Đặt câu hỏi trong dạy học đặc biệt những câu hỏi có vấn đề - tình huống họctập có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức, hướng dẫn quá trình nhận thức giúphọc sinh chiếm lĩnh tri thức mộ
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
1.1.1 Để đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông các nướctrong khu vực và trên thế giới, từ nhiều năm nay nước ta đã thực hiện đổi mới nộidung và phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học Các phương pháp dạyhọc truyền thống - lấy giáo viên làm trung tâm đang dần được thay thế bằng cácphương pháp dạy học tích cực - lấy học sinh làm trung tâm Điều này đòi hỏi phải
có sự thay đổi về phương pháp dạy học của người giáo viên, trong đó kỹ thuật đặtcâu hỏi cho bài đọc - hiểu là phương pháp dạy học tích cực đang được nhiều giáoviên quan tâm và áp dụng
Một giờ học văn thực sự hiệu quả, có chất lượng là giờ dạy gây hứng thú,học sinh có niềm say mê chân thành, niềm đồng cảm sâu sắc với những vấn đềnhà văn đặt ra trong tác phẩm Muốn vậy, giáo viên phải khéo léo đưa ra nhữngvấn đề, những tình huống thú vị để dẫn dắt học sinh Các tình huống ấy, các vấn
đề ấy được sử dụng dưới dạng các câu hỏi
Đặt câu hỏi trong dạy học (đặc biệt những câu hỏi có vấn đề - tình huống họctập) có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức, hướng dẫn quá trình nhận thức giúphọc sinh chiếm lĩnh tri thức một cách có hệ thống và tạo không khí học tập sôinổi Giáo viên qua câu hỏi có thể đánh giá được năng lực của học sinh, có đượcthông tin phản hồi làm cơ sở cho sự điều chỉnh, bổ sung một cách phù hợp, kịpthời những đơn vị kiến thức, kỹ năng trong giờ dạy
Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy nói chung, giảng dạy môn Ngữ văn nóiriêng vẫn tồn tại tình trạng đầu tư cho việc xây dựng câu hỏi chưa thật sự thỏađáng Phần nhiều câu hỏi sa vào chi tiết vụn vặt, đơn điệu, nhàm chán hoặc trongcâu hỏi đó bao hàm ý trả lời hoặc mang tính chiếu lệ (hỏi cho có hỏi, hỏi để thểhiện rằng có sử dụng phương pháp đổi mới trong giờ dạy), thiếu những câu hỏimang tính chất gợi mở, không có những tình huống gay cấn buộc học sinh phảisuy nghĩ, trăn trở vì thế giờ học trôi đi tẻ nhạt, học sinh không hứng thú, học qualoa cho xong để rồi đến các kì thi, thực tế đáng buồn lại tái diễn: các em tìm chéptài liệu, sai kiến thức cơ bản, suy diễn nội dung tác phẩm một cách thô thiển, táchrời nội dung và nghệ thuật của tác phẩm…
Đứng trước yêu cầu của xã hội, trước thực trạng dạy học môn Ngữ văn, tôiluôn trăn trở, suy nghĩ làm thế nào để vận dụng một cách có hiệu quả nhữngphương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.Trong quá trình giảng dạy, nhận thấy vai trò quan trọng và ưu thế của kỹ thuật đặt
Trang 2câu hỏi nên tôi đã đầu tư xây dựng hệ thống câu hỏi cho các giờ dạy, đặc biệt chú ýxây dựng những câu hỏi có vấn đề nhằm khơi dậy hứng thú học văn của học sinh,kích thích sự phát triển trí tuệ và giúp các em lưu giữ kiến thức lâu hơn.
