giả đưa ra khái niệm về diễn ngôn trong nghiên cứu văn học: “Trong nghiên cứuvăn học, diễn ngôn là chỉ chiến lược phát ngôn nghệ thuật, thể hiện trong cácnguyên tắc cấu tứ, xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ để vượt thoát khỏi các hạnchế nhằm phát ra được tiếng nói mới, thể hiện tư tưởng mới trong chỉnh thể sángtác” [157]
Trần Văn Toàn trong bài viết Dẫn nhập lý thuyết diễn ngôn của M Foucault
và nghiên cứu văn học đã nhận định: “Phân tích diễn ngôn trên thực tế là phân tích
những tương quan quyền lực/ tri thức trong hoạt động kiến tạo và truyền bá diễnngôn” [188]
Trong luận án Tiểu thuyết Việt Nam đương đại – nhìn từ góc độ diễn ngôn,
Nguyễn Thị Hải Phương cho rằng: “Diễn ngôn văn học là hình thức sử dụng ngôn từ
để khách quan hoá, tri thức hoá tư tưởng của thời đại Diễn ngôn văn học gắn chặt vớilịch sử tư tưởng, là một bộ phận của hệ hình tư tưởng Tư tưởng của mỗi thời sẽ chiphối cách thức xây dựng diễn ngôn từ cách lựa chọn đề tài, cách xây dựng nhân vậtđến cách sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu, các phương thức tu từ…” [141]
Vận dụng lý thuyết diễn ngôn vào tìm hiểu đặc điểm nhân vật hoàng đế làviệc làm rất cần thiết Khi nói đến quản lí và điều hành xã hội thì không thể bỏ qua
Trang 28việc đề cập đến vấn đề quyền lực Diễn ngôn về chính trị là một trong những công
cụ để các hoàng đế sử dụng nhằm nắm giữ và thực thi quyền lực Vì thế, nghiêncứu về nhân vật đứng đầu thể chế quân chủ không thể bỏ qua việc tìm hiểu các diễnngôn về chính trị
Qua lời nói, các hoàng đế không chỉ cung cấp những thông tin mà còn thểhiện hình ảnh của một nhà chính trị Mục đích phát ngôn của hoàng đế là làm chođối tượng tiếp ngôn hiểu, có niềm tin và thực thi những ý đồ theo định hướng củangười cầm quyền Để đạt được mục đích đó, hoàng đế phải tạo dựng được hình ảnh
về một đấng minh quân có đầy đủ những phẩm chất về đạo đức, tài năng và trí tuệ
để đáp ứng được sự kì vọng của quần chúng Việc xây dựng hình ảnh mẫu mực đòihỏi hoàng đế phải có những chiến lược giao tiếp để đạt được hiệu quả diễn ngôn.Bên cạnh những sức mạnh nội tại, hoàng đế phải tận dụng sức mạnh thần quyền đểdiễn ngôn về vai trò của thiên tử - con trời, được trời lựa chọn ngồi vào ngôi báu
Từ thời cổ đại, người ta đã nhận ra sức mạnh của nghệ thuật ngôn từ trongviệc chuyển tải tư tưởng và tác động đến người đọc Trong bối cảnh văn – sử – triếtbất phân, dường như mọi giao tiếp của hoàng đế đều qua các sáng tác được xem làvăn chương Thông qua ngôn ngữ, giọng điệu, các motip, các biểu tượng… của tácphẩm, quyền lực thống trị thiên hạ, vị thế thiên tử – con trời, đức độ của bậc đếvương được xác lập Thông qua các diễn ngôn về văn hoá chính trị, sự chuyển giao
về hệ tư tưởng từ Phật giáo sang Nho giáo có thể bộc lộ được những đặc điểm củanhân vật hoàng đế trong văn học giai đoạn này Đặc biệt, thông qua hoạt độngxướng hoạ giữa hoàng đế và các quần thần, các thiên tử đã bộc lộ được tri thức vàquyền lực Từ góc nhìn về diễn ngôn của các nhà nho, ta lại thấy ý thức sử dụngphương tiện văn chương để gián tiếp kín đáo yêu cầu chủ nghĩa thân dân nơi quânvương, cảnh báo cho họ về sức mạnh “chở thuyền” và “lật thuyền” của dân, ca ngợinhững bậc quân vương có nhân nghĩa, đức hiếu sinh Tiếp cận nhân vật hoàng đế từ
lý thuyết diễn ngôn sẽ làm rõ hơn mối liên hệ giữa văn chương và bối cảnh chínhtrị, xã hội, văn hoá đương thời
Trang 29Tiểu kết chương 1
Từ kết quả khảo sát các tài liệu có liên quan đến đề tài, chúng tôi nhận thấyviệc nghiên cứu văn chương các hoàng đế từ thế kỉ X đến thế kỉ XV đã được quantâm, khai thác ở nhiều phương diện Tuy nhiên, các công trình mới chỉ dừng lại ởviệc tìm hiểu về một hoàng đế cụ thể hoặc một triều đại, một giai đoạn nhất định.Trên cơ sở vận dụng những cơ sở lí thuyết phù hợp, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sátnhững đặc điểm của nhân vật hoàng đế trong giai đoạn này qua các góc độ: cơ sởhình thành nên nhân vật hoàng đế trong văn học; đặc điểm nhân vật hoàng đế quagóc nhìn đối chiếu giữa văn học và văn hoá Đồng thời, luận án sẽ đưa đến phácthảo đặc điểm nhân vật hoàng đế giai đoạn này dưới góc nhìn tự biểu hiện và với tưcách là khách thể được phản ánh
Trang 30Chương 2
CƠ SỞ HÌNH THÀNH NHÂN VẬT HOÀNG ĐẾ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XV 2.1 Giới thuyết về nhân vật hoàng đế
2.1.1 Khái niệm nhân vật hoàng đế
Hoàng đế là người đứng đầu nhà nước theo thể chế quân chủ chuyên chế.Theo thể chế này, hoàng đế có vai trò trung tâm và nắm trong tay mọi quyền lực
vận hành xã hội Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long có viết: “Hoàng đế ngự vũ, kỳ
ngôn dã thần” (Hoàng đế cai trị thiên hạ, lời nói ra rất thiêng) [64; 247] Chịu ảnhhưởng từ tư tưởng Khổng giáo Trung Quốc, nền văn hoá chính trị Việt Nam trungđại quan niệm giai cấp thống trị tồn tại là để phục vụ dân Hoàng đế do trời sinh rakhông phải trị dân mà là để chăn dân, dưỡng dân
Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX, hoàng đế được xem là một “nhân vật” đặc biệttrong xã hội Việt Nam Đặc biệt là bởi hoàng đế có vai trò quan trọng và được xem
là trung tâm của xã hội quân chủ chuyên chế kéo dài nhiều thế kỉ Dưới sự biếnđộng của lịch sử, bằng những cuộc lật đổ, thanh trừng, nổi dậy , các triều đại lầnlượt thay thế nhau Tuy nhiên vị trí của hoàng đế vẫn bất biến và là “biểu tượng”của một hình thái kinh tế - xã hội quân chủ chuyên chế Kể từ lúc Ngô Quyền chiếnthắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (năm 938) cho đến tới thời khắc BảoĐại - vị vua cuối cùng của các triều đại quân chủ Việt Nam thoái vị, lịch sử ghinhận nhiều vị hoàng đế lần lượt thay thế nhau điều hành đất nước Hoàng đế có vaitrò rất quan trọng Mọi suy nghĩ, hành động của hoàng đế có vai trò quyết định đếnthực tế vận hành xã hội
Theo Hán - Việt từ điển, hoàng đế là “Ông vua một đế quốc Ở Trung Hoa
từ đời Tần trở về sau, dùng tiếng ấy để gọi vua” [1; 259]
Đỗ Văn Ninh trong Từ điển chức quan Việt Nam cho rằng “Hoàng đế trở
thành chức vị cao nhất của quốc gia” [137; 321] Tần Thuỷ Hoàng sau khi thốngnhất sáu nước đã tự cho mình là “Đức Kiêm Tam Hoàng, công bao Ngũ Đế” Và
kể từ đó, danh hiệu hoàng đế đều được dùng để gọi cho những người đứng đầu nhànước theo thể chế quân chủ
Trang 31Theo Hán ngữ đại từ điển (quyển 3): 帝 Đế (có các nghĩa sau): 1) Thượng
đế - thiên thần tối cao, vị chúa tể của vũ trụ vạn vật do người xưa tưởng tượng ra;2) Chỉ vị thiên thần làm chủ một phương; 3) Thời tam đại gọi bậc quân chủ đãchết; 4) quân chủ, hoàng đế: thời viễn cổ chỉ lãnh tụ của liên minh bộ tộc; 5) Thiên
tử (con trời): kẻ thống trị tối cao thời cổ đại
Theo Tìm về cội nguồn chữ Hán: Hoàng: 皇 Phần dưới chữ vốn là chân đèn;
ba nét sổ phía trên là ánh đèn sáng Đến Tiểu triện thì phần trên viết nhầm thành
“tự”, đến Lệ thư lại biến thành “bạch”, vậy là không sao giải thích nữa Kinh Thi:
Đồ tế màu hồng thì “hoàng” (tỏa sáng) Mao truyện: “Hoàng” còn có nghĩa là huy
hoàng Nghĩa mở rộng thành “đại” (to lớn), “đế vương” [120; 280].
Đế: 帝 Là nghi thức cúng tế tổ tông hoặc trời đất một cách long trọng của
người thượng cổ (…) Hình dạng chữ giống như là xếp mấy cây gỗ làm thành bàn
thờ Sau đó, dùng để chỉ chữ Đế trong “Đế vương” [120; 189].
