SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THIẾT KẾ TRÒ CHƠI TRONG HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN CÔNG NGHỆ
Trang 1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
THIẾT KẾ TRÒ CHƠI TRONG HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG
ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP
MÔN CÔNG NGHỆ (NÔNG NGHIỆP) TẠI
TRƯỜNG THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH THANH HÓA
Người thực hiện: Hoàng Minh Thảo Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Công nghệ
Trang 2
MỤC LỤC
Trang
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm 2
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3
2.2.1 Đối tượng học sinh của trường THPT Dân tộc nội trú tỉnh 3
2.2.2 Thực tế hoạt động dạy và học môn Công nghệ trong nhà trường 3
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 4
2.3.1 Những giải pháp đã biết 4
2.3.2 Giải pháp mới 4
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 12
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 14
3.1 Kết luận 14
3.2 Kiến nghị 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Công nghệ là môn học ứng dụng, nghiên cứu việc vận dụng những quy luật
tự nhiên và các nguyên lí khoa học nhằm phục vụ đời sống con người, tuy nhiên
do môn học này không thi tốt nghiệp, không thi học sinh giỏi nên học sinh xemCông nghệ là môn phụ, không được đầu tư, chú ý như các môn học khác Nhưngtrong bối cảnh khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão hiện nay các môn kĩ thuậttổng hợp (bao gồm kĩ thuật công nghiệp, kĩ thuật nông nghiệp và kĩ thuật phụcvụ) và hướng nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chương trình phổthông nhằm trang bị cho học sinh những tri thức và kĩ năng về kĩ thuật phổthông chung nhất
Hoạt động dạy-học môn Công nghệ không chỉ là hoạt động lĩnh hội kiếnthức mà còn rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế; phát triển 3 nănglực chung (năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lựcgiải quyết vấn đề và sáng tạo) và 3 năng lực đặc thù của bộ môn (năng lực nhậnthức kiến thức công nghệ, năng lực tìm tòi, khám phá kiến thức công nghệ, nănglực vận dụng kiến thức vào thực tiễn) Những năng lực này được hình thành vàphát triển không chỉ thông qua nội dung dạy học mà còn thông qua phương pháp
và hình thức tổ chức dạy học mới theo các bước: Khởi động (Mở đầu), Hìnhthành kiến thức mới, Luyện tập, Vận dụng Trong đó hoạt động khởi động làhoạt động đầu tiên nên có tác động trực tiếp đến cảm xúc của học sinh trong cảtiết học, nếu giáo viên tổ chức tốt hoạt động này sẽ tạo hứng thú giúp học sinhkhông còn thấy giờ học nhàm chán
Hoạt động khởi động có thể được thực hiện theo nhiều cách như: sử dụngphương pháp thuyết trình, sử dụng phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, sửdụng trò chơi, … bản thân tôi thấy rằng khởi động bằng tổ chức trò chơi là mộttrong những thay đổi mang lại một không khí học tập mới, sôi nổi, hào hứngđồng thời góp phần đảm bảo được sự phát triển toàn diện cho học sinh
Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Thiết kế trò chơi trong hoạt động khởi
động để nâng cao năng lực và hứng thú học tập môn Công nghệ (nông nghiệp) tại trường THPT Dân tộc nội trú tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài nghiên cứu.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Sử dụng các trò chơi do giáo viên trực tiếp thiết kế trong hoạt động khởiđộng môn Công nghệ nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh, giúp học sinhđịnh hướng nội dung bài học, bước đầu giải quyết vấn đề đặt ra trong bài học;đồng thời tạo hứng thú học tập, phát triển tốt các năng lực chung và năng lựcđặc thù của bộ môn Công nghệ
Vì thời gian có hạn đề tài mới chỉ tập trung thiết kế và sử dụng những tròchơi cho phần khởi động trong giảng dạy một số bài thuộc chương 1 “Trồngtrọt, lâm nghiệp đại cương” và chương 3 “Bảo quản, chế biến nông, lâm, thủysản” của phần I “Nông , lâm, ngư nghiệp” môn Công nghệ 10
Trang 41.3 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh khối 10 bậc trung học phổ thông (học sinh lớp 10C, 10D trườngTHPT Dân tộc nội trú tỉnh)
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết có kết quả, nhiệm vụ đã đặt ra của đề tài, tôi đã sử dụng một
số phương pháp lí luận như: thống kê, phân tích và tổng hợp; cùng các phươngpháp nghiên cứu thực tiễn như: quan sát, điều tra, kết hợp với việc trải nghiệmthực tế giảng dạy
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
Thông qua tham gia trò chơi khởi động giúp học sinh tự tin thể hiện bảnthân, chủ động vận dụng kiến thức đã học kết hợp liên hệ kiến thức thực tiễn,cùng hợp tác trong nhóm, đội giải quyết các câu hỏi, vấn đề mà trò chơi yêu cầu.Tạo được hứng thú học tập vào mỗi tiết Công nghệ, tăng sự yêu thích môn học.Học sinh được chủ động tự do tìm đội chơi phù hợp với sở thích, năng lựccủa mình, tạo được kết nối hợp tác tối đa; hình thành và phát triển năng lực giaotiếp, năng lực hợp tác, năng lực ngôn ngữ, kĩ năng nhanh nhạy trong giải quyếtvấn đề
Học sinh được vận động, cùng nhau thiết kế cách thực hiện để giành chiếnthắng trong trò chơi, giúp học sinh hòa đồng, năng động trong công việc nghềnghiệp sau này
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Trong báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định:
“Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại;nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lí tưởng,giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo,
kĩ năng thực hành, ý thức trách nhiệm xã hội” Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa XI)nêu yêu cầu “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam Trong đó việcđổi mới giáo dục phổ thông được xem là khâu đột phá Nội dung trọng tâm củaviệc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục phổ thông là sự phát triển năng lựcngười học, từ đó nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực trong chiến lược pháttriển đất nước” Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, báo cáo chính trị tiếptục xác định: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức sangphát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Đổi mới chương trình, nộidung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại;nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lí tưởng,giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức lối sống, năng lực sáng tạo, kĩnăng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”
Vì vậy mục tiêu, yêu cầu của phương pháp giáo dục phổ thông là phải pháthuy được tính tích cực, chủ động của người học, phù hợp với đặc điểm của từnglớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng
Trang 5vào thực tiễn, đem lại hứng thú học tập cho học sinh Dạy học Công nghệ theođịnh hướng phát triển năng lực nghĩa là thông qua bộ môn, học sinh có khả nănglàm chủ kiến thức, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào đờisống, … đây là cơ sở để thực hiện đổi mới trong giáo dục hiện nay.
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1 Đối tượng học sinh của trường THPT Dân tộc nội trú tỉnh
Trường phổ thông dân tộc nội trú là loại hình trường công lập, chuyên biệttrong hệ thống giáo dục quốc dân Trường được Nhà nước thành lập cho con emdân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điềukiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ
và nguồn nhân lực có chất lượng cho vùng này Bắt đầu từ ngày 03/02/2016 cáctrường phổ thông dân tộc nội trú tuyển sinh theo Thông tư số 01/2016/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 01 năm 2016 quy định về tuyển sinh vào trường phổthông dân tộc nội trú phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Thanh niên, thiếu niên là người dân tộc thiểu số có hộ khẩu thường trú vàđịnh cư từ 03 năm trở lên (tính đến ngày tuyển sinh) ở vùng có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định hiện hành
- Thanh niên, thiếu niên là người dân tộc thiểu số không thuộc đối tượngquy định tại nêu trên được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định là vùng tạo nguồncán bộ cho các dân tộc thì cũng thuộc diện tuyển sinh vào trường phổ thông dântộc nội trú
- Trường phổ thông dân tộc nội trú được phép tuyển sinh không quá 5%trong tổng số chỉ tiêu được tuyển mới hằng năm là con em người dân tộc Kinh
có hộ khẩu thường trú và định cư từ 03 năm trở lên (tính đến ngày tuyển sinh) ởvùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định hiện hành.Với đối tượng tuyển sinh như vậy, năm học 2020-2021 trường THPT Dântộc nội trú tỉnh Thanh Hóa đã tuyển sinh được 6 lớp 10 với 180 học sinh là con
em các dân tộc: Mường, Thái, Thổ, Dao, Xơđăng, H’Mông, Kinh
2.2.2 Thực tế hoạt động dạy và học môn Công nghệ trong nhà trường
Giáo viên trong quá trình dạy học môn Công nghệ ít tổ chức hoạt độngkhởi động vì lo thời gian không đủ để dạy kiến thức bài học, lớp ồn, chưa biết tổchức như thế nào, … hoặc có tổ chức nhưng hình thức chưa đa dạng, hiệu quảchưa cao Do đó dù đã rất cố gắng cũng khó lôi kéo sự tập trung của học sinh,giờ học chưa đạt được hiệu quả như mong muốn
Đối tượng học sinh chủ yếu là người dân tộc thiểu số, khả năng tiếp thu củacác em rất khác nhau nên hứng thú và sự tập trung của các em trong giờ họccũng khác nhau Có những em lực học tốt, chăm chỉ thì luôn tập trung lắngnghe, tích cực đóng góp ý kiến cho bài giảng, đặc biệt là những kiến thức thực tế
mà các em có trong quá trình chăn nuôi, trồng trọt ở gia đình Bên cạnh đó còn
có nhiều học sinh thụ động trong học tập, các em không thích học, không tậptrung, không hứng thú và lười tư duy, sự quan tâm của các em chỉ dừng lại ởviệc ghi chép và dựa vào sách giáo khoa để làm bài kiểm tra Mặt khác, nguyên
Trang 6nhân chính là giáo viên chưa thực sự đầu tư cho hoạt động khởi động để tạohứng thú học tập cho học sinh.
