1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy học QUA sử DỤNG và KHAI THÁC KÊNH HÌNH TRONG bài 9 THIÊN NHIÊN NHIỆT đới ẩm GIÓ mùa địa lí lớp 12

22 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những yêu cầu trong đổi mới phương pháp dạy học của luật giáo dục,Nghị quyết TW và thực tế giảng dạy môn Địa lí lớp 12, kinh nghiệm dạy họcnhiều năm qua, cụ thể thông qua các giờ học

Trang 1

1 MỞ ĐẦU.

1.1 Lí do chọn đề tài.

Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trongNghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóaVIII (12-1996), được thể chế hóa trong luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóatrong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo đặc biệt chỉ thị số 14 (4-1999)

Ngay trong Nghị quyết TW 2 khóa VIII đã nêu rõ rằng “Đổi mới mạnh

mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rènluyện nếp tư duy sáng tạo của người học từng bước áp dụng phương pháp tiêntiến và phương tiện hiện đại vào trong quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện vàthời gian tự học, tự nghiên cứu cho người học ” Trước những yêu cầu của xãhội hiện nay đòi hỏi giáo dục phải tạo ra những con người phát triển toàn diệnkhông chỉ về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ mà điều cần thiết và vô cùngquan trọng hơn cả là hình thành, phát triển năng lực cá nhân, phát huy tính tíchcực, sáng tạo, tư duy, các kĩ năng vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề mangtính kĩ thuật, kĩ năng với thái độ nghiêm túc để tạo ra thực hành tốt

Từ những yêu cầu trong đổi mới phương pháp dạy học của luật giáo dục,Nghị quyết TW và thực tế giảng dạy môn Địa lí lớp 12, kinh nghiệm dạy họcnhiều năm qua, cụ thể thông qua các giờ học trên lớp tôi nhận thấy rằng nếu chỉ

là bằng những lối truyền thụ kiến thức thông thường qua kênh chữ thì chắc chắnkhông thể hoàn thành mục tiêu bài học bởi hệ thống kiến thức không chỉ nằm ởkênh chữ mà nó còn chứa đựng ở kênh hình, do đó để đạt mục tiêu bài học cần

có sự kết hợp cả kênh chữ và kênh hình Nếu kênh chữ đối với học sinh nhậnbiết dễ dàng hơn thì kênh hình lại là hình ảnh trực quan sinh động, lôi cuốnngười học, đạt tới mục tiêu học tập

Theo nhà phương pháp học D.D Cemenov viết: “Giảng dạy và học tập Địa

lí trong chừng mực nhất định cần phải có tính trực quan” Hình ảnh trực quanchính là cơ sở tạo ra kĩ năng cho học sinh trong sử dụng, khai thác kênh hình :Bản đồ, tranh ảnh, biểu đồ, lược đồ, sơ đồ nhằm tăng tính hấp dẫn của bài họccũng như đối với người học, dưới sự hướng dẫn của người dạy tạo sự thu hút,chú ý, gây hứng thú học tập bộ môn, giúp các em hiểu rõ hơn sự vật hiện tượngđịa lí tự nhiên, KT- XH

Hệ thống các kênh hình trong chương trình Địa lí lớp 12 là tài liệu học tậpmang tính trực quan vô cùng thiết thực sẽ hình thành ở mỗi học sinh kiến thức

cơ bản bền vững, tư duy logic, trừu tượng, khả năng nâng cao, mở rộng hiểu biết

và cơ bản là xây dựng năng lực học tập Địa lí chủ động Tuy nhiên, trong quátrình học tập các em đang thiếu đi kĩ năng trong việc sử dụng, khai thác chi tiếtcác đối tượng địa lí trên kênh hình mặc dù nhiều giáo viên cũng đã sử dụngnhiều phương pháp đổi mới dạy học theo hướng tích cực, sử dụng nhiều phươngtiện học tập song lại chưa thực sự chú ý, quan tâm đến việc cho học sinh khaithác chi tiết, đi sâu vào những nội dung kiến thức trên kênh hình, giáo viênhướng dẫn khai thác chúng còn rất hạn chế, thậm chí chỉ dừng lại ở việc mô tả,

Trang 2

không nêu được bản chất kênh hình nên chưa khai thác hết kiến thức, điều nàycàng làm cho bài học mang tính hời hợt, không tạo được hứng thú, say mê họctập, khám phá tri thức của học sinh nên kết quả học tập thường chưa cao.

Từ những băn khoăn đó, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm trong

thực hiện đề tài: “NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC QUA SỬ DỤNG VÀ KHAI THÁC KÊNH HÌNH TRONG BÀI 9 - THIÊN NHIÊN NHIỆT ĐỚI

ẨM GIÓ MÙA - ĐỊA LÍ LỚP 12

Hi vọng quý thầy cô có thể tham khảo, góp ý thêm để hoàn thiện đề tài giúptôi

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Thông qua sử dụng và khai thác kênh hình ở sách giáo khoa Địa lí lớp 12THPT :

- Đối với giáo viên:

+ Thực hiện mục tiêu giáo dục hiện nay : Tạo ra phương pháp dạy họctích cực giúp học sinh chủ động lĩnh hội, khai thác kiến thức, hình thành chocác em kĩ năng địa lí cơ bản

+ Hướng dẫn giáo viên sử dụng và khai thác phối hợp giữa nhiều bản đồ,lược đồ với các tranh ảnh để hình thành những biểu tượng, khái niệm địa lí theophương pháp dạy học tích cực

+ Góp phần nâng cao kết qủa học tập, kĩ năng địa lí đặc biệt trong ôn tập,kiểm tra chất lượng, làm bài thi trắc nghiệm

- Đối với học sinh:

+ Việc sử dụng kênh hình sẽ hình thành cho các em phương pháp học tậpmới: độc lập, hình thành kĩ năng tư duy địa lí, tự giác suy ngẫm, tích cực, chủđộng khám phá ra những kiến thức mới, hiểu và phân tích được mối quan hệ củacác đối tượng địa lí các em sẽ không còn thấy lúng túng khi sử dụng tập bản

đồ, lược đồ nào khác, không còn phải học thuộc lòng hay ghi nhớ máy móc nhưtrước

+ Giúp các em nhận thấy được nguồn tri thức chứa đựng trong kênh hìnhrất lớn, nó có vai trò quan trọng, mối quan hệ biện chứng với phần lí thuyếttrong bài học

1.3.Đối tượng nghiên cứu.

- Giáo viên sử dụng trong việc giảng dạy

- Học sinh sử dụng trong việc học tập

1.4.Phương pháp nghiên cứu

- Tham khảo các tài liệu khoa học có liên quan đến nội dung đề tài để để xâydựng cơ sở lí luận và áp dụng vào dạy học thực tế trên lớp

- Phương pháp thực địa bao gồm: điều tra và khảo sát tình hình sử dụng kênhhình ở lớp 12, trao đổi với đồng nghiệp về vấn đề này

- Phương pháp thực nghiệm minh chứng tính đúng đắn và tính khả thi của đềtài

- Kinh nghiệm thực tế của việc giảng dạy Địa lí lớp 12

- Nghiên cứu kĩ kênh hình trong SGK.

Trang 3

- Sử dụng các phương pháp dạy học đổi mới và sử dụng các phương tiện dạyhọc kết hợp để học sinh có thể vận dụng thành thạo các kĩ năng sử dụng, khaithác kênh hình tốt nhất.

- Xây dựng hệ thống các câu hỏi tự luận, trắc nghiệm

- Phương pháp thực nghiệm minh chứng tính đúng đắn và tính khả thi của sángkiến ở một số lớp phân theo khối A, B, D ở trường

2 NỘI DUNG

2.1.Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong nghị quyết TW4khoá VIII và được thể chế hoá trong luật giáo dục - đào tạo điều 24.2 “phươngpháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạocủa học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡngphương pháp tự học, rèn luyện những kỹ năng vận dụng những kiến thức vàothực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng thú học tập cho họcsinh”

Trước yêu cầu đổi mới các phương pháp dạy học thì việc dạy và học từngmôn học yêu cầu phải đạt được mục tiêu bài học một cách hiệu quả nhất Hiệuquả bài học không chỉ là thể hiện ở việc truyền thụ tri thức của người dạy màcòn là sự lĩnh hội tri thức, vận dụng tri thức hình thành các kĩ năng của học sinh.Trong môn Địa lí việc lĩnh hội tri thức, vận dụng tri thức, hình thành kĩnăng địa lí cho học sinh rất được chú trọng thông qua việc sử dụng, khai thác hệthống kênh hình: Bản đồ, tranh ảnh, biểu đồ, lược đồ, sơ đồ bởi các kênh hìnhthường có tính trực quan cao, tính diễn giải logic các hiện tượng địa lí tự nhiên,KT-XH, nó vừa đảm bảo tính hệ thống, tính khoa học, vừa mang tính phù hợpvới nhận thức của học sinh, đánh giá được năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng

và thái độ học tập bộ môn của học sinh Tuy nhiên, do nội dung kiến thức quánhiều, đa dạng, phong phú (cả tự nhiên, KT-XH) và một phần do đặc thù bộmôn sử dụng nhiều kênh hình khác nhau, lượng kiến thức được trình bày bằngnhiều phương pháp khác nhau, các kí hiệu khác nhau, nhiều loại ngôn ngữ khácnhau như: Ngôn ngữ văn học ngôn ngữ hội họa… Ngôn ngữ văn học được trìnhbày thông qua kênh chữ, ngôn ngữ hội họa được trình bày thông qua các hìnhảnh, các sơ đồ, lược đồ do đó để đảm bảo đạt được kết qủa cao trong việc họctập bộ môn, các thầy cô giáo cần phải bố trí thời gian nhất định và phù hợp đểhướng dẫn học sinh khai thác kênh hình có hiệu quả đồng thời hình thành kiếnthức hoàn chỉnh, khai thác đầy đủ các mối quan hệ nhân quả vốn có của các sựvật và hiện tượng tự nhiên, kinh tế- xã hội, xây dựng năng lực tự học tập địa lícho học sinh Học sinh sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm được qua hoạtđộng chủ động, nỗ lực của chính mình nhờ phát huy tính tích cực, húng thú tìmtòi kiến thức ở kênh hình

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Trang 4

Hệ thống kênh hình ở sách giáo khoa Địa lí lớp 12 giữ vai trò đặc biệtquan trọng đối với việc dạy và học, số lượng kênh hình tương đối nhiều, hầunhư bài học nào cũng có Kênh hình chứa đựng nguồn kiến thức khá lớn, cácđơn vị kiến thức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, mỗi một kênh hình nó lại cótính trực quan cao và tính diễn giải logic của các sự vật hiện tượng tự nhiên, KT-

XH, hổ trợ cho phần kênh chữ rất hữu ích nên khi khi sử dụng, khai thác chúngcần có phương pháp phù hợp giúp học sinh dễ dàng nhận thức được các sự vậthiện tượng Địa lí, thiết lập được các mối quan hệ nhân quả từ nội dung bài học

Tuy nhiên, một thực trạng hiện nay, phương pháp dạy học của giáo viêncũng chưa thực sự tạo được lôi cuốn học tập, khích lệ để tạo hứng thú, học sinhthấy việc tìm ra kiến thức trên kênh hình vô cùng khó khăn nên chưa hứng thúhọc tập Mặt khác, nhiều khi giáo viên còn ngại khai thác vì nó mất nhiều thờigian, không đảm bảo nội dung lí thuyết, sử dụng qua loa cho có kênh hình, nếu

có được sử dụng thì đó là các tiết thao giảng có người dự giờ và sử dụng chỉmang tính hình thức là có sử dụng dừng lại ở mức độ đơn thuần là để minh họacho học sinh, chưa nêu cụ thể hoặc đi sâu làm nổi bật được nội dung kiến thứctrong kênh hình nên nhiều học sinh chỉ học thuộc lòng câu chữ, không hiểu đượcbản chất kênh hình Sau giờ học, học sinh chỉ nắm được nội dung kênh hình ởdòng chữ chú thích ở sách giáo khoa Điều này, làm cho học sinh không pháthuy được năng lực bản thân, nhiều học sinh cảm thấy bài học không tạo hứngthú, lôi cuốn, muốn tìm tòi kiến thức, học sinh không còn chủ động trong mọitình huống học tập gây ra tình trạng chán học, không tích cực ở một số bộ phậnhọc sinh, khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tế còn hạnchế, thụ động

Theo đó, tôi đã làm thực nghiệm ở một số lớp, khối học về việc áp dụngtrước ( Giáo viên chỉ cho học sinh trả lời qua một số câu hỏi tự luận sơ sài chocó) và sau khi sử dụng, khai thác kênh hình ( dưới sự hướng dẫn qua các câuhỏi gợi mở, qua liên hệ với một số hình ảnh, lược đồ, bảng số liệu, thực tế khác hay việc cho khai thác chi tiết từng đối tượng trên hình, qua bài kiểmtra )

Kết quả thực nghiệm sáng kiến trước khi sử dụng, khai thác chi tiết kênhhình trong bài có sự khác nhau ở từng lớp, khối

Trang 5

2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết

vấn đề.

Với chương trình Địa lí lớp 12 THPT - Ban cơ bản thì hệ thống kiến thức

vô cùng rộng, khó ( gồm : Địa lí tự nhiên; Địa lí dân cư; Địa lí các ngành kinhtế; Địa lí các vùng kinh tế) đặc biệt là trong việc khai thác kiến thức tiềm ẩn ởkênh hình, giáo viên cần hình thành, hướng dẫn kĩ năng sử dụng, khai thác kênhhình giúp học sinh nắm bắt được nội dung bài học vì trong các kênh hình các nộidung thường liên quan hữu cơ với nhau và bổ sung cho nhau, có nhiều nội dungkhó, trừu tượng đặc biệt là ở phần địa lí tự nhiên Nếu học sinh không nắm vữngnhững kiến thức này thì khó có thể hiểu và giải thích được các sự vật, hiệntượng địa lí đồng thời cũng rất khó khắc sâu, tìm tòi được các kiến thức địa líkhác

Vì vậy, giải pháp áp dụng đề tài này có rất nhiều tác dụng không chỉ vớigiáo viên mà còn tác động tích cực tới việc nắm bắt kiến thức, hình thành kĩnăng của học sinh

* Nội dung thực hiện:

Để nâng cao hiệu quả dạy, học tôi áp dụng thực hiện việc khai thác, sử

dụng kênh hình : Hình 9.1 ; 9.2; 9.3 Bài 9: Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa - Địa lí Việt Nam lớp 12 bằng các phương pháp như phương pháp đàm

thoại gợi mở, phương pháp phát vấn, phương pháp làm việc theo cá nhân hoặcnhóm đồng thời chuẩn bị hệ thống câu hỏi phù hợp, hướng dẫn học sinh làmviệc với kênh hình theo trình tự kết hợp với phần lý thuyết giúp học sinh nắmvững bài học, áp dụng được các bước khi khai thác với những kênh hình khác,khi làm bài kiểm tra, bài tập khai thác kênh hình trong Atlát …

Trong bài 9: Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa đã sử dụng tới ba hìnhảnh, điều này có thể cho thấy rằng để đạt mục tiêu dạy, học bài này ngoài hệthống kiến thức lý thuyết trên kênh chữ thì kênh hình của bài cũng chứa đựnglớn khối lượng kiến thức do đó giáo viên cần phải có cách thức hướng dẫn khaithác và sử dụng kênh hình một cách rõ ràng, chi tiết hơn để học sinh có thể hiểu

rõ nội dung bài học, thông qua kênh hình hình thành nên kĩ năng nhận biết, đọc,nhận xét, so sánh, phân tích, giải thích các đối tượng địa lí tự nhiên Ở cáckênh hình 9.1; 9.2; 9.3 lượng thông tin phong phú mà kênh hình truyền tải: đó

là đặc điểm các loại gió ở nước ta (gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hạ với sựkhác nhau về nguồn gốc, hướng gió, phạm vi hoạt động, tính chất); hệ quả củagió mùa đến sự phân mùa khác nhau của các miền khí hậu nước ta; đặc điểm chế

độ nhiệt và chế độ mưa ở các vùng khí hậu; hoạt động của bão ở Việt Nam, ảnhhưởng của chúng

2.3.1: Hình 9.1 :Gió mùa mùa đông ở khu vực Đông Nam Á.

Trang 6

Hình 9.1 :Gió mùa mùa đông ở khu vực Đông Nam Á.

a Phương pháp sử dụng.

* Giáo viên: Phần kênh hình này giáo viên có thể cho làm việc theo nhóm hoặc

cá nhân Yêu cầu học sinh quan sát hình 9.1, kiến thức bài học cũng như vốnhiểu biết của các em, giáo viên đưa ra câu hỏi, trong khi học sinh trả lời có thểđặt các câu hỏi phát vấn, gợi ý để học sinh trả lời, khắc sâu kiến thức, mở rộngkiến thức thực tế

* Giáo viên: Dựa vào hình 9.1 và kênh chữ, hãy nêu sự hoạt động của gió mùamùa đông ở khu Đông Nam Á?

Nếu giáo viên chỉ đặt ra câu hỏi tổng quát thì học sinh sẽ không thể trả lờiđược đặc điểm của loại gió này như thế nào ngoài việc có thể nêu được hướnggió hoặc đọc chú giải trong hình mặt khác lại không biết những kí hiệu trên hình

có mối quan hệ gì đến hoạt động của gió mùa mùa đông hay nhiều học sinh sẽkhông biết, nhớ được đường đẳng áp, áp cao, áp thấp… Vì thế khi dạy mục nàygiáo viên cần nhắc lại khái niệm ( như: đường đẳng áp là những đường nối cácđiểm có trị số khí áp bằng nhau hay đó là sự biến thiên của thể tích theo nhiệt độtuyệt đối khi áp suất không đổi; áp cao là một vùng áp suất khí quyển ở bề mặtcủa Trái Đất (hoặc thiên thể) cao hơn môi trường xung quanh,vùng áp thấp làmột khu vực trên bản đồ địa hình có áp suất khí quyển thấp hơn các vùng lâncận Các hệ thống áp suất thấp hình thành dưới các vùng phân tán gió xảy ra ởtầng trên của tầng đối lưu.…) từ đó hướng dẫn học sinh đọc các nội dung tronghình bằng cách đưa ra những câu hỏi gợi mở, câu hỏi suy luận cụ thể:

- Dựa vào hình 9.1: Hãy cho biết các trung tâm áp cao, áp thấp chính hoạt động

ở khu vực Đông Nam Á ? Trị số các đường đẳng áp ở trung tâm áp cao và ápthấp, chúng có gì khác nhau?

* Giáo viên: Giải thích rõ cho học sinh trung tâm áp cao, áp thấp hình thành nhưthế nào? Chúng có ảnh hưởng gì đến hình thành, hoạt động của gió mùa mùađông ở nước ta? Giáo viên có thể sử dụng câu hỏi suy luận kết hợp với câu hỏi

Trang 7

trong SGk và phần kênh chữ để học sinh khai thác tiếp nội dung kênh hình vềhoạt động của gió mùa mùa hạ ở nước ta.

- Hãy cho biết: nguồn gốc hình thành áp cao Xibia?

- Tại sao vào mùa đông, trên lục địa Á-Âu lại hình thành áp cao Xibia với quy

mô lớn như vậy?

- Khu vực áp cao xibia này ảnh hưởng đến khí hậu nước ta như thế nào?

- Hãy cho biết trung tâm áp cao chính tạo ra gió mùa mùa đông ở nước ta?

* Giáo viên: Qua phần trả lời này giáo viên có thể giải thích thêm để các emhiểu hơn về nguồn gốc của gió này khi thổi vào nước ta: Do ảnh hưởng của khốikhí lạnh có nguồn gốc từ trung tâm áp cao từ Trung Á và Xibia thổi về xíchđạo rồi di chuyển ngang khu vực Việt Nam

- Hãy quan sát hình 9.1, kênh chữ cho biết: Gió mùa mùa đông thổi vào nước ta

có hướng gì? Vào thời gian nào trong năm, tính chất của gió, phạm vi hoạt động,kiểu thời tiết đặc trưng của gió mùa mùa đông ở nước ta?

- Tại sao, chịu tác động của gió mùa đông bắc nhưng nửa đầu mùa đông thời tiếtlạnh, khô còn cuối mùa có tính chất lạnh, ẩm?

* Giáo viên: Ở phần này giáo viên cần giải thích thêm cho học sinh rõ : Do vàođầu mùa đông, gió mùa Đông Bắc xuất phát từ áp cao Xibia đi qua phần lãnhthổ rộng lớn của Trung Quốc sau đó đổ bộ trực tiếp vào nước ta, trên quãngđường dài như vậy, khối khí lại càng lạnh và mất ẩm nên khi vào nước ta gâynên kiểu thời tiết đặc thù là lạnh khô Vào nữa sau mùa đông trên biển hìnhthành hạ áp Alêut hút gió mùa Đông Bắc lệch hướng qua biển thổi vào nước tanên có thời tiết lạnh, ẩm

* Giáo viên: Thông qua khai thác chi tiết kiến thức hình 9.2, giáo viên có thể kếthợp cho học sinh trả lời câu hỏi trắc nghiệm khi khai thác xong kênh hình hoặc

có thể liên hệ bằng các câu ca dao, tục ngữ… về hoạt động và ảnh hưởng của nóđến khí hậu, đời sống để học sinh khắc sâu kiến thức và hiểu hơn thực tế hoạtđộng của gió này ở nước ta

Ví dụ: “ Mùa đông gió bấc, mưa phùn”; gió bấc thì hanh mà gió nồm thìẩm”( Tức là: mùa đông ở Miền Bắc được đặc trưng bởi hiện tượng thời tiết: gió

“Bấc” thực chất là gió “Bắc” do đọc lệch chữ “Bắc” mà ra Mưa dầm là từ địaphương, chỉ cảnh mưa rả rích kéo dài dài từ ngày này sang ngày khác, hạt mưanhỏ, li ti, dai dẳng hay đây chính là mưa mà Miền Bắc gọi là mưa phùn Nguồngốc của gió “Bấc”chính là từ trung tâm cực đới lạnh Xibia tràn về vào nước tatheo hướng Đông Bắc nên gọi là gió mùa Đông Bắc

“ Đông chết se, hè chết lụt” Hiện tượng giá rét, gió buốt gây ra là donhiệt độ hạ thấp, điều này tạo điều kiện hình thành sương muối xảy ra vào thời

kì nữa đầu mùa đông

=> Đặc điểm riêng biệt của khí hậu trong mùa đông ở miền Bắc nước ta

b.Nội dung: Hình 9.1 : Thể hiện sự hoạt động của gió mùa mùa đông ở khu vực Đông Nam Á

-Trung tâm áp cao, áp thấp chính hoạt động ở khu vực Đông Nam Á ? Trị số cácđường đẳng áp ở trung tâm áp cao và áp thấp có gì khác nhau?

Trang 8

+ Trung tâm áp cao Nam Ấn Độ Dương, Xi bia,

+ Trung tâm áp thấp Alêut, Ôxtrâylia

+ Trung tâm áp cao đều có trị số của đường đẳng áp 1020 mb- 1030mb

+ Trung tâm áp thấp đều có trị số của đường đẳng áp 1000 mb.-1010mb

=> Càng vào trung tâm áp cao thì trị số đường đẳng áp càng tăng và ngược lại

- Nguồn gốc hình thành áp cao Xibia? Tại sao vào mùa đông, trên lục địa Á-Âu lại hình thành áp cao Xibia với quy mô lớn như vậy?

- Trung tâm áp cao chính tạo ra gió mùa mùa đông ở nước ta?

+ Trung tâm áp cao Xibia

+ Khối khí lạnh có nguồn gốc từ trung tâm áp cao từ Trung Á và Xibia thổi

về xích đạo di chuyển ngang khu vực Việt Nam

- Tính chất của gió mùa mùa đông ở nước ta? Gió mùa mùa đông thổi vào nước

ta có hướng gì? Vào thời gian nào trong năm, phạm vi hoạt động, kiểu thời tiếtđặc trưng của gió mùa mùa đông ở nước ta?

- Tại sao, chịu tác động của gió mùa đông bắc nhưng nửa đầu mùa đông thời tiếtlạnh, khô còn cuối mùa có tính chất lạnh, ẩm? ( giáo viên gợi ý dựa vào quãngđường di chuyển và ảnh hưởng hạ áp Alêut)

+ Thời gian: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Miền Bắc chịu tác động của khốikhí lạnh phương Bắc thổi theo hướng đông bắc, thường gọi là gió mùa ĐôngBắc

+ Hướng gió: Đông Bắc

-> Vào đầu mùa đông ( tháng XI, XII, I): hạ áp Alêut hoạt động mạnh hút khốikhông khí lạnh xuất phát từ cao áp Xibia lúc này đang nằm ở trung tâm lục địa

Á - Âu, thổi qua lục địa, có đặc tính lạnh, khô, mang lại thời tiết lạnh, khô chomiền Bắc