1.1.2 Chọn “ Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng”
của Lí Bạch - SGK Ngữ văn 10 để vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi vì đây là thi
phẩm xuất sắc, tiêu biểu cho hồn thơ Lý Bạch, mang đặc trưng của thơ Đườngsong là tác phẩm văn học nước ngoài nên học sinh khó tiếp nhận.Với những đặc
điểm trên, có thể nói tác phẩm mở ra mảnh đất phì nhiêu để giáo viên xây dựng
những câu hỏi chứa đựng tình huống học tập Tìm đến mảnh đất này để thửnghiệm kỹ thuật dạy học mới tôi đã thu được kết quả nhất định Xin được trình
bày kinh nghiệm : Vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi để nâng cao hiệu quả giờ dạy đọc - hiểu văn bản“Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” của Lí Bạch – Sách giáo khoa Ngữ văn 10 để các đồng nghiệp cùng góp ý
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra đề tài này, thông qua việc vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi, tôi muốnnâng cao chất lượng dạy học trong giờ đọc hiểu văn bản cho học sinh Vì thế, khinghiên cứu và thực hiện đề tài này tôi đó hướng tới các mục đích cụ thể sau:
- Giúp học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản bài “ Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” của Lí Bạch
- Giúp học sinh có thái độ yêu quý, trân trọng tinh cảm bạn bè
- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi để nâng cao hiệu quả giờ dạy đọc - hiểu văn bản“Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” của Lí Bạch – Sách giáo khoa Ngữ văn 10
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp trực quan: Quan sát tranh, xem video giới thiệu về tác giả, lầuHoàng Hạc, sông Trường Giang
- Sử dụng kỹ thuật dạy học: Kỹ thuật dặt câu hỏi
- Giáo viên kết hợp phương pháp đọc sáng tạo, đối thoại, trao đổi, nêu vấn
đề, thảo luận, tich hợp
- Phương pháp so sánh, thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trang 32 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận của đề tài
2.1.1 Khái niệm câu hỏi trong dạy học
Câu hỏi là một dạng cấu trúc ngôn ngữ để diễn đạt một yêu cầu, đòi hỏi,một mệnh lệnh mà người học cần giải quyết Câu hỏi có cấu trúc: cái đã biết - cáichưa biết Mục đích của việc đặt câu hỏi trong dạy học: giúp giáo viên thực hiệnviệc giảng bài, nhằm luyện tập, thực hành, nhằm hướng dẫn tổ chức học sinh học,nhằm khích lệ và kích thích suy nghĩ, nhằm đánh giá học sinh
2.1.2 Vai trò cuả việc đặt câu hỏi trong dạy học
- Đối với học sinh: Đặt câu hỏi được sử dụng như một phương tiện để tổ
chức, hướng dẫn quá trình nhận thức; câu hỏi giúp học sinh lĩnh hội tri thức một cách
có hệ thống, tránh tình trạng ghi nhớ máy móc và tạo không khí học tập sôi nổi
- Đối với giáo viên: Đặt câu hỏi giúp giáo viên đánh giá được năng lực của học
sinh, giúp người dạy có thông tin phản hồi từ phía người học để có những điều chỉnhphù hợp Việc đặt câu hỏi cũng nâng cao tầm hiểu biết của giáo viên bởi vì hỏi cũng
là một cách bổ ích cho việc giáo viên đi sâu vào việc hiểu bài học
2.1.3 Vai trò của câu hỏi trong giờ dạy đọc- hiểu văn bản văn học.
- Câu hỏi có vai trò định hướng, giúp học sinh xác định được nhiệm vụnhận thức, buộc các em phải huy động tri thức, vốn sống, kinh nghiệm một cáchsáng tạo, chọn lọc lấy những gì có liên quan đến vấn đề đó được biểu đạt Giáoviên không đưa kiến thức đến cho các em dưới dạng có sẵn, không rung cảm hộ
mà với câu hỏi đưa ra giáo viên sẽ tổ chức, hướng dẫn cho các em suy nghĩ, cắtnghĩa, thâm nhập vào tác phẩm Các em tự nắm bắt giọng điệu nhà văn, đối thoạivới người sáng tác, hòa nhập vào khung cảnh của tác phẩm Từ đó các em đượcbồi dưỡng năng lực cảm thụ, năng lực sáng tạo thẩm mĩ ; quá trình tư duy của các
em vận động không ngừng, các em sẽ lớn lên về kiến thức, hoàn thiện về kỹ năng.Nói cách khác, các câu hỏi sẽ kích thích sự phát triển trí tuệ của học sinh thôngqua sự tăng cường khả năng suy nghĩ độc lập
- Với kỹ thuật đặt câu hỏi của giáo viên, học sinh không chỉ hiểu mà cũnglưu giữ, ghi nhớ kiến thức lâu hơn bởi trong văn chương khi người đọc trải quaquá trình cảm thụ bằng liên tưởng, tưởng tượng ; rung cảm bằng trái tim thì kiếnthức ấy thâm nhập vào máu tủy, xương thịt Sự ghi nhớ ở đây sẽ trở thành tiền đềquan trọng để quá trình tư duy, tưởng tượng đạt hiệu quả cao hơn
- Khi xây dựng được câu hỏi có vấn đề (tình huống học tập), giáo viên sẽgieo vào tâm hồn các em sự háo hức, day dứt không yên do vậy các em sẽ không
Trang 4cảm thấy xa lạ trước vấn đề giáo viên đặt ra, không thể lãnh đạm với tiếng nói tâmtình tha thiết của nhà văn Bởi chính bản thân các em từ bên trong có nhu cầuchiếm lĩnh tác phẩm chứ không phải do áp lực tác động bên ngoài Giáo viên sẽ đạt
đến mục đích đánh thức niềm đam mê, hứng thú học văn của học sinh
2.1.4 Các dạng câu hỏi sử dụng trong giờ đọc – hiểu văn bản
*Câu hỏi tái hiện: Giáo viên đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ
lại kiến thức đó biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Loại câu hỏinày giúp HS tái hiện thế giới nghệ thuật của tác phẩm Đó là một biện pháp được
sử dụng khi cần đặt mối liên hệ giữa kiến thức đó học với kiến thức sắp học, hoặc
củng cố kiến thức vừa mới học
* Câu hỏi yêu cầu giải thích, minh hoạ: Loại câu hỏi này nhằm mục đích
làm sáng tỏ một khái niệm, đề tài nào đó Giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏikèm theo những ví dụ minh hoạ để giúp Học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương phápnày được áp dụng có hiệu quả trong một số trường hợp như khi giáo viên biểudiễn phương tiện trực quan (băng ghi hình, phim đèn chiếu, phim điện ảnh)
* Câu hỏi tìm tòi (vấn đáp phát hiện): Đây là loại câu hỏi trọng tâm nhất
trong một giờ học văn Sự cảm thụ tác phẩm của học sinh phải qua con đường củanhận thức Để học sinh nắm bắt chính xác tác phẩm, chúng ta phải đặt những câuhỏi khơi dậy tư duy ở các em Giáo viên tổ chức việc trao đổi ý kiến - kể cả tranhluận - giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò thông qua đó học sinh nắm đượctri thức mới Hệ thống câu hỏi được sắp đặt hợp lý nhằm phát hiện, đặt ra và giảiquyết một vấn đề xác định, buộc học sinh phải liên tục cố gắng, tìm tòi lời giải đáp
* Câu hỏi nêu vấn đề: Câu hỏi nêu vấn đề có liên quan chặt chẽ đến vấn đề
và tình huống có vấn đề Loại câu hỏi này phải làm rõ được vấn đề tiềm ẩn trong tácphẩm, phải gây hứng thú nhận thức cho học sinh và phải động viên, khuyến khíchhọc sinh tìm tòi kiến thức
* Câu hỏi phân tích, nhận xét, đánh giá: Sau khi nêu ra các câu hỏi tái hiện,
chúng ta phải đặt những câu hỏi để tìm ra những lý do: Tại sao tác giả lại xâydựng, sử dụng những hình ảnh, hình tượng, chi tiết nghệ thuật đó? Ý nghĩa củavấn đề? Loại câu hỏi này giúphọc sinh biết phân tích, đánh giá và khái quát nhữngvấn đề quy tụ vào những đặc trưng về hình thức nghệ thuật và nội dung
*Câu hỏi so sánh đối chiếu: Sự so sánh đối chiếu là một hình thức của thao
tác phân tích trong tư duy Qua việc so sánh đối chiếu học sinh có thể nhận ra nhữngnét độc đáo, những ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm Các loại câu hỏi đưa ra có thể là
để so sánh các hình ảnh chi tiết trong tác phẩm hoặc với các tác phẩm khác
Trang 5Tóm lại, việc vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi vào giờ dạy đọc - hiểu tác phẩm vănchương sẽ phát huy được vai trò chủ thể tích cực của học sinh, tạo ra bầu khôngkhí cởi mở, dân chủ giữa giáo viên - học sinh, học sinh - học sinh, học sinh- nhàvăn; thiết lập được mối quan hệ đa chiều (giáo viên - học sinh - tác phẩm - nhàvăn) và phát triển mối quan hệ đó một cách cân đối hài hòa.