Trần Ngọc Vương cho rằng: “Khái niệm hoàng đế qua một thời gian lịch sửdài biến động, nội hàm đã dần ổn định: là danh hiệu chỉ địa vị cực tôn quý củangười có được quyền làm chủ” [214; 49]
Kinh Dịch có viết “Thể thiên địa chi đức viết đế” (đế là người thể hiện đức
của trời đất); và “thiên địa chi đại đức viết sinh” (đức lớn của trời đất là sinh) Haicâu này hàm ý hoàng đế phải có đức hiếu sinh, tức yêu thương sự sống của muônvật trong đó có con người Một quan niệm như thế gián tiếp hạn chế bớt sự chuyênchế, tàn bạo, bất nhân của giai cấp thống trị Trần Nho Thìn khái quát trên cơ sởnghiên cứu quan niệm chính trị cổ đại: “Hoàng đế, thiên tử là người có đầy đủnhững phẩm chất cần thiết nên được trời ủy quyền trị vì thiên hạ” [180; 36] Tácgiả đã đặt ra câu hỏi đế là ai? Và đưa ra các biện luận “Đế là người có khả năngliên thông với trời đất, thần minh vì có đức tương đồng với trời đất” [180; 42] Đứccủa trời đất là hiếu sinh, chăm lo cho muôn dân, vạn vật
Khái niệm “nhân vật” dùng trong luận án có một nét nghĩa tương đối rộng
Nó được tác giả luận án khái quát từ nhiều nguồn tác phẩm khác nhau mà khôngphải là một nhân vật có sẵn trong một tác phẩm văn học xác định Theo nghĩathông thường, trong một tác phẩm văn học, nhân vật hư cấu hay nhân vật ký sự ghi
Trang 32chép sự thực, tự nó có chân dung ngoại hình, có ngôn ngữ, có hành động, có tâm
lý Còn ở luận án này, người viết phải thông qua nhiều tác phẩm khác nhau dựnglại, phác họa nhân vật, mỗi tác phẩm cung cấp chất liệu về một phương diện nào
đó Như theo ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Thánh Tông có “tư trời rạng
rỡ, thần sắc anh dị, tuấn tú, sáng suốt, chững chạc, thực là bậc thông minh đánglàm vua, bậc trí dũng đủ giữ nước” [97; 610] Đây là cách miêu tả theo thi pháp “tảthần” chứ không “tả hình” (trọng thần khinh hình) nên ngày nay ta cũng chỉ có thểbiết ngoại hình ngài “tuyệt đẹp”, có “thần sắc khác thường”, vẻ người tuấn tú, nhân
hậu, rạng rỡ, nghiêm trang Bản thân nhà vua có thơ tự thuật: “Trống dời canh còn đọc sách/ Chiêng xế bóng chửa thôi chầu” Đây là lời nói gián tiếp của nhà vua
về “tác phong” làm việc cần cù, chăm chỉ hay là một tự sự về công việc thườngngày của một hoàng đế không quan liêu mà cần mẫn với công việc trị nước?Nhưng với hai ví dụ trên, ta có thể thấy, nhân vật hoàng đế như một đối tượngnghiên cứu sẽ hiện lên qua các ghi chép, sáng tác của người bên ngoài quan sát vànhững sáng tác có tính chất tự thuật, tự họa của chính hoàng đế đó
Có thể đưa ra khái niệm hoàng đế là người đứng đầu của nhà nước theo thểchế quân chủ chuyên chế Mỗi khu vực, quốc gia hoàng đế có vị thế khác nhautrong đời sống xã hội Trong xã hội phương Đông, hoàng đế là người nắm trongtay mọi quyền lực, sở hữu đất đai và thần dân trong phạm vi “bốn bể” Suy nghĩ vàhành động của hoàng đế có sức ảnh hưởng lớn và quyết định sự vận hành của xãhội Xã hội phương Đông quan niệm hoàng đế là thiên tử – con trời, mang trongmình thiên mệnh để thay trời trị vì thiên hạ Chính vì có một vị thế đặc biệt trong
xã hội quân chủ nên hoàng đế cũng đã trở thành một nhân vật đặc biệt trong sángtác văn học Nhân vật hoàng đế xuất hiện trong văn chương không đơn thuần làmột kiểu nhân vật văn học mà nó còn gắn với nhiều yếu tố văn hoá chính trị, tưtưởng triết học Trong suốt hành trình lịch sử văn học, không chỉ xuất hiện trongcác tác phẩm thời trung đại mà đến văn học hậu hiện đại nhân vật hoàng đế nàyvẫn còn là đề tài thú vị cho sự tìm tòi, sáng tạo
2.1.2 Sự khác nhau giữa “Đế” và “Vương”
Kinh Thi có câu: “Phổ thiên chi hạ/ Mạc phi vương thổ/ Suất thổ chi tân/
Mạc phi vương thần” (Khắp cõi dưới trời/ Chẳng có chỗ nào là không phải lãnh
Trang 33thổ của vua/ Noi theo những vùng đất ven bờ/ Dân chúng khắp nơi, chẳng ai làkhông phải bề tôi vua) [193; 404] “Đế” hay “Vương” đều là khái niệm chỉ ngườiđứng đầu nhà nước quân chủ, là người nắm quyền cai quản thiên hạ Tuy nhiên Đế
và Vương lại không hề đồng nhất về nội hàm khái niệm Trần Ngọc Vương chorằng: “Trong thực tế thì từ đế tới vương là một quá trình phát triển về danh hiệu, vềquy mô lãnh cách hình dung thiết chế… về sau, trong tâm lý nhận thức và rồi đếnthực tiễn chính trị, đế được coi là cao hơn, quan trọng hơn, toàn năng hơn” [214;49]
Theo Từ điển Hán Việt, chữ “vương” có nghĩa là vua, “được thiên hạ quy phục” [1; 782] Trong tiếng Anh, danh từ King chỉ “vua” hay “quốc vương”; với
“hoàng đế”, người Anh dùng chữ Emperor Tương tự, theo tiếng Pháp: Le Roy dành cho vua; hoàng đế là L’ Empereur… Quốc vương chính là ông vua đứng đầu một vương quốc hay thuộc quốc (quốc gia phụ thuộc), còn hoàng đế mang “tầm
cỡ” ông vua của một quốc gia hùng mạnh (đế quốc/ đế chế) Như vậy, mặc dù cùngđứng đầu một thể chế, nhưng “vương” không thể có một “tư thế” ngang hàng với
“đế” khi xét về nấc thang quyền lực
Từ điển chức quan Việt Nam đã có sự phân biệt rất cụ thể giữa “Đế” và
“Vương” Đế là khái niệm chỉ người lãnh đạo quốc gia Nó có nguồn gốc rất lâuđời từ xưng hiệu của các thủ lĩnh liên minh hoặc các tù trưởng bộ lạc trong truyềnthuyết cổ Trung Quốc: Ngũ Đế, Thần Nông, Nghiêu, Thuấn… “Vua, sách Tảtruyện, Hi Công nhị niên có câu: Kim chi vương, cổ chi đế dã Vua ngày nay là đếngày xưa vậy Những người xưng bá chủ thời Chiến quốc gọi là đế” [137; 196].Khởi đầu xưng hiệu dành cho các nhà lãnh đạo phương Nam không phải là đế mà
là vương Từ thời Văn Lang cho đến Âu lạc các nhà lãnh đạo quốc gia đều xưngvương: Hùng Vương, An Dương Vương Đỗ Văn Ninh đã chỉ ra rõ sự khác biệtgiữa đế và vương ở nấc thang quyền lực: “Khi người cai trị cao nhất quốc gia xưng
đế thì Vương là một tước phong cho con” [137; 829] Các hoàng đế không chỉphong vương cho con mà cũng tước phong cho những người trong tôn thất có cônglao lớn Chung quy, Đỗ Văn Ninh cho rằng quốc gia có thể tồn tại nhiều vương,nhưng đế là duy nhất
Trang 34Từ thời nhà Tần, theo quan niệm của các hoàng đế Trung Hoa, chỉ có đấtnước Trung Hoa là mẫu quốc còn lại là mọi rợ Chính vì quan niệm ấy, các hoàng
đế Trung Hoa tự đặt mình ở vị trí là “thiên tử” mẫu quốc và xem người đứng đầucác nước khác là phiên vương Họ sẵn sàng đem quân chinh phạt nếu các thuộcquốc không tuân phục thiên tử mẫu quốc Bằng đường lối ngoại giao mềm dẻo, cáchoàng đế Việt Nam xưng vương trước vương triều phương Bắc và thực hiện cácchính sách sắc phong triều cống Tuy nhiên ý thức dân tộc, tinh thần tự cường đãxuất hiện từ rất sớm ở nước ta Thế kỉ thứ VI, Lý Bôn đã lập nhà nước Vạn Xuân
và xưng Nam đế Tổng tập văn học Việt Nam tập I có viết: “Từ Đinh Bộ Lĩnh trở
đi, nhà vua xưng là hoàng đế, với hàm ý là sánh ngang hoàng đế Trung Quốc Bắc
đế và Nam đế, mỗi đằng làm đế một phương, chẳng có thiên triều, chẳng có thuộc
quốc” [164; 18] Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã một lần nữa khẳng định
độc lập dân tộc và niềm tự hào các hoàng đế Đại Việt sánh ngang cùng các hoàng
đế Trung Hoa: “Tự Triệu, Đinh, Lý, Trần chi triệu tạo ngã quốc/ Dữ Hán, Đường,Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương” (Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần xây, dựng, kiếnthiết nước ta / Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên (mỗi bên) xưng đế một phương)
Mặc dù Trung Hoa chỉ xem người đứng đầu Đại Việt là phiên vương nhưngtrong tâm thức người Việt luôn có tinh thần yêu nước, lòng tự hào và tự tôn Dântộc ta luôn có ý thức khẳng định vị thế của mình sánh ngang cùng Trung Hoa hùngmạnh Có thể thấy đế và vương mặc dù đều là khái niệm để gọi tên người đứng đầunhà nước theo chế độ quân chủ Tuy nhiên, nội hàm của hai khái niệm đã cho thấythang độ quyền lực khác nhau của hai tên gọi
2.1.3 Mô hình hoàng đế lý tưởng trong tư duy chính trị Việt Nam trung đại
Có ba con đường đi đến ngôi vị hoàng đế Thứ nhất, Nho giáo quan niệmkhông phải con vua thì lại làm vua mà phải truyền người hiền Tiêu biểu chotrường hợp này là vua Nghiêu và vua Thuấn trong lịch sử Trung Hoa Thứ hai,hoàng đế lên ngôi bằng hình thức cha truyền con nối Hình thức này được xem làphổ biến Mặc dù hình thức nối ngôi đi ngược với quan điểm nhân trị của Nho giáonhưng trong văn hoá diễn ngôn của các triều đại người nối ngôi đã thuận lòng trời,hợp ý dân Thứ ba, hoàng đế lên ngôi bằng con đường bạo lực lật đổ chính quyền
cũ đã hết “mệnh trời” để xác lập nền cai trị mới Trong trường hợp này, những
Trang 35hoàng đế giành chính quyền bằng bạo lực lí giải hành động của mình là nhân danh mệnh trời để trừng phạt kẻ đã bị trời rút sự ủy nhiệm.
Hoàng đế được gắn liền với các khái niệm tam vị nhất thể: thiên mệnh – thiên
hạ – thiên tử Ba khái niệm này chi phối mạnh mẽ đến mô hình nhân cách hoàng đế.Theo diễn ngôn của chế độ quân chủ, hoàng đế là thiên tử (con trời), được trời traocho thiên mệnh để cai quản thiên hạ
Hoàng đế là con trời - thiên tử được trời uỷ nhiệm để cai quản hạ giới Đâyđược xem là một phương thức diễn ngôn của chế độ quân chủ nhằm khẳng địnhquyền lực thống trị Để củng cố địa vị, chế độ quân chủ đã nhờ sự hỗ trợ của thầnquyền để củng cố đế quyền, hoàng quyền Sống trong một nền văn minh nôngnghiệp có đời sống tâm linh phong phú thì diễn ngôn về việc tôn xưng thiên tử cósức thuyết phục và tác động lớn trong xã hội Niềm tin của con người vào thế giớitâm linh đã trở thành phương tiện củng cố hữu hiệu cho vương quyền Chính vìdiễn ngôn này mà từ sự ra đời cho đến con đường lên ngôi của các hoàng đế đềuđược thần thánh hoá qua những câu chuyện dân gian, ghi chép trong các bộ sử vàcác dữ liệu văn học đậm màu sắc thần kì: xuất thân thần kì, dung mạo và tư chấtkhác thường, thường gắn với biểu tượng con rồng – linh vật biểu tượng cho mệnh
đế vương, được các lực lượng thần thiêng hỗ trợ
Hoàng đế là con trời nên mặc nhiên có quyền lực đối với tất cả thần dân, đấtđai sông núi dưới gầm trời Mọi hình thức tồn tại dưới trời đều thuộc sở hữu củahoàng đế trong đó có cả những lực lượng siêu nhiên như thần thánh: “Thần thánhđược thờ trong lãnh thổ được định biên chế rất ngặt nghèo, phân cấp quản lý chặtchẽ” [215; 54] Hoàng đế có quyền giám quản bách thần Từ đời Trần, nhà nước đã
tiến hành sắc phong các thần trên lãnh thổ Đại Việt - điều đã được Lĩnh Nam chích
quái và Việt điện u linh phản ánh Việc sắc phong thần đã cho thấy hoàng đế muốn
tạo lập một lực lượng siêu nhiên mang tính thần quyền để hỗ trợ cho việc trị vì.
Điều quan trọng nhất của một hoàng đế đó là có được thiên mệnh Hoàng đế làngười duy nhất được trời ban chân mệnh đế vương Triết học phương Đông cổ đại đềcao tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” Hoàng đế là người thay trời trị vì thiên hạ, làngười có khả năng liên thông với thiên địa Nho giáo với thuyết Chính danh đã đemđến cho hoàng đế một “siêu quyền lực”: thế thiên hành đạo Hoàng đế giữ vai trò là
Trang 36gạch nối giữa thượng giới và hạ giới, giữa cõi trời và cõi người Đây là sự uỷ tháccủa trời về quyền lực duy nhất dành cho một người để cai quản thiên hạ Quanniệm thần quyền về hoàng đế bắt nguồn từ học thuyết “tôn quân quyền” của Nhogiáo: “Theo tư tưởng Nho giáo thì quân quyền phải để một người giữ cho rõ cáimối thống nhất Người giữ quân quyền gọi là đế hay vương, ta thường gọi là vua”[88; 155] Cốt lõi của lý thuyết tôn quân quyền đó chính là thiên mệnh của hoàng
đế Khi con người tập hợp với nhau thành xã hội thì người lãnh đạo là hoàng đếphải có quyền lực tối cao để giữ vững kỷ cương Hoàng đế được thần quyền bằng
tư tưởng thiên mệnh mà theo Nho giáo thiên mệnh tức là nói đến cái chí của trời
Hoàng đế chịu “thiên mệnh” trước hết phải là người có đức Theo quan điểmNho giáo, hoàng đế không đơn thuần là người đứng đầu nhà nước quân chủ, nắmtrong tay mọi đất đai và thần dân phải chăm lo lợi ích… mà hoàng đế phải thựchiện nghĩa vụ bảo vệ dân, giáo hoá dân, chịu trách nhiệm về cuộc sống của dân
Theo Kinh Dịch: “Đức tượng thiên địa viết đế” (Người có đức giống đức của trời
đất là đế) Trời chỉ chọn lựa người có đức để uỷ nhiệm cai trị thiên hạ Hoàng đế làcon trời và được trời giao thiên mệnh trị vì trăm họ, mọi ý đồ hay hành động nhằmtranh giành ngôi báu, quyền lực của hoàng đế đều được xếp vào trọng tội loạn thần
tặc tử và làm trái mệnh trời Trang Tử – Thiên địa cho rằng: “Đế vương chi đức
phối thiên địa” (Đức của bậc đế vương sánh với đức của trời đất) Hoàng đế nhậnđược thiên mệnh để cai quản thiên hạ Nhưng hoàng đế phải đáp ứng được nhữngchuẩn mực đạo đức sánh với trời đất mới giữ được ngai vàng Trong các chuẩn
mực về đạo đức thì đức sinh là quan trọng nhất Chu Dịch – Hệ Từ có viết: “Thiên địa chi đại đức viết sinh” (Đức lớn của trời đất là sinh) Trang Tử – Thiên địa: “Vật đắc dĩ sinh vị chi đức” (Cho vật được sự sống gọi là đức) Đức lớn của trời đất là
sinh ra vạn vật, hoàng đế là con trời, có đức sánh ngang trời thì phải biết yêu quý
sự sống
Nền văn hoá chính trị Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng đều có quanniệm chung về mẫu hình hoàng đế có trách nhiệm đối với trời, không được quyềnhành động theo ý mình mà phải thi hành những điều thuận lòng trời, hợp ý dân.Vấn đề đức trị, thân dân là những nội dung chính trong tư tưởng, đường lối trị nướccủa Nho giáo Hoàng đế phải nhận thức được vai trò quan trọng của dân
Trang 37trong con đường đế nghiệp Kinh Thư có viết dân là gốc (dân vi bản), dân là gốc
của nước (dân vi bang bản) Thực tế cho thấy dân có vai trò quan trọng trong đờisống xã hội “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Mạnh Tử)
Trời trao thiên mệnh cho hoàng đế dựa trên nguyên tắc chọn người có đức.Theo quan điểm Nho giáo, thiên mệnh không tồn tại vĩnh hằng Nó chỉ được duytrì khi hoàng đế biết thi hành đức trị: “Duy mệnh bất vu thường, đạo thiện tắc đắcchi, bất thiện tắc thất chi” (mệnh trời không nhất định, thiện thì được, bất thiện thìmất) [88; 156] Điều này nhắc nhở các hoàng đế phải thi hành điều thiện, nhân đức,không lạm dụng uy quyền mà làm điều tàn bạo
Đức của nhà lãnh đạo được thể hiện trên nhiều phương diện nhưng phẩm chấtquan trọng nhất là đức hiếu sinh Đức hiếu sinh được thể hiện trước tiên là chọn đứctrị hạn chế hình pháp Khổng Tử cho rằng: “Thánh nhân chi trị, hoá dã, tất hìnhchính tương tham yên Thái thượng dĩ đức giáo dân, nhi dĩ lễ tề chi Kỳ thứ, dĩchính sự đạo dân, dĩ hình cấm chi, hình bất hình dã” [88; 161] Theo quan niệm củaKhổng Tử thì hoàng đế phải cai trị bằng con đường đạo đức, nhân nghĩa, hình chínhchỉ là điều bất đắc dĩ Khổng – Mạnh chủ trương hoàng đế theo đường lối đức trị,thân dân, xem hình phạt chỉ là thứ yếu, là giải pháp tình thế trong việc giáo hoá dân.Tuy nhiên, theo thực tế vận hành xã hội, các hoàng đế phải có sự kết hợp pháp trị đểmang tính ràng buộc nhằm duy trì trật tự, kỷ cương cũng như bảo vệ quyền lợi chogiai cấp thống trị
Sự tồn vong của một quốc gia, thịnh hay suy của một triều đại phụ thuộc vào
ý dân, lòng dân Vì thế, để duy trì ngai vàng, hoàng đế phải thực hiện chính sáchthân dân Để thực hiện được điều đó, hoàng đế phải thực hiện được chính sách
“dưỡng dân” Nghĩa là nhiệm vụ của hoàng đế là phải chăm sóc, nuôi dưỡng vàbảo vệ dân Khổng Tử quan niệm “Tiết dụng ái nhi nhân” nghĩa là vương triều phảibiết tiết kiệm, tránh hoang phí là thương dân, làm sao để dân no đủ, đánh thuế nhẹcho dân: “Bất kỳ chính thể nào, nhà cầm quyền nào cũng cho việc nuôi dưỡng dân
là nhiệm vụ quan trọng nhất: nếu khéo nuôi dân thì nước trị mà nhà cầm quyềnđược dân quý, ngược lại thì nước loạn” [24; 176] Mạnh Tử quan niệm: “Lạc dânchi lạc giả, dân diệc lạc kỳ lạc; ưu dân chi ưu giả, dân diệc ưu kỳ ưu Lạc dĩ thiên
hạ, nhiên nhi bất vương giả, vị chi hữu dã” [88; 233] Theo quan niệm này thì
Trang 38hoàng đế phải là người vui cùng cái vui của dân, lo cùng nỗi lo của dân Bên cạnhdưỡng dân, các hoàng đế phải có nhiệm vụ giáo hoá dân Theo Khổng – Mạnh,hoàng đế phải có trách nhiệm làm cho dân hiểu được đạo làm người với các chuẩnmực: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, hiếu, trung Điều này nhằm hướng đến bảo vệ vươngquyền bằng việc hướng nhân dân đến các thứ tự, tôn ti và không xâm hại đến cáclợi ích của giai cấp thống trị.
Nho giáo hướng đến hình mẫu hoàng đế là một thánh nhân vừa mang mộtnhân cách của con người phàm trần vừa có những đặc điểm của thượng giới Giữa
mô hình nhân cách hoàng đế trong lý thuyết và thực tế, qua lịch sử có thể thấy sựvênh lệch khá lớn Rất hiếm vị hoàng đề có thể đáp ứng được đầy đủ các chuẩnmực nhân cách thánh nhân mang những đặc điểm huyền thoại
2.2 Những tiền đề của sự xuất hiện nhân vật hoàng đế trong văn học Việt Nam
từ thế kỉ X đến thế kỉ XV
2.2.1 Tiền đề lịch sử, xã hội
Trong giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, Việt Nam đang từng bước thiếtlập và ổn định xã hội theo chế độ quân chủ chuyên chế Dựa vào bối cảnh lịch sử,văn hóa xã hội Việt Nam có thể chia giai đoạn này thành ba cột mốc quan trọng:Đất nước mới giành được độc lập, xây dựng quốc gia quân chủ và phục hưng nềnvăn hóa dưới hai triều đại Lý – Trần, đấu tranh chống quân Minh xâm lược và xâydựng Nhà nước quân chủ đạt cực thịnh ở triều đại Lê sơ Thực tiễn xây dựng chế độđòi hỏi phải cấp thiết xác lập nền văn hóa chính trị tương ứng Theo đó, lựa chọnmẫu hình hoàng đế được xem là nhiệm vụ hàng đầu Bởi trong xã hội chuyên chế,hoàng đế là người đứng đầu triều đại, mọi suy nghĩ, hành động của hoàng đế có vaitrò quyết định đến thực tế vận hành xã hội
Ở giai đoạn đầu mới giành được độc lập: Từ thế kỉ X, người Việt giành
được độc lập sau một ngàn năm Bắc thuộc Đất nước độc lập đã mở ra trang sửmới cho dân tộc Vấn đề đặt ra lúc này là phải cấp thiết xây dựng chính quyền tự trịcủa người Việt Nam Mô hình chế độ quân chủ chuyên chế được xem là lựa chọntất yếu trong bối cảnh lịch sử xã hội Đại Việt đương thời Tuy nhiên trong giaiđoạn đầu sau khi độc lập, bộ máy chính quyền nước ta chỉ mới được hình thành vàdần từng bước đi vào ổn định qua các triều Ngô, Đinh và Tiền Lê Sau
Trang 39chiến thắng của Ngô Quyền, chế độ quân chủ Việt Nam từng bước đẩy lùi thùtrong, giặc ngoài Năm 967, Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đấtnước Năm 981 Lê Hoàn lãnh đạo quân dân đánh tan quân Tống xâm lược Từ đóđất nước bước vào công cuộc ổn định và ngày càng lớn mạnh dưới các triều đại Lý– Trần Từ một nhà nước cơ bản dựa vào bộ máy quân sự nước ta đã chuyển dầnsang bộ máy nửa quân sự – nửa quan lại Trong bối cảnh văn hoá chính trị mớiđược hình thành thì mẫu hình hoàng đế giai đoạn này chưa đưa đến những nét đặctrưng riêng Phải đến thời Lý – Trần, mẫu hình nhân vật hoàng đế mới mang nhữngđặc điểm riêng tương ứng với sự phát triển của nền văn hoá chính trị Đại Việt.
Giai đoạn xây dựng quốc gia quân chủ và phục hưng nền văn hóa dưới hai triều đại Lý – Trần: Từ thời Lý, công cuộc xây dựng nền văn hoá chính trị được
chú trọng hơn Đất nước về cơ bản không còn nặng nề tính quân sự mà hình thànhmột chế độ quân chủ đứng đầu là hoàng đế Năm 1010 Lý Công Uẩn quyết địnhdời kinh đô Hoa Lư ra thành Đại La Năm 1054, Lý Thánh Tông đổi tên nướcthành Đại Việt Hai sự kiện này có ý nghĩa rất quan trọng trong lịch sử dân tộc Nókhẳng định những bước tiến vượt bậc của Đại Việt trong công cuộc xây dựng nềnvăn hóa chính trị, ý thức tự chủ và niềm tin vào tương lai đất nước
Dưới các triều đại Lý – Trần, lịch sử dân tộc chứng kiến một giai đoạn huyhoàng sau Bắc thuộc Đất nước bước vào công cuộc phục hưng nền văn hóa Nho –Phật – Đạo cùng tồn tại trong đời sống xã hội Tính đến thời Lý, Phật giáo chiếm vịthế chủ đạo và chi phối mạnh mẽ nền văn hóa, chính trị Đại Việt Tăng lữ và hoàngtộc có mối quan hệ chặt chẽ, cùng với đó là mối quan hệ mật thiết giữa thần quyền
và vương quyền Tuy nhiên, Nho giáo ngày càng bộc lộ được khả năng là công cụvững chắc để chế độ quân chủ bảo vệ vương quyền Vì thế, từ cuối triều Lý nước ta
đã quan tâm đến việc phát triển giáo dục và khoa cử tuyển chọn nhân tài phục vụcho triều đình theo mô hình nhà nước Nho giáo Năm 1070, Lý Thánh Tông lậpVăn Miếu Năm 1075 Lý Nhân Tông mở khoa thi Nho học đầu tiên Đến thời Trần,Nho học tiếp tục phát triển và tạo ra lực lượng trí thức đông đảo, từng bước đẩy lùi
sự chi phối vốn rất mạnh mẽ của Phật giáo Từ cuối đời Trần, Nho giáo với tưtưởng đức trị đã đạt được một nền tảng vững chắc để có địa vị như quốc giáo
Trang 40Kinh tế và văn hóa có sự phục hưng và phát triển mạnh mẽ Việc lần lượtđánh tan các thế lực xâm lược hùng mạnh đã cổ vũ và phát huy tinh thần đoàn kếttoàn dân tộc, tạo nên khí thế hào hùng của một dân tộc đang vươn lên một cáchmạnh mẽ, mà trung tâm là “hào khí Đông A” Trong bối cảnh xã hội chịu nhiềuảnh hưởng của Phật giáo, các hoàng đế Lý – Trần đã tích cực hoằng dương Phậtpháp để giáo huấn và điều hành xã hội Tuy nhiên, với vai trò là người đứng đầuquốc gia, chịu trách nhiệm chăn dân, giáo dân, nên tất yếu các hoàng đế khônghoàn toàn xuất thế mà tích cực nhập thế Nho giáo đã ngày càng thể hiện được lànền tảng tư tưởng trong đường lối trị nước của các hoàng đế Trên cơ sở trọng dâncủa Nho giáo, các hoàng đế Lý – Trần đã nhận thức được tầm quan trọng của dân
và thực hiện nhiều chính sách thương dân như con và khoan thư sức dân
Giai đoạn đấu tranh chống quân Minh xâm lược và xây dựng Nhà nước quân chủ đạt cực thịnh dưới vương triều Lê sơ: Sau hơn bốn thế kỉ sống trong nền chính trị
tự chủ, nước ta một lần nữa rơi vào tay quân xâm lược ở đầu thế kỉ XV Cuộc xâmlược và cai trị tàn bạo của nhà Minh gây biết bao cảnh tang thương cho Đại Việt Đểthực hiện chính sách đồng hóa, ngu dân, giặc Minh thi hành chính sách đốt sạch, phásạch nhằm tận diệt nền văn hóa Đại Việt Hai mươi năm ấy đã chứng kiến một dân tộcĐại Việt ngoan cường không ngừng đấu tranh để giữ gìn nền độc lập dân tộc
Năm 1418, Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn và giành thắng lợi, khôi phục đấtnước vào năm 1428 Trang sử mới được lập, đất nước được hồi sinh Sau khi lênngôi Lê Lợi tiếp tục xây dựng bộ máy Nhà nước theo mô hình có từ thời Trần Nhogiáo tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong việc củng cố quyền lực thống trị Cơ cấu xãhội có nhiều thay đổi, tầng lớp quý tộc không còn giữ địa vị như trước Thành phần
xã hội thời Lê sơ gồm quan và tứ dân: sĩ, nông, công, binh Các vua Lê trong quátrình điều hành Nhà nước luôn thực hiện chính sách quốc dĩ dân vi bản, quan tâmchăm lo đến đời sống nhân dân Nhờ đó, triều đình luôn nhận được sự ủng hộ củanhân dân, đất nước không phải đối mặt với các cuộc nội chiến, bạo loạn
Nhà nước Đại Việt đạt được đến đỉnh cao của sự phát triển trong giai đoạntrị vì của Lê Thánh Tông Nếu thời Lý – Trần quyền lực được phân tán cho cácvương hầu thì đến các hoàng đế thời Lê sơ quyền lực đã được tập trung vào tayngười đứng đầu nhà nước Các triều đại thời Lê sơ đã từng bước tiến tới hoàn