-> Nửa sau mùa đông, cao áp Xibia dịch chuyển sang phía đông, hạ áp Alêutsuy yếu thay vào đó hạ áp Oxtraylia hoạt động mạnh lên, hút gió từ cao ápXibia Gió này thổi qua biển sau đó mới đi vào đất liền mang theo hơi ẩm từbiển gây nên thời tiết lạnh ẩm, mưa phùn cho vùng ven biển và đồng bằng ởmiền Bắc (đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ)

+ Tính chất: Gió mùa Đông Bắc chỉ hoạt động từng đợt, không kéo dài liên tục, cường độ mạnh nhất vào mùa đông, ở miền Bắc hình thành mùa đông kéo dài 2-

3 tháng Khi di chuyển xuống phía Nam, loại gió này suy yếu dần bởi bức chắn địa hình là dãy Bạch Mã

– Trong thời gian này, từ Đà Nẵng trở vào, Tín phong bán cầu Bắc cũng thổi theo hướng Đông Bắc chiếm ưu thế, gây mưa ven biển Trung Bộ, trong khi Nam

Bộ và Tây Nguyên là mùa khô

2.3.2 Hình 9.2 Gió mùa mùa hạ ở khu vực Đông Nam Á.

Trang 9

Hình 9.2 Gió mùa mùa hạ ở khu vực Đông Nam Á

a Phương pháp sử dụng.

* Giáo viên: Phần kênh hình 9.2 này giáo viên có thể chia nhóm ccho học sinhthảo luận hoặc làm việc cá nhân Yêu cầu học sinh quan sát hình 9.2, kiến thứcbài học cũng như vốn hiểu biết của các em, giáo viên đưa ra câu hỏi, trong khihọc sinh trả lời có thể đặt các câu hỏi phát vấn, gợi ý để học sinh trả lời, khắcsâu, mở rộng kiến thức thực tế

* Giáo viên: Dựa vào hình 9.2 và kênh chữ, hãy nêu sự hoạt động của gió mùamùa hạ ở khu Đông Nam Á?

Hình 9.2 mô tả và bổ sung kiến thức về gió mùa mùa hạ cho nội dung bài

học Khi cho học sinh sử dụng, khai thác kênh hình 9.2, thường giáo viên bao

giờ cũng đặt ra câu hỏi tổng quát như vậy, điều này gây khó dễ cho nhiều họcsinh vì sẽ không biết trả lời như thế nào ngoài việc dựa vào hệ thống kênh chữ

do đó sẽ không thể hình thành cho học sinh kĩ năng đọc, nhận xét, giải thích…đặc điểm của loại gió này như thế nào, nguồn gốc của nó từ đâu, hướng gió, tạisao nó hoạt động ở đó… Do vậy, để học sinh hoàn thiện nội dung và khắc sâucho học sinh kiến thức về gió mùa mùa hạ, giáo viên nên yêu cầu học sinh kếthợp kênh chữ và kênh hình, câu hỏi giữa bài “ cho biết các trung áp cao hìnhthành nên gió mùa mùa hạ ở Việt Nam; hướng di chuyển và tính chất của giónày ” và có sự hướng dẫn, gợi mở của giáo viên bằng các câu hỏi

Về cơ bản, hình 9.2 thể hiện được nguồn gốc chính của gió mùa mùa hạ,hướng và tính chất của gió mùa mùa hạ vào nữa và sau mùa hạ, đường đẳng áp

là những đường nối các điểm có trị số khí áp bằng nhau hay đó là sự biến thiêncủa thể tích theo nhiệt độ tuyệt đối khi áp suất không đổi; áp cao là một vùng áp

Trang 10

suất khí quyển ở bề mặt của Trái Đất (hoặc thiên thể) cao hơn môi trường xungquanh, trung tâm,vùng áp thấp là vùng có áp suất khí quyển thấp hơncác vùng lân cận Các hệ thống áp suất thấp hình thành dưới các vùng phân tángió xảy ra ở tầng trên của tầng đối lưu.

* Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc các nội dung trong hình bằng cách đưa ranhững câu hỏi gợi mở, câu hỏi suy luận cụ thể:

- Dựa vào hình 9.2: Hãy cho biết các trung tâm áp cao, áp thấp chính hoạt động

ở khu vực Đông Nam Á ? Trị số các đường đẳng áp ở trung tâm áp cao và ápthấp, chúng có gì khác nhau?

- Hãy cho biết trung tâm áp cao chính tạo ra gió mùa mùa hạ ở nước ta?

- Gió mùa mùa hạ thổi vào nước ta có hướng gì? Vào thời gian nào trong năm, tính chất của gió, phạm vi hoạt động, kiểu thời tiết đặc trưng của gió mùa mùa

hạ ở nước ta?

* Giáo viên: Qua phần trả lời này giáo viên có thể giải thích thêm để các emhiểu hơn về nguồn gốc của gió này khi thổi vào nước ta Để tăng tính hấp dẫncủa bài học, giáo viên có thể đưa vào các câu ca dao, tục ngữ, thơ, …để học sinhhiểu rõ hơn thực tế loại gió này đang diễn ra, ảnh hưởng đến thời tiết, khí hậu,đời sống như thế nào

Ví dụ như: “ mùa hè mưa to gió lớn’’( vào mùa hè do ảnh hưởng của củakhối không khí từ biển - Ấn Độ Dương thuộc Bắc và Nam bán cầu và cả TháiBình Dương thổi đến nước ta mang theo lượng hơi nước lớn, gây mưa kèm theodông, gió bão lớn

“Mưa tháng bảy gãy cành trám’’; ‘’Ông tha mà bà chẳng tha Nên cho cáilụt 23 tháng 10’’… thể hiện kiểu thời tiết ở Miền Bắc vào mùa hè (từ tháng 7-10) cảnh báo mùa lũ ở các tỉnh từ Thanh Hóa đổ vào thường xảy ra đầu tháng 7

đến tháng 10 hàng năm gây mưa lớn, ngập lụt hay nó được ví như hiện tượng

mà nhân ta gọi là “mưa ngâu”

b.Nội dung: Hình 9.2 : Thể hiện sự hoạt động của gió mùa mùa hạ ở khu vực Đông Nam Á.

-Trung tâm áp cao, áp thấp chính hoạt động ở khu vực Đông Nam Á ? Trị số cácđường đẳng áp ở trung tâm áp cao và áp thấp có gì khác nhau?

+ Trung tâm áp cao Nam Ấn Độ Dương, Ôxtrâylia, Haoai

+ Trung tâm áp thấp Iran

+ Trung tâm áp cao đều có trị số của đường đẳng áp 1020 mb

+ Trung tâm áp thấp đều có trị số của đường đẳng áp 1000 mb

=> Càng vào trung tâm áp cao thì trị số đường đẳng áp càng tăng và ngược lại

- Trung tâm áp cao chính tạo ra gió mùa mùa hạ ở nước ta?

+ Trung tâm áp cao tạo nên gió mùa mùa hạ ở Việt Nam : đầu mùa xuất phát từ

áp cao Bắc Ấn Độ Dương; giữa và cuối mùa xuất phát từ áp cao cận chí tuyếnNam => nguồn gốc chính tạo nên gió mùa mùa hạ chính thống ở Việt Nam

- Tính chất của gió mùa mùa hạ ở nước ta? Gió mùa mùa hạ thổi vào nước ta cóhướng gì? Vào thời gian nào trong năm, phạm vi hoạt động, kiểu thời tiết đặctrưng của gió mùa mùa hạ ở nước ta?

Trang 11

+ Hướng gió: Tây Nam, riêng Bắc Bộ có hướng Đông Nam

+ Thời gian: từ tháng5- tháng10 với hai luồng gió thổi vào cùng hướng TâyNam

và phía Nam khu vực Tây Bắc

+ Giữa và cuối mùa hạ (tháng 6 – 10): gió mùa Tây Nam (từ áp cao cận chítuyến bán cầu Nam, khối khí xích đạo (Em) ) hoạt động Vượt qua vùng biểnxích đạo trở nên nóng ẩm và gây mưa lớn kéo dài cho vùng đón gió ở Nam Bộ

và Tây Nguyên nước ta Do áp thấp Bắc Bộ, khối khí này di chuyển theo hướngđông nam vào Bắc Bộ tạo nên “gió mùa Đông Nam” vào mùa hạ ở miền Bắcnước ta

2.3.3 : Hình 9 3 : Khí hậu.

Ngày đăng: 25/05/2021, 20:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w