1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng hệ thống bài tập thực nghiệm trong chương đại cương hóa học hữu cơ nhằm nâng cao chất lượng ôn thi học sinh giỏi môn hóa học

25 44 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với quá trình dạy học các môn khoa học tự nhiên, khoa học thựcnghiệm, quan sát và thí nghiệm cũng là phương pháp làm việc của học sinh,nhưng với học sinh những bài tập quan sát hoặc

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Lý do chọn đề tài

Trong trường phổ thông, thí nghiệm giúp học sinh làm quen với nhữngtính chất, mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật giữa các đối tượng nghiên cứu,giúp làm cơ sở để nắm vững các quy luật, các khái niệm khoa học và biết cáchkhai thác chúng Đối với bộ môn hóa học, thí nghiệm giữ vai trò đặcbiệt quantrọng như một bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy - học Thí nghiệmhóa học có tác dụng phát triển tư duy, giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng

và củng cố niềm tin khoa học của học sinh, giúp hình thành những đức tính tốtcủa người lao động: ngăn nắp, trật tự, gọn gàng Vì vậy khuynh hướng chungcủa việc cải cách bộ môn hóa học ở trong nước và trên thế giới là tăng tỉ lệ giờcho các thí nghiệm và nâng cao chất lượng các bài thí nghiệm

“… Không thể hình dung được việc giảng dạy hóa học trong nhà trường

mà lại không có quan sát, không có thí nghiệm học tập.” B.P Exipốp (trong cuốn những cơ sở của LLDH) Quan sát và thí nghiệm là các phương pháp

nghiên cứu cơ bản của khoa học tự nhiên, của các môn khoa học thực nghiệm,trong đó có môn hóa học Hóa học là một khoa học đã và sẽ không thể phát triểnđược nếu không có quan sát, thí nghiệm

Đối với quá trình dạy học các môn khoa học tự nhiên, khoa học thựcnghiệm, quan sát và thí nghiệm cũng là phương pháp làm việc của học sinh,nhưng với học sinh những bài tập quan sát hoặc các thí nghiệm được giáo viêntrình bày hay do chính các em tiến hành một cách độc lập (thực hành quan sát,thí nghiệm của học sinh) dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên thường đểgiải quyết những vấn đề đã biết trong khoa học, rút ra những kết luận cũng đãbiết tuy vậy đối với các em học sinh vẫn là mới

Thông qua quan sát, thí nghiệm, bằng các thao tác tư duy phân tích, tổnghợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa giúp các em xây dựng các khái niệm Bằngcách đó các em nắm kiến thức một cách vững chắc và giúp cho tư duy pháttriển

Quan sát và thí nghiệm đòi hỏi phải có những thiết bị dạy học như tranh ảnh,

mô hình, các mẫu vật tự nhiên và các phương tiện thiết bị phục vụ cho việc tiếnhành các thí nghiệm

Quan sát và thí nghiệm không chỉ cho phép học sinh lĩnh hội tri thức mộtcách sâu sắc, vững chắc mà còn tạo cho các em một động lực bên trong, thúcđẩy các em thêm hăng say học tập

Tục ngữ có câu “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm/ một sờ”, đủ nói lên vai trò của quan sát thí nghiệm Người Ấn Độ và người Trung Hoa cũng đã nói: “Nghe thì quen, nhìn thì nhớ, làm thì hiểu” [4]

Những kết quả phân tích trên đây không chỉ cho chúng ta thấy rõ tầm quantrọng của thí nghiệm thực hành hóa học (TNTHHH) mà còn nhấn mạnh đếnphương pháp sử dụng các TNTHHH đó như thế nào để có thể đạt được hiệu quảcao, đáp ứng mục tiêu dạy học hiện nay của sự nghiệp giáo dục

Trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu, tôi nhận thấy, bài tập hóa học

Trang 2

hành Loại bài tập này vừa mang tính chất lí thuyết và tính chất thực hành Mốiquan hệ hữu cơ giữa lí thuyết và thực hành được thể hiện rõ khi giải loại bài tậpnày Muốn giải được loại bài tập này học sinh cần nắm vững lí thuyết, vận dụng

lí thuyết để vạch phương án giải quyết và vận dụng những kĩ năng kĩ xảo thựchành để thực hiện phương án đã vạch ra

Nội dung chương trình sách giáo khoa hoá học 10, 11 đã đưa những thínghiệm bằng hình vẽ và có thêm tiết thực hành, nhưng số lượng thí nghiệm họcsinh được làm và theo dõi từ thầy cô giáo làm còn hạn chế, nên việc hình thành

kĩ năng thực hành thí nghiệm cũng hạn chế: ví dụ như cách thu khí, thực hiệnphản ứng giữa chất khí và chất rắn

Đối với đối tượng là các học sinh dự thi các kì thi học sinh giỏi thì việcnghiên cứu các thí nghiệm hóa học học sinh cần hiểu sâu hơn về thao tác lựachọn hóa chất, dụng cụ; kĩ năng thao tác lắp đặt dụng cụ hóa chất vô cùng cấpthiết Việc nghiên cứu sâu hơn về thực nghiệm này giúp tăng cường kĩ năng giảiquyết các bài tập tình huống thí nghiệm trong các kì thi học sinh giỏi các cấp

Đặc biệt trong các kì thi học sinh giỏi các cấp trong những năm gần đâybài tập về thí nghiệm được khai thác triệt để nhằm đưa bộ môn hóa học tiến gầnhơn với thực tiễn

Vì vậy Tôi mạnh dạn trình bày ý tưởng của mình trong sáng kiến kinh

nghiệm “Xây dựng hệ thống bài tập thực nghiệm trong chương: Đại cương hóa

học hữu cơ ; hidrocacbon no;hidrocacbon không no; hidrocacbon thơm và dẫn

xuất halogen – ancol – phenol (hóa học 11) nhằm nâng cao chất lượng ôn thi học sinh giỏi môn hóa học.

1.2.Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu phân loại các dạng thí nghiêm trong chương: Đại cương hóa

học hữu cơ ; hidrocacbon không no; hidrocacbon thơm và dẫn xuất halogen –

ancol – phenol (hóa học 11) nhằm phân tích đưa ra những giải thích, những lưu

ý liên quan đến thực tiễn thí nghiệm giúp học sinh nắm vững kiến thức lí thuyết

và phương pháp thực nghiệm Từ đó đưa ra bộ câu hỏi, bài tập thí nghiệm đểkiểm tra, củng cố kiến thức cho học sinh

Phân loại các thí nghiệm này thành các dạng :

Dạng 1: thí nghiệm điều chế có sẵn hóa chất, dụng cụ, cách tiến hành Giải thíchcác vấn đề liên quan đến thí nghiệm này

Dạng 2: thí nghiệm chứng minh tính chất, chưa cho sẵn dụng cụ hóa chất, cáchtiến hành

Dạng 3: thí nghiệm dự đoán hiện tượng,

Dạng 4: thí nghiệm tìm hóa chất, dụng cụ và cách tiến hành phù hợp cho thí nghiệm có hiện tượng cho sẵn

Ở mỗi loại thí nghiệm phải đưa ra được những lưu ý khi sử dụng cụ hóa chất,cách tiến hành và giải thích được vì sao đưa ra những lưu ý trên

Thông qua đề tài giúp học sinh hiểu được bản chất của các quá trình phảnứng và có phương pháp tư duy giải các dạng bài tập trên một cách dễ dàng vàngắn gọn để giải quyết tốt bài tập thực nghiệm trong các đề thi học sinh giỏi cáccấp nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học đội tuyển học sinh giỏi nói riêng và dạyhọc môn hóa ở trường THPT Tĩnh gia 1 nói chung

Trang 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các thí nghiệm trong chương: Đại cương hóa học hữu cơ ;

hidrocacbon không no; hidrocacbon thơm và dẫn xuất halogen – ancol – phenol (hóa học 11)

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành nhiệm vụ đặt ra tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứusau: xây dựng cơ sở lí thuyết, thực nghiệm sư phạm, thống kê, xử lí số liệu

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lý luận

Phân loại các thí nghiệm theo mức độ tư duy

Mức 1:Từ các thí nghiệm đã cho sẵn dụng cụ hóa chất, cách lắp dụng cụ thínghiệm, dựa trên kiến thức về tính chất vật lí tính chất hóa học của các chất đãbiết giải thích cách lựa chọn hóa chất, cách lắp dụng cụ, cách tiến hành thínghiệm như đã cho sẵn Từ đó khắc sâu kiến thức

Mức 2: Các thí nghiệm chỉ cho các dụng cụ hóa chất có sẵn học sinh phải dựavào kiến thức của mình lựa chọn các hóa chất, cách tiến hành phù hợp nhất Mức 3: Các thí nghiệm cho sẵn dụng cụ, hóa chất, cách tiến hành học sinh phảinêu được kết quả của thí nghiệm (hiện tượng quan sát, viết phương trình hóahọc) Từ đó khắc sâu kiến thức

Mức 4: Các thí nghiệm chỉ cho hiện tượng quan sát được học sinh tự suy luận đểtìm hóa chất, dụng cụ cho phù hợp với hiện tượng

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Trên thực tế trong các giờ học môn Hóa học ở trường học sinh tiếp thukiến thức thực hành thí nghiệm một cách thu động: các thí nghiệm đã cho sẵn sơ

đồ điều chế trong sách giáo khoa hoặc video thí nghiệm và học sinh chỉ tiếnhành viết pTHH liên quan đến thí nghiệm Việc đi sâu phân loại thí nghiệm giảithích những vấn đề xung quanh thí nghiệm chưa được khai thác triệt để do đóhọc sinh chưa khắc sâu được kiến thức Đặc biệt đối với các dạng thí nghiệm tựlựa chọn dụng cụ, hóa chất, cách tiến hành thì học sinh càng lúng túng hơn do ởtrường phổ thông trong khuôn khổ chương trình thì các tiết học thực hành khôngnhiều

Hiện nay số lượng và chất lượng TNTHHH chưa đáp ứng được yêu cầu củaviệc dạy học nói chung và đặc biệt là yêu cầu việc đổi mới dạy học nói riêng.Tình trạng đó có thể có nhiều nguyên nhân, phần vì kinh phí cho khu vực nàycòn hạn hẹp tuy đã có nhiều cố gắng, phần vì trách nhiệm của nhà sản xuất (còn

mà không dùng được, dùng được thì cũng chóng hỏng), phần vì thiếu một sựquản lí chỉ đạo, động viên những người tốt, việc tốt trong sử dụng và cải tiếnsáng tạo TNTHHH hiện có…

Như đã phân tích, hiệu quả dạy học còn tùy thuộc vào phương pháp sử dụngcác thí nghiệm thực hành hóa học Nếu một bức tranh, một thí nghiệm chỉ được

sử dụng để minh họa và củng cố những điều giáo viên đã trình bày đầy đủ vềphương diện lý thuyết sẽ hạn chế mất tư duy sáng tạo của học sinh, học sinh hầunhư không thu lượm được thêm gì về mặt kiến thức, nếu không phải chỉ là để

Trang 4

Nhưng nếu được sử dụng theo con đường tìm tòi nghiên cứu (khám phá) để

đi đến kiến thức cần lĩnh hội (kiến thức mới) sẽ có ý nghĩa khác cơ bản so vớiloại hình thí nghiệm trên, nó giúp học sinh có điều kiện, cơ hội phát triển tư duysáng tạo - một phẩm chất và năng lực cần có ở con người mới mà nhà trường cótrách nhiệm đào tạo

Đi theo con đường này, sau khi đã hiểu được nhiệm vụ cần làm sáng tỏ (mụcđích của thí nghiệm) bằng tư duy tích cực, học sinh sẽ hình thành được các giảiđịnh (trong nghiên cứu khoa học đây chính là bước xây dựng giả thuyết về vấn

đề nghiên cứu (từ sự nảy sinh câu hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra nếu…?” Câu hỏi đượchình thành từ những liên tưởng dựa trên vốn kiến thức và kinh nghiệm có củahọc sinh

Khi giả định được hình thành, trong đó hàm chứa con đường phải giải quyết,học sinh dự kiến kế hoạch giải quyết để chứng minh cho giả định đã nêu

Hai bước nêu giả định và dự kiến kế hoạch giải quyết chứng minh cho giảđịnh là hai bước đòi hỏi tư duy tích cực và sáng tạo Đây là những cơ hội rènluyện tu duy sáng tạo cho học sinh rất tốt, là giai đoạn tiến hành thí nghiệmtưởng tượng (“thí nghiệm trong tư duy”) định hướng cho hành động thí nghiệmtiếp theo dựa trên kế hoạch đã đượchọc sinh thiết kế (kế hoạch dự kiến)

Cuối cùng, căn cứ vào kết quả của thí nghiệm,học sinh rút ra kết luận, nghĩa

là học sinh lĩnh hội được kiến thức từ thí nghiệm mà không phải do thầy truyềnđạt và học sinh tiếp thu một cách thụ động

Hiện nay hầu hết các bài thực hành thí nghiệm sinh học ở THPT trongchương trình và SGK được bố trí ở cuối mỗi chương chỉ mang tính chất củng cốminh họa cho các kiến thức lý thuyết đã được trình bày trong các bài học củachương trình dưới hình thức phần lớn là “bày sẵn” từng bước cho học sinh Hơnnữa số tiết thực hành quy định trong chương trình và SGK cũng còn rất hạn chế.Rồi đây, chắc chắn số tiết này có thể sẽ được nâng lên cho phù hợp với xu thếchung của giáo dục thế giới và tương ứng với tính chất của các môn khoa họcthực nghiệm

Trong các đề thi THPTQG, đề minh họa kì thi THPTQG các năm, các đề thithử THPTQG của các sở giáo dục các năm từ năm 2016 đến nay đặc biêt trongcác đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh dành cho học sinh lớp 10, lớp 11 những năm

2017, 2018, 2019 dạng bài tập về thí nghiệm luôn xuất hiện trong các đề thì vớimức độ ngày càng khó dần Đối với các thí sinh thì đây là các dạng bài tập lạ,khó

Trên thực tế các bài tập thí nghiệm này là khai thác những kiến thức liênquan đến thực tiễn các bài học mà học sinh đã được học rải rác trong chươngtrình Tôi đã tập hợp các thí nghiệm này hệ thống và phân loại theo mức độ khódần

2.3.Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

2.3.1 Thí nghiệm điều chế cho sẵn dụng cụ hóa chất, cách tiến hành 2.3.1.1 Thí nghiệm phân tích định tính các nguyên tố trong hợp chất hữu cơ

Trang 5

2.3.1.1.1 Các bước tiến hành thí nghiệm

Bước 1: Trộn đều khoảng 0,2 gam hợp chất hưu cơ cần phân tích như glucozo,

saccarozo với 1 đến 2 gam đồng (II) oxit, sau đó cho hỗn hợp vào ống nghiệmkhô (ống số 1) rồi thêm tiếp khoảng 1 gam đồng (II) oxit để phủ kín hỗn hợp.Nhồi một nhúm bông có rắc bột CuSO4 khan vào phần trên ống số 1 rồi nút bằngnút cao su có ống dẫn khí

Bước 2: Lắp ống số 1 lên giá thí nghiệm rồi nhúng ống dẫn khí vào dung dịch

Ca(OH)2 đựng trong ống nghiệm (ống số 2)

Bước 3: Dùng đèn cồn đun nóng ống số 1 (lúc đầu đun nhẹ, sau đó đun tập

trung vào phần có hỗn hợp phản ứng)

2.3.2.1.2 Các lưu ý khi tiến hành thí nghiệm

- CuSO4 khan được dùng để nhận biết H2O sinh ra trong ống nghiệm vì có H2Osinh ra làm màu trắng của CuSO4 khan chuyển thành màu xanh củaCuSO4.5H2O

- Thí nghiệm trên, trong ống số 2 có xuất hiện kết tủa trắng vì khí CO2 sinh ralàm nước vôi trong bị đục

- Ở bước 2, lắp ống số 1 sao cho miệng ống hướng xuống dưới vì hơi nước sinh

ra sẽ bị chảy ngược lại gây vỡ ống nghiệm

- Thí nghiệm trên không dùng để xác định định tính nguyên tố oxi trong phân tửsaccarozơ

(e) Kết thúc thí nghiệm: rút ống dẫn khí ra khỏi dung dịch trong ống số 2 rồimới tắt đèn cồn, để ống số 1 nguội hẳn vì nếu tắt đèn cồn trước thì do thay đổi

áp suất trong và ngoài bình nên nước sẽ bị phun vào bình có khả năng gây vỡống nghiệm

Câu hỏi kiểm tra và mở rộng

Câu 1: Bình 1 đựng dung dịch gì? Bình 2 đựng dung dịch gì? Nêu vai trò củabình 1 và bình 2?

Câu 2:Tại sao phải dùng bông có rắc CuSO4? Có thể thay CuSO4 bằng FeSO4

được không?

Câu 3: Có thể thay Ca(OH) bằng chất nào sau đây: KOH, Ba(OH) được không

Trang 6

Màu trắng màu xanh

Câu 3: Có thể thay Ca(OH)2 bằng chất nào sau đây: Ba(OH)2 được vì hiện tượng xảy ra tương tự

2.3.1.2 Thí nghiệm chưng cất lôi cuốn hơi nước

2.3.1.2.1 Các bước tiến hành thí nghiệm

Lắp dụng cụ thí nghiệm như hình vẽ

2.3.1.2.2 Các lưu ý khi tiến hành thí nghiệm

Câu hỏi kiểm tra và mở rộng

Câu 1: Hãy cho biết các số 1; 2; 3; 4 ghi chú những nội dung gì.

Câu 2: Chưng cất lôi cuốn hơi nước thường áp dụng trong những trường

2.3.1.3.1 Các bước tiến hành thí nghiệm

-Cách tiến hành: cho khoảng 2ml etanol khan vào ống nghiệm sạch chứa sẵn vàiviên đá bọt, cho tiếp khoảng 4ml H2SO4 đặc vào đồng thời lắc đều, lắp dụng cụnhư hình vẽ Đun nóng ống nghiệm sao cho hỗn hợp không trào lên ống dẫn khí.Đốt khí sinh ra ở đầu vuốt nhọn của ống dẫn khí Làm tương tự và dẫn khí vàodung dịch KMnO4 rồi quan sát hiện tượng đổi màu của dung dịch

2.3.1.3.2 Các lưu ý khi tiến hành thí nghiệm

Trang 7

-Vai trò của các dụng cụ: Ống nghiệm chứa hỗn hợp phản ứng gồm etanol và

H2SO4 đặc, đá bọt dùng tránh hiện tượng hỗn hợp phản ứng tràolên ống dẫn khí,

bông tẩm NaOH đặc dùng giữ các chất như hơi nước, SO2, CO2, giá đỡ dùng để

(b) Đá bọt có tác dụng làm tăng đối lưu trong hỗn hợp phản ứng

(c) Bông tẩm dung dịch NaOH có tác dụng hấp thụ khí SO2 và CO2

Câu hỏi kiểm tra và mở rộng

- Phương pháp: Etilen được điều chế bằng cách đun etanol với axit sunfuric đậm

2.3.1.4.1 Các bước tiến hành thí nghiệm

Cho những mẫu nhỏ đất đèn vào ống nghiệm to, kẹp chặt trên giá sắt, mở nút cao su có cắm ống dẫn khí đậy ở miệng ống nghiệm, rót nước vào và đậy nút cao su có ống dẫn khí lại Phản ứng hóa học xảy ra và dòng khí C2H2 thoát ra khỏi ống dẫn khí

2.3.1.4.2 Các lưu ý khi tiến hành

Câu hỏi kiểm tra và mở rộng

Câu 1 Hãy mô tả (không cần vẽ hình) cách tiến hành làm thí nghiệm điều chế và thử tính

chất của axetilen (phản ứng cộng, phản ứng thế, phản ứng cháy) Nêu hiện tượng và viết các phương trình hóa học xảy ra trong các thí nghiệm đó.

Trả lời:

Trang 8

Điều chế C 2 H 2:

-Phản ứng cháy: Khí C2H2 được điều chế như trên, đậy nút cao su có cắm ống thủy tinh vuốt nhọn rồi đốt cháy C2H2 thoát ra, hiện tượng xảy ra là có ngọn lửa màu vàng cháy sáng mạnh, nhiệt tỏa ra lớn.

-Phản ứng cộng: Dẫn luồng khí được điều chế như vào ống nghiệm chứa 1ml dung

dịch nước brom, hiện tượng xảy ra là dung dịch nước brom từ từ nhạt màu, nếu lượng khí nhiều thì màu mất hẳn.

-Phản ứng thế: Dẫn luồng khí được điều chế như trên vào ống nghiệm chứa 10 ml

dung dịch AgNO3 trong NH3, hiện tượng xảy ra là có kết tủa màu vàng xuất hiện trong ống nghiệm

- Thu metan bằng phương pháp đẩy nước do oxi không tan trong nước

- Phải dùng CaO mới, không dùng CaO đã rã, CH3COONa phải thật khan trướckhi làm thí nghiệm Nếu hỗn hợp phản ứng bị ẩm thì phản ứng xảy ra chậm

- Phải đun nóng bình cầu khí metan mới thoát ra không để ngọn lửa lại gầnmiệng ống thoát khí

- Khi ngừng thu khí, phải tháo rời ống dẫn khí rồi mới tắt đèn cồn tránh hiệntượng nước tràn vào ống nghiệm khi ngừng đun

Trang 9

- Khi tháo rời thiết bị nên làm trong tủ hút và tắt hết lửa xung quanh

- Sử dụng glixerol để bôi trơn bề mặt tiếp xúc giữa thủy tinh và cao su

Câu hỏi kiểm tra và mở rộng [6,8]

Trả lời:

2.3.16.Thí nghiệm tách HBr từ C2H5Br

Câu hỏi kiểm tra và mở rộng:

Câu 1: X là dd NH4NO2 bão hòa, Y là N2 Vì sao có thể thu khí này bằng

phương pháp dời nước?

Trả lời:

Vì N2 ít tan trong nước nên có thể thu khí này bằng phương pháp dời nước

2.3.2.Dạng 2: Thí nghiệm chứng minh tính chất vật lí, tính chất hóa học cho dụng cụ hóa chất, yêu cầu nêu cách tiến hành và kết luận

2.3.2.1 Tính chất hóa học của axetilen

+ Cắt kim loại Na, đặt mẩu Na trên muỗng đốt hóa chất, đốt ngoài không khí

và đưa qua miệng lọ thủy tinh chứa O2, không chạm thành lọ

+ Cách lấy S bằng đầu đũa thủy tinh và đốt trong lọ chứa O2

2.3.2.1.2 .Phương pháp tiến hành

TN: axetilen tác dụng dd brom

 Dụng cụ: Ống nghiệm, kẹp gỗ, đèn cồn, nút cao

su có ống dẫn khí xuyên qua, diêm, bông, ống

thủy tinh, ống dẫn cao su, giá đỡ ống nghiệm,

ống vuốt nhọn,…

- Hóa chất: dung dịch NaOH đặc, CaC2, dung

dịch AgNO3, dung dịch NH3, dung dịch KMnO4,

nước cất

 Quan sát hiện tượng nhận xét

Trang 10

Hình: aetilen tác dụng dd Br2

TN: Axetilen tác dụng vơi dung dịch KMnO4

 Dụng cụ: Ống nghiệm, kẹp gỗ, đèn cồn, nút

cao su có ống dẫn khí xuyên qua, diêm,

bông, ống thủy tinh, ống dẫn cao su, giá đỡ

ống nghiệm, ống vuốt nhọn,…

- Hóa chất: dung dịch NaOH đặc, CaC2,

dung dịch AgNO3, dung dịch NH3, dung dịch

nút cao su có ống dẫn khí xuyên qua, diêm,

bông, ống thủy tinh, ống dẫn cao su, giá đỡ

ống nghiệm, ống vuốt nhọn,…

- Hóa chất: dung dịch NaOH đặc, CaC2,

dung dịch AgNO3, dung dịch NH3, dung

dịch KMnO4, nước cất

 Quan sát hiện tượng nhận xét

Hình 10 Oxi tác dụng với lưu huỳnh

TN :axetilen tác dụng dd AgNO3/NH3

 Dụng cụ: Ống nghiệm, kẹp gỗ, đèn cồn, nút

cao su có ống dẫn khí xuyên qua, diêm,

bông, ống thủy tinh, ống dẫn cao su, giá đỡ

ống nghiệm, ống vuốt nhọn,…

- Hóa chất: dung dịch NaOH đặc, CaC2,

dung dịch AgNO3, dung dịch NH3, dung

dịch KMnO4, nước cất

 Quan sát hiện tượng nhận xét

2.3.2.1.3 Câu hỏi kiểm tra và mở rộng [6,8]

Câu 1: Vì sao phải xoắn sợi dây Fe và đầu dây Fe phải kẹp một mẩu diêm khiTN

Trang 11

Câu 2: Sản phẩm của phản ứng đốt cháy Fe trong O2 là chất gì? Vì sao?

Câu 3: Trong thí nghiệm đốt cháy sắt trong oxi, lớp nước mỏng hoặc lớp cátmỏng ở đáy lọ thủy tinh có tác dụng gì?

Câu 4: Có thể nhận biết sản phẩm của phản ứng đốt cháy sắt trong oxi bằngcách nào?

Câu 5: Sau phản ứng cháy có thể xử lý Na còn dư bằng cách nào?

Câu 6: Vì sao trong thí nghiệm đốt Na người ta cho trước vào đáy lọ chứa O2

một lớp cát mỏng mà không phải là một lớp nước?

Câu 7: Để bảo quản Na, người ta ngâm chúng trong dầu hỏa Trước khi đốt cháy

Na, phải dùng giấy thấm lau sạch dầu hỏa trên mẩu Na để làm gì?

Câu 8: Vai trò của nước trong lọ chứa oxi khi tiến hành các thí nghiệm “Đốt sắttrong oxi và đốt lưu huỳnh trong oxi”? Nước có ảnh hưởng gì đến quá trìnhphản ứng không?

Câu 9: Hãy giải thích hiện tượng khói trắng tạo ra trong bình sau khi đốt lưuhuỳnh trong oxi?

Câu 10: Có thể nhận biết sản phẩm của thí nghiệm IV.3 bằng cách nào?

Câu 11:Để lấy hóa chất rắn (như photpho hay lưu huỳnh …) từ lọ đựng hóa chấtcho vào muỗng đốt hóa chất, ta có thể :

A Nghiêng lọ hóa chất, sau đó từ từ đổ hóa chất vào muỗng sắt

B Dùng một chiếc muỗng khác lấy hóa chất từ lọ đựng cho vào muỗng sắt

C Đổ hóa chất ra giấy lọc rồi cho vào muỗng sắt

D Dùng muỗng sắt trực tiếp lấy hóa chất từ lọ đựng

Hướng dẫn trả lời: (d) Dung dịch Br2 bị nhạt màu dần

(e) Khí X đi vào dung dịch Br2 là C2H4

(f) Thay dung dịch Br2 thành dung dịch KMnO4 thì sẽ có kết tủa.

Tốt nhất là nên dùng 01 sợi dây thép tách từ dây phanh xe đạp Trong lọthủy tinh chứa oxi có một lớp nước mỏng hoặc một lớp cát mỏng

 Phản ứng cháy của Fe xảy ra ở nhiệt độ cao, do đó phải gắn một mẩu diêm ởđầu lò xo để cung cấp nhiệt lúc đầu cho phản ứng

 Nếu dây thép gỉ phải đánh sạch trước khi đốt

Nên cho vào lọ chứa O2 một lớp cát mỏng

 Đưa muỗng đốt xuống sâu 2/3 lọ; không để chạm vào thành lọ; khi rút muỗngđốt ra đậy ngay lọ bằng nút

 Na dư cần được xử lý bằng cách ngâm trong etanol hoặc trước khi rửa muỗngđốt lấy một tờ giấy cuộn thành hình phễu, đặt muỗng đốt vào giữa phễu nhúngvào chậu nước để Na còn dư sẽ phản ứng hết

Không nên để đũa thủy tinh nóng chạm vào thành lọ thủy tinh

 Có thể thay lọ chứa oxi bằng ống nghiệm chứa oxi

 Tuyệt đối không dùng đũa thuỷ tinh đang nóng chấm vào cả chậu bột lưuhuỳnh

 Trong lọ nên cho trước một lớp nước mỏng để thử sản phẩm

2.3.2.2 Thí nghiệm Tính chất hóa học của etilen

Trang 12

 Nghiên cứu khả năng phản ứng của etilen với dung dịch H2SO4 loãng hoặc đặc,nóng;

 Rèn luyện các kĩ năng: rót chất lỏng vào ống nghiệm, thả chất rắn vào chấtlỏng, đun nóng dung dịch…

2.3.2.2.2.Dụng cụ, hóa chất thí nghiệm và cách tiến hành [4]

ống nghiệm khô có sẵn vài viên

sao cho hỗn hợp phản ứng sao

cho hỗn hợp không trào lên ống

dẫn khí.

Đốt khí sinh ra ở đầu vuốt nhọn

của ống dẫn khí

Quan sát sự thay đổi màu của

dung dịch.

Quan sát

Hình 9 Oxi tác dụng với Na

Ngày đăng: 25/05/2021, 20:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w