1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng tri thức tiếng việt trong giờ đọc hiểu văn bản đây thôn vĩ dạ

22 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 333,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên,thực tế cho thấy việc vận dụng tri thức tiếng Việt vào một giờ Đọc hiểu cụ thểcòn hạn chế và chưa thật nhuần nhuyễn, dẫn tới việc lĩnh hội, đánh giá tácphẩm văn chương còn thiế

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT LÊ VĂN HƯU

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMVẬN DỤNG TRI THỨC TIẾNG VIỆT TRONG GIỜ ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN “ĐÂY THÔN VĨ DẠ”

Người thực hiện: Lữ Thị Thanh Thủy

Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn

Trang 2

THANH HÓA NĂM 2021

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài

Tiếng Việt và Đọc- hiểu là hai phân môn quan trọng trong chương trìnhNgữ văn Trung học phổ thông Những năm trước đây, hai môn này được dạynhư những môn học độc lập Trong xu thế tích hợp hiện nay, Tiếng Việt vàĐọc- hiểu cùng được đưa vào dạy chung trong chương trình Sách giáo khoaNgữ văn Quan điểm tích hợp đòi hỏi người dạy và học phải biết vận dụngkiến thức, năng lực Tiếng Việt vào giờ Đọc – hiểu và ngược lại Tuy nhiên,thực tế cho thấy việc vận dụng tri thức tiếng Việt vào một giờ Đọc hiểu cụ thểcòn hạn chế và chưa thật nhuần nhuyễn, dẫn tới việc lĩnh hội, đánh giá tácphẩm văn chương còn thiếu khách quan, khoa học, mặt khác làm cho nănglực tiếng Việt của học sinh không được rèn luyện, trau dồi Thực tế trên đòihỏi trong quá trình dạy học Ngữ văn cần thường xuyên khai thác, vận dụng trithức tiếng Việt trong một giờ đọc hiểu cụ thể

Trong hệ thống các tác phẩm văn chương được đọc – hiểu ở chương

trình Ngữ văn trung học phổ thông, Đây thôn Vĩ Dạ là một tác phẩm hay,

được nhiều thế hệ học sinh yêu thích Sự hấp dẫn của thi phẩm này được tạonên không chỉ từ cảm xúc chân thành, trong sáng của nhân vật trữ tình mà cònbởi sự tinh tế, khéo léo trong việc tổ chức ngôn ngữ thơ của người nghệ sĩ Cóthể nói, kĩ thuật sử dụng tiếng Việt điêu luyện của Hàn Mặc Tử là một trongnhững yếu tố đưa bài thơ đạt đến độ toàn bích Tuy nhiên, trong quá trình đọchiểu tác phẩm này, không ít người dạy- học đã không chú ý đến việc khaithác tìm hiểu sự tinh tế tài hoa trong việc sử dụng ngôn từ tiếng Việt của HànMặc Tử, các tri thức về tiếng Việt đã không được vận dụng vào quá trình tìmhiểu bài thơ, dẫn tới việc cảm thụ tác phẩm còn thiếu khách quan, chưa thấuđáo

Xuất phát từ tình hình thực tế đó, chúng tôi chọn vấn đề Vận dụng tri thức tiếng Việt trong giờ đọc - hiểu văn bản Đây thôn Vĩ Dạ làm đề tài

nghiên cứu trong khuôn khổ một sáng kiến kinh nghiệm, với hi vọng gópphần giải quyết vấn đề thuộc phương pháp dạy học một phân môn trongchương trình SGK Ngữ văn bậc THPT

1.2 Mục đích nghiên cứu

Khai thác mối quan hệ hữu cơ giữa phân môn Đọc - hiểu và phân mônTiếng Việt, nhất là các vấn đề về tiếng Việt có mặt trong văn bản đọc - hiểu

Đây thôn Vĩ Dạ nhằm góp phần cung cấp cái nhìn khách quan hơn khi đánh

giá, cảm thụ tác phẩm, hiểu sâu sắc hơn tài năng văn chương của Hàn Mặc

Tử, đồng thời củng cố các tri thức tiếng Việt được dạy học trong chương trìnhNgữ văn THPT

Trang 3

Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của sáng kiến kinh

nghiệm này là bài Đọc - hiểu Đây thôn Vĩ Dạ của chương trình Ngữ văn

THPT, trong đó tâm điểm là những vấn đề liên quan đến tri thức của phânmôn Tiếng Việt