Khi áp dụng trò chơi do chính giáo viên thiết kế vào hoạt động khởi động,học sinh được trực tiếp tham gia giải quyết một vấn đề cụ thể, hoạt động cả trí
óc và tay chân làm các em thích thú, vui vẻ, dễ dàng dẫn dắt học sinh vào phầnhình thành kiến thức mới
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
- Học sinh học tại lớp, không cần di chuyển vị trí về phòng học bộ môn;Học sinh không phải chuẩn bị nhiều kiến thức trước bài học; Giúp học sinh ônlại kiến thức đã học
- Rèn kĩ năng tư duy lôgic cho học sinh
- Lớp học trật tự
* Hạn chế
- Không khí lớp học không sôi nổi, chưa thu hút được sự tham gia tích cựccủa đa số học sinh; Học sinh lắng nghe thụ động, có những học sinh không quantâm đến bài học
- Giáo viên thường bắt đầu bằng việc kiểm tra bài cũ dễ tạo tâm lí lo lắng,căng thẳng cho học sinh, không tạo được sự hứng khởi sẽ gây nhàm chán
- Khó khăn khi rèn các năng lực (năng lực tự học, năng lực hợp tác, nănglực sáng tạo) cho học sinh
- Giáo viên chưa ứng dụng được các phương tiện và phương pháp dạy họchiện đại vào hoạt động dạy học
2.3.1.2 Giải pháp 2: Sử dụng phương pháp đặt và giải quyết vấn đề trong hoạt động khởi động.
* Ưu điểm
- Đánh giá được trình độ phát triển tư duy, khả năng nhận thức của họcsinh; Giúp học sinh rèn kĩ năng liên hệ thực tế, tư duy lôgic tốt; Bước đầu pháttriển được năng lực tự học và năng lực giải quyết vấn đề của học sinh
- Giáo viên luôn chú ý đến tính chính xác, tính hệ thống của kiến thức
Trang 72.3.2.1 Một số kiến thức cơ bản về hoạt động khởi động
* Bản chất của hoạt động khởi động:
- Gợi động cơ gây hứng thú cho học sinh
* Một số yêu cầu của hoạt động khởi động:
- Xác định rõ mục tiêu cần đạt, phương pháp và kĩ thuật tổ chức, phươngtiện cần dùng
- Chuyển giao nhiệm vụ cho học sinh một cách rõ ràng: kiểm tra xem họcsinh đã có được kiến thức gì liên quan đến bài học
- Tạo hứng thú cho học sinh, tạo tình huống có vấn đề để dẫn dắt học sinhvào tìm hiểu kiến thức mới
2.3.2.2 Những thuận lợi khi tổ chức hoạt động khởi động bằng trò chơi
- Trò chơi là hoạt động được đa số học sinh thích thú tham gia
- Phát huy tính sáng tạo, hấp dẫn, gây hứng thú cho học sinh, giúp các em
có tâm lí thoải mái để tiếp thu kiến thức mới một cách tự nhiên nhẹ nhàng
- Chuyển tải được nhiều tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau
- Giúp học sinh ôn tập kiến thức cũ
- Trò chơi còn giúp học sinh vận động tay chân khiến cơ thể tỉnh táo, giảmcăng thẳng
2.3.2.3 Thiết kế một số trò chơi cho phần khởi động
* Trò chơi: “Hướng dẫn viên du lịch”
- Áp dụng: có thể sử dụng cho hoạt động khởi động của bài 3 và bài 4: Sảnxuất giống cây trồng
- Câu hỏi: Hãy kể tên các loại trái cây đặc sản của từng miền Bắc, Trung, Nam?(Mỗi nhóm phải kể được tên 5 loại trái cây đặc sản của từng miền)
- Mục đích: tạo sự hứng thú, tâm lí thoải mái cho học sinh trước khi vào bàihọc mới; học sinh rèn kĩ năng hoạt động nhóm; hình thành phẩm chất yêu nước,phẩm chất trách nhiệm; phát triển năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề.Học sinh thể hiện sự hiểu biết của mình về các loại cây đặc sản của từng miền.Giáo viên dẫn dắt vào nội dung bài học
- Luật chơi:
+ Chia lớp thành 4 nhóm (mỗi dãy dọc là 1 nhóm), mỗi nhóm cử 1 em làmthư kí để ghi bảng
+ Thời gian: 5 phút (4 phút thảo luận nhóm, 1 phút ghi lên bảng)
+ Giáo viên đọc câu hỏi, sau khi giáo viên đọc xong câu hỏi sẽ tính giờ chocác nhóm thảo luận, hết 4 phút thư kí mỗi nhóm sẽ lên đứng ở trước phần bảngghi tên nhóm mình, giáo viên nói bắt đầu thì các em mới viết nội dung câu trả
Trang 8lời Giáo viên tính đúng 1 phút thì thư kí phải ngừng viết, em nào vi phạm thờigian đáp án viết thêm không được tính.
+ Giáo viên chấm câu trả lời, cho điểm, nhóm có điểm cao nhất sẽ thắng:mỗi tên đúng được 1 điểm
- Phần thưởng: tích lũy điểm cho nhóm thắng (hoặc nhóm thắng sẽ đượcphát 1 phần quà)
- Đáp án giáo viên chuẩn bị: tranh ảnh các loại trái cây đặc sản của từng miền.(Giáo viên đưa đáp án sau khi đã tìm ra đội chiến thắng; đây chỉ là một vàigợi ý của giáo viên, kết hợp với tranh ảnh đẹp tăng sự hào hứng cho học sinh)
Trang 9Miền Bắc
Đào (Sapa-Lào Cai) Nhãn lồng (Hưng Yên) Vải thiều (Lục Ngạn-Bắc Giang)
Bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ) Cam Cao Phong (Hòa Bình)
Miền Trung
Bưởi đỏ tiến vua Bưởi Phúc Trạch Bưởi Thanh Trà
(Luận văn-Thanh Hóa) (Hà Tĩnh) (Thủy Biểu-Huế)
Xoài tượng (Bình Định) Nho (Ninh Thuận)
Trang 10Miền Nam
Bưởi Năm Roi (Hậu Giang) Chôm chôm (Vĩnh Long) Quýt hồng (Đồng Tháp)
* Trò chơi: “Chuyên gia thực vật”
- Áp dụng: có thể sử dụng cho hoạt động khởi động của bài 6: Ứng dụngcông nghệ nuôi cấy mô tế bào trong nhân giống cây trồng nông, lâm nghiệp
- Câu hỏi: Hãy kể tên những loại cây có thể được trồng bằng phương phápgiâm, chiết, ghép mà em biết?
- Mục đích: Tạo sự hứng thú, tâm lí thoải mái cho học sinh trước khi vàobài học mới; học sinh rèn kĩ năng hoạt động nhóm; phát triển năng lực hợp tác,năng lực giải quyết vấn đề; Học sinh thể hiện sự hiểu biết của mình về phươngpháp giâm, chiết, ghép Giáo viên kiểm tra được kiến thức thực tế của học sinh,
từ đó dẫn dắt vào nội dung bài mới
- Luật chơi:
+ Chia lớp thành 4 nhóm (mỗi dãy dọc là 1 nhóm), mỗi nhóm cử 1 em làmthư kí để ghi báo cáo vào giấy hoặc ghi lên bảng
+ Thời gian: 5 phút
+ Giáo viên chấm điểm: mỗi tên đúng 1 điểm; nhóm có điểm cao nhất là thắng
- Phần thưởng: tích lũy điểm cho nhóm thắng (hoặc nhóm thắng sẽ đượcphát 1 phần quà)
- Đáp án giáo viên đưa ra sau khi học sinh thi xong:
Phương pháp giâm Phương pháp chiết Phương pháp ghép
Cà chua, hoa hồng, chè
xanh, hoa mười giờ, rau
muống, khoai lang, rau
ngót, …
Hoa hồng, chanh, bưởi,cam, quýt, nhãn, vải,hồng xiêm, xoài, táo, lê,
ổi, …
Hồ tiêu, xoài, mai, dâmbụt, bơ, điều, hoa hồng,chanh, bưởi, cam, …
- Hình ảnh học sinh tham gia trò chơi: