1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Kỷ yếu hội thảo khoa học các vấn đề đương đại trong lĩnh vực kinh tế, luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn

495 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Vấn Đề Đương Đại Trong Lĩnh Vực Kinh Tế, Luật: Từ Lí Thuyết Đến Thực Tiễn
Tác giả ThS. Nguyễn Thị Tuyết Nga, ThS. Nguyễn Thị Hà Phương, NCS. Hồ Thanh Hải, TS. Nguyễn Văn Lương, PGS.TS. Nguyễn Thị Nhung, NCS. Lê Hoàng Thuya, ThS. Huỳnh Minh Phúc, PGS.TS. Nguyễn Hồng Hà, ThS. Nguyễn Thị Bích Ngân, ThS. Phạm Thị Thu Hiền, ThS. Nguyễn Thái Mỹ Anh, ThS. Lê Khánh Linh, TS. Lê Nhị Bảo Ngọc, ThS. Nguyễn Thị Khả Uyên, ThS. Nguyễn Duy Trường
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Minh Hòa, PGS.TS. Phước Minh Hiệp, GS.TS.NGND. Nguyễn Thanh, PGS.TS. Phan Nhật Thanh, PGS.TS. Nguyễn Hồng Hà, PGS.TS. Diệp Thanh Tùng
Trường học Trường Đại Học Trà Vinh
Chuyên ngành Kinh tế, Luật
Thể loại Hội thảo khoa học
Năm xuất bản 2020
Thành phố Trà Vinh
Định dạng
Số trang 495
Dung lượng 18,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu Kỷ yếu hội thảo khoa học các vấn đề đương đại trong lĩnh vực kinh tế, luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn bao gồm 48 bài của các chuyên gia, nhà nghiên cứu các vấn đề tác động về kinh tế có liên quan đến luật, đồng thời đưa ra các kiến nghị, giải pháp cho các doanh nghiệp trong thời kỳ sống chung với COVID – 19. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 2

HỘI THẢO KHOA HỌC

“CÁC VẤN ĐỀ ĐƯƠNG ĐẠI TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ, LUẬT:

TỪ LÍ THUYẾT ĐẾN THỰC TIỄN”

Tháng 12/2020

Trang 3

1 TS Nguyễn Minh Hòa Phó Hiệu trưởng Trường Đại học

4 PGS.TS Phan Nhật Thanh Phó Trưởng Khoa Luật Hành chính,

Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Ủy viên

5 PGS.TS Nguyễn Hồng Hà Phó Trưởng Khoa Kinh tế, Luật,

Trường Đại học Trà Vinh

Ủy viên

1 PGS.TS Diệp Thanh Tùng Trưởng Khoa Kinh tế, Luật Trưởng ban

2 PGS.TS Nguyễn Hồng Hà Phó Trưởng Khoa Kinh tế, Luật Phó Trưởng ban

Thường trực; Trưởng Tiểu ban Tài chính Ngân hàng

3 ThS Huỳnh Thị Trúc Linh Phó Trưởng Khoa Kinh tế, Luật Phó Trưởng ban;

Trưởng Tiểu ban Luật

4 ThS Lâm Thị Mỹ Lan Trưởng Bộ môn Kinh tế Phó Trưởng ban;

Trưởng Tiểu ban Kinh tế

5 ThS Nguyễn Thị Cẩm

Phương

Q Trưởng Bộ môn Quản trị Phó Trưởng ban;

Trưởng Tiểu ban Quản trị

Trang 4

9 ThS Trần Thị Ngọc Hiếu Phó Trưởng Bộ môn Luật Thư kí Tiểu ban Luật

Thư kí Hội thảo

1 PGS.TS Diệp Thanh Tùng Trưởng Khoa Kinh tế, Luật Trưởng ban

2 PGS.TS Nguyễn Hồng Hà Phó Trưởng Khoa Kinh tế, Luật Phó Trưởng ban

3 PGS.TS Huỳnh Quang Linh Giảng viên Bộ môn Kế toán Ủy viên

4 ThS Huỳnh Thị Trúc Linh Phó Trưởng Khoa Kinh tế, Luật Ủy viên

5 ThS Nguyễn Thị Bích Ngân Viên chức Văn phòng Khoa Kinh

Trang 5

1 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CAM KẾT VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG

HIỆP ĐỊNH EVFTA ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

ThS Nguyễn Thị Tuyết Nga, ThS Nguyễn Thị Hà Phương

VIỆC VÀ SỰ GẮN BÓ CỦA NHÂN VIÊN VỚI NGÂN HÀNG: TRƯỜNG HỢP NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

NCS Lê Hoàng Thuya

PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI

PGS.TS Nguyễn Hồng Hà, ThS Nguyễn Thị Bích Ngân

48

7 KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG COVID-19 ĐẾN KINH TẾ

TỈNH TRÀ VINH VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

PGS.TS Nguyễn Hồng Hà, ThS Phạm Thị Thu Hiền,

ThS Nguyễn Thái Mỹ Anh

59

VỚI HỘ GIA ĐÌNH ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU

ThS Lê Khánh Linh, TS Lê Nhị Bảo Ngọc, ThS Nguyễn Thị Khả Uyên, ThS Nguyễn Duy Trường

68

Trang 6

TS Lê Thành Lân, Huỳnh Thị Bích Ngân

10 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TUẦN HOÀN

DƯỚI GÓC NHÌN TỪ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH BỀN VỮNG TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH

TS Đinh Kiệm, ThS Phạm Hữu Chiến

84

KHỞI NGHIỆP TỪ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ LOGISTICS

THỨC KHUYẾN MẠI – MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN TỪ

THỰC TRẠNG TẠI MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU

LONG

ThS Ngô Thiện Lương

139

15 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG QUA HÌNH

THỨC THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

ThS Nguyễn Thị Hồng Phúc

149

16 KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TRONG LIÊN

KẾT VÙNG VÀ BÀI HỌC CHO TỈNH QUẢNG BÌNH

ThS Nguyễn Thị Diệu Thanh

158

CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TÔM NƯỚC LỢ Ở VIỆT NAM

PGS.TS Phước Minh Hiệp, ThS Lê Bảo Toàn, NCS Võ Thế Trường

169

18 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ BIỂN TỈNH KIÊN GIANG

TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

TS Vòng Thình Nam

179

Trang 7

ThS Nguyễn Diệp Phương Nghi, ThS Lê Thị Nhã Trúc

20 VĂN HOÁ ỨNG XỬ VỚI KHÁCH HÀNG VÀ ĐỐI TÁC KINH

DOANH CỦA NGƯỜI HOA TRIỀU CHÂU THÀNH PHỐ

SÓC TRĂNG

NCS Hồ Thanh Hải

198

GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

TS Nguyễn Văn Nguyện

203

22 PHÁT TRIỂN NGƯỜI THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ

NGUYỆN – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CỦA KHU VỰC ĐỒNG BẰNG

SÔNG CỬU LONG

NCS Nguyễn Công Chánh

218

23 ẢNH HƯỞNG CỦA DỊCH BỆNH COVID-19 ĐẾN HOẠT ĐỘNG

KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP NGÀNH HÀNG NƯỚC

UỐNG GIẢI KHÁT KHÔNG CỒN VÀ VAI TRÒ TRÁCH NHIỆM XÃ

HỘI CỦA DOANH NGHIỆP

NCS Nguyễn Hoàng Khởi, PGS.TS Dương Ngọc Thành

25 XÂY DỰNG MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CHI PHÍ THEO PHƯƠNG

PHÁP BÌNH PHƯƠNG BÉ NHẤT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP KINH

27 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG NGUỒN

NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ KHÁCH SẠN: TRƯỜNG

HỢP NGHIÊN CỨU TẠI QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ

CẦN THƠ

263

Trang 8

29 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC

ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP – TRƯỜNG HỢP SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ

PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TÂY NINH

ThS Nguyễn Thị Diễm Trinh, Nguyễn Hải Đăng

282

THỜI KÌ COVID-19: CƠ HỘI CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

ThS Trần Thị Diệu, ThS Lê Yến Chi

295

LĨNH VỰC LUẬT

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

ThS Nguyễn Lê Anh, ThS Vũ Thanh Tùng

305

ỦY THÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

NCS Lê Đức Hiền, ThS Trịnh Ngọc Thủy

315

TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI

VIỆT NAM THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI THẾ HỆ

MỚI

Lê Ngọc Thạnh

321

34 QUAN HỆ LAO ĐỘNG DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC CÁCH

MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0: NHÌN TỪ BIÊN BẢN THỎA THUẬN

HỢP TÁC CỦA GRAB

Lê Ngọc Thạnh

329

ĐỀ PHÁP LUẬT XỬ LÍ CÁC VI PHẠM CÓ LIÊN QUAN

TS Lương Văn Tuấn

338

Trang 9

TS Cao Vũ Minh

CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

KINH TẾ QUỐC TẾ

NCS Lê Đức Hiền

365

THÁCH THỨC CỦA AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG

TS Nguyễn Ngọc Kiện, ThS Trịnh Tuấn Anh

373

39 KIỂM SOÁT XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUYỀN LỰC CỦA HỆ THỐNG

CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HIỆN NAY

PGS.TS Đỗ Minh Khôi

383

ĐẾM BẮT BUỘC – THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

ThS Nguyễn Thành Phương

397

MÔI TRƯỜNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Đào Mộng Điệp, Trịnh Tuấn Anh

NAM TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

CN Nguyễn Võ Anh, ThS Trần An Phương, CN Quản Tuấn Anh

PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA TRONG KHỐI TƯ NHÂN: KHÓ

KHĂN VÀ THÁCH THỨC DƯỚI GÓC NHÌN LUẬT HỌC

ThS Nguyễn Đình Thúy Hường, Đặng Hoàng Minh,

TS Ngô Hồ Anh Khôi

445

Trang 10

NCS Đặng Quang Dũng, ThS Châu Thanh Quyền

GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ ĐỀ XUẤT CHO VIỆT NAM TRONG BỐI

CẢNH TOÀN CẦU HÓA

TS Đoàn Thị Phương Diệp, Trịnh Tuấn Anh

Trang 11

LĨNH VỰC KINH TẾ

Trang 12

1

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CAM KẾT VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG HIỆP ĐỊNH EVFTA ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

THE IMPACT OF INTELLECTUAL PROPERTY-RELATED

COMMITMENTS IN THE EVFTA ON VIETNAMESE ENTERPRISES

Tóm tắt – Sở hữu trí tuệ và thương mại quốc tế có mối quan hệ khá mật

thiết, hầu hết các hiệp định thương mại song phương hay đa phương đều có những cam kết về sở hữu trí tuệ Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) có hiệu lực từ ngày 01 tháng 8 năm 2020 đã nâng mức độ cam kết sở hữu trí tuệ ở mức độ cao và toàn diện hơn, phạm vi điều chỉnh cũng đa dạng và bao trùm nhiều lĩnh vực Điều này mang đến cho doanh nghiệp Việt Nam không ít thuận lợi và khó khăn Bài viết này sẽ phân tích các cam kết về

sở hữu trí tuệ trong hiệp định EVFTA, nhận dạng các cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp của Việt Nam, từ đó đề xuất những kiến nghị góp phần thúc đẩy hoạt động của doanh nghiệp hiệu quả hơn trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Từ khóa: Hiệp định EVFTA, sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp Việt Nam

1 CÁC CAM KẾT VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG EVFTA

1.1 Giới thiệu về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – châu Âu (EVFTA)

Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA)

là hiệp định khung về Đối tác và Hợp tác toàn diện giữa một bên là Liên minh

Châu Âu và các quốc gia thành viên, và bên kia là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được chính thức khởi động đàm phán tại Brussels (Bỉ) ngày 27 tháng 6 năm

2012, chính thức kí kết vào ngày 30 tháng 6 năm 2019 và chính thức có hiệu lực vào ngày 01 tháng 8 năm 2020 sau khi được Quốc hội Việt Nam và Nghị viện EU phê chuẩn Mục tiêu của Hiệp định là tự do hóa và tạo thuận lợi cho thương mại

và đầu tư giữa các bên [1]

Hiệp định gồm 17 Chương, hai Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ kèm theo với các nội dung chính là: thương mại hàng hóa (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), các rào cản kĩ thuật

1 Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh; Email: nga.nguyen@hcmute.edu.vn

2 Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức

Trang 13

trong thương mại (TBT), thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, các vấn đề pháp lí – thể chế [2]

Với mong muốn nâng cao mức sống, thúc đẩy tăng trưởng và ổn định kinh

tế, tạo ra cơ hội việc làm mới và cải thiện phúc lợi chung, Hiệp định sẽ tạo ra một không khí mới cho sự phát triển của thương mại và đầu tư giữa các bên

1.2 Các cam kết về sở hữu trí tuệ

1.2.1 Các vấn đề chung

Các cam kết về sở hữu trí tuệ được quy định tại Chương 12 của Hiệp định gồm 63 Điều và 02 Mục lục Mục tiêu của thỏa thuận về sở hữu trí tuệ là tạo thuận lợi cho việc chế tạo, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm, đổi mới và sáng tạo nhằm đóng góp cho nền kinh tế bền vững và toàn diện hơn của mỗi bên; đạt được mức độ bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ đầy đủ và hiệu quả Đồng thời, việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ phải đóng góp vào việc thúc đẩy đổi mới công nghệ, chuyển giao và phổ biến công nghệ, vì lợi ích chung của các nhà sản xuất, người sử dụng và theo cách thức có lợi cho phúc lợi xã hội và kinh tế, bảo đảm sự cân bằng giữa các quyền và nghĩa vụ Về nguyên tắc chung, Hiệp định EVFTA yêu cầu các bên phải cam kết thực hiện các cam kết về sở hữu trí tuệ trong Hiệp định trong các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ của WTO (Hiệp định TRIPS), nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) (theo đó Việt Nam và EU cam kết dành cho công dân của nhau mức bảo hộ sở hữu trí tuệ không kém hơn mức bảo

hộ dành cho công dân của bất kì một nước thứ ba nào khác) và nguyên tắc cạn quyền3 (Việt Nam và EU được quyền tự do quy định về cạn quyền sở hữu trí tuệ, miễn là phù hợp với TRIPS)

1.2.2 Các tiêu chuẩn bảo hộ đối với từng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ cụ thể

Thứ nhất, về quyền tác giả và quyền liên quan, EVFTA quy định để được

bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan, các bên phải tuân thủ các quyền và nghĩa

vụ quy định tại các điều ước quốc tế: (i) Công ước Berne (Việt Nam đã tham gia năm 2004); (ii) Công ước Rome (Việt Nam đã tham gia năm 2007); (iii) Hiệp định TRIPS (Việt Nam đã tham gia năm 2007) Ngoài ra, trong thời hạn ba năm

kể từ khi EVFTA có hiệu lực, các bên phải gia nhập Hiệp ước của WIPO về quyền tác giả và Hiệp ước của WIPO về cuộc biểu diễn và bản ghi âm được thông qua tại Genève (Thụy Sĩ) ngày 20 tháng 12 năm 1996 Hầu hết các quy định cụ thể về quyền tác giả và quyền liên quan của pháp luật Việt Nam hiện hành đã khá

3 Cạn quyền là trạng thái khi một sản phẩm mang đối tượng sở hữu trí tuệ (SHTT) được đưa ra thị trường bởi chính chủ thể nắm giữ quyền SHTT hoặc với sự đồng ý của chủ thể này, thì chủ thể nắm giữ quyền SHTT không còn quyền kiểm soát đối với việc phân phối và khai thác thương mại các sản phẩm đó nữa

Trang 14

3

tương thích với các cam kết tại Hiệp định, Việt Nam cần quy định thêm một số nghĩa vụ khác như phải có biện pháp ngăn chặn các hành vi nhằm vô hiệu hóa các biện pháp công nghệ bảo vệ quyền tác giả (TPMs) và thông tin quản lí quyền (RMIs); còn về quyền của nghệ sĩ đối với việc bán lại tác phẩm, Việt Nam có thể cân nhắc quy định vì đây không phải là nghĩa vụ bắt buộc

Thứ hai, về nhãn hiệu, ngoài việc khẳng định tuân thủ các quy định của

Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước Madrid về đăng kí quốc tế nhãn hiệu và Thỏa ước Nice về phân loại hàng hóa và dịch vụ, Hiệp định còn quan tâm đến việc đơn giản hóa và thiết lập thủ tục đăng kí nhãn hiệu như quy định phải thông báo bằng văn bản nêu rõ lí do cụ thể nếu từ chối đăng kí; xây dựng hệ thống cơ sở

dữ liệu đầy đủ, cập nhật, dễ tra cứu về tất cả các nhãn hiệu đang được bảo hộ đặc biệt quy định về việc thu hồi nhãn hiệu nếu không sử dụng thực tế

Thứ ba, về chỉ dẫn địa lí Đây là đối tượng được các bên quan tâm nhiều và mất rất nhiều thời gian để đàm phán Về đối tượng bảo hộ, các cam kết về chỉ dẫn địa lí trong EVFTA chỉ áp dụng đối với nhóm sản phẩm: rượu vang, đồ uống có cồn,

nông sản, thực phẩm

Về các trường hợp được bảo hộ đương nhiên, Chương 12 EVFTA có 02 Phụ lục GI-I và GI-II trong đó liệt kê 171 chỉ dẫn địa lí của EU và 39 chỉ dẫn địa lí của

Việt Nam (gồm tên gọi, địa phương xuất xứ, nước xuất xứ) mà hai bên cam kết bảo

hộ đương nhiên, không cần qua các thủ tục thẩm định, thông báo, khiếu nại… theo quy trình thông thường

Thứ tư, về kiểu dáng công nghiệp, Việt Nam phải gia nhập và bảo đảm thực

thi các quy định của Hiệp định Hague (La Hay) về đăng kí quốc tế kiểu dáng công nghiệp đồng thời phải quy định rõ hơn về việc bảo hộ kiểu dáng tổng thể và kiểu dáng linh kiện thành phần (thông qua tiêu chí “nhìn thấy được”) Ngoài ra, Việt Nam cần quy định rõ hơn về việc kiểu dáng công nghiệp cũng có thể là đối tượng được bảo hộ theo quyền tác giả

Thứ năm, về sáng chế, EVFTA có một số cam kết mới (so với pháp luật hiện

hành của Việt Nam) đáng chú ý sau đây: Quyền áp dụng Tuyên bố DOHA để tiếp cận những sáng chế về dược phẩm phục vụ cho lợi ích cộng đồng (đặc biệt là các ngoại lệ về quyền sử dụng các sáng chế dược phẩm) EVFTA yêu cầu Việt Nam phải có quy định cho phép “bù đắp” cho các trường hợp thời gian bảo hộ sáng chế bị rút ngắn do chậm trễ trong thủ tục cấp phép lưu hành (nhưng không ràng buộc về cách thức “bù đắp”)

Thứ sáu, về thông tin bí mật, các bên cam kết thực thi quy định của Hiệp

định TRIPS và để bảo đảm sự bảo hộ hiệu quả trước sự cạnh tranh không lành mạnh theo quy định tại Công ước Paris

Thứ bảy, về giống cây trồng, các bên phải bảo hộ quyền đối với giống cây

trồng phù hợp với Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới bao gồm các

Trang 15

ngoại lệ đối với người nhân giống như được đề cập tại Điều 15 của Công ước đó,

và hợp tác để thúc đẩy và thi hành các quyền này

1.2.3 Các biện pháp bảo hộ

Về cơ bản, EVFA đưa ra các cam kết mang tính nghiêm khắc cho việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ Cụ thể, các chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời vào bất cứ thời điểm nào để ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm; Tòa án có quyền yêu cầu các đối tượng khác thực hiện việc cung cấp thông tin liên quan đến vụ việc về thực thi sở hữu trí tuệ

mà Tòa đang xem xét Hiệp định cũng quy định khá chi tiết về các nội dung như chứng cứ, việc bồi thường thiệt hại, chi phí pháp lí… Đặc biệt, Hiệp định có quy

định về biện pháp kiểm soát tại biên giới như chủ thể quyền có thể nộp đơn yêu

cầu cơ quan hải quan đình chỉ việc nhập khẩu và xuất khẩu hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hay cơ quan hải quan phải dừng thông quan hàng hóa nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (việc này phải phù hợp với thủ tục quốc gia)

2 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Đã từ lâu, sở hữu trí tuệ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động và phát triển của doanh nghiệp Với tư cách là chủ thể sử dụng tài sản trí tuệ hay là chủ sở quyền, việc thực thi Hiệp định EVFTA đều có sự tác động mạnh mẽ theo

cả hai hướng thuận lợi và khó khăn

2.1 Cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện các cam kết về quyền

sở hữu trí tuệ trong EVFTA

Khi EVFTA có hiệu lực, lượng hàng hóa từ châu Âu được nhập khẩu vào Việt Nam đa dạng hơn, phong phú hơn với nhiều sản phẩm mang nhãn hiệu mới, kiểu dáng công nghiệp mới hoặc sáng chế mới đã được cơ quan có thẩm quyền của châu Âu cấp giấy chứng nhận bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Đây là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận và lựa chọn những đối tác mới phù hợp hơn với điều kiện của mình, tránh được việc mua hàng giả, hàng nhái, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ từ các nguồn cung khác Nếu các doanh nghiệp đang là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thì sẽ được hưởng nhiều lợi ích kinh tế từ việc khai thác quyền, được đảm bảo việc thực thi và tăng lợi thế cạnh tranh trong chính thị trường nội địa và cả thị trường xuất khẩu Đặc biệt, các doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm thuộc nhóm 39 chỉ dẫn địa lí của Việt Nam được Liên minh châu

Âu công nhận có cơ hội rất lớn trong việc đầu tư phát triển mạnh tại thị trường châu Âu Bên cạnh đó, khi EVFTA được thực thi sẽ thúc đẩy hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp châu Âu vào Việt Nam Điều này giúp doanh nghiệp Việt Nam

có cơ hội hợp tác chặt chẽ hơn với các doanh nghiệp châu Âu trong việc cải tiến

kĩ thuật, đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu sáng tạo; phát triển sản phẩm mới Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam cũng có nhiều cơ hội để học hỏi các doanh

Trang 16

Về phía các doanh nghiệp là chủ thể quyền, việc thiếu hiểu biết về sở hữu trí tuệ dẫn đến việc bảo vệ và khai thác các thành quả của mình thiếu hiệu quả Trong những năm trước đây Việt Nam đã chứng kiến nhiều thương hiệu nổi tiếng bị

“đánh cắp” tại thị trường nước ngoài, nhiều kiểu dáng công nghiệp bị làm giả, làm nhái vì doanh nghiệp thiếu quan tâm đến việc bảo hộ tài sản trí tuệ như câu chuyện của cà phê Trung Nguyên, võng xếp Duy Lợi, Công ty Thuốc lá Vinataba, Công ty Vifon [3] Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn có rất ít doanh nghiệp có chiến lược xây dựng hệ thống quản trị tài sản trí tuệ Trong quá trình hoạt động của mình, doanh nghiệp vẫn có sự sáng tạo nghiên cứu đổi mới công nghệ, có sự sáng tạo trong việc đổi mới mẫu mã, bao bì, nhãn hiệu mới nhưng không thực hiện việc đăng kí xác lập bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, từ đó dẫn đến tình trạng nhiều nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp hay sáng chế mới của mình bị xâm phạm ở thị trường khác Nhiều doanh nghiệp còn chưa hiểu rõ các quy định về các biện pháp

xử lí hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nên không chủ động yêu cầu cơ quan

có thẩm quyền xử lí, thậm chí có doanh nghiệp còn ngại việc tố giác các hành vi làm giả sản phẩm của mình vì sợ ảnh hưởng đến uy tín và doanh thu khi người tiêu dùng chưa thật sự phân biệt được hàng thật hàng giả [4]

Về phía các doanh nghiệp là chủ thể sử dụng, việc thiếu hiểu biết về sở hữu trí tuệ có thể dẫn đến nhiều thiệt hại Chẳng hạn, nếu doanh nghiệp mua phải hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ thì khi nhập khẩu vào Việt Nam, hàng hóa đó có thể bị dừng thông quan khi có yêu cầu của chủ thể quyền Hoặc trường hợp doanh nghiệp thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sẽ bị Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm ngăn chặn việc đưa vào và lưu thông hàng hóa, bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu ngay sau khi được phép thông quan Trong trường hợp việc xâm phạm mang quy mô thương mại, cơ quan tư pháp có thể yêu cầu bắt giữ hoặc phong tỏa động sản và bất động sản bao gồm phong tỏa tài khoản ngân hàng và các tài sản khác của người bị nghi ngờ có hành vi xâm phạm; thậm chí trong trường hợp doanh nghiệp không cố ý xâm phạm mà chỉ làm dịch vụ lưu giữ, vận chuyển, quản lí hàng hóa vi phạm cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chủ thể quyền Ngoài ra, các trường hợp doanh nghiệp bị thua kiện

Trang 17

trong các vụ tranh chấp liên quan đến sở hữu trí tuệ phải trả cho bên thắng các chi phí tòa án, chi phí thuê luật sư hợp lí và các chi phí khác

3 MỘT VÀI KIẾN NGHỊ CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Một là, doanh nghiệp chủ động nâng cao nhận thức về sở hữu trí tuệ và xây dựng chính sách sở hữu trí tuệ tại doanh nghiệp mình Doanh nghiệp cần tiến hành các thủ tục xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với các đối tượng bắt buộc phải đăng

kí như nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, bí mật kinh doanh…; có cơ chế khai thác hiệu quả các đối tượng đã được bảo hộ như kí hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng (hợp đồng li-xăng); thực hiện việc góp vốn, hay kêu gọi đầu tư để

mở rộng sản xuất; có cơ chế giám sát việc thực thi các tài sản trí tuệ của mình bằng việc tận dụng các quy định dành cho chủ thể quyền

Hai là, các doanh nghiệp sử dụng các tài sản trí tuệ của chủ thể khác cần phải đánh giá xem xét cẩn thận về quyền sở hữu của đối tác Cần trang bị các kiến thức sở hữu trí tuệ, hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ của mình về các giao dịch liên quan đến tài sản trí tuệ, cần hiểu rõ về các loại hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng sử dụng các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ tránh những tranh chấp và kiện tụng tốn kém sau này

Ba là, doanh nghiệp cần tích cực tham gia vào quá trình lấy ý kiến sửa đổi luật, đảm bảo mức độ bảo hộ thỏa đáng và cân bằng giữa một bên là quyền lợi của chủ thể quyền và một bên là quyền sử dụng, quyền tiếp cận tri thức, công nghệ của xã hội Đồng thời, tích cực vận động và tham gia vào việc xây dựng bộ quy tắc ứng xử về sở hữu trí tuệ do hiệp hội các doanh nghiệp thực hiện nhằm tuân thủ các cam kết của Hiệp định một cách hiệu quả nhất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Châu Âu năm 2020 (VN-EU)

[2] Bộ Công Thương Tổng quan về Hiệp định EVFTA Truy cập từ

85ca-c51f227881dd [Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2020]

http://evfta.moit.gov.vn/?page=overview&category_id=fb203c7b-54d6-4af7-[3] Phan Anh Khi thương hiệu nổi tiếng bị lợi dụng Truy cập tư

https://vneconomy.vn/doanh-nhan/khi-thuong-hieu-noi-tieng-bi-loi-dung-65603.htm [Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020]

[4] Bảo Lâm Vì sao nhiều doanh nghiệp ngại tố cáo hàng giả, hàng vi phạm

http://vietq.vn/vi-sao-nhieu-doanh-nghiep-ngai-to-cao-hang-gia-hang-vi-pham-so-huu-tri-tue-d154392.html [Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020]

Trang 18

7

VĂN HOÁ TỔ CHỨC KINH DOANH CỦA NGƯỜI HOA TRIỀU CHÂU THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

THE ORGANIZATIONAL CULTURE IN BUSINESS

BY THE CHAOZHOU CHINESE IN SOC TRANG CITY

NCS Hồ Thanh Hải 1

Tóm tắt – Loại hình kinh doanh chủ yếu của người Hoa Triều Châu thành

phố Sóc Trăng: bán lẻ – tiệm tạp hoá, buôn bán sỉ, doanh nghiệp tư nhân Văn hoá tổ chức kinh doanh của người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng có sự gắn kết nội bộ cộng đồng người Hoa với nhau chặt chẽ; cơ chế quản lí kinh doanh

chủ yếu theo gia đình

Từ khóa: cơ chế quản lí kinh doanh theo gia đình, người Hoa Triều Châu,

văn hoá tổ chức kinh doanh

Theo số liệu điều tra dân số năm 2019 của Tổng cục Thống kê [1], tỉnh Sóc Trăng có 62.389 người dân tộc Hoa, chiếm gần 42% số người dân tộc Hoa ở Đồng

bằng sông Cửu Long Theo số liệu Báo cáo công tác người Hoa năm 2019 [2] của

Ban Dân tộc tỉnh Sóc Trăng, thành phố Sóc Trăng có 17.537 người Hoa, số hộ người Hoa hoạt động thương mại, dịch vụ và mua bán nhỏ: 3.440 hộ, chiếm 94,55% số hộ người Hoa ở thành phố Sóc Trăng Người Hoa thành phố Sóc Trăng chủ yếu là người Hoa Triều Châu, đa phần sống bằng nghề kinh doanh, có truyền thống kinh doanh lâu đời, văn hoá tổ chức kinh doanh rõ nét, độc đáo

1 HÌNH THỨC – LOẠI HÌNH KINH DOANH CHỦ YẾU

1.1 Kinh doanh bán lẻ, tiệm tạp hoá

Bán lẻ là hoạt động bán sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng, bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng Người bán lẻ thường lấy hàng từ những người bán sỉ với giá cả thấp, số lượng lớn và đem bán trực tiếp cho người tiêu dùng với số lượng ít, giá cả cao hơn giá bán sỉ Buôn bán lẻ của người Hoa Triều Châu hình thành từ khá lâu ở thành phố Sóc Trăng, phát triển rộng khắp từ thành thị đến trung tâm các vùng nông thôn với các tiệm tạp hoá, hàng xén, cửa hiệu Đặc điểm của bán lẻ là hàng hoá đa dạng, nguồn vốn nhỏ Hình thức bán lẻ phổ biến ở những người buôn bán nhỏ, họp chợ trao đổi mua bán hàng hoá, hoặc bán

1 Trường Đại học Trà Vinh; Email: hohaihaugiang@gmail.com

Trang 19

dạo Với đức tính cần cù, nhẫn nại, nhiều người Hoa khởi nghiệp bằng nghề bán

lẻ, bán dạo ngày nay đã trở thành những “đại gia” ở thành phố Sóc Trăng

Buôn bán lẻ của người Hoa Triều Châu phong phú về chủng loại hàng hoá, sản phẩm: tiệm bán bánh pía, lạp xưởng, điểm bán bánh cóng, sạp hàng chạp phô, cửa hàng đồ cúng lễ, tiệm bán bù lông ốc vít, điểm ăn tối, tiệm bán gạo, cửa hàng đông y Có rất nhiều hình thức buôn bán lẻ, nhưng hình thức buôn bán lẻ phổ biến nhất mà nhiều người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng trước đây “khởi nghiệp” là tiệm tạp hoá

Tiệm tạp hoá là một cửa hàng loại nhỏ theo mô hình của cửa hàng bách hoá,

là nơi lưu trữ hàng hoá và bày bán nhiều loại hàng hoá khác nhau trong đó có bán đầy đủ những thứ cần thiết cho cuộc sống hằng ngày như các mặt hàng đồ ăn uống khô, đồ gia dụng, kim chỉ, vải vóc, một số loại đồ xây dựng như đinh, ốc, sơn, ống nước, đồ thiết yếu cho sinh hoạt như kem đánh răng, bóp đánh răng, các đồ phục vụ học tập Đa số hàng hoá đều rẻ và đều tiện lợi tại các chợ hoặc các sạp bán hàng hay gian hàng theo phương thức bán lẻ và thanh toán trực tiếp Người Hoa Triều Châu kinh doanh tiệm tạp hoá thường nhanh nhạy, năng động trong việc nắm bắt nhu cầu thị trường, nên chủng loại hàng phong phú, đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng thông dụng hằng ngày của khách hàng Nắm bắt những nhu cầu trong cuộc sống đời thường để kịp thời đưa sản phẩm hàng hoá đến tay người tiêu dùng là một trong các sở trường của người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng Kinh doanh theo hướng dịch vụ này là một đặc trưng truyền thống của đại đa số người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng trước đây và hiện nay vẫn còn phổ biến Mô hình cửa hàng tạp hoá phù hợp với quy mô hoạt động buôn bán nhỏ của đa số các chủ thể kinh doanh người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng Nó gắn với kinh tế cá thể, hộ gia đình, linh hoạt trong việc lựa chọn mặt hàng và địa điểm, mặt bằng kinh doanh Sự đa dạng về mặt hàng, chủng loại kinh doanh thể hiện sự nhanh nhạy của các chủ thể kinh doanh người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng trong việc nắm bắt nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng Điều này cho thấy người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng từ lâu đã nắm vững một trong các quy tắc cơ bản của kinh doanh là nắm bắt và phản ứng nhanh nhạy trước thông tin, thị hiếu thị trường, chọn mặt hàng kinh doanh theo nhu cầu thị trường

Với đặc tính đa dạng về chủng loại hàng hoá, tiệm tạp hoá là mô hình chứa đựng nét văn hoá kinh doanh của người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng Trong hoạt động kinh doanh tạp hoá, thoạt nhìn, tưởng chừng không tuân theo triết lí kinh doanh gì, nhưng thực tế, đa phần người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng kinh doanh tạp hoá đều có bí quyết, triết lí kinh doanh riêng Nhiều người Hoa Triều Châu giàu có ở thành phố Sóc Trăng hiện nay, trước đây khởi nghiệp từ các tiệm tạp hoá, từ đó nắm vững nguyên lí thị trường, tích luỹ vốn và phát triển kinh doanh lớn hơn, trở thành người bỏ mối, buôn sỉ Vì thế, hiện nay,

Trang 20

Thứ nhất, tổ chức kinh doanh hộ gia đình theo loại hình bán lẻ, tiệm tạp hoá

là một trong các hình thức kinh doanh truyền thống của người Hoa trước đây, kể

cả người Hoa sau khi rời khỏi Trung Hoa đi lập nghiệp, kinh doanh ở nước khác

Thứ hai, điều kiện kinh tế và bối cảnh của người Hoa Triều Châu trong

những ngày đầu định cư, lập nghiệp ở Sóc Trăng: người Hoa Triều Châu xưa đến lập nghiệp ở Sóc Trăng do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng đều có điểm chung là họ đến Sóc Trăng với hai bàn tay trắng, hoặc có quy mô vốn nhỏ Trong bối cảnh chưa tích luỹ được quy mô vốn lớn, môi trường sống mới, chưa có nhiều mối quan hệ với người dân và chính quyền sở tại, lựa chọn kinh doanh cá thể, hộ gia đình gắn với loại hình bán lẻ, tiệm tạp hoá là phù hợp nhất, thậm chí nhiều người phải bắt đầu từ nghề: trồng lúa, tỏi, hành tím, củ cải trắng, sau khi tích luỹ được lượng vốn khá khá, tạo lập được mối quan hệ với người dân bản địa, mới chuyển sang kinh doanh các mặt hàng thực phẩm, bánh kẹo, các món ăn truyền

thống, tiệm tạp hoá

Thứ ba, kinh tế – xã hội thành phố Sóc Trăng trước đây kém phát triển, là

vùng nông thôn kiểu truyền thống, địa bàn kinh doanh nhỏ, chưa có điều kiện cho các loại hình kinh doanh hiện đại quy mô vốn lớn xuất hiện, trong bối cảnh đó, loại hình kinh doanh bán lẻ, tiệm tạp hoá gắn với nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của người dân vùng nông thôn là phù hợp nên người Hoa Triều Châu đã lựa chọn Người Hoa Sóc Trăng, ngoài người Hoa gốc Triều Châu, còn có người Hoa nhóm ngôn ngữ Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, nhưng do tính gắn kết nội bộ cộng đồng người Hoa, cùng có chung cội nguồn truyền thống thương nghiệp Trung Hoa, cùng hệ toạ độ không gian văn hoá, thời gian văn hoá kinh doanh ở thành phố Sóc Trăng, nên văn hoá tổ chức kinh doanh của người Hoa ngôn ngữ Triều Châu và người Hoa nhóm ngôn ngữ Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam ở thành phố Sóc Trăng không có sự khác biệt đáng kể Thời gian đầu mới đến lập nghiệp ở Sóc Trăng, giữa người Hoa Triều Châu và người Hoa Quảng Đông có một số điểm khác nhau nhất định trong lựa chọn loại hình kinh doanh Nhưng sự khác biệt đó mất dần trong quá trình họ cùng sinh sống, trao đổi, buôn bán, kinh doanh ở thành phố Sóc Trăng trong một không gian văn hoá, thời gian văn hoá, chủ thể văn hoá kinh doanh chung là cộng đồng người Hoa thành phố Sóc Trăng Sau nhiều đợt di cư – biến động của cộng đồng người Hoa, hiện nay người Hoa thành phố Sóc Trăng, chủ yếu là người Hoa nhóm ngôn ngữ Triều Châu, văn hoá kinh doanh của họ là sự đại diện cho những đặc trưng tính cách văn hoá kinh doanh chung của cộng đồng người Hoa thành phố Sóc Trăng Vì vậy, ở nội dung

Trang 21

này, chúng tôi không tách văn hoá kinh doanh người Hoa Triều Châu khỏi cộng đồng người Hoa thành phố Sóc Trăng để so sánh, đối chiếu với người Hoa nhóm ngôn ngữ Quảng Đông, Phúc Kiến, hay Hải Nam

Đồng thời, ở góc nhìn tổng thể, thành phố Sóc Trăng hiện nay có ba chủ thể văn hoá chính là người Việt, Hoa, Khmer Nhưng hoạt động kinh doanh hiện nay chủ yếu là người Việt và người Hoa, người Khmer cư trú ở vùng nông thôn, mưu sinh chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, làm thuê, làm mướn, số lượng người Khmer tham gia buôn bán, kinh doanh không đáng kể, chưa có văn hoá kinh doanh rõ nét Người Việt tham gia kinh doanh, buôn bán ở thành phố Sóc Trăng hiện nay khá đông và loại hình kinh doanh bán lẻ, tiệm tạp hoá cũng là sự lựa chọn phổ biến Tuy nhiên, lịch sử buôn bán, kinh doanh của người Việt thành phố Sóc Trăng không lâu đời như người Hoa Triều Châu Người Việt trước đây chủ yếu mưu sinh bằng nghề nông nghiệp, xem nhẹ kinh doanh, chỉ sau năm 1986, hoạt động kinh doanh, buôn bán của người Việt thành phố Sóc Trăng mới thực sự rõ nét Do vậy, dù cùng loại hình kinh doanh bán lẻ, tiệm tạp hoá nhưng văn hoá kinh doanh loại hình này của người Việt thành phố Sóc Trăng chưa có tính tập trung, chưa rõ nét và đặc sắc như người Hoa Triều Châu

1.2 Hình thức kinh doanh buôn bán sỉ

Bán sỉ (còn gọi bán buôn) là hình thức bán hàng với số lượng lớn, tiêu thụ

số lượng lớn sản phẩm trong thời gian ngắn, giá thành thấp, có chiết khấu hoa hồng từ nhà cung ứng Bán sỉ là hoạt động bán hàng hoá không bao gồm hoạt động bán hàng trực tiếp tới người tiêu dùng cuối cùng

Hoạt động bán sỉ chủ yếu phổ biến ở lớp thương nhân lớn và vừa, vì loại hình kinh doanh này yêu cầu nguồn vốn lớn Buôn sỉ gần như là phương thức kinh doanh độc quyền của người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng trong nhiều năm trước đây Những nhà buôn lớn người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng nhiều năm trước đây là những đại lí độc quyền phân phối một hoặc một số sản phẩm trên địa bàn thành phố Sóc Trăng Các chủ tiệm buôn sỉ người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng có nhiều vốn, kinh nghiệm, nghiệp vụ kinh doanh giỏi, năng động, lại có sự liên kết chặt chẽ với nhau tạo nên mạng lưới phân phối hàng hoá rất hiệu quả Buôn sỉ là một hoạt động kinh doanh được tổ chức khá chặt chẽ, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng

Do đó, các chủ thể kinh doanh người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng khi có

sự vững chắc trong làm ăn, tích lũy được lượng vốn khá họ muốn trở thành người bán sỉ, nhà phân phối

1.3 Kinh doanh loại hình doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp

tư nhân do một cá nhân làm chủ, có tài sản, có trụ sở giao dịch Chủ doanh nghiệp

Trang 22

11

tư nhân là đại diện theo pháp luật, có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của công ti Thông thường, chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ trực tiếp quản lí và điều hành mọi hoạt động của công ti, tuy nhiên, người chủ vẫn có thể thuê người khác để thay mình làm công việc này Doanh nghiệp tư nhân là công ti trách nhiệm vô hạn và không có tư cách pháp nhân

Sở dĩ các chủ thể kinh doanh người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng khi kinh doanh theo loại hình doanh nghiệp thường lựa chọn loại hình doanh nghiệp tư nhân là vì loại hình này có ưu điểm, theo đó người kinh doanh hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật, tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng bởi chế độ trách nhiệm vô hạn

Những đặc điểm và ưu điểm của loại hình doanh nghiệp tư nhân rất phù hợp với một số đặc trưng tính cách của các chủ thể kinh doanh người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng (kinh doanh cá thể hộ gia đình, sợ phiền phức, ngại đụng chạm với chính quyền sở tại): đa phần người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng trước đây lập nghiệp từ buôn bán nhỏ, kinh doanh hộ gia đình, ý thức được thành phần xuất thân của mình, nên để yên ổn làm ăn, họ chọn cách tránh can thiệp, “đụng chạm” với chính quyền địa phương Tính cách này phù hợp với ưu điểm của doanh nghiệp tư nhân là ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật, chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp tư nhân có ưu điểm: tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng bởi chế độ trách nhiệm vô hạn Điều này phù hợp với triết lí kinh doanh lấy chữ tín làm đầu của các chủ thể kinh doanh người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng

Tuy nhiên, những năm gần đây, số người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng kinh doanh loại hình công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti cổ phần ngày càng nhiều Theo số liệu Ban Dân tộc tỉnh Sóc Trăng năm 2019 [1], người Hoa Triều Châu tỉnh Sóc Trăng kinh doanh loại hình doanh nghiệp như sau: 170/942

số doanh nghiệp tư nhân của tỉnh, chiếm 18,05%; 137/1152 tổng số công ti TNHH một thành viên của tỉnh, chiếm 11,89%; 44/398 tổng số công ty TNHH hai thành viên của tỉnh, chiếm 11,06%; 11/145 tổng số công ti cổ phần của tỉnh, chiếm 7,59% Các doanh nghiệp trên chủ yếu tập trung ở thành phố Sóc Trăng

2 TÍNH ĐẶC TRƯNG TRONG VĂN HOÁ TỔ CHỨC KINH DOANH CỦA NGƯỜI HOA TRIỀU CHÂU THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

2.1 Tổ chức kinh doanh hộ gia đình (tính cá thể trong tổ chức kinh doanh) của người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng

Kinh doanh cá thể hộ gia đình là cơ sở kinh tế phổ biến, mang tính truyền thống của đại bộ phận người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng (mang tính truyền thống thương nghiệp Trung Hoa cổ xưa) Trong quá trình ghiên cứu, chúng tôi đã phát 100 phiếu điều tra xã hội học, đối tượng trả lời là người Hoa nhóm

Trang 23

ngôn ngữ Triều Châu kinh doanh ở thành phố Sóc Trăng Đối với câu hỏi:

“Ông/Bà hiện nay đang kinh doanh theo loại hình nào?”: Có 87% người chọn loại hình kinh doanh cá thể hộ gia đình (Phụ lục 2) Mặc dù trải qua nhiều biến động

xã hội, những đặc tính truyền thống của hình thức kinh doanh cá thể này vẫn tồn tại và phát triển mạnh mẽ Vì người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng trước đây phải dựa vào nền kinh tế nhỏ, cá thể để sống và đảm bảo sự tồn tại của gia đình trên vùng đất vốn không phải quê hương, cội nguồn của mình Người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi truyền thống Nho giáo, cách thức tổ chức gia đình chặt chẽ, nên kinh doanh cá thể hộ gia đình trở thành đơn vị cơ sở đầu tiên trong kinh doanh của họ

Kinh doanh hộ gia đình của người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng là

mô hình kinh doanh do một cá nhân, hoặc một hộ gia đình đứng tên làm chủ Kinh doanh hộ gia đình là hình thức kinh doanh chủ yếu của người Hoa Triều Châu kinh doanh ở thành phố Sóc Trăng, bởi những lí do sau:

Thứ nhất, việc kinh doanh hộ gia đình gọn, nhẹ, dễ quản lí vì người Hoa Triều Châu ở thành phố Sóc Trăng thường sử dụng một số người trong gia tộc giúp việc hoặc làm thuê, một khi phát triển lên thì gia đình dễ dàng trở thành đơn

vị kinh doanh Do vậy, người Hoa Triều Châu ở thành phố Sóc Trăng luôn duy trì

và phát triển, nhân rộng mô hình kinh doanh hộ gia đình, thậm chí khi quy mô kinh doanh mở rộng hơn, họ vẫn có xu hướng duy trì mô hình kinh doanh này dựa trên nguyên tắc trọng tình, trọng quan hệ truyền thống theo mô hình quản trị truyền thống phương Đông Ngoài ra, hầu hết các gia đình người Hoa Triều Châu

ở thành phố Sóc Trăng hiện nay vẫn duy trì phương thức tổ chức gia đình nhiều thế hệ đồng trú theo kiểu truyền thống Người lớn tuổi được nể trọng và giữ vai trò quyết định những vấn đề quan trọng của gia đình, dòng họ Từ tổ chức kinh tế

hộ gia đình, họ dần phát triển, mở rộng kinh doanh và lập ra những đơn vị kinh doanh gia đình quy mô lớn hơn

Thứ hai, kinh doanh hộ gia đình linh hoạt trong tạo vốn thông qua hình thức tín dụng gia đình dựa vào chữ tín, nhất là hình thức “chơi hụi” Đây là một hình thức tín dụng gắn với tập quán của người Hoa Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, người Hoa Triều Châu ở thành phố Sóc Trăng nói riêng Đó là cách tích lũy vốn, tạo lập vốn gia đình nhờ vào sự góp vốn, giúp vốn kinh doanh kín đáo trong nội bộ người Hoa Trên cơ sở tạo vốn theo phương thức tín dụng hộ gia đình, họ mạnh dạn mở rộng địa bàn, mặt bằng kinh doanh Phương thức tạo vốn này tạo ra những cơ hội cho những người Hoa Triều Châu mới khởi nghiệp kinh doanh, hoặc khi công việc kinh doanh gặp khó khăn Nhiều người Hoa Triều Châu

ở thành phố Sóc Trăng hiện nay đã chuyển sang mô hình kinh doanh theo loại hình doanh nghiệp, nhưng đa phần vẫn là doanh nghiệp tư nhân, có ít tổ chức kinh doanh theo loại hình công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti cổ phần, tập đoàn

Trang 24

13

Gia đình là nền tảng của cuộc sống, là mục tiêu phấn đấu đối với mỗi người Hoa Triều Châu ở thành phố Sóc Trăng Trong kinh tế hộ gia đình của người Hoa Triều Châu ở thành phố Sóc Trăng, con trai có vị trí đặc biệt và trách nhiệm lớn trong kinh tế hộ gia đình Con trai trong gia đình là những người tiếp thu nghề nghiệp gia truyền của gia đình, tiếp tục phát triển mô hình kinh tế cá thể hoặc phát triển ngành kinh doanh mới Tính cách văn hoá này cũng là nét đặc trưng chung của các nhóm người Hoa ngôn ngữ Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam ở tỉnh Sóc Trăng thậm chí cả người Kinh ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ, Việt Nam Nhưng với người Việt ở thành phố Sóc Trăng, tính cách văn hoá này không rõ nét, do họ không chịu ảnh hưởng nhiều bởi những tư tưởng của Nho giáo

2.2 Tính gắn kết cộng đồng trong tổ chức kinh doanh của người Hoa Triều Châu ở thành phố Sóc Trăng

Dù trong tổ chức kinh doanh của người Hoa Triều Châu ở thành phố Sóc Trăng có tính cá thể, do chủ yếu lựa chọn mô hình kinh doanh hộ gia đình như đã

đề cập ở nội dung trên, nhưng ở góc độ đi tìm sợi dây gắn kết trong văn hoá tổ chức kinh doanh của nội bộ cộng đồng người Hoa với nhau, việc kinh doanh theo hình thức gia đình của họ một khi đã tích luỹ được lượng vốn đủ lớn với một quy

mô nhất định, các hộ gia đình đó sẽ phát triển kinh doanh thành một mạng lưới kinh doanh gia đình rộng lớn, tạo thành sợi dây gắn kết trong cộng đồng người Hoa Triều Châu ở thành phố Sóc Trăng

Gắn kết cộng đồng là nét độc đáo trong văn hoá kinh doanh của cộng đồng người Hoa Triều Châu ở thành phố Sóc Trăng, nó vừa có tính kế thừa những tập quán kinh doanh truyền thống ở Trung Hoa, vừa chịu sự tác động bởi điều kiện môi trường tự nhiên, tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội ở tỉnh Sóc Trăng qua nhiều năm

Tính gắn kết cộng đồng của người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng thể hiện trên các phương diện sau:

Thứ nhất, gắn kết gia đình, gia tộc

Kinh tế hộ gia đình là nền tảng cơ bản cho sự tồn tại, phát triển trong kinh doanh của người Hoa Triều Châu ở thành phố Sóc Trăng Mô hình kinh doanh này có ưu điểm bởi sự tổ chức linh động, bám sát nhu cầu cuộc sống thường ngày trên địa bàn sinh sống để chọn các mặt hàng kinh doanh và hướng tới chuyên nghiệp, chuyên môn hoá các mặt hàng Ngoài ra, nó còn được bảo trợ chặt chẽ bởi những quan hệ thân nhân, đồng tộc trong cộng đồng người Hoa Triều Châu trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng và cả ở các tỉnh, thành thuộc Đồng bằng sông Cửu Long

và Đông Nam Bộ Trong gia đình người Hoa Triều Châu ở thành phố Sóc Trăng, người lớn có trách nhiệm bảo vệ và chăm sóc, giúp đỡ người ít tuổi kinh doanh

Cá nhân phải đặt lợi ích của mình trong quyền lợi chung của gia đình Gia đình, dòng họ, thân tộc trở thành chỗ dựa, nền tảng trong kinh doanh của người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng Do xem trọng gia đình, nên người Hoa Triều

Trang 25

Châu thành phố Sóc Trăng có sự gắn kết cộng đồng chặt chẽ, thậm chí đưa tình cảm gia đình vào trong cơ chế quản lí kinh doanh Các mối quan hệ giữa chủ với thợ, vay – mượn tín dụng, tuyển chọn nhân viên hoặc trao đổi hàng hoá được thể chế hoá hay lồng ghép bằng tình cảm gia đình, họ hàng thân tộc, đồng hương

Thứ hai, gắn kết về địa bàn cư trú, kinh doanh

Từ kinh doanh nhỏ lẻ một số mặt hàng, các hộ gia đình người Hoa Triều Châu đã mở rộng mặt hàng kinh doanh theo nhu cầu của người dân Người kinh doanh trước truyền lại cho con, cháu, cho những người đồng tộc, đồng hương dần dần họ hình thành những khu phố chuyên kinh doanh những mặt hàng nhất định Các khu phố này trở thành sự cố kết cộng đồng trong kinh doanh, sinh hoạt vật chất cũng như đời sống tinh thần của người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng

Sự gắn kết cộng đồng trong kinh doanh của người Hoa Triều Châu ở thành phố Sóc Trăng thể hiện rõ nét ở những khu phố chuyên kinh doanh các mặt hàng nhất định Ví dụ: khu phố chuyên kinh doanh các mặt hàng đồ sắt, đồ mủ, đồ chơi trẻ em; khu phố chuyên kinh doanh giày dép, quần áo – vải, hàng mã; khu phố chuyên kinh doanh bánh kẹo, thực phẩm tiêu dùng, các món ăn truyền thống của người Hoa ở tỉnh Sóc Trăng Ở những khu phố này, các chủ tiệm bán hàng phần lớn là người gốc Hoa Triều Châu Dù việc phân chia khu phố chuyên kinh doanh những mặt hàng cụ thể ở thành phố Sóc Trăng còn mang tính tương đối, sự phân công, chuyên môn hoá chưa sâu sắc, nhưng điều này cũng phần nào minh chứng cho sự gắn kết về địa bàn kinh doanh của người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng

Người Hoa Triều Châu kinh doanh ở thành phố Sóc Trăng hiện nay sống tập trung đông nhất ở Phường 1, Phường 4 và Phường 9 Đây là các trung tâm thương mại phát triển sớm và sôi động nhất hiện nay ở thành phố Sóc Trăng Trong đó, hoạt động kinh doanh của người Hoa Triều Châu góp một phần rất quan trọng trong lĩnh vực thương nghiệp ở các phường này

Thứ ba, gắn kết cộng đồng thông qua các hình thức tổ chức hội của người Hoa

Người Hoa ở thành phố Sóc Trăng hiện nay có Hội Tương tế người Hoa thành phố Sóc Trăng Hội là tổ chức thành viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Sóc Trăng Hội Tương tế người Hoa thành phố Sóc Trăng gồm 13 thành viên là 4 hội tôn thân họ tộc và 9 hội chùa, miếu Hoa trên địa bàn thành phố Mặc dù mỗi tổ chức hội có chức năng nhiệm vụ riêng, nhưng về cơ bản đều hướng tới chăm lo cho đời sống cộng đồng người Hoa ở thành phố Sóc Trăng, đồng thực hiện trách nhiệm với cộng đồng, xã hội nơi cư trú, kinh doanh Trong các hội của người Hoa ở thành phố Sóc Trăng, Hội Tương tế người Hoa ở thành phố Sóc Trăng là tổ chức lớn nhất, có vai trò chăm lo tất cả các mặt đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng người Hoa ở thành phố Sóc Trăng Các Hội khác

Trang 26

bó cộng đồng thể hiện ở trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi cá nhân và toàn cộng đồng người Hoa ở thành phố Sóc Trăng Sự thành công trong kinh doanh của từng chủ thể người Hoa Triều Châu ở thành phố Sóc Trăng có vai trò rất lớn từ sự hỗ trợ cộng đồng người Hoa thông qua hoạt động của các tổ chức hội, đặc biệt là Hội Tương tế người Hoa ở thành phố Sóc Trăng

Tính gắn kết cộng đồng kinh doanh của người Hoa Triều Châu ở thành phố Sóc Trăng mang tính đặc thù cao, họ không những hỗ trợ nhau về vốn, kinh nghiệm kinh doanh, mà họ còn quy định những khung giá chung chính thức hoặc phi chính thức nhằm khống chế giá cả một số mặt hàng ở thành phố Sóc Trăng Trong mối quan hệ buôn bán, họ liên kết, hỗ trợ nhau từ việc giữ giá, đến việc tồn kho phân phối hàng hoá Hầu hết các cửa tiệm từ nhỏ tới lớn của người Hoa Triều Châu ở thành phố Sóc Trăng đều có mạng lưới phân phối hàng hoá của người đồng hương, đồng tộc Sự gắn kết cộng đồng trở thành nhân tố tạo nên sự ổn định

và phát triển hoạt động kinh doanh của người Hoa Triều Châu ở thành phố Sóc Trăng Người Hoa Triều Châu buôn bán nhỏ, hoặc gặp khó khăn trong kinh doanh thường phải tìm cách tăng cường gắn kết trong cộng đồng người Hoa để được cộng đồng giúp đỡ, bao bọc

Tóm lại, loại hình kinh doanh chủ yếu của người Hoa Triều Châu thành phố

Sóc Trăng là bán lẻ – tiệm tạp hoá, buôn bán sỉ, doanh nghiệp tư nhân Văn hoá tổ chức kinh doanh của người Hoa Triều Châu thành phố Sóc Trăng có sự gắn kết nội bộ cộng đồng người Hoa với nhau rất chặt chẽ; sự gắn kết cộng đồng biểu hiện qua sự gắn kết tình đồng hương, đồng họ, đồng tộc trong kinh doanh Cơ chế quản lí kinh doanh của người Hoa Triều Châu ở thành phố Sóc Trăng chủ yếu theo gia đình, dòng họ, đồng tộc, đồng hương

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Dương Thị Liễu – Chủ biên Giáo trình Văn hoá kinh doanh Hà Nội: NXB

Đại học Kinh tế Quốc dân 2012

[2] Nguyễn Thị Ngọc Mai Văn hoá ẩm thực của người Hoa Triều Châu tỉnh Sóc Trăng [Luận văn thạc sĩ] Trường Đại học Trà Vinh 2015

[3] Nguyễn Mạnh Quân Đạo đức kinh doanh và văn hoá công ty Hà Nội: NXB

Đại học Kinh tế Quốc dân 2013

Trang 27

[4] Phạm Quốc Toản Đạo đức kinh doanh và Văn hoá doanh nghiệp Hà Nội:

NXB Lao động – Xã hội 2007

[5] Vương Trương Hồng Vân Văn hoá kinh doanh của người Hoa ở Thành phố

Hồ Chí Minh [Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hoá học] Trường Đại học

Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

2007

[6] Ban Thường vụ tỉnh Sóc Trăng Địa chí tỉnh Sóc Trăng Hà Nội: NXB Chính

trị quốc gia Sự thật 2012

[7] UBND thành phố Sóc Trăng Báo cáo về tình hình công tác người Hoa năm

2019 trên địa bàn thành phố Sóc Trăng 2019

[8] Võ Thanh Hùng, Vai trò của người Hoa trong việc phát triển cảng Bãi Xàu

viet/vai-tro-nguoi-hoa-trong-viec-phat-trien-cang-bai-xau-ba-xuyen -soc-trang [Ngày truy cập 20/11/2020]

Trang 28

https://sites.google.com/site/vothanhhunginfo/nghien-cuu-khoa-hoc/bai-17

HIỂU BIẾT TÀI CHÍNH VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC TÀI CHÍNH

CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG

FINANCIAL LITERACY AND FINANCIAL EDUCATION

FOR CONSUMERS

Tóm tắt – Những mất mát, khó khăn khi sử dụng dịch vụ tài chính là những

rủi ro mà người tiêu dùng có thể gặp phải, trong đó sự thiếu hiểu biết về tài chính

là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này Vì vậy, cần phải làm gì

để cải thiện kiến thức tài chính của người tiêu dùng? Tham luận chia sẻ vấn đề này thông qua việc làm rõ khái niệm, tầm quan trọng của hiểu biết tài chính và giáo dục tài chính cho người tiêu dùng; thể hiện/mức độ hiểu biết về tài chính của người tiêu dùng và những rủi ro đi kèm; từ đó, đưa ra một vài gợi ý cho việc ban hành chiến lược quốc gia về giáo dục tài chính, góp phần nâng cao hiểu biết về tài chính của người tiêu dùng Việt Nam

Từ khóa: hiểu biết tài chính, giáo dục tài chính, người tiêu dùng

Theo Báo cáo thường niên 2019 của Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng của Bộ Công Thương, tính đến cuối năm 2019, Tổng đài tư vấn, hỗ trợ người tiêu dùng 1800.6838 của Cục đã nhận được 9.295 cuộc gọi đến, trong đó lĩnh vực tài chính – ngân hàng được người tiêu dùng phản ánh, khiếu nại nhiều nhất [1] Vấn đề được người tiêu dùng phản ánh nhiều ở lĩnh vực tài chính – ngân hàng là việc thu nợ kèm đe dọa, quấy rối Đó là một phần của câu chuyện về tài chính của người tiêu dùng – giải quyết vấn đề cân đối ngân sách gia đình, tìm nguồn nào để trang trải các khoản chi tiêu trong gia đình Tuy vậy, câu chuyện về tài chính của người tiêu dùng không chỉ là việc tìm nguồn mà việc chi tiêu, tiết kiệm, việc tài trợ giáo dục trẻ em, việc dành dụm một phần thu nhập đảm bảo cho

cuộc sống khi về già… cũng không kém phần quan trọng

Những vướng mắc, mất mát, khó khăn khi sử dụng các dịch vụ tài chính là rủi ro mà người tiêu dùng phải đối mặt, trong đó, sự thiếu hiểu biết về tài chính là một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này Vậy, cần phải làm gì để nâng cao sự hiểu biết về tài chính của người tiêu dùng?

1 Trường Đại học Trà Vinh

2 Trường Đại học Kinh tế – Tài chính TP Hồ Chí Minh; Email: nhungdhnh@yahoo.com

Trang 29

Bài viết chia sẻ vấn đề này thông qua việc làm rõ khái niệm, tầm quan trọng của hiểu biết tài chính và giáo dục tài chính cho người tiêu dùng; chỉ ra mức độ hiểu biết về tài chính của người tiêu dùng và những rủi ro mà người tiêu dùng gặp phải; từ đó đưa ra một vài gợi ý cho việc xây dựng chiến lược quốc gia về giáo dục tài chính, góp nâng cao sự hiểu biết về tài chính của người tiêu dùng Việt Nam

VÀ GIÁO DỤC TÀI CHÍNH CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG

Mặc dù cho đến nay vấn đề khái niệm về “hiểu biết tài chính” vẫn chưa có

sự thống nhất, vẫn được diễn giải theo nhiều cách khác nhau trong mỗi nghiên cứu, mỗi chương trình, dự án… Tuy nhiên, chúng ta có thể sử dụng khái niệm của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), đây là đơn vị đầu tiên lập ra Dự

án Giáo dục Tài chính Theo OECD [2], “hiểu biết tài chính” được định nghĩa là tổng hợp nhận thức, kiến thức, kĩ năng, thái độ và hành vi tài chính cần thiết để có thể đưa ra các quyết định tài chính lành mạnh và cuối cùng đạt được lợi ích tài chính

Thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết về tài chính thì bản thân người tiêu dùng gặp không ít khó khăn trong việc lên cân đối ngân sách cho gia đình mình, cho bản thân mình Họ không thể cân đối các khoản chi trong gia đình; không biết nên đầu tư cho con cái bao nhiêu; không biết nên mua nhà hay chỉ nên thuê nhà; không biết nếu mua nhà thì cần tiết kiệm bao nhiêu, tiết kiệm như thế nào; nên để tiền trong ngân hàng hay đầu tư; đầu tư vào đâu, khả năng rủi ro thế nào; thiếu nguồn thì tìm ở đâu… Khi thiếu những hiểu biết cần thiết về tài chính thì sẽ có những quyết định tài chính chưa chuẩn xác là điều không tránh khỏi Thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết về tài chính cũng có nghĩa là ngay cả những sản phẩm, dịch

vụ tài chính hiện có cũng như các yêu cầu cần thiết để sử dụng các sản phẩm, dịch

vụ đó người tiêu dùng cũng không hiểu hết Điều này đã khiến họ thiếu sự tự tin, ngại tiếp cận và thường có thái độ không tin tưởng đối với các sản phẩm, dịch vụ tài chính, kể cả những sản phẩm, dịch vụ trên thị trường tài chính chính thức Đây

sẽ là rào cản lớn trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính trên thị trường chính thức, mở cơ hội cho sự xuất hiện của các sản phẩm, dịch vụ tài chính phi chính thức mà thường gọi là thị trường tài chính chợ đen

Thiếu hiểu biết về tài chính, không có những kiến thức tài chính tối thiểu, người tiêu dùng không những có thể rơi vào tình trạng thiếu tiền để trang trải các chi phí sinh hoạt thường xuyên, mà còn không thể trang trải những chi phí phát sinh ngoài dự kiến Trong tình huống xấu nhất, có thể rơi vào nợ nần chồng chất hoặc trở thành nạn nhân của những kẻ lừa đảo – tình trạng nguy hiểm cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội

Cũng theo OEDC, “giáo dục tài chính” được hiểu là “một quá trình trong đó người tiêu dùng/nhà đầu tư cải thiện sự hiểu biết về các sản phẩm tài chính, các

Trang 30

19

khái niệm và rủi ro tài chính, dựa trên những thông tin, hướng dẫn và tư vấn khác

mà phát triển các kĩ năng, sự tự tin để nhận biết các rủi ro cũng như cơ hội tài chính, từ đó đưa ra các quyết định trên cơ sở đầy đủ thông tin, hoặc biết cách tìm kiếm sự giúp đỡ, và hành động một cách hiệu quả nhằm cải thiện tình trạng tài chính của mình” [3]

Giáo dục tài chính không chỉ giúp người tiêu dùng nắm được thông tin về các sản phẩm tài chính hiện có và các nhà sản xuất, cung ứng chúng, cũng như các các kênh nhận thông tin từ các dịch vụ tư vấn hiện có; mà còn giúp họ nâng cao năng lực trong sử dụng các dịch vụ tài chính, sử dụng thông tin hiện có trong quá trình ra quyết định khi thực hiện các khoản thanh toán, khi đánh giá rủi ro, khi so sánh các lợi thế của dịch vụ tài chính khác nhau Người tiêu dùng có hiểu biết tài chính, có kiến thức tài chính cơ bản thường biết lập kế hoạch tài chính thông minh, cân đối khá tốt các khoản thu nhập và chi phí của gia đình; sống bằng tài sản của bản thân mà hầu như không có các khoản nợ không cần thiết; có kế hoạch

dự phòng trước những tình huống không lường trước và chuẩn bị cho vấn đề hưu trí của bản thân; biết mua các sản phẩm và dịch vụ tài chính có chọn lọc; thậm chí còn có khả năng khởi nghiệp và biết xây dựng các dự án kinh doanh Tất cả những điều đó có thể giúp các gia đình tận hưởng cuộc sống tốt đẹp hơn

Hiểu biết tài chính có thể coi là kết quả của giáo dục tài chính vì nhờ có giáo dục tài chính, con người mới hiểu biết tài chính một cách rõ ràng và từ đó có thể vận dụng chúng một cách hiệu quả hơn trong cuộc sống Mức độ hiểu biết tài chính cá nhân có thể được cải thiện nhờ vào mức độ tích cực và hiệu quả của các hoạt động giáo dục tài chính

“Chúng tôi, các Bộ trưởng Tài chính của các nước APEC, công nhận rằng

am hiểu tài chính là một kĩ năng thiết yếu của tất cả mọi người sống trong thế kỉ

21, và là một thành phần quan trọng trong nỗ lực của mỗi quốc gia vì sự ổn định kinh tế, tài chính, vì sự phát triển của mọi thành phần xã hội, và sự thịnh vượng của mỗi cá nhân và gia đình Vì vậy, chúng tôi ghi nhận rằng giáo dục tài chính trong trường học là một phần vô cùng quan trọng của giáo dục thế kỉ 21”- Theo ý kiến chuyên gia về giáo dục tài chính [4]

RỦI RO KHÓ TRÁNH

Một điều tra về khả năng tiếp cận tài chính của người dân do OECD thực hiện năm 2013 [5] với nhiều quốc gia đã kết luận hầu hết các cuộc điều tra về tài chính ngân hàng tiến hành trên toàn thế giới cho thấy một phần lớn dân số không

có đủ kiến thức, thậm chí là kiến thức cơ bản, để hiểu về sản phẩm tài chính và rủi

ro liên quan các sản phẩm tài chính Một bộ phận lớn các cá nhân không biết lập

kế hoạch ngân sách cho tương lai và không thực hiện hiệu quả quyết định quản lí tài chính của mình Khảo sát của Standard & Poors [6] cũng chỉ ra trên thế giới chỉ có 24% số người trưởng thành được trang bị kiến thức cơ bản về quản lý tài

Trang 31

chính cá nhân, bao gồm bốn nội dung căn bản: Lãi suất; Tính lãi kép; Lạm phát và

Đa dạng hóa rủi ro Standard & Poors [6] cũng cho biết có đến gần ¾ những

người trên 18 tuổi tại Châu Á không hiểu rõ về các vấn đề tiền bạc, bao gồm cả

những chuyện cơ bản như lạm phát và hạn chế rủi ro

Còn theo một báo cáo của Trung Quốc về sự thiếu hiểu biết tài chính của

người trưởng thành Châu Á [7], có đến 63% người tiêu dùng thẻ tín dụng đang

thiếu hiểu biết về tài chính và chỉ có 28% người dân có am hiểu thực sự Đây là

một điều khá nguy hiểm khi số người sử dụng thẻ ngày càng tăng cao

Thiếu hiểu biết tài chính của người tiêu dùng Việt Nam cũng trong tình

trạng chung, thậm chí còn cao hơn một số nước ở Châu Á Theo số liệu thống kê

sau điều tra của Standard & Poor’s năm 2014 [6], chỉ có 24% người trưởng thành

của Việt Nam có hiểu biết về tài chính, thấp hơn Trung Quốc (28%), Indonesia

(32%), Malaysia (36%), Philippines (25%), Thái Lan (27%), chỉ cao hơn

Campuchia (18%)

Theo Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2015-2016 của OECD [8], Việt Nam chỉ

đứng vị trí 103/144 quốc gia được khảo sát về mức độ sẵn có đối với dịch vụ tài

chính và chỉ 24% người trưởng thành của Việt Nam được xếp vào nhóm có trình

độ dân trí về tài chính ở mức cao Phần lớn người dân cho rằng mình chỉ biết đại

khái và thậm chí hoàn toàn không hiểu gì về hình thức mua sắm hay vay tiêu dùng

Còn theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, số người được hỏi đã nghe và

hiểu về cụm từ cho vay khách hàng cá nhân chỉ chiếm 51% Một cuộc khảo sát ở

7 trường trung học của Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) với đối tượng học

sinh từ 13-18 tuổi thu được kết quả như sau: chỉ có 17,2% số học sinh biết tiết

kiệm và chi tiêu một phần tiền có được; 8,8% chi tiêu toàn bộ số tiền có được và

số còn lại không biết tiêu tiền hoặc tiết kiệm Những con số trên đã lý giải cho

việc tại sao tính đến năm 2017, mức độ phổ cập tài chính của Việt Nam chỉ xếp

thứ 112/176 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới và đứng ở vị trí 22/37 tại khu

vực châu Á [9]

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu đầu tư của người tiêu dùng

cũng tăng lên Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, mỗi năm thế giới có gần

150 triệu người tiêu dùng mới tham gia vào thị trường tài chính [10] Tuy nhiên,

trên thị trường, những sản phẩm, dịch vụ tài chính, đặc biệt là những giao dịch tài

chính online, ngày càng nhiều và đa dạng Nhiều sản phẩm tài chính phát triển

vượt trội, là những sản phẩm dựa trên những đổi mới và sáng tạo liên tục của công

nghệ, do đó, nhiều trường hợp các quy định của pháp luật hiện hành chưa theo

kịp Mặt khác, sản phẩm tài chính vốn đã có đặc tính khó hiểu và phức tạp với đại

bộ phận dân cư, nhất là trong những vùng có nhận thức tài chính thấp, từ đó sẽ tạo

những nguy cơ tranh chấp hoặc rủi ro không đáng có Hơn nữa, sự mất cân đối

thông tin về sản phẩm, dịch vụ tài chính giữa người tiêu dùng và tổ chức cung ứng

Trang 32

21

đã đặt người tiêu dùng tài chính vào thế bất lợi Sự mất cân đối này càng lớn khi kinh nghiệm tài chính của người tiêu dùng thấp Bên cạnh đó, nhiều tổ chức tài chính một mặt vẫn đảm bảo khách hàng được phục vụ tốt nhưng mặt khác đã lợi dụng lợi thế thông tin để kiếm lời bất chính, gây mất niềm tin vào thị trường tài chính chính thức Vì vậy, nếu không hiểu được sản phẩm, cũng không có năng lực

sử dụng sản phẩm thì rủi ro đến với người tiêu dùng là điều không tránh khỏi Kinh doanh ngoại hối online, cho vay tiêu dùng online, sàn vàng ảo… chỉ cần mở điện thoại là hàng trăm lời mời gọi – đó thực sự là những cái bẫy chờ sẵn người tiêu dùng thiếu hiểu biết về tài chính

- Bẫy từ sàn vàng ảo Theo quảng cáo trên sàn vàng ảo, nhà đầu tư tưởng

rằng chỉ cần bỏ ra ít tiền để mở tài khoản, sau đó giao dịch vàng và thu về hàng đống tiền Tuy nhiên, những người này đã không được cảnh báo một sự thật rằng chơi vàng tài khoản có tính rủi ro rất cao Hợp đồng giữa hai bên thường lỏng lẻo theo hướng bất lợi cho người tham gia sàn vàng còn nhà đầu tư phải chịu chi phí cắt cổ khi muốn xin tư vấn Tờ China Daily của Trung Quốc [11] cho biết, theo kết quả điều tra mới nhất, có hơn 5.000 nhà đầu tư đã bị thiệt hại nặng với số tiền tổng cộng 380 tỉ nhân dân tệ, tương đương 59,62 tỉ USD trong vụ sàn vàng chui này Sàn vàng ở Việt Nam ra đời vào tháng 12/2007 và kéo dài đến ngày 30/3/2010 Chỉ tồn tại trong thời gian ngắn nhưng sàn vàng đã để lại những hậu quả nặng nề với nhiều vụ kiện đình đám Một nhà đầu tư nói: “Từ chỗ được đón tiếp, mời chào, chúng tôi trở thành con nợ Trong hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ thể hiện chúng tôi có người vay 10.000 chỉ vàng, người 8.000 chỉ vàng nhưng thực tế không ai nhận được 1 chỉ vàng nào Vàng ảo nhưng nhà, đất thì mất thật, vợ chồng li dị, gia đình li tán Tất cả chúng tôi đều “chết” trên sàn vàng” (Chị P.T.B.L.N trú tại quận Gò Vấp – TP.HCM) [12]

- Bẫy từ sàn giao dịch ngoại hối ảo Một sàn giao dịch ảo khác cũng được

hình thành: “Forex ảo” trên thị trường tự do thông qua Internet Sàn này ra đời trên cơ sở các giao dịch ngoại hối – tiền là hàng hóa, là mặt hàng mua, bán hoặc hoán đổi Rất đơn giản khi bất kỳ ai muốn “chơi Forex ảo”, chỉ cần lên Internet,

có một ít tiền làm vốn ban đầu là có thể tham gia giao dịch 24/24h với những phần mềm kinh doanh Forex được các nhà môi giới cung cấp miễn phí, và điểm “hút”

đó chính là người đầu tư có thể nhìn thấy ngay lợi nhuận sau giao dịch Nhưng không phải ai cũng biết họ đang bị các nhà môi giới dẫn dụ bằng những dự đoán tưởng chừng như khách quan, có lợi cho người đầu tư rồi sa đà và “cháy vốn” lúc nào không hay Trên những sàn giao dịch ảo, nhiều chiêu trò đã được giăng sẵn cho nhà đầu tư như tài khoản bị hacker tấn công, tài khoản bị phong tỏa để kiểm tra, mất mạng, lỗi hệ thống, lệnh bán không khớp lệnh, giao dịch bị nhầm lẫn… Người tiêu dùng thiếu hiểu biết tài chính rất dễ dàng bị sập bẫy

- Bẫy từ cho vay tiêu dùng online.Tình trạng vay tiêu dùng online ở Việt

Nam hiện nay cũng khá phổ biến Các công ty tài chính, công ty thu nợ hoặc công

ty cho vay tiêu dùng bị nhiều người tiêu dùng khiếu nại Tình trạng đòi nợ khủng

Trang 33

bố và thậm chí người không đi vay nợ nhưng liên tục bị gọi điện thoại, nhắn tin để quấy rối, đe doạ, ép buộc trả nợ Ngay cả người thân, bạn bè, đối tác của người vay cũng bị nhân viên thu hồi nợ ráo riết tìm đến nhằm gây sức ép với người vay tiền Một số trường hợp bị rủi ro có thể kể như Chị PTTM, ngụ Tiền Giang đã tải ứng dụng Vayvay để vay tiền; anh HTH ở Từ Sơn, Bắc Ninh và anh ĐTM ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội – là những nạn nhân của “cho vay ngang hàng”… [13] Đây là hậu quả của tình trạng vay online phát triển rất nhanh trong thời gian qua Với những thủ tục đơn giản, chỉ cần ảnh chụp giấy tờ tùy thân như chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, hộ chiếu, giấy phép lái xe hoặc có website hay facebook riêng mà không cần gặp mặt, rất nhanh chóng – sau khoảng 30 phút, thậm chí chỉ vài phút là khách hàng đã vay được tiền nhưng với lãi suất cực cao

và tình trạng đòi tiền như khủng bố Nếu không trả được nợ thì khách hàng sẽ được gợi ý tải một app khác để vay rồi trả nợ – cứ như thế, cái vòng luẩn quẩn này làm “người vay rơi vào mê hồn trận không rút ra được” (anh HTH) và kết quả là

số nợ phải trả của khách hàng tăng lên nhanh chóng

- Thời gian gần đây ZaloBank cũng là một cái tên được nhắc khá nhiều

Cái tên này gợi cho ta hình ảnh của một ngân hàng và trên thực tế không ít người

đã nghĩ và tin rằng nó là một ngân hàng – nhưng thực tế không phải như vậy Theo giới thiệu trên trang chủ của ứng dụng này, ZaloBank là trung gian kết nối người dùng với các ngân hàng, tổ chức tài chính Sau khi đăng kí hồ sơ điện tử khách hàng sẽ được vay tín chấp, không cần tài sản bảo đảm, tối đa 500 triệu đồng trong thời hạn tối đa đến 5 năm, giải ngân nhanh từ 15-30 phút, lãi suất ưu đãi Điều kiện vay thật dễ chịu, tuy nhiên, người vay phải thật tỉnh táo, phải tìm đáp án để đưa ra quyết định sáng suốt vì mức lãi suất cho vay mà ZaloBank thông báo rất cao so với mặt bằng lãi suất cho vay hiện nay khi lên tới 17% – 45%/năm Bên cạnh đó, cũng cần thận trọng vì Ngân hàng Nhà nước đã công bố không cấp phép cho cái gọi là ZaloBank, nghĩa là ứng dụng này không được cấp phép hoạt động cho vay, huy động vốn cung cấp dịch vụ tài chính trên nền tảng trực tuyến

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 là minh chứng rõ nhất cho sự thiếu hiểu biết tài chính của người tiêu dùng và những hậu quả năng nề của nó Kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng đã chỉ ra sự thiếu hiểu biết tài chính với tình trạng khá phổ biến của việc mua bán, kinh doanh, đầu tư… thiếu tính toán, thiếu suy xét, thậm chí còn theo cảm xúc chính là nguyên nhân có thể làm đảo lộn hệ thống tài chính thế giới Bộ phim “The Big Short” đã lột tả phần nào sự thật này, trong đó ngay cả những cô gái “làng chơi” cũng có thể sở hữu 4-5 căn hộ từ nguồn vay nợ [14]

Tóm lại, sự thiếu hiểu biết tài chính của người tiêu dùng trên thực tế đã tác động tiêu cực đến sự ổn định của hệ thống tài chính và cả các nền kinh tế cũng như đến từng cá nhân hoặc hộ gia đình, đặc biệt là những người có thu nhập thấp Chính vì thế cần có giải pháp nâng cao hiểu biết về tài chính như: giáo dục, đào tạo các kĩ năng và năng lực tài chính Việc giáo dục tài chính sẽ giúp người tiêu

Trang 34

23

dùng tiếp cận và sử dụng có trách nhiệm các dịch vụ tài chính, cũng như quản lí tốt hơn tình hình tài chính của mình Không chỉ đối với các nhà đầu tư, giáo dục tài chính ngày càng quan trọng, cần thiết hơn đối với mỗi cá nhân, mỗi gia đình Việc giáo dục để nâng cao hiểu biết tài chính cho người tiêu dùng đang thu hút sự quan tâm ngày càng lớn của chính phủ các nước do những tác động quan trọng của hoạt động này tới sự thịnh vượng của mỗi cá nhân cũng như tới sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế

hò (29%), cà phê sáng (24%), ngày nghỉ (12%) và thậm chí cả đời sống tình dục của họ (số 8%) Hơn hai phần ba (67%) trong số họ sẽ sẵn sàng bỏ phiếu cho một ứng cử viên nào dành ưu tiên cho hoạt động giáo dục tài chính cá nhân [15] Theo OECD [9], tính đến năm 2015, có 59 quốc gia đã và đang xây dựng chiến lược giáo dục tài chính với tư cách là chiến lược quốc gia Riêng tại khu vực Đông Nam Á, tính đến năm 2016, có 5 quốc gia đã thiết kế và triển khai các chiến lược này, trong đó, Malaysia và Singapore là những nước tích cực nhất

Việt Nam vẫn chưa có một chiến lược hay dự án về giáo dục tài chính cho người tiêu dùng Trên thực tế, chúng ta có quan tâm đến lợi ích của người tiêu dùng, thông qua pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và không ít các hội thảo xoay quanh vấn đề bảo vệ người tiêu dùng Tuy nhiên, bảo vệ người tiêu dùng mới chỉ giải quyết một góc nhỏ của giáo dục tài chính, vẫn mới chỉ là bảo vệ cho người tiêu dùng tránh bị hại, bị lừa đảo, còn giáo dục tài chính sẽ giúp cho người tiêu dùng thông minh hơn Một khi có hiểu biết và kiến thức tài chính, họ không chỉ sử dụng sản phẩm và dịch vụ tài chính hiệu quả hơn mà còn có thể tự bảo vệ được quyền lợi của mình Do vậy, ta không thể chỉ tăng cường bảo vệ người tiêu dùng thay cho giáo dục tài chính được

Thời gian qua, hệ thống tài chính của Việt Nam đã có sự phát triển khá mạnh mẽ, nhiều sản phẩm tài chính mới ra đời, hầu hết những sản phẩm tài chính hiện đại với hàm lượng trí tuệ cao cũng đã có mặt ở Việt Nam Ngày nay, không

Trang 35

cần đến ngân hàng rút tiền, người tiêu dùng vẫn có thể đầu tư, mua bán qua điện thoại, Internet… Chúng ta rất tự hào về điều này Tuy nhiên, hiểu biết về tài chính của người tiêu dùng Việt Nam thực sự còn rất hạn chế, sự thiếu hiểu biết này đang

bị khai thác, bị lợi dụng quá nhiều, vì vậy cần nhanh chóng xây dựng chiến lược giáo dục tài chính quốc gia cho người tiêu dùng Việt Nam

Tất nhiên khi xây dựng chiến lược giáo dục tài chính cho người tiêu dùng Việt ta cần phải học hỏi những kinh nghiệm quý giá từ các quốc gia đi trước Sau đây là một vài gợi ý cho vấn đề này:

Về nhóm đối tượng ưu tiên: Xác định toàn dân là đối tượng mục tiêu, bên

cạnh đó tùy thuộc vào hoàn cảnh mà chọn ra những nhóm đối tượng cần phải tập trung hơn Một số quốc gia đã tập trung vào các nhóm đối tượng như: chương trình giáo dục tài chính hướng tới phụ nữ (ở Brazil, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia,

Ả rập Xê-út và Thổ Nhĩ Kì), dành cho người nhập cư (Canada, Malaysia, Indonesia và Mexico), dành cho các chủ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (Brazil, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Ả-rập Xê-út và Tây Ba Nha), dành cho người lao động, người có thu nhập thấp và người già (Malaysia, Brazil, Canada, Trung Quốc, Hàn quốc, Thổ Nhĩ Kì và Mĩ), dành cho người tàn tật (Malaysia, Indonesia, Lào, Thái Lan)…

Ở Việt Nam, thiết nghĩ: (i) Thế hệ trẻ – sẽ là nhóm cần tập trung ưu tiên giáo dục tài chính đầu tiên Thế hệ trẻ Việt Nam cũng ngày càng tham gia nhiều hơn vào thị trường tài chính, hơn nữa họ là tương lai của quốc gia cho nên giáo dục tài chính cho thế hệ trẻ là cho cả hiện tại và cho cả tương lai Hơn nữa, Internet phát triển, nhiều sản phẩm tài chính mới ra đời nên giới trẻ ngày càng có nhiều cám dỗ hơn, nhiều cách để vay hơn và cũng vay nợ nhiều hơn, … Theo khảo sát của USA Today, độ tuổi vỡ nợ đang trẻ hóa dần, hầu hết những vụ vỡ nợ

là kết quả của nợ tích lũy Bởi vậy, những người trẻ hơn, dưới 15 tuổi cũng có thể đang đi trên con đường dẫn tới tương lai vỡ nợ [16] Đó là lí do chọn lựa thế hệ trẻ

là nhóm ưu tiên đầu tiên trong chiến lược giáo dục tài chính quốc gia Trước mắt

sẽ triển khai cho toàn bộ thế hệ trẻ – không chỉ trong trường học mà cả ngoài xã hội thông qua các cấp học và thông qua các tổ chức đoàn thể Nhưng khoảng 5 năm sau thì nên tập trung cho học sinh ở các cấp học (từ cấp 1 cho đến cấp 3, cao đẳng, đại học, trường dạy nghề…) Đưa giáo dục tài chính thành một chương trình đào tạo bắt buộc, tùy thuộc vào mức độ của cấp học

Nhóm thứ hai là những người có thu nhập thấp – đây là nhóm người ít am hiểu về tài chính nhất và cũng là nhóm người dễ bị tổn thương nhất trong bất kì quốc gia nào Hơn nữa, khi phân định các nhóm khác nhau thì thu nhập là tiêu thức dễ phân định hơn cả

Về định hình nội dung chương trình giảng dạy về giáo dục tài chính Có

rất nhiều vấn đề về tài chính cần phải trang bị cho người tiêu dùng như: nhận biết các sản phẩm tài chính, chọn và quản lí thẻ tín dụng, nắm bắt các thông tin tài

Trang 36

25

chính, hiểu về kĩ năng tài chính, hay vấn đề cân đối ngân sách gia đình, quản lí tiền cơ bản… Tuy nhiên, cần tập trung vào những vấn đề nào trong khối kiến thức khổng lồ ấy lại phải tùy thuộc vào các nhóm đối tượng khác nhau vì với mỗi nhóm, nhu cầu về kiến thức tài chính thường khác nhau Thiết nghĩ để có thể tìm

ra sự lựa chọn phù hợp ta nên: (i) Chia nội dung giáo dục tài chính thành các khối kiến thức khác nhau; (ii) Thực hiện một cuộc khảo sát toàn diện đối với người tiêu dùng trên toàn quốc

Tất nhiên, cho dù bằng cách nào thì chiến lược giáo dục tài chính cũng cần đặt ra yêu cầu xây dựng một chương trình giảng dạy về giáo dục tài chính xuyên suốt và liên tục cho các cấp học với mục tiêu hình thành kiến thức tài chính vững mạnh, có hệ thống và định hình thói quen tài chính tốt cho người tiêu dùng

Về cách thức tổ chức các kênh truyền đạt, đào tạo kiến thức tài chính

Hãy xác định mục tiêu trước mắt trong chiến lược tài chính là thực hiện phổ cập tài chính cho toàn dân – vì hiện tại, phần đông người tiêu dùng Việt Nam chưa hiểu biết nhiều về tài chính và do vậy giáo dục tài chính trước mắt cũng cần phải được triển khai trên tất cả các kênh có thể – không bỏ sót bất kì kênh nào Trong đó có kênh khuyến khích như gia đình, cha mẹ; có kênh bắt buộc như các kênh truyền thông, các trường học, các đoàn thể, các cơ quan, doanh nghiệp,… Mỗi kênh truyền thông đều phải có giờ giới thiệu về kiến thức tài chính; các đoàn thể tổ chức câu lạc bộ tìm hiểu về kiến thức tài chính, các trò chơi về tài chính…; các trường học đưa giáo dục tài chính thành một nội dung đào tạo bắt buộc; các cơ quan, doanh nghiệp tổ chức dưới hình thức hội thảo, mở các lớp bồi dưỡng kiến thức tài chính cho nhân viên, đưa sự hiểu biết về tài chính vào trong tiêu chuẩn tuyển dụng… Tất nhiên mức độ vẫn là tùy cấp học, tùy loại hình doanh nghiệp Khi kiến thức tài chính về cơ bản đã được phổ cập hóa, mức độ hiểu biết tài chính của người tiêu dùng cao hơn – lúc đó sẽ xem xét và giảm bớt một số yêu cầu bắt buộc, ngoại trừ các trường học

Thay lời kết: Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), “không

phải bất động sản, hay cổ phiếu, hay quỹ tín thác, làm ăn kinh doanh, hay tiền có thể làm bạn giàu lên Mà chính là thông tin, kiến thức, sự thông thái và hiểu biết, tức am hiểu tài chính, mới làm bạn trở nên giàu có Trong thế giới hiện tại, giáo dục tài chính là tối cần thiết để tồn tại, cho dù bạn giàu hay nghèo, bạn thông minh hay không” [4] Do vậy, người tiêu dùng Việt Nam rất cần có một chiến lược quốc gia về giáo dục tài chính

Trang 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Bộ Công thương Việt Nam Báo cáo thường niên 2019

[2] Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OEDC) PISA – Financial literacy Framework 2012

[3] Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OEDC) Improving Financial Literacy: Analysis of issues and policies 2005

[4] Ý kiến chuyên gia về giáo dục tài chính Truy cập từ

https://www.gena.vn/y-kien-chuyen-gia-ve-giao-duc-tai-chinh/ [Ngày truy cập 22/11/2020]

[5] Tuyết Nhi Giáo dục tài chính là gì? Ngày đăng 23/3/2020 Truy cập từ https://vietnambiz.vn/giao-duc-tai-chinh-financial-education-la-gi-

2020032314170455.htm [Ngày truy cập 22/11/2020]

[6] Đặng Kim Chinh Tình hình thiếu hiểu biết về tài chính cá nhân Ngày đăng 19/9/2019 Truy cập từ https://moneyoi.io/blogs/tu-chu-tai-chinh/tinh-hinh-thieu-hieu-biet-ve-tai-chinh-ca-nhan [Ngày truy cập 22/11/2020]

[7] Hạnh Đinh ¾ người trưởng thành tại Châu Á thiếu hiểu biết về tài chính Ngày đăng 04/12/2015 Truy cập từ http://www.baoventd.org/3-4-nguoi-truong-thanh-tai-chau-a-thieu-hieu-biet-ve-tai-chinh-20613.html [Ngày truy cập 22/11/2020]

[8] Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OEDC) Global competitiveness report 2015- 2016

[9] Thuỳ Lê Giáo dục tài chính- nền tảng để phát triển tài chính toàn diện Truy cập từ http://www.baokiemtoannhanuoc.vn/van-de-hom-nay/giao-duc-tai-chinh -nen-tang-de-phat-trien-tai-chinh-toan-dien-141006 [Ngày truy cập 22/11/2020]

[10] Diệu Nhi Bảo vệ người tiêu dùng tài chính Truy cập từ https://vietnambiz.vn/bao-ve-nguoi-tieu-dung-tai-chinh-financial-consumer-protection-la-gi-vai-tro-2019101717402036.htm [Ngày truy cập 17/11/2020] [11] Việt Linh (An ninh thủ đô) Báo động nạn lừa đảo trên sàn vàng ảo Truy cập

từ tren-san-vang-ao-c161a472411.html [Ngày truy cập 17/11/2020]

https://www.24h.com.vn/tai-chinh-bat-dong-san/bao-dong-nan-lua-dao-[12] Sàn vàng ảo Việt Nam- những cú lừa triệu đô Truy cập từ https:// baodatviet.vn/kinh-te/san-vang-ao-viet-nam-doi-dien-nhung-cu-lua-trieu-do-2222584/ [Ngày truy cập 22/11/2020]

[13] Tín dụng đen đang hoành hành sự an toàn của công nhân lao động Truy cập

từ cong-nhan-lao-dong-2019110514220961.chn [Ngày truy cập 17/11/2020]

Trang 38

https://cafef.vn/tin-dung-den-dang-hoanh-hanh-de-doa-su-an-toan-cua-27

[14] Financial inclusison là gì ? Truy cập từ inclusion-la-gi/ [Ngày truy cập 17/11/2020]

https://govalue.vn/financial-[15] https://www.creditkarma.com/insights/i/personal-finance-in-schools-survey [Ngày truy cập 17/11/2020]

[16] 10 lý do nên dạy người trẻ hiểu biết về tiền bạc Truy cập từ https://congnghe.vn/muc/kham-pha/tin/10-ly-do-nen-day-nguoi-tre-hieu-biet-ve-tien-bac-2109085 [Ngày truy cập 17/11/2020]

Trang 39

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỘNG LỰC

LÀM VIỆC VÀ SỰ GẮN BÓ CỦA NHÂN VIÊN VỚI NGÂN HÀNG:

TRƯỜNG HỢP NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP

VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM KHU VỰC

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

RESEARCH ON FACTORS AFFECTING EMPLOYEES' MOTIVATION AND ENGAGEMENT WITH BANKS: THE CASE OF VIETNAM BANK FOR AGRICULTURE AND RURAL DEVELOPMENT IN THE MEKONG

DELTA REGION

Tóm tắt – Nghiên cứu được thực hiện nhằm kiểm định mối quan hệ giữa

các nhân tố tác động đến động lực làm việc và sự gắn bó của nhân viên với ngân hàng, trường hợp Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Kết quả cho thấy có mối quan hệ giữa 11 nhân tố đến động lực làm việc và sự gắn bó của nhân viên với ngân hàng: (1) đặc điểm công việc, (2) đào tạo – thăng tiến, (3) tiền lương, (4) phúc lợi, (5) cấp trên, (6) đồng nghiệp, (7) đánh giá thành tích, (8) chính sách lao động, (9) điều kiện làm việc, (10) áp lực công việc và (11) rủi ro tác nghiệp Từ đó, tác giả đưa ra gợi ý cho những nhà quản trị ngân hàng thực hiện quản trị nhân sự ngân hàng tốt hơn

Từ khóa: động lực làm việc, sự gắn bó của nhân viên với ngân hàng, quản

trị nhân sự ngân hàng

Trong thời đại ngày nay, năng suất lao động là tiêu chuẩn đánh giá năng lực, hiệu quả làm việc của các nhà quản trị ngân hàng, kết quả làm việc và năng lực Tuy nhiên, rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến năng suất lao động và hiệu quả làm việc của các nhà quản trị và người lao động, trong đó có nguyên nhân động lực làm việc Khi có động lực làm việc, năng suất lao động sẽ tăng Farhaan Arman [1] cho rằng: nếu nhân viên có động lực thì họ làm việc đạt từ 80-90% hiệu suất, tỉ lệ nghỉ việc thấp, nghỉ phép thấp Kovach [2] chỉ ra rằng, vấn đề lớn nhất của quản lí là cảm nhận chính xác các yếu tố thúc đẩy động lực làm việc của

1 Trường Đại học Trà Vinh; Email: thuyatravinh180@gmail.com

Trang 40

29

nhân viên Một loạt các nghiên cứu chỉ ra rằng, sự gắn bó với tổ chức là kết quả của các biến số thuộc về cá nhân, các trạng thái vai trò và các biến số thuộc về môi trường làm việc và được coi như công cụ dự báo về sự vắng mặt thường xuyên tại doanh nghiệp, hiệu suất công việc và doanh thu Cheng and Chew [3] đã chỉ ra rằng sự gắn bó của nhân viên với tổ chức bao gồm tám yếu tố tác động: (1)

sự phù hợp với tổ chức, (2) lương, (3) khen thưởng và công nhận, (4) đào tạo và phát triển nghề nghiệp, (5) cơ hội nghề nghiệp đầy thách thức, (6) hành vi lãnh đạo, (7) văn hóa và chính sách công ti, (8) môi trường làm việc thỏa đáng Ranya Nehmech [4] cho rằng sự gắn bó của nhân viên với tổ chức có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động của tổ chức Bryant [5] chỉ ra rằng một cá nhân có sự gắn bó với tổ chức là yếu tố quan trọng để đạt được lợi thế cạnh tranh Từ đó, giả thuyết đặt ra là khi có động lực làm việc tại một tổ chức như ngân hàng thì người lao động có gắn bó lâu dài với ngân hàng đó hay không là một giả thuyết cần kiểm định Chính vì vậy, nghiên cứu này đánh giá mối quan hệ của 11 nhân tố tác động

đến động lực làm việc và sự gắn bó của nhân viên với ngân hàng – trường hợp

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

2.1 Cơ sở lí thuyết

Khái niệm về động lực làm việc: Theo Steers et al [6], động lực làm việc là

sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức; là sự thôi thúc, sự kiên định và bền bỉ trong quá trình làm việc Định nghĩa này cũng được Mitchell et al [7] thống nhất và cho rằng: động lực là quá trình cho thấy sức mạnh, sự kiên định và sự bền bỉ trong nỗ lực cá nhân nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu

Khái niệm về sự gắn bó tổ chức: Homans [8] và Becker [9] cho rằng, gắn

bó của người lao động với tổ chức được xem như là kết quả của mối quan hệ trao đổi giữa cá nhân và tổ chức Mowday et al [10] khẳng định sự gắn bó gắn liền với lòng trung thành và cũng đưa ra ba thành phần của sự gắn bó, đó là đồng nhất với mục tiêu và giá trị của tổ chức, mong muốn là thành viên của tổ chức và sẵn lòng

nỗ lực vì tổ chức Mowday et al [10] định nghĩa gắn bó với tổ chức là một niềm tin mạnh mẽ, chấp nhận những mục tiêu và các giá trị của tổ chức, một sự sẵn sàng phát huy, nỗ lực đối với tổ chức và là một mong muốn nhất định để duy trì thành viên tổ chức

Các mô hình lí thuyết nền trong nghiên cứu

Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow: Năm 1943, Maslow [11] đã phát

triển lí thuyết về “thứ bậc nhu cầu” của con người (Hierarchy of Need) gồm năm cấp bậc Ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc theo hình kim tự tháp, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước Nhưng bản hoàn chỉnh

Ngày đăng: 25/05/2021, 21:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Colin Hay. Political Analysis: A Critical Introduction. Palgrave. 2002; p. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Political Analysis: A Critical Introduction
[2] Mauro Calise and Theodore J. Lowi. Hyperpolitics: An Interactive Dictionary Of Political Science Concepts. The University of Chicago Press. 2010; p 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hyperpolitics: An Interactive Dictionary Of Political Science Concepts
[3] Duncan Watts, A Glossary of UK Government and Politics, Edinburgh University Press. 2007; p.199 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Glossary of UK Government and Politics, Edinburgh University Press
[4] Enrico Fels, Jan-Frederik Kremer, Katharina Kronenberg. Power in the 21st Century International Security and International Political Economy in a Changing World. Springer. 2012; p.6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Power in the 21st Century International Security and International Political Economy in a Changing World
[5] Michael Barnett and Raymond Duvall (eds). Power in Global Governance, Cambridge University Press. 2005: p.10-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Power in Global Governance
[6] Joseph Nye. Soft Power. Foreign Policy. 1990; 80: 153-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foreign Policy
[7] Tào Thị Quyên. Quyền bãi miễn đại biểu dân cử theo pháp luật Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu lập pháp. 2008; số 13(129) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
[8] Jeremy Waldron. Political Political Theory Essays On Institutions. Harvard University Press; 2016: trang 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Political Political Theory Essays On Institutions
[9] Adam Przeworski. Democracy and the Limits of Self-Government, Cambridge University Press; 2010: p.137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Democracy and the Limits of Self-Government
[10] Mark Clarence Walker. The Strategic Use of Referendums: Power, Legitimacy, and Democracy. Palgrave Macmillan; 2003: p.11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Strategic Use of Referendums: Power, Legitimacy, and Democracy
[12] David Altman. Direct Democracy World Wide. Cambridge University Press; 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Direct Democracy World Wide
[13] Hoàng Phê (chủ biên). Từ điển Tiếng Việt. NXB Đà Nẵng; 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đà Nẵng; 1997
[14] Francis Fukuyama. The Imperative of State-building. Journal of Democracy. 2004; Vol 15, No. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Democracy
[16] Linda Camp Keith, C. Neal Tate, Steven C. Poe. Is The Law A Mere Parchment Barrier To Human Rights Abuse? The Journal of Politics. April 2009; Vol. 71, No. 2: P. 644–660 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Journal of Politics
[18] Lê Tiến Châu. Chức năng xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam. Nhà Xuất bản Tư pháp; 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nhà Xuất bản Tư pháp; 2009
[19] Nguyễn Hoàng Anh. Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính – nhìn từ yêu cầu an toàn pháp lý. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. 7/2009; số 150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp
[20] Lê Văn Cảm, Dương Bá Thành 2010. Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước (và cả quyền lập pháp) trong nhà nước pháp quyền: một số vấn đề lý luận cơ bản. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. số 1/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp
[21] UNDP. Khảo sát về mong chờ của người dân về khả năng tiếp cận công lý ở Việt Nam; 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát về mong chờ của người dân về khả năng tiếp cận công lý ở Việt Nam
[22] Nguyễn Cúc. Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. NXB Chính trị Quốc gia; 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia; 2002
[23] Andrea Ceron. Social Media and Political Accountability Bridging the Gap between Citizens and Politicians. Palgrave Macmillan; 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Media and Political Accountability Bridging the Gap between Citizens and Politicians

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w