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Sáng kiến kinh nghiệm này sử dụng phối hợp các phương pháp thuộc cảhai nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thựctiễn Cụ thể là: phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp môhình hoá, phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp thựcnghiệm

chúng là ngôn từ Trong phần Dẫn luận cuốn Phương pháp giảng văn dưới ánh sáng ngôn ngữ học hiện đại, Đái Xuân Ninh viết: “Hình thức chủ yếu của một tác phẩm văn học là ngôn ngữ Vì tất cả cái gì hình thành ra một tác phẩm như đề tài, kết cấu, tình tiết,… đều được diễn đạt bằng ngôn ngữ…” Do đó

“thoát li yếu tố ngôn ngữ thì việc phân tích nội dung chỉ là một sự gượng ép, méo mó, mờ nhạt Có bám lấy ngôn ngữ mới không suy diễn vu vơ, mới nhận thấy cái nhịp đập của trái tim, cái hơi thở của tâm hồn, cái chất sống thực sự của nhà thơ, ” [1, tr.3].

Chính mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ và tác phẩm văn chương là

cơ sở xác đáng của quan điểm tích hợp trong dạy và học Ngữ văn Trong cuốn

Phương pháp dạy học Ngữ văn trung học phổ thông - những vấn đề cập nhật, hai tác giả Nguyễn Thanh Hùng và Lê Thị Diệu Hoa nêu quan điểm: “Môn học Ngữ văn thể hiện rất rõ tính liên hệ trực tiếp giữa văn với Tiếng Việt và Làm văn Bản thân mỗi phân môn ấy đều có tính trung gian và có thể chuyển hóa trong hoạt động chung về tư duy, về kiến thức, về kĩ năng, về thế giới tinh thần, tình cảm và thái độ ứng xử văn hóa trong đời sống, chính vì hai tính chất trực tiếp và trung gian này mà môn Ngữ văn không thể chia tách ra được, nên đặt vấn đề tích hợp trong dạy học Ngữ văn là có cơ sở” [23,

tr.104]

Nghiên cứu vấn đề dạy học tiếng Việt trong quá trình dạy Ngữ văn,Đinh Trọng Lạc quan niệm: trong quá trình dạy đọc - hiểu, giáo viên phải biết

Trang 4

vận dụng tri thức tiếng Việt như: ngữ âm, từ vựng, cú pháp, phong cách haybiện pháp tu từ để giúp học sinh khám phá sâu sắc hơn ý nghĩa của văn bản,đồng thời giúp cho học sinh lưu giữ được những vẻ đẹp, những giá trị nhânvăn sâu sắc mà văn chương nghệ thuật đem lại cho các em [33, tr.47].

Trong cuốn Chương trình Ngữ văn trong nhà trường trung phổ thông Việt Nam, Đỗ Ngọc Thống dẫn lại quan điểm của Bộ Giáo dục và Đào tạo khi hoạch định chương trình Ngữ văn mới cho bậc THPT: “Ba bộ phận Văn học, Tiếng Việt và Làm văn tuy khác nhau nội dung và kĩ năng, nhưng vẫn có nhiều điểm chung cơ bản: đó là tiếng Việt và sự biểu đạt bằng tiếng Việt, có đối tượng nghiên cứu chung là văn bản tiếng Việt và có mục tiêu chung là rèn luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết” [63, tr.256] Có thể nói, mối quan hệ này

tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho việc củng cổ tri thức tiếng Việt qua việc dạyđọc - hiểu cũng như dạy Làm văn

Mỗi một văn bản đọc - hiểu đều là một sản phẩm ngôn ngữ đầy tínhsáng tạo, có khi là những mẫu mực trong việc sử dụng tiếng Việt Chính vìthế, Tiếng Việt và Đọc - hiểu có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhau.Vận dụng nguyên tắc tích hợp vào dạy học đọc - hiểu cũng như dạy họctiếng Việt vừa là đòi hỏi có tính khách quan, lại vừa phản ánh tính liên thôngtất yếu giữa hai phân môn

2.2 Thực tế của việc vận dụng tri thức tiếng Việt trong giờ Đọc- hiểu Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông.

Có một thực tế đang diễn ra trong giảng dạy Ngữ văn hiện nay ở nhàtrường phổ thông là vị thế của phân môn Tiếng Việt đang mất dần Mặc dùđược đưa vào cùng cuốn sách giáo khoa Ngữ văn, nhưng những bài học vềTiếng Việt không mấy khi được chú trọng giảng dạy Cả người dạy và ngườihọc đếu tập trung chú trọng vào các bài đọc hiểu Các tiết tiếng Việt khôngđược đầu tư công phu, thậm chí còn bị bỏ qua, nhường chỗ cho các các tiếtđọc hiểu Bản thân học sinh cũng không thích học tiếng Việt bởi một trongnhững yếu tố tâm lí trở thành rào cản là “phong ba bão táp không bằng ngữpháp Việt Nam” Thực tế trên đã dẫn tới hệ lụy là lỗ hổng về kiến thức tiếngViệt ở đang lớn dần, là người Việt nhưng không hiểu được bao nhiêu về tiếng

mẹ đẻ Niềm hi vọng nâng cao năng lực, tri thức tiếng Việt cho học sinh đượcđặt vào các giờ đọc- hiểu, trên nguyên tắc tích hợp

Nhưng ngay trong một giờ đọc – hiểu, việc vận dụng, củng cố tri thứctiếng Việt chưa được thực hiện một cách khoa học, nhuần nhuyễn Sự nghèonàn về tri thức về tiếng Việt đã dẫn tới việc đánh giá, cảm thụ tác phẩm vănchương thiếu khách quan Sự khiên cưỡng, gượng ép chắp nối một cách rờirạc tri thức Tiếng Việt với cảm thụ văn học khiến bài đọc hiểu trở nên vụng

về, tách rời, cháp vá Đánh giá, cảm thụ tác phẩm văn chương trở thành việc

“chém gió” của nhiều học sinh hiện nay Lối cảm thụ tác phẩm văn học sáorỗng, thiếu căn cứ, xã hội học dung tục đang tồn tại ở một bộ phận học sinh

Trang 5

có một phần nguyên nhân từ chính việc chưa vận dụng linh hoạt tri thức tiếngViệt vào trong giờ đọc hiểu

Thực tế đáng buồn này đặt ra yêu cầu cấp bách phải vận dụng thườngxuyên, linh hoạt các tri thức tiếng Việt vào các giờ đọc hiểu, đồng thời dạy-học các tiết tiếng Việt trong chương trình phải đầy đủ, nghiêm túc, khoa họchơn

2.3 Vận dụng tri thức tiếng Việt vào giờ đọc – hiểu văn bản Đây thôn

Vĩ Dạ

2.3.1 Những tri thức tiếng Việt được vận dụng

Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ trữ tình Ngôn ngữ thơ trữ tình mang

những đặc trưng cơ bản là: giàu nhạc tính, mang tính hàm súc cao, và rấttruyền cảm Tạo nên đặc trưng đó của ngôn ngữ thơ là các yếu tố: nhịp thơ,vần thơ, thanh điệu, từ ngữ cùng các biện pháp tu từ, và khả năng tổ chứcngôn ngữ của tác giả Như vậy, để đọc – hiểu bài thơ này, chúng ta cần vậndụng những tri thức tiếng Việt cả về ngữ âm (thanh điệu, phụ âm, vần), từvựng ( từ và các biện pháp tu từ), ngữ pháp (cụm từ, câu) để khám phá, lĩnhhội bài thơ

2.3.1.1 Tri thức về ngữ âm Tiếng Việt

Chất liệu cấu tạo của văn học là ngôn từ Ngôn từ là hệ thống tín hiệu,mỗi tín hiệu của ngôn từ có hai mặt: Phần nghĩa và phần âm Chính phần âmnày, hay nói khác đi, chính những đặc trưng về ngữ âm của chất liệu nghệthuật ngôn từ tạo nên tính nhạc cho bài thơ

Biểu hiện:

- Phối thanh: bằng, trắc (thanh bổng – thanh trầm); phù bình thanh – thanhcao (sắc, ngã, ngang), trầm bình thanh – thanh thấp (huyền- nặng- hỏi) Phốithanh trong bài thơ như phối các nốt trong một bản nhạc

- Ngắt nhịp

- Hiệp vần

Tác dụng: Tăng nhạc tính, tăng tính gợi cảm, sức hấp dẫn của bài thơ Thểhiện một cách mạnh mẽ hơn tư tưởng, tình cảm gửi gắm Tạo hiệu ứng cảmxúc đặc biệt, rung động trái tim người đọc

Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ có sự phối thanh bằng trắc ở từng khổ thơ cũng như

ở toàn bài thơ một cách điêu luyện:

Nhạc điệu bằng - trắc theo lối thơ Đường thất ngôn Tất thảy các chữ 2

- 4 - 6 trong câu đều theo kết cấu hài âm bằng trắc của Đường thi, đó là sự hài

âm theo qui ước “ nhị, tứ, lục phân minh”

Khổ thơ mở đầu của Đây thôn Vĩ Dạ: có 17 tiếng mang thanh bằng, và

11 tiếng mang thanh trắc trong đó thượng thanh: 02 (ngã, không có hỏi), khứthanh: 05 (sắc: 05, không có nặng), nhập thanh: 04 (sắc: 02, nặng: 02) Khổ thơ thứ hai khổ: có 16 tiếng mang thanh bằng, 12 tiếng mang thanhtrắc; và có tới 21 tiếng là thanh cao, trong khi chỉ có 07 tiếng là thanh thấp (ynhư ở khổ mở đầu)

Trang 6

Khổ thơ thứ ba: khổ này có 17 tiếng mang thanh bằng, 11 tiếng mangthanh trắc; và cũng có tới 21 tiếng mang thanh cao, trong khi chỉ có 07 tiếngmang thanh thấp (cũng y như ở khổ thứ hai và khổ mở đầu).

Tổng quan lại, cả bài Đây thôn Vĩ Dạ với 03 khổ thơ, 12 dòng, 84 tiếng,

ta có: 50 tiếng mang thanh bằng, 34 tiếng mang thanh trắc; 63 tiếng là thanh

cao, 21 tiếng là thanh thấp Cái tỷ lệ ấy tự nó đã nói lên vì sao Đây thôn Vĩ

Dạ đẹp mà buồn, buồn như nhạc cổ điển nghe trong chiều mưa, những âm

hưởng nền du dương êm ả của các thanh bằng và trên cái nền đó là những âmsắc cao, trong trẻo, thiết tha

Ngoài ra, tính nhạc còn thể hiện ở các yếu tố khác:

Nhịp: Nhịp 4/3 của những câu thơ như “Nhìn nắng hàng cau/nắng mới lên” “Gió theo lối gió/mây đường mây”, “Mơ khách đường xa/khách đường xa” tạo nên những tiết tấu du dương, đồng thời cũng tạo nên liên kết về mặt

ngữ âm giữa các khổ thơ, khiến cả bài thơ trở nên hài hòa, da diết

Vần “ay” (Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay/ Có chở trăng về kịp tối nay?)lắng xuống, tạo thành những dư âm, những cơn sóng ngầm lặng vào

trong

Vần “a”(Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra/ Ai biết tình ai có đậm đà) âm vang, làm cảm xúc ngân dài ngân dài

trong những vang vọng dội vào tâm hồn độc giả

2.3.1.2 Tri thức về từ vựng tiếng Việt.

Đây là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất của hình thức chất liệu ngôn

từ Bởi vì mọi nội dung cần thể hiện của tác phẩm văn học không thể có cáchnào khác là nhờ vào hệ thống từ ngữ ấy Các phương tiện như dấu câu, nhịpđiệu, ngữ âm đã nêu ở trên chỉ thực sự có ý nghĩa khi nằm trong một văn bản

mà từ ngữ là nền tảng Nhà thơ muốn mô tả, tái hiện hiện thực phải thông qua

từ ngữ Muốn đánh giá được nhà thơ viết về những điều đó như thế nào, lạicũng phải thông qua chữ nghĩa trong văn bản Đó là cơ sở để người ta khẳngđịnh “văn học là nghệ thuật của ngôn từ”

Vinôgrađôp cho rằng, “Một từ trong tác phẩm nghệ thuật không thểđược coi ngang bằng như từ của ngôn ngữ thực hành, vì trong văn bản nghệthuật, từ thi ca (từ nghệ thuật) có hai bình diện theo khuynh hướng nghĩacủa mình, có mối tương quan đồng thời với cả những từ của ngôn ngữ vănhóa chung, cả với những yếu tố của cấu trúc ngôn từ của văn bản nghệ

thuật” [Dẫn theo Đinh Trọng Lạc - Nguyễn Thái Hòa, Phong cách học tiếng Việt, tr.146].

Một trong những yếu tính của ngôn ngữ thơ là cô đọng, súc tích Ngônngữ thơ biểu đạt nội dung nhiều hơn những gì được nói Vì vậy, việc lựa chọn

từ ngữ trở nên hết sức quan trọng Nó phải đảm bảo được yêu cầu “nói íthiểu nhiều” của thơ Mặt khác, với thơ, ngôn ngữ vừa là phương tiện vừa làcứu cánh, với nhà thơ, mọi lớp ngôn từ đều bình đẳng Qua việc anh ta lựa

Trang 7

chọn những lớp ngôn từ nào và sử dụng chúng ra sao trong tác phẩm củamình mà những nét riêng về phong cách của anh ta được biểu lộ

Trên bình diện ngữ nghĩa, sự độc đáo của ngôn ngữ thơ còn được xáclập ở cách kết hợp và sử dụng từ ngữ có tính chất bất thường Với các thaotác này, ngôn ngữ thơ được đảm bảo một cách tối đa tính hàm súc của nó.Bởi một kết hợp phi truyền thống đôi khi có thể thay cho một diễn giãi dài,cần đến một lượng ngôn từ khá lớn Với những trường hợp này, từ ngữ đivào trong thơ nhiều khi không còn là chính nó Nghĩa đen, nghĩa gốc khôngcòn được quan tâm mà điều dáng chú ý là cái áo ngữ nghĩa mới mà ngườinghệ sĩ vừa khoác lên mình nó trong những lần sử dụng cụ thể Nó sâu sắchơn, tinh tế hơn và quan trọng là chỉ nó (từ ngữ và cách sử dụng đó) mới có

đủ sức nặng để chuyển tải những thông điệp thẩm mĩ mà nhà thơ muốn gửigắm

Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” sử dụng nhiều từ giàu sức gợi tả:

- Từ “mướt” trong câu thơ “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” “Mướt” là

tính từ gợi tả sự bóng láng và mỡ màng, mềm mại trên bề mặt của thực vật,nhìn thấy thích mắt Chỉ một chữ ấy thôi mà đã gợi nên được vẻ đẹp tinh khôi

tràn đầy sức sống của cảnh vườn “Mướt” kết hợp với “quá” càng làm tăng

thêm sắc thái biểu cảm của từ này

- Từ “buồn thiu” trong câu thơ “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”: gợi lên

nét buồn với vẻ thất vọng, mất hứng thú

- Từ “lay” thể hiện trạng thái chuyển động không ngừng, nhưng ở đây còn

nhuốm sắc buồn từ sự chia li của cảnh vật, còn gợi cái oi ả ảm đạm của mộttrưa vắng

- Từ “kịp” gợi nên nỗi niềm của thi nhân, một dự cảm về tương lai, một lối

sống vội vàng để hưởng thụ được những gì tối thiểu nhất của cuộc đời, từ đócho thấy vẻ đáng thương, tội nghiệp, đau khổ

Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” sử dụng rất nhiều từ phiếm chỉ:

- Từ phiếm chỉ “ai” (“Vườn ai”, “thuyền ai”, “ai biết”,“tình ai”) gắn với

các từ khác có tác dụng làm mờ cảnh vật Đồng thời cho cảm giác như cuộcsống và tình yêu, những gì thi nhân đang hướng tới đang khao khát như nhòadần đi, mờ dần đi

- Những từ “đó”, “đây” (“Sông trăng đó”,”tối nay”,”ở đây”) gợi diễn tả

sự mơ hồ về không gian “Đó” có thể ám chỉ thế giới ngoài kia, thế giới của

sự sống, của những điều tốt đẹp mà nhà thơ bị số phận tước mất “Đây” có

thể là thế giới trong này, thế giới của bóng tối và bệnh tật nơi trại phong Tuy

Hòa “Tối nay” là một sự mơ hồ về thời gian Những từ phiếm chỉ này phủ bài

thơ trong một màn sương mơ hồ của kí ức và tưởng tượng, làm cho tất cảnhòe dần đi, nhòa dần đi trong một thời gian miên man và một không gianmênh mang vô định

Những từ phiếm chỉ xuất hiện là do cảm xúc của nhà thơ: Bài thơ đượclấy cảm hứng từ một tâm bưu thiếp từ phương xa gửi tặng, tấm bưu thiếp ấy

Trang 8

đã làm trỗi dẫy nỗi nhớ và cuộc sống mạnh liệt trong lòng thi nhân, từ đó từnghình tượng thơ ra đời Tuy vậy những hình tượng này là những hình tượngcủa trí nhớ, do trí nhớ tái tạo, cũng có thể là những hình tượng tưởng tượng,tât cả đều được hình thành trong tâm trí thi nhân, tâm trí của một người bịgiam cầm trong bóng tối, chịu đựng những nỗi đau tột cùng, chứng kiến cảnhtâm hồn và thể xác tan rã, chính vì vậy mà chúng mơ hồ, mơ hồ do mànsương trí nhớ, mơ hồ do những nỗi đau.

Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” có những kết hợp từ độc đáo, mới lại, gợi

cảm

- “Nắng hàng cau” “Nắng hàng cau” là nắng như thế nào? Là nắng len

lỏi giữa hàng cau, hay hàng cau phủ đầy nắng? Sự kết hợp từ này gợi nên mộtbức tranh tuyệt đẹp của màu sắc và ánh sáng Sắc vàng của nắng len lỏi giữasắc xanh của lá Nắng vì thế như xanh hơn, tươi hơn, đầy sức sống hơn Còn

lá vì thế trở nên lung linh hơn, huyền ảo hơn

- “Bến sông trăng” Thế nào là bến sông trăng? Phải chăng là sông Ngân

trong truyền thuyết với vầng trăng lững lờ? Hay đó thật ra chính là một dòngsông trong kí ức nơi ánh trăng chiếu những vầng sáng bàng bạc trầm mặc của

mình như dát lên mặt sông một lớp bạc kì ảo? Dù thế nào hình ảnh bến sông

trăng cũng mang một vẻ đẹp kì ảo, một vẻ đẹp huyền bí, một vẻ đẹp diễm lễ.

Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ chỉ sử dụng duy nhất một từ Hán Việt, đó là từ

“nhân ảnh” trong câu thơ “ở đây sương khói mờ nhân ảnh”, đây là cách sử

dụng từ mang dụng ý nghệ thuật Tác dụng của từ Hán Việt đó là gợi một bầukhông khí trang trọng, bầu không khí cổ xưa Nét trang trọng cổ xưa này mà

từ “nhân ảnh” mang lại khiến cho cõi “sương khói” trong thơ ngoài nét mờ ảo

huyễn hoặc vốn có còn có thêm vẻ trầm mặc u tịch, làm nên sức ám ảnh chocâu thơ

2.3.1.3 Tri thức về các biện pháp tu từ

Văn chương nghệ thuật là phương tiện hữu hiệu để phản ánh đời sống,hiện thực cuộc sống của con người Mỗi tác phẩm văn chương, bên cạnhnhững hiện thực được phản ánh, nhà văn còn có những hư cấu để thể hiện nộidung tư tưởng cũng như thái độ tính cảm của mình Khi sáng tạo nghệ thuật,mỗi nhà văn, nhà thơ ít nhiều đều vận dụng các biện pháp tu từ để làm tăngthêm ý nghĩa của từ ngữ, câu văn, câu thơ Biện pháp tu từ là một bộ phận củatri thức tiếng Việt, khi dạy học văn bản đọc - hiểu, giáo viên không chỉ phântích được ý nghĩa của việc sử dụng những biện pháp tu từ ấy mà còn giúp họcsinh củng cố thêm tri thức và kĩ năng về các biện pháp tu từ

Trong các văn bản đọc - hiểu, chúng ta thường bắt gặp các biện pháp tu

từ như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, những biện pháp tu từ ngữ âm, tu

từ cú pháp, câu hỏi tu từ, nói giảm nói tránh,… Khi dạy học Đọc - hiểu, giáoviên có thể giúp học sinh rất nhiều trong việc củng cố tri thức về các biệnpháp tu từ trên

Trang 9

Trong Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử đã vận dụng hiệu quả các biện pháp

tu từ để vẽ nên một bức tranh ngoại cảnh tuyệt đẹp và một bức tranh tâm cảnhcảm động:

- Câu hỏi tu từ: Sao anh không về chơi thôn Vĩ?/ Có chở trăng về kịp tối nay?/ Ai biết tình ai có đậm đà?

Câu hỏi mở đầu: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Vừa là một câu hỏi, vừa

là lời mời gọi thiết tha về thôn Vĩ, vừa như lời trách móc nhẹ nhàng của ngườicon gái thôn Vĩ (mà tác giả tưởng tượng ra), vừa là lời tự vấn sao không vềthôn Vĩ của chính nhà thơ

Câu hỏi thứ hai: Có chở trăng về kịp tối nay? Liệu con thuyền tình yêu có

vượt thời gian để kịp cập bến bờ hạnh phúc hay không? Câu hỏi chất chứabao niềm khắc khoải, sự chờ đợi mỏi mòn tình yêu, hạnh phúc của thi nhân

Ẩn trong đó có sự mông lung, hồ nghi, thất vọng

Câu hỏi kết thúc bài thơ: Ai biết tình ai có đậm đà? Đã cực tả nỗi băn

khoăn của chính nhà thơ ( nhà thơ tự hỏi cảnh vật và con người ở đây mờ ảoquá, lung linh quá, không biết tình yêu của người thiếu nữ ấy có bền chặt haycũng mờ ảo như khói sương?) Vì vậy, câu thơ cũng đồng thời bộc lộ khátkhao được yêu thương nhưng chứa đầy vô vọng của thi nhân

Có thể thấy sự chuyển đổi trong tâm trạng thi nhân qua ba câu hỏi tu từnày: từ hi vọng tới dự cảm chia lìa, thất vọng, hồ nghi, cuối cùng là tuyệtvọng

- Biện pháp điệp từ:

+ Điệp từ “nắng”( Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên) nhấn mạnh sự bao

phủ, ôm trùm của nắng ban mai thôn Vĩ, vẽ nên một không gian đầy ánhsáng

+ Điệp từ “gió”, “mây”( Gió theo lối gió, mây đường mây ) kết hợp với

cách ngắt nhịp 4/3 với hai vế tiểu đối gợi tả một không gian gió, mây chialìa

+ Điệp ngữ “khách đường xa” ( Mơ khách đường xa, khách đường xa)

nhấn mạnh đến sự xa xôi, cách trở của con người trong không gian

- Biện pháp so sánh “xanh như ngọc” (Vườn ai mướt quá xanh như ngọc) :

ngọc vừa có ánh vừa có màu Vườn thôn Vĩ như một viên ngọc, không chỉ rờirợi sắc xanh, mà dường như còn tỏa vào không gian những ánh xanh Đơn sơ

mà lộng lẫy Thật thanh tú và cao sang!

- Biện pháp nhân hóa: “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” Nhà thơ đã nhân

hóa con sông thành sinh thể có hồn, có tâm trạng để giãi bày tâm tư của chínhmình

- Biện pháp ẩn dụ: thuyền, bến, trăng (Thuyền ai đậu bến sông trăng đó).

Những biểu tượng về người con trai, con gái và hạnh phúc lứa đôi Thuyềnchở trăng là thuyền chở tình yêu, bến trăng là bến bờ hạnh phúc Liệu conthuyền tình yêu có kịp cập bến bờ hạnh phúc? Hình ảnh thơ đa nghĩa, gợinhiều xúc cảm

Trang 10

Như vậy, trong thi phẩm này, Hàn Mặc Tử sử dụng đa dạng các biện pháp

tu từ, mỗi biện pháp đều đạt được hiệu quả thẩm mĩ đặc sắc Hình ảnh thơ độcđáo, đẹp, gợi cảm, ngôn ngữ thơ trong sáng, đa nghĩa Nhiệm vụ của ngườidạy và học là phải và có phương pháp dạy, học phù hợp để bật nổi những vẻđẹp trên của bài thơ

2.3.2 Một số phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh vận dụng tri thức

tiếng Việt trong đọc- hiểu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

2.3.2.1 Phương pháp nêu vấn đề

Nêu vấn đề là hình thức dạy học dựa vào các tình huống có vấn đề, thôngqua việc tổ chức cho học sinh giải quyết các tình huống đó, một mặt, giúp họcsinh nắm chắc kiến thức, mặt khác, có thể rèn luyện các năng lực, phẩm chất

tư duy một cách có hiệu quả Phương pháp nêu vấn đề luôn gắn với các tìnhhuống có vấn đề Tình huống có vấn đề là tình huống mà học sinh đứng trướcmột trạng thái tâm lí do một số khó khăn đã được chủ thể ý thức Muốn giảiquyết được những khó khăn đó, cần phải vận dụng những tri thức mới hoặccách thức mới Vì vậy,việc vận dụng phương pháp nêu vấn đề vào việc dạyđọc - hiểu để củng cố tri thức tiếng Việt là một phương pháp hữu ích đem đếnnhững tri thức mới, suy nghĩ mới và phương thức hành động mới đồng thờigiúp học sinh khắc sâu được kiến thức mà bản thân các em đã từng được tìmhiểu được tiếp thu ở những bài học tiếng Việt

Phương pháp nêu vấn đề phải vận dụng trong sự phối hợp với cácphương pháp khác Chẳng hạn, trong giờ đọc - hiểu, tình huống có vấn đềđược thể hiện ra bằng câu hỏi nêu vấn đề có thể xen kẽ với các câu hỏi gợi

mở, có thể kết hợp với hình thức nhóm, vì tất cả chúng đều phục vụ mục đích

là tổ chức cho học sinh khám phá văn bản

Trong khi đọc- hiểu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, giáo viên có thể tạo dựng các

tình huống có vấn đề thông qua hệ thống các câu hỏi nêu vấn đề

Chẳng hạn, để làm bật nổi biện pháp câu hỏi tu từ ở khổ thơ thứ nhất, giáoviên có thể đặt câu hỏi cho học sinh:

- Câu hỏi nêu vấn đề : Chỉ ra các biện pháp nghệ thuât được sử dụng trong

câu đầu? Nhận xét các sắc thái biểu cảm của câu hỏi đó?

- Câu hỏi khám phá: Câu hỏi “Sao anh không về chơi Thôn Vĩ” có nhằm mục

đích đối thoại không? Tác dụng của câu hỏi đó?

Trang 11

Trả lời: Câu hỏi không hướng đến đối thoại,được đặt ra để tự vấn, tự trả lời

=> thể hiện niềm khao khát được trở về thôn Vĩ, thăm lại cảnh cũ,người xưacủa Hàn Mặc Tử

Hoặc ở khổ thơ thứ 2, giáo viên có thể gợi mở giúp học sinh đi sâu vào thếgiới nghệ thuật ở câu 3, 4 qua đó làm bật nổi giá trị của biện pháp tu từ ẩn dụ

được sử dụng: Trong ca dao và thơ văn xưa nay, thuyền, bến, trăng thường là

những ẩn dụ nghệ thuật Hãy cho biết ý nghĩa ẩn dụ của những hình ảnh thơtrên Từ đó ai có thể nói giúp nhà thơ những tâm tư sâu kín?

Như vậy, ở đây tùy vào đối tượng học sinh, mức độ khó dễ của các trithức cần chiếm lĩnh mà người giáo viên tạo ra những tình huống có vấn đềphù hợp

2.3.2.2 Phương pháp phân tích mẫu

Dạy học Văn hiện nay, dù được gọi là dạy đọc - hiểu, thì hoạt động phântích cũng sẽ diễn ra thường xuyên Sở dĩ như vậy, vì đây là thao tác nhận thứcphổ biến của con người đối với bất cứ đối tượng nào Do vậy, muốn cảm thụđược bài thơ, cả thầy và trò không thể bỏ qua thao tác phân tích ngôn ngữnghệ thuật của nó Về phương pháp phân tích ngôn ngữ, viện sĩ Chê-cu-chépcủa Liên Xô trước đây định nghĩa: “học sinh, dưới sự chỉ dẫn của thầy giáo,vạch ra những hiện tượng ngôn ngữ nhất định, từ các tài liệu ngôn ngữ chotrước, qui các hiện tượng đó vào một phạm trù nhất định và chỉ rõ những đặctrưng của chúng” [1, tr.66] Cụ thể hơn là giáo viên cần hướng dẫn học sinhxác định các yếu tố ngôn ngữ cần phân tích, sau đó tiến hành đánh giá các yếu

tố ngôn ngữ trong văn bản Với yếu tố ngôn ngữ ở cấp độ từ, giáo viên có thểhướng dẫn học sinh xác định giá trị của từ theo ba bước: xác định từ loại, tìmhiểu giá trị của từ trong văn cảnh, so sánh với từ dó trong một văn bản khác

Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh sử dụng phương pháp phân tích

ngôn ngữ như vậy trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ Chẳng hạn, phân tích giá trị nghệ thuật của từ lay Về từ loại, lay là động từ, chỉ hoạt động qua lại của vật Động thái lay tự nó không vui cũng không buồn Nhưng đặt trong văn cảnh,

nó gợi nỗi buồn hiu hắt, là nét buồn phụ họa với trời , mây, sông nước Từ lay trong thơ Hàn, có gì đó vừa giống vừa khác với từ lay trong ca dao:

Ai về Giống Dứa qua truông.

Gió lay bông sậy bỏ buồn cho em.

Hay trong thơ Trúc Thông:

Lá ngô lay ở bờ sông.

Bờ sông vẫn gió người không thấy về

Nhưng có một thực tế không thể phủ nhận: kết quả phân tích các yếu tốngôn ngữ trong tác phẩm thơ do học sinh thể hiện ngay trong giờ đọc - hiểuthường khá sơ lược, đơn giản, nghèo nàn, chưa đạt đến chiều sâu vốn có củacác ngữ liệu Tình trạng này có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chínhvẫn là vốn tri thức, trình độ hiểu biết và khả năng đi sâu vào các thành tố củatác phẩm - những điều học sinh còn rấ thiếu Trước tình trạng đó, giáo viên

Ngày đăng: 25/05/2021, 20:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w