2.2 Cơ sở thực tiễn (Thực trạng vấn đề).
Trước Công nguyên, nhà triết học Socrát (470 390 TCN) Khổng Tử (551
-479 TCN) cho rằng khi dạy học là đưa người học vào tình huống mâu thuẫn, tức làđặt ra cho họ những câu hỏi bẫy để kích thích cho người học
Ở Liên Xô cũ, các tài liệu đề cập đến phương pháp xây dựng và sử dụng câuhỏi trong dạy học của các tác giả như: P.B Gophman, O.Karlinxki, B.P.Exipop,M.A.Danilop, I.F.Khrlamop, N.M.Veczilin Cũng đi sâu vào nghiên cứu và vấn đềnày cũng có một số nhà giáo dục như: Skinner (Mỹ), Okon (Ba Lan) Gần đây
đáng chú ý có công trình Đặt câu hỏi có hiệu quả cao (HEO) cách thức giúp học
sinh tham gia tích cực vào các hoạt động học tập của Ivan Hanel
Ở trong nước, vấn đề nghiên cứu phương pháp xây dựng câu hỏi trong dạy
học môn văn được đề cập trong một số công trình như: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường (2009) của Nguyễn Viết Chữ, Phương pháp dạy học Văn của Phan Trọng Luận (Chủ biên), Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương (2002) của Nguyễn Trọng Hoàn, Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học văn - tiếng Việt (2003) của Nguyễn Trí - Nguyễn Trọng
Hoàn - Đinh Thái Hương Cùng với nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học, BộGiáo dục và Đào tạo, cùng Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa đã tổ chứcnhiều cuộc hội thảo đề cập vấn đề dạy học với câu hỏi hiệu quả Trong cuộchội thảo đã cung cấp nhiều bài nghiên cứu có giá trị về vấn đề này cũng nhưđưa ra những tiêu chí đánh giá câu hỏi có hiệu quả, đây là cơ sở để tôi và cácđồng nghiệp vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi trong giờ đọc – hiểu văn bản vănhọc để đạt kết quả tốt trong giờ dạy
2.3 Các giải pháp thực hiện đề tài.
2.3.1 Những lưu ý khi vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi
- Câu hỏi phải khai thác được đặc trưng thể loại văn bản thơ tứ tuyệtĐường luật: Mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng Mối quan hệ giữa khônggian và thời gian Mối quan hệ giữa các trạng thái tình cảm Mối quan hệ giữa
tình và cảnh đặc biệt ngôn ngữ tinh luyện cao độ với những từ đắt (nhãn tự) gợi
được linh hồn của đối tượng
Trang 6- Câu hỏi phải kích thích được sự tìm tòi, hứng thú của học sinh và phù hợpvới khả năng tiếp nhận của các em Có nghĩa là câu hỏi, tình huống học tập đượcxây dựng phải khai thác cái mới từ tác phẩm, gợi liên tưởng nhiều chiều ở ngườihọc ; có khả năng gõ vào sự đồng cảm, trí tưởng tượng nhưng sau đó buộc các emnâng lên thành cấp độ cao hơn thuộc về chiều sâu tư tưởng của tác phẩm; câu hỏixuất hiện đúng thời điểm, diễn đạt sao cho các em có thể hiểu và suy nghĩ ngayvào vấn đề giáo viên đặt ra
- Câu hỏi phong phải phú đa dạng, có hệ thống hoàn chỉnh: Câu hỏi đượcxây dựng dưới các hình thức khác nhau để tránh sự đơn điệu nhàm chán; câu hỏi
có mối liên hệ với nhau nhằm đảm bảo hướng đến mục đích, yêu cầu nội dunghọc tập
2.3.2 Hướng dẫn học sinh thu thập tài liệu.
Thơ Đường các em đã được học ở cấp THCS Trong thực tế thời lượng dạyhọc trên lớp không nhiều nên để quá trình dạy học có hiệu quả, giáo viên cần giaonhiệm vụ, hướng dẫn học sinh đọc, chuẩn bị và thu thập kiến thức có liên quan đến
bài “ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng ” – Lí Bạch
2.3.3 Bám sát quy trình thiết kế câu hỏi bài “Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” – Lí Bạch
A Xác địnhmục tiêu bài học
1 Kiến thức:
Giúp HS:
- Hiểu được tình cảm chân thành của Lí Bạch với bạn
- Nắm được đặc trưng phong cách thơ Lí Bạch ngôn ngữ giản dị, hình ảnhtươi sáng và gợi cảm
2 Kĩ năng : Đọc hiểu văn bản và phân tích văn bản theo đặc trưng thể loại 3.Thái độ :
- Hình thành thói quen: đọc hiểu văn bản thơ Đường.
- Hình thành tính cách: tự tin khi trình bày kiến thức về thơ Đường
- Hình thành nhân cách: có tình bạn trong sáng, chân thành
4 Năng lực:
- Năng lực thu thập thông tin liên quan đến lịch sử văn học đời nhà Đường, nhàthơ Lí Bạch
- Năng lực đọc – hiểu thơ Lí Bạch
- Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về giá trị của những tác phẩm vănhọc thời nhà Đường
B Xác định tri thức đã có của học sinh
Trang 7- Qua một số tiết đọc hiểu, đọc thêm về tác phẩm của Lí Bạch ở THCS, các
tri thức phần tiểu dẫn về thơ Đường, cộng thêm tiết đọc hiểu tác phẩm của Đỗ Phủ,Thôi Hiệu, Vương Xương Linh ( Ngữ văn 10 ), các em ít nhiều đã nắm được : Đặctrưng thơ Đường, cách khai thác một tác phẩm thơ thất ngôn tứ tuyệt
- Từ đó giáo viên định hướng cho các em chuẩn bị bài, học sinh phải tìmhiểu trước để có kiến thức cơ bản nhất về tác giả Lí Bạch cùng một số cách tiếp
- Lí Bạch ( 701- 762) tự là Thái Bạch, hiệu là Thanh Liêm cư sĩ, quê ở Lũng Tây
- Là con người tài hoa, có hoài bão, chí hướng nhưng công danh không thành, bỏ
“ ngao du sơn thủy”
- Là nhà thơ lãng mạn vĩ đại của Trung Quốc, được mệnh danh “ thi tiên”
- Để lại số lượng tác phẩm đồ sộ: hơn 1000 bài
- Nội dung chính: Ước mơ vươn tới lí tưởng cao cả, khát vọng giải phóng cá tính,bất bình với hiện thực tầm thường, thể hiện tình cảm phong phú và mãnh liệt…
- Phong cách thơ: Hào phóng, bay bổng, tự nhiên, tinh tế, giản dị, có sự kết hợphào hòa giữa cao cả và cái đẹp
2 Tác phẩm: Nhan đề:
- Lầu Hoàng Hạc : thuộc tỉnh Hồ Bắc, trên bờ Trường Giang, từ lâu đã trở thànhmột trong những danh lam thắng cảnh và điểm du lịch tham quan nổi tiếng củaTrung Quốc Nơi đây gắn với truyền thuyết Phí Văn Vi thành tiên, cưỡi hạc vàngbay lên trời
- Mạnh Hạo Nhiên ( 689 – 740): Nhà thơ lớn đời Đường, một người bạn vănchương thân thiết của Lí Bạch
- Quảng Lăng: Địa điểm thuộc thành Dương Châu - đô thị phồn hoa bậc nhất đờiĐường
II Đọc – hiểu văn bản
1 Đọc – chú thích
2 Bố cục.
3 Kiến thức cơ bản.
3.1 Hai câu đầu : Bối cảnh tiễn đưa
- Người ra đi: Mạnh Hạo Nhiên, bạn văn chương, tri kỉ của Lí Bạch
- Người đưa tiễn : Lí Bạch – Nhà thơ lớn đời Đường
Trang 8- Mối quan hệ : cố nhân - thân thiết, gắn bó, yêu thương
- Địa điểm:
+ Nơi tiễn: phía tây lầu Hoàng Hạc
theo quan niệm của người Á Đông phía tây là cõi Phật, cõi tiên->thoát tục ( dành riêng cho những ẩn sĩ đến tu hành)
+ Nơi đến : Dương Châu ( phía đông) -> đô thị phồn hoa nhất thời Đường
+ Điểm nối giữa nơi đến và nơi đi : Dòng sông Trường Giang, huyết mạch giaothông, mùa xuân tấp nập thuyền bè xuôi ngược
Lí Bạch tiễn bạn từ nơi thoát tục về nơi trần tục ( nơi mà ông đã từ bỏ -> đến với cuộc sống tự do phóng túng) -> tâm trạng con người buồn, day dứt.
=> khung cảnh chia li đầy sắc màu gợi cảm như vẽ ra một cảnh thần tiên tuyệtđẹp, một không gian mĩ lệ, khoáng đạt
- Thời gian:
+Yên hoa tam nguyệt: tháng 3 mùa hoa khói -> cảnh vật mùa xuân thơ mộng trànđầy sức sống ( mùa xuân là mùa của tụ tập hội hè, tương phùng, tương ngộ củamặc khách tao nhân) Vậy mà Lí Bạch và Mạnh Hạo Nhiên phải chia tay
Làm tăng tình cảm nhớ thương, lưu luyến
- Vị trí: trên cao ( lầu Hoàng Hạc) -> kéo dài thời gian được nhìn theo bóng
bạn-mở rộng tầm nhìn-> cảnh vật mênh mông dàn trải theo chiều dài của con sông
=>Không gian – thời gian - con người: quan hệ đối lập mà thống nhất
Nhà thơ tái hiện lại khung cảnh thần tiên của buổi chia tay nhưng cảnh đẹp thìlòng người càng buồn, càng thấm thía nỗi xa cách, chia li, nỗi thương nhớ, lưuluyến càng trở nên da diết, không tả tình nhưng lại rất hữu tình
3.2 Hai câu sau: Tâm trạng người tiễn đưa- Cô phàm : cánh buồm cô độc,
lẻ loi trên dòng Trường Giang -> Tấm lòng định hướng cho đôi mắt Người ra đi
cô đơn, người đưa tiễn cũng cô đơn nhìn theo cánh buồm cô đơn, lẻ loi
- Viễn ảnh bích không tận: Biến mất vào khoảng trời xanh biếc
-> cánh buồm lẻ loi đã xót xa nhưng còn buồn đau hơn khi cánh buồm ấy cứ dần
xa, thấp thoáng rồi mất hút trong khoảng trời nước xanh thẳm bao la, nhà thơ vẫnđứng lặng, đăm đắm dõi theo cánh buồm dần xa khuất trong vô vọng
- Phép đối : Cô phàm ( cái hữu hạn, nhỏ bé) - Bích không tận ( cái vô hạn, rộnglớn) -> Đó là quan hệ tương phản giữa cái vô hạn của vũ trụ và cái hữu hạn củađời người, giữa cái mênh mông, giao hoà của đất trời với cái lẻ loi, cô độc củacon người trong cảnh chia li
=> Tả cánh buồm xa dần mà nói lên được sâu sắc tình bạn thắm thiết đó là sự kìdiệu của bức tranh tâm cảnh, cũng là ý tại ngôn ngoại của Đường thi
Trang 9- Câu 4 : Chỉ thấy sông Trường Giang chảy vào cõi trời.
-> Bút pháp lãng mạn, không gian mở rộng đến vô cùng, vô tận, con người: nhỏ
bé, choáng ngợp Đó là cái dáng vẻ thẫn thờ đến bất động của Lí Bạch trên nềntrời phía Tây - ở lầu Hoàng Hạc
-> Tình cảm: lưu luyến, buồn, cô đơn của một tâm hồn luôn chứa đầy trăn trở về nhântình thế thái, lo lắng cho con đường của bạn ở phía trước đầy bon chen, bất trắc
III Tổng kết:
- Hình ảnh thơ chọn lọc, ngôn ngữ thơ gợi cảm, giọng điệu thơ trầm lắng, điểnhình của bút pháp tả cảnh ngụ tình, dựng được các mối quan hệ để biểu đạt ýnghĩa, tư tưởng bài thơ
- Tình bạn sâu sắc, chân thành , thắm thiết- điều không thể thiếu được trong đờisống tinh thần của con người ở mọi thời đại
2.4 Mã hóa nội dung kiến thức thành câu hỏi, tình huống học tập và
dự kiến tri thức học sinh cần chiếm lĩnh
Công đoạn xây dựng câu hỏi, tình huống học tập đòi hỏi giáo viên phảichú ý đến nhiều yếu tố (đặc trưng tài liệu giảng dạy, đối tượng giảng dạy, tâm líhọc sinh trước đơn vị kiến thức cần tìm hiểu…) để có cơ cơ sở định hướng choviệc hình thành câu hỏi, tình huống học tập
2.4.1.Một điều hết sức quan trọng đối với việc vận dụng kỹ thuật đặt câu
hỏi trong giờ dạy “Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên Chi Quảng Lăng” là:
Giáo viên phải xây dựng được tình huống học tập trung tâm trên cơ sở phát hiệnmâu thuẫn nghệ thuật đặc thù của văn bản (mâu thuẫn thuộc cấp độ hình thức, tậptrung làm sáng tỏ nội dung tư tưởng của tác phẩm) Tình huống học tập trung tâmnày sẽ là điểm tựa để giáo viên phát triển thêm các tình huống, câu hỏi hướng dẫnhọc sinh tiếp cận văn bản đúng hướng, có trọng tâm
2.4.2 Xây dựng hệ thống câu hỏi, câu hỏi có vấn đề, làm rõ tình huống họctập trung tâm
* Đầu tiên tôi giới thiệu và sử dụng câu hỏi tái hiện giúp học sinh nhớ lại
những tác phẩm thơ Đường đã học ở THCS: Thơ Đường (Đường thi) là toàn bộthơ ca đời Đường, được các nhà thơ người Trung Quốc sáng tác trong khoảng từthế kỉ 7 - thế kỉ X.Thơ Đường được xem là một trong những thành tựu của nềnvăn minh nhân loại Thơ Đường có mối quan hệ mật thiết với thơ Việt Nam Việchọc tập, tìm hiểu thơ Đường không chỉ giúp mỗi chúng ta mở rộng kiến thức vănhoá, nâng cao sự hiểu biết về thế giới nói chung, nước láng giềng Trung Quốc nóiriêng mà còn để hiểu nền văn hoá, văn học của chính đất nước ta qua cái nhìn sosánh Ngay từ THCS, các em đã được tiếp xúc với một số bài thơ Đường tiêu biểu
Trang 10của các tác giả Trung Quốc nổi tiếng thời Đường Em nào có thể nhắc lại nhữngtác giả, tác phẩm đã học (và đọc thêm) ấy? Rất nhanh chóng, học sinh sẽ nhớ lại
và kể tên những tác phẩm sau :
+ Xa ngắm thác núi Lư - Lí Bạch.
+ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh - Lí Bạch.
+ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê - Hạ Chi Chương.
+ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá - Đỗ Phủ.
+ Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều- Trương Kế.
* Tiếp theo, tôi sẽ giới thiệu thêm để tạo không khí học tập trong giờ học :
Ở chương trình Ngữ văn 10, cụ thể là trong những tiết học tới đây, chúng ta sẽ lạiđến với thế giới của thơ Đường qua những thi phẩm được xếp vào hàng danh tác
của văn học thời kì này: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng - Lí Bạch, Cảm xúc mùa thu - Đỗ Phủ và các bài đọc thêm: Lầu Hoàng Hạc
Thôi Hiệu, Nỗi oán của người phòng khuê Vương Xương Linh, Khe chim kêu
-Vương Duy
* GV giới thiệu một vài nét về đặc điểm thơ Đường: Thể thơ, cấu trúc bài thơ, ngôn ngữ thơ Đường… làm cơ sở định hướng tìm hiểu tác phẩm theo đặc trưng thể loại
* Ở phần Tiểu dẫn, tôi sử dụng câu hỏi phát hiện, tìm tòi giúp học sinh nắm những nét cơ bản về tác giả, tác phẩm: Qua phần Tiểu dẫn, em đã biết được
điều gì về Mạnh Hạo Nhiên và tác giả của bài thơ? Học sinh sẽ lựa chọn nhữngnét cơ bản trong sách giáo khoa để trả lời :
- Lý Bạch (701 – 762) tự là Thái Bạch, quê ở Lũng Tây Ông là nhà thơ lãng mạn
vĩ đại nhất của Trung Quốc Vì tính cách khoáng đạt, thơ lại hay nói đến cõi tiênnên Lí Bạch được coi là “Thi tiên” Thơ ông hiện còn hơn 1000 bài
+ Nội dung thơ : Rất phong phú, với những chủ đề chính là ước mơ vươn tới lí
tưởng cao cả, khát vọng giải phóng cá tính, bất bình trước hiện thực tầm thường,thể hiện tình cảm phong phú và mãnh liệt
+Phong cách thơ: Hào phóng, bay bổng, lại rất tự nhiên, tinh tế và giản dị Đặc
trưng nổi bật nhất của thơ Lí Bạch là sự thống nhất giữa cái cao cả và cái đẹp
- Mạnh Hạo Nhiên ( 689-740) Là người Lí Bạch hâm mộ về học vấn và nhân cách
* Đến phần Đọc – hiểu, tôi lưu ý học sinh: Bài thơ là nỗi niềm của thi nhân
trong buổi chia li nên giọng đọc cần chậm rãi, trầm lắng để thể hiện tâm trạngthường thấy của con người khi phải chia tay bạn thân Khi đọc bài thơ, hãy tưởngtượng như mình đang phải chia tay một người bạn rất thân của mình, tiễn bạn đếnmột chân trời mới
Trang 11* Để giúp học sinh nắm vững nội dung cơ bản của bài thơ, đồng thời khơigợi trí tưởng tượng và kĩ năng diễn đạt của học sinh, làm cơ sở để tiếp nhận,
khám phá, lĩnh hội tri thức, tôi sử dụng câu hỏi tái hiện : Em nào có thể tái hiện
nội dung miêu tả của bài thơ (diễn xuôi bài thơ) ?
Học sinh diễn xuôi: Tại lầu Hoàng Hạc, Lí Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên điDương Châu - nơi phồn hoa đô hội, vào giữa mùa hoa khói (mùa xuân) Conthuyền chở người bạn cứ xa dần và mờ bóng nơi khoảng trời xanh biếc nhưng nhàthơ vẫn cứ đứng trông theo ngay cả khi không còn thấy chiