NỘI DUNG CẦN GIẢI QUYẾT Để giúp các em viết được những bài văn hay, có giá trị gợi cảm, thu hút người đọc, người nghe, giáo viên cần phải: - Giúp các em xác định trọng tâm của đề bài.. S
Trang 1PHẦN 1 THỰC TRẠNG ĐỀ TÀI
Trong năm học 2017- 2018, tôi được phân công giảng dạy lớp Năm, tổng số học sinh là 35 trong đó có 14 nữ Qua quá trình giảng dạy, tôi gặp một số thuận lợi và khó khăn sau:
1 Thuận lợi:
Được sự quan tâm sâu sát và kịp thời của cấp trên, của Ban giám hiệu nhà trường, của Hội cha mẹ học sinh, của ban ngành đoàn thể địa phương
Cơ sở vật chất nhà trường tương đối đầy đủ, thư viện và thiết bị có đầy
đủ sách tham khảo và đồ dùng học tập phục vụ cho công tác giảng dạy
Hầu hết các em học sinh có đầy đủ sách giáo khoa và dụng cụ học tập Một số gia đình rất quan tâm đến việc học tập của các em
2 Khó khăn:
Một số gia đình các em thuộc diện hộ nghèo, hộ khó khăn , cha mẹ các
em lo làm lụng vất vả nên ít có thời gian chăm sóc việc học các em
Đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh tiểu học ham chơi, khả năng tập trung chú ý nhận thức các sự vật còn hạn chế, năng lực sử dụng ngôn ngữ chưa thật phát triển, nên việc học tập ở phân môn Tập làm văn gặp khó khăn: vốn sống, vốn hiểu biết về đối tượng miêu tả
Học sinh chưa có động cơ học tập đúng đắn
Các em chưa có thói quen đọc sách, đọc truyện và ghi chép từ ngữ hay để tích lũy vốn từ
Trong giờ học, một số em ít tập trung, không động não để phát biểu xây dựng bài mà chỉ đợi giáo viên gợi ý
Một số em chưa biết tự khám phá ra kiến thức mới vì vậy không hình thành được kỹ năng, kỹ xảo
Khả năng sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong viết văn còn hạn chế Học sinh còn phụ thuộc vào bài văn mẫu, áp dụng một cách máy móc nên bài văn của các em có những nét giống nhau
Qua các bài làm kiểm tra và kết quả kiểm tra chất lượng đầu năm học 2017-2018 của môn Tiếng Việt, bài viết Tập làm văn được thống kê với kết quả
cụ thể như sau:
Đầu năm học
Giữa học
kỳ I
Cuối học
kỳ I
Giữa học
kỳ II
Cuối học
kỳ II Lập dàn ý sơ sài, viết câu văn
chưa rõ ý, dùng từ chưa chính
xác
9
Lập dàn ý, viết bài văn đủ ba
phần
12 Lập dàn ý, viết câu văn rõ ý, đúng 9
Trang 2ngữ pháp, dúng từ chính xác
Viết bài văn miêu tả đủ 3 phần ,
có dùng từ gợi tả, gợi cảm, sử
dụng biện pháp nghệ thuật so
sánh , nhân hóa
5
Tôi tiến hành tìm hiểu tình hình học tập của học sinh nhận thấy nguyên nhân dẫn đến kết quả học tập phân môn Tập làm văn của học sinh chưa cao chủ yếu vì:
- Các em chưa xác định được trọng tâm của đề bài Khi viết câu văn sai nhiều lỗi chính tả, dùng từ chưa chính xác, chưa hay không rõ nghĩa Một số em còn sai dấu câu hoặc đặt dấu câu chưa phù hợp
- Khả năng quan sát và lựa chọn hình ảnh để miêu tả chưa tinh tế
- Vốn từ ngữ của học sinh chưa phong phú
- Các em lựa chọn từ, dùng từ đặt câu, viết đoạn văn,…còn hạn chế
- Học sinh viết câu văn còn khô khan, mới chỉ đúng ngữ pháp mà thiếu hình ảnh gợi tả, gợi cảm
- Bài văn viết thường mang tính liệt kê các chi tiết, chưa chắt lọc được những nét đặc sắc, riêng biệt của đối tượng miêu tả, diễn đạt vụng về, lủng củng chưa bộc lộ thái độ,cảm xúc của người viết Bố cục thiếu rõ ràng và khoa học
- Khả năng sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong viết văn còn hạn chế
- Học sinh còn phụ thuộc vào bài văn mẫu, áp dụng một cách máy móc nên bài văn của các em có những nét giống nhau
PHÂN 2 NỘI DUNG CẦN GIẢI QUYẾT
Để giúp các em viết được những bài văn hay, có giá trị gợi cảm, thu hút người đọc, người nghe, giáo viên cần phải:
- Giúp các em xác định trọng tâm của đề bài
- Rèn kĩ năng quan sát, lựa chọn hình ảnh, phát hiện được nét tiêu biểu của đối tượng cần miêu tả Biết hình dung bằng những hình ảnh, âm thanh, cảm giác
về sự vật đó khi quan sát
- Giúp các em tích lũy vốn từ ngữ miêu tả phong phú, sắp xếp bài viết mạch lạc, diễn đạt được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình về một sự vật, cảnh vật, về một con người cụ thể nào đó
- Rèn luyện kỹ năng lập dàn ý, diễn đạt ý
- Hướng dẫn học sinh biết cách dùng từ ngữ, có thói quen sử dụng các biện pháp nghệ thuật để viết văn một cách sinh động
- Giúp học sinh xây dựng bố cục một cách hợp lí
- Luyện tập khả năng viết câu văn giàu hình ảnh, giàu cảm xúc
- Thường xuyên rèn luyện và sửa sai những lỗi các em thường mắc phải
PHẦN 3 BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT
Trang 3Đối với học sinh, mỗi bài tập làm văn là sản phẩm của từng cá nhân các
em trước một đề bài Sản phẩm này ít nhiều in đậm dấu ấn riêng của từng em trong cách suy nghĩ, cách tả, cách diễn đạt,…Việc giúp các em viết bài văn vừa
đủ ý, vừa sinh động quả là một việc làm mà giáo viên phải thật sự quan tâm Vì vậy, tôi lần lượt áp dụng các biện pháp như sau:
1 Xác định yêu cầu trọng tâm đề bài:
Đây là bước quan trọng, việc xác định trọng tâm của đề bài miêu tả giúp các em tránh tình trạng lạc đề, bài viết xoáy sâu vào trọng tâm miêu tả, tránh bài văn quá nhiều chi tiết, sắp xếp ý lộn xộn không khoa học Việc xác định đúng trọng tâm của đề sẽ giúp cho bài viết được thu hẹp nên các em có được ý cụ thể, chính xác, tránh việc viết tràn lan, chung chung,
Bài văn của học sinh được viết theo một đề bài cụ thể, cho nên yêu cầu hàng đầu là các em phải viết đúng đề bài Một đề bài đưa ra cho học sinh viết thường ẩn chứa đến 3 yêu cầu: yêu cầu về thể loại (kiểu bài), yêu cầu về nội dung, yêu cầu về trọng tâm
Quá trình tìm hiểu đề, việc xác định trọng tâm miêu tả luôn luôn gắn liền với xác định hướng bài làm, bởi vì trọng tâm miêu tả sẽ giúp các em phác họa được những ý chính sẽ triển khai, để bài viết không sa vào kiểu liệt kê cho hết,
cho đủ các đặc điểm của đối tượng
Ví dụ : Đề bài:“ Tả một nghệ sĩ hài mà em yêu thích”, các em có thể xác
định được ngay trọng tâm miêu tả là tập trung vào “tả nghệ sĩ hài ” mà các em
biết
Tuy nhiên, có nhiều đề bài chỉ nêu đối tượng miêu tả mà không nêu cụ thể trọng tâm miêu tả Do đó, giáo viên cần hướng dẫn các em trọng tâm miêu tả Trong những đề bài thuộc loại này thường là những đặc điểm nổi bật giúp khắc họa đối tượng một cách rõ nét, hoặc có thể là những đặc điểm mang dấu hiệu đặc trưng của đối tượng gây cho người viết nhiều ấn tượng, nhiều cảm xúc nhất Với các em còn nhỏ, vốn hiểu biết và vốn sống còn hạn chế nên khi gặp đề bài không nêu rõ trọng tâm miêu tả, chắc chắn các em rất lúng túng khi xác định trọng tâm trong bài viết của mình Vì vậy, giáo viên cần có những câu hỏi giúp các em xác định đúng trọng tâm miêu tả như :
+ Miêu tả những gì?
+ Miêu tả đến đâu?
+ Những điểm nào là quan trọng cần phải tập trung miêu tả?
+ Những điểm nào là thứ yếu chỉ cần tả sơ qua?
+ Sau đó, giáo viên chốt lại trọng tâm miêu tả của đề bài
Ví dụ:
Đề bài: “Tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong một vườn cây
(hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy)” Khi gặp
đề bài này giáo viên nên cho học sinh đọc đề bài nhiều lần và hướng dẫn các em xác định trọng tâm bằng các câu hỏi gợi ý:
+ Đây là loại bài tập làm văn miêu tả gì? ( miêu tả cảnh )
Trang 4+ Đề bài yêu cầu ta tả cảnh gì? ( cây vườn cây ).
+ Vườn cây ở đâu? ( công viên, trên dường phố, trên cánh đồng, nương rẫy )
+ Khi tả em cần miêu tả gì? ( cảnh vật xung quanh vườn cây)
+ Giáo viên chốt lại
2 Rèn luyện kĩ năng quan sát cho học sinh
Tổ chức tốt việc quan sát và tìm ý là rất quan trọng của phân môn Tập làm văn miêu tả
Đối với kiểu bài miêu tả, quan sát là cơ sở để tìm ý Muốn vậy, giáo viên cần phải nghiên cứu trước bài học để có kế hoạch hướng dẫn học sinh quan sát trực tiếp đối tượng cần miêu tả, việc quan sát có khi tiến hành trên lớp, cũng có khi tiến hành ngoài lớp
Để quan sát có chất lượng giáo viên cần hướng dẫn các em quan sát theo trình tự nhất định (từ chung tới riêng, từ ngoài vào trong, từ gần đến xa )
Giáo viên nên hướng dẫn các em quan sát bằng nhiều giác quan khác nhau: mắt nhìn, tai nghe, tay sờ, mũi ngửi
Khi hướng dẫn các em quan sát, giáo viên cần giúp các em phát hiện những đặc điểm riêng phân biệt của đối tượng được tả với những đối tượng khác cùng loại Sau đó ghi chép lại những chi tiết đặc sắc theo phần gợi ý của sách giáo khoa, nhờ đó mà bài văn của các em trở nên sinh động, mới mẻ hơn
Quan sát, tìm ý và sắp xếp ý là việc làm hết sức cần thiết cho việc dạy thể loại văn miêu tả Trong quá trình hướng dẫn, giáo viên cần biết lựa chọn sử dụng phối hợp các phương pháp, giúp tiết học đỡ nhàm chán và hiệu quả tiết dạy cao hơn
Ví dụ 1: Quan sát tả cảnh
- Giáo viên có thể cho học sinh quan sát ở nhà và ghi chép lại cảnh vật đó
- Hướng dẫn học sinh quan sát: Cảnh trường em
+ Cho học sinh đọc gợi ý ở phần nhận xét
+ Học sinh vừa quan sát vừa ghi chép lại ý quan sát được, sau đó sắp xếp các ý để tạo thành một dàn ý tả trường em
*Hình thành dàn ý cho học sinh:
Mở bài
- Ngôi trường của em tên là gì? Ở đâu? Em tả cảnh trường vào lúc nào? Thân bài
- Ngôi trường lớn hay nhỏ?
- Trường ở tiếp liền với nhà dân hay riêng biệt một nơi?
- Thoạt nhìn, trường em có gì nổi bật ( về hình dáng, màu sắc)?
- Trong trường đã có hoạt động gì hay còn vắng lặng?
- Cổng trường thế nào? Xung quanh trường có xây tường hoặc rào không?
- Sân trường có rộng không? Cây cối, bồn hoa, cột cờ thế nào?
- Có mấy dãy lớp học? Phòng trệt hay lầu? Hành lang, cửa ra vào lớp, cửa sổ,
…như thế nào?
Trang 5- Phòng Ban giám hiệu, thư viện, phòng truyền thống ở đâu? Có gì đặc biệt
- Kỷ niệm của em về ngôi trường
Kết bài
- Cảm nghĩ của bản thân về ngôi trường?
Khi dạy văn miêu tả, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh quan sát và miêu tả theo các trình tự hợp lý
3 Hướng dẫn học sinh tìm ý và sắp xếp ý:
Hướng dẫn học sinh tìm ý cho dàn bài chi tiết không phải là giáo viên gò
ép các em làm việc trong bốn bức tường của lớp học mà phải dựa trên kết quả quan sát thực tế của các em Vì vậy, tôi luôn yêu cầu học sinh chuẩn bị chu đáo phần quan sát hình ảnh, hoạt động của đối tượng miêu tả đến các sự vật xung quanh trước ở nhà Đồng thời lựa chọn những hình ảnh, chi tiết, hoạt động đặc sắc, đặc trưng riêng, đẹp của đối tượng để miêu tả Các em cần ghi chép cẩn thận, đầy đủ Qua quan sát đối tượng miêu tả, các em được rèn luyện cách nhìn đối tượng trong quan hệ gần gũi giữa con người với thiên nhiên Những cơ hội
đó làm cho tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, con người và sự vật xung quanh của học sinh nảy nở, tâm hồn, tình cảm của các em thêm phong phú Đó
là những nhân tố quan trọng góp phần hình thành tính cách tốt đẹp của học sinh
Dựa trên kết quả quan sát thực tế, giáo viên gợi ý cho các em sắp xếp các
ý quan sát với những câu hỏi gợi mở để giúp bài văn vừa đủ nội dung vừa phong phú về ý
Từ dàn ý, học sinh phát triển mỗi ý thành đoạn văn có lồng cảm xúc
Giáo viên cần quan sát học sinh trả lời câu hỏi sắp xếp ý một cách cẩn thận.Vì việc làm đó, giúp cho giáo viên soạn được các câu hỏi phù hợp với học sinh, thu hút học sinh tham gia hoạt động Đồng thời chuẩn bị những câu hỏi gợi
mở khi học sinh bị lúng túng Có như thế tiết học mới diễn ra tự nhiên, đạt hiệu quả cao
Ví dụ : Đề bài: “Hãy tả ngôi trường thân yêu gắn bó với em trong nhiều năm qua.”
Những câu hỏi gợi mở khi sắp xếp các ý đã quan sát :
- Ngôi trường của em tên là gì? Ở đâu? Em tả cảnh trường vào lúc nào?
- Ngôi trường lớn hay nhỏ?
- Trường ở tiếp liền với nhà dân hay riêng biệt một nơi?
- Thoạt nhìn, trường em có gì nổi bật ( về hình dáng, màu sắc)?
- Trong trường đã có hoạt động gì hay còn vắng lặng?
- Cổng trường thế nào? Xung quanh trường có xây tường hoặc rào không?
- Sân trường có rộng không? Cây cối, bồn hoa, cột cờ thế nào?
- Có mấy dãy lớp học? Phòng trệt hay lầu? Hành lang, cửa ra vào lớp, cửa sổ,
…như thế nào?
- Phòng Ban giám hiệu, thư viện, phòng truyền thống ở đâu? Có gì đặc biệt?
- Cảm nghĩ của bản thân về ngôi trường?
Trang 6Khi hướng dẫn học sinh tìm ý cho mỗi đề bài, giáo viên nên cho học sinh làm việc độc lập để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mình trong học tập Giáo viên nêu câu hỏi gợi ý để học sinh tự nêu ý theo suy nghĩ riêng của mình Giáo viên theo dõi để sửa sai và hoàn chỉnh cho học sinh
Ví dụ : Khi tả về nết tốt của người bạn, giáo viên gợi ý như sau: Bạn có
những nết tốt nào mà em quý mến?
Giáo viên chốt lại: Bạn ấy hăng hái, chăm chỉ, luôn giúp đỡ bạn trong học tập; hoặc tận tình với bạn, sẵn lòng nhường nhịn bạn; hoặc rất lễ phép, kính trọng thầy cô, là người con ngoan ở gia đình; hoặc có tất cả các đức tính vừa nêu
4 Rèn luyện kĩ năng sử dụng từ ngữ:
Học sinh đã có được vốn từ nhưng để viết được một bài văn hay và không mắc lỗi về cách dùng từ thì rất ít học sinh làm được Do đó, việc hướng dẫn các em khắc phục những lỗi cơ bản trong việc dùng từ để viết được những câu văn, đoạn văn hay hấp dẫn người đọc, người nghe là một việc làm hết sức quan trọng đối với người giáo viên Căn cứ vào nội dung thực tế của bài làm học sinh để đưa ra những dạng bài tập rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ phù hợp với đối tượng học sinh trong lớp ở các phân môn khác nhau trong suốt quá trình học tập Tôi hướng dẫn cho các em làm quen dần với các mức độ từ dễ đến khó qua các dạng bài tập khác nhau như : sử dụng từ để điền vào chỗ trống,
để thay thế các từ ngữ khác, Thông qua các bài tập này, ngoài việc giúp học sinh biết sử dụng từ ngữ phù hợp để diễn đạt các sự vật, hiện tượng được miêu
tả mà còn giúp các em phát huy được vốn từ của bản thân để viết văn
Ví dụ: Hãy chọn từ thích hợp trong các từ sau: ríu rít, líu lo, liếp chiếp,
rộn ràng, tấp nập, là là, từ từ, tíu tít, hối hả để điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau:
“Tiếng chim , báo hiệu một ngày mới bắt đầu Ông mặt trời nhô lên từ lũy tre làng Khói bếp nhà ai bay trong gió Đàn gà con gọi nhau theo chân mẹ Đường làng đã , người qua lại.”
Ví dụ: Tìm những tính từ gợi tả màu sắc của đồng lúa chín điền vào
chỗ chấm trong đoạn văn sau : “Trước mắt chúng tôi là cánh đồng lúa chín… những bông lúa… đang chờ tay người đến gặt, hạt lúa căng tròn, béo múp… hứa hẹn một mùa… no ấm bội thu.”
Ví dụ: Cho các từ ngữ sau : nhấp nhô, xanh biêng biếc, tấp nập, tung
tăng Em hãy lựa chọn cho các từ in nghiêng trong các câu sau để được câu văn cụ thể , sinh động hơn
a Mùa thu, con sông quê tôi nước rất xanh.
b Những cánh cò trắng muốt bay trên cánh đồng lúa chín.
c Xa xa, những ngọn núi cao thấp, vài ngôi nhà thấp thoáng.
Ví dụ: Tìm những từ ngữ thích hợp để thay thế các từ in nghiêng trong
những câu sau:
a Đôi mắt của mẹ long lanh ánh lên sự hiền hậu
Trang 7b Bé loạng choạng đi mấy bước rồi sà vào lòng mẹ
Ngoài ra, rất nhiều bài tập Luyện từ và câu tạo cho học sinh có ý thức chọn lọc từ ngữ gợi tả, gợi cảm khi viết văn miêu tả
Ví dụ :
- Dựa vào một số từ ngữ (miêu tả hình dáng của người) vừa tìm được, hãy viết một đoạn văn khoảng 5 câu miêu tả hình dáng của một người thân hoặc một người em quen biết (Luyện từ và câu, tuần 15)
Việc rèn kĩ năng dùng từ cho các em là cần thiết Hoạt động này đòi hỏi
sự kiên trì, bền bỉ thực hiện trong các tiết dạy của giáo viên
5 Giúp học sinh tích lũy vốn từ miêu tả và làm giàu tưởng tượng:
Để viết được câu văn hay, sinh động thì khâu làm giàu vốn từ ngữ cho các em là rất cần thiết Việc làm này có thể thông qua các phân môn khác nhau của môn Tiếng Việt để giúp học sinh tích lũy được vốn từ Chẳng hạn ở phân môn Tập đọc, các em có thể hiểu được nghĩa của một số từ, cảm nhận được những từ ngữ gợi tả màu sắc, hình ảnh, âm thanh, khi miêu tả
Ví dụ: Bài: “ Một chuyên gia máy xúc” ( TV5 – tập 1) thì các em ghi nhận
được các từ miêu tả người như : cao lớn, thân hình chắc và khỏe, khuôn mặt to chất phác, giản dị, thân mật”
Ví dụ : Bài : Mở rộng vốn từ: Thiên nhiên tuần 8, 9 (TV5 - tập 1)
Học sinh tham gia hoạt động nhóm trao đổi để có thêm vốn từ về thiên nhiên
- Tả chiều rộng : bao la, mênh mông, bát ngát,…
- Tả chiều dài(xa): tít tắp, tít mù khơi, muôn trùng, thăm thẳm, vời vợi,…
- Tả chiều cao : cao vút, chót vót, chất ngất, vòi vọi, lênh khênh,…
- Tả chiều sâu : hun hút, thăm thẳm, hoắm, …
- Tả tiếng sóng : ì ầm, ầm ầm, rì rào, lao xao, thì thầm, ì oạp,…
- Tả làn sóng nhẹ : lăn tăn, dập dềnh, lững lờ, gờn gợn, nhấp nhô,…
- Tả làn sóng mạnh : cuồn cuộn, ào ạt, cuộn trào, điên cuồng, trào dâng,
dữ dội,…
Ngoài ra, vốn từ còn được tích lũy từ nhiều nguồn khác nhau như : giao tiếp hằng ngày, đọc sách, báo; xem, nghe truyền hình truyền thanh; trao đổi với bạn bè,…Vì vậy, tôi động viên các em nên có quyển sổ tay để ghi chép kịp thời những từ ngữ hay thường dùng để vận dụng khi làm bài
Tưởng tượng trong văn miêu tả là rất quan trọng Vì vậy, giáo viên cần chú ý rèn cho học sinh cách tưởng tượng để có được hình ảnh hoàn chỉnh về đối tượng miêu tả Tưởng tượng giúp các em thấy được những nét đặc sắc của đối tượng hiện ra rõ nét hơn, cụ thể hơn
Ví dụ:
- Khi tả về dáng đi của bé thì các em tưởng tượng xem dáng đi chập chà chập chững của bé như thế nào?
Giáo viên chốt lại : Ví dụ : Bé chập chững đi mấy bước rồi sà vào lòng
mẹ như chim non bay về tổ.
Trang 8- Khi tả về đôi mắt của mẹ thì các em hãy tưởng tượng ánh mắt của mẹ giống hình ảnh nào? (HS trả lời)
Giáo viên chốt lại : Ví dụ : Ánh mắt dịu hiền của mẹ là tia sáng dẫn đường cho cuộc đời con
6 Luyện tập cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong viết văn.
Bài văn hay, thu hút người đọc được tao bởi những câu văn diễn đạt sinh động có hình ảnh Việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong văn miêu tả không chỉ làm nổi bật đặc điểm miêu tả của đối tượng, tạo ấn tượng và sức hấp dẫn đối với người đọc mà còn phù hợp với nhu cầu giao tiếp của con người Vì vậy tôi đã giúp học sinh lần lượt thực hiện các bước sau:
a/ Cho học sinh đọc câu, đoạn, bài văn có sử dụng biện pháp nghệ thuật.
Để giúp các em có thể vận dụng các biện pháp nghệ thuật viết văn, tôi thường đọc những câu thơ, câu văn có sử dụng biện pháp nghệ thuật cho các em nghe, chẳng hạn như:
Nghệ thuật so sánh:
Thân dừa bạc phếch tháng năm
Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao.
Đêm hè hoa nở cùng sao
Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh.
Nghệ thuật nhân hóa:
- Mùa xuân, sân trường khoác chiếc áo mướt xanh màu lá.
- Lúc ấy
Cả công trường say ngủ cạnh dòng sông
Những tháp khoan nhô lên trời ngẫm nghĩ
Những xe ủi, xe ben sóng vai nhau nằm nghỉ
Sau khi các em nghe những câu thơ, câu văn tôi cho các em thảo luận và phát hiện các biện pháp nghệ thuật được sử dụng, nêu tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó Tôi phân tích cho các em hiểu cái hay cái đẹp trong từng câu văn, câu thơ Làm như vậy, dần dần nhiều ngày tích lũy lại các em học được cách miêu tả sinh động của các tác giả và biết vận dụng khi làm văn
b/Cho học sinh rèn kĩ năng viết câu văn sinh động.
Sau khi các em đã có vốn từ phong phú, tôi tiếp tục rèn cho các em cách
lựa chọn từ ngữ để đặt câu, viết thành những câu văn có hình ảnh và có sử dụng các biện pháp nghệ thuật đã học Tôi tiến hành theo mức độ yêu cầu tăng dần, bước đầu chỉ yêu cầu học sinh lựa chọn từ cho sẵn điền vào chỗ trống trong câu; tìm từ điền vào chỗ trống; sau đó yêu cầu cao hơn là đặt câu có sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa, có dùng những từ láy, từ ngữ gợi tả hình ảnh, âm thanh hay những từ biểu lộ tình cảm
Ví dụ: Hãy chọn các từ ngữ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống
để được câu văn có hình ảnh so sánh phù hợp nhất (Tiếng chuông, chùm sao, thủy tinh, dải lụa, giọng bà tiên)
a Hoa xoan nở từng chùm trông giống như…
b Nắng cứ như…… xối xuống mắt đất
Trang 9c Giọng bà trầm ấm ngân vang như
Ví dụ : Tìm các từ chỉ hoạt động, tính chất, trạng thái… của con người
điền vào chỗ trống để câu văn được diễn đạt một cách nhân hóa
a Đôi chim non xinh xắn hót líu lo, líu lo… một ngày mới
b Những chiếc lá phe phẩy như đang ….khi thấy chị gió tới
Ví dụ: Cho các ý sau: đôi mắt bé, mặt trời vào buổi sáng, em hãy sử dụng
biện pháp so sánh hay nhân hóa để diễn đạt các ý trên thành câu văn sinh động Giáo viên hướng dẫn học sinh như sau :
- Cho học sinh đặt câu có đặc điểm đúng đối tượng miêu tả như:
a/ Bé có đôi mắt đen tròn
b/ Mặt trời từ phía đông rọi xuống cánh đồng lúa xanh rờn
- Chuyển các câu trên thành câu có sử dụng biện pháp nghệ thuật như sau:
a/ Bé có đôi mắt đen tròn như hai hạt nhãn
b/ Mặt trời thức dậy từ phía đằng đông vung tay gieo những tia nắng
xuống cánh đồng lúa xanh rờn
c/ Học sinh tự đánh giá kết quả thực hành viết đoạn văn:
Học sinh tự đánh giá kết quả thực hành ứng dụng viết đoạn văn là giúp cho học sinh tự nhận biết được chỗ đúng, chỗ sai và tìm cách khắc phục lỗi sai Hơn nữa “ đọc văn bạn để sửa văn mình” còn là cách học viết văn hiệu quả Tôi đã thực hiện theo các bước sau:
- Trước khi tổ chức cho học sinh tự đánh giá tôi đưa ra tiêu chí đánh giá cụ thể để học sinh cả lớp nắm được
VD: Trong đoạn văn có sử dụng biện pháp nghệ thuật không? Thể hiện ở câu văn nào? Bạn chọn hình ảnh diễn đạt cho câu văn có phù hợp không?
- Học sinh đánh giá kết quả thực hành của bạn theo hình thức đổi bài Căn
cứ vào tiêu chí đã nêu, học sinh đối chiếu với kết quả thực hành của bạn, dùng bút chì gạch dưới chỗ được và đánh chéo chỗ chưa được
- Học sinh nhận lại bài của mình đã được bạn đánh giá, kiểm tra lại và sửa lỗi, trao đổi với bạn nếu có chỗ chưa hiểu
d/ Giáo viên đánh giá nhận xét kết quả thực hành của học sinh.
Biện pháp này thực hiện mất rất nhiều thời gian, đòi hỏi sự kiên trì và chuẩn bị chu đáo của giáo viên trong các tiết học Ngoài những tiết tập làm văn, luyện từ và câu theo phân phối chương trình, tôi thường luyện thêm cho các em viết đoạn văn vào những tiết củng cố kiến thức của buổi học thứ hai trong ngày Dần dần, các em sẽ quen và các bước tiến hành trong tiết dạy trở nên nhẹ nhàng,
tự nhiên hơn
7 Thực hiện nghiêm túc tiết trả bài Tập làm văn
Tiết trả bài tập làm văn phải được thực hiện một cách kĩ lưỡng, nghiêm túc nhằm phát huy tối đa tính tích cực của học sinh, không thể nhận xét chung chung hoặc làm qua loa, đại khái.Muốn có được tiết trả bài viết có hiệu quả thì giáo viên cần phải chuẩn bị:
Trang 10- Giáo viên nắm và ghi nhận cụ thể các lỗi trong bài viết của học sinh theo từng loại như: lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi về câu, lỗi diễn đạt,…
- Trong quá trình nhận xét, giáo viên chọn một vài bài hay tiêu biểu nhất của lớp cũng có thể chọn thêm bài văn hay của học sinh những năm trước để giúp học sinh tham khảo
- Chuẩn bị câu hỏi gợi mở (câu hỏi dễ hiểu, lôgíc, phù hợp với đối tượng học sinh) dựa trên các lỗi sai phổ biến của lớp
Trong giờ trả bài viết, giáo viên cần thực hiện:
- Xác định lại trọng tâm đề bài, mặc dù các tiết trước đã làm nhưng không thể xem nhẹ được
-Nhận xét đánh giá bài viết học sinh
- Phân tích, sửa chữa lỗi
Để giúp các em sửa lỗi có kết quả thì giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi để dẫn dắt gợi mở, hướng dẫn học sinh từ đơn giản đến phức tạp
a Chữa lỗi về dùng từ:
Giáo viên ghi sẵn ở bảng phụ những câu văn học sinh dùng từ thiếu chính xác; cho học sinh tự phát hiện Giáo viên dùng câu hỏi gợi mở để học sinh tìm từ thích hợp thay thế
VD: Qua đề bài “ Tả người bà mà em kính yêu” Có học sinh viết “Bà
em có đôi mắt hiền lành”.
Hướng dẫn sửa như sau:
- Gọi học sinh đọc câu văn và nhận xét xem trong câu có từ nào dùng thiếu chính xác ( Học sinh phát biểu)
- Giáo viên chốt lại: từ “hiền lành” là tính từ nói về tính tình của người
hoặc vật nói chung Còn ở đây tả đôi mắt của bà Vậy các em hãy tìm từ thích hợp để thay thế
- Học sinh phát biểu, sau đó tôi hướng dẫn học sinh chốt lại chọn từ
“hiền từ” Viết lại câu : “Bà em có đôi mắt hiền từ”.
b.Chữa lỗi về câu:
Lỗi về câu có rất nhiều dạng, giáo viên cần chọn lựa từng loại sai phổ biến của lớp để sửa, lỗi khác dành cho những tiết sau
VD: Tả về dòng sông quê em Có học sinh viết : Những đám lục bình trôi.
Hướng dẫn sửa:
- Các em nhận xét câu văn trên như thế nào?
- Giáo viên chốt lại: câu chưa rõ nghĩa
- Những đám lục bình thường có màu gì?
- Những đám lục bình trôi ở đâu? – Trên mặt nước
Viết lại câu: Những đám lục bình xanh trôi trên mặt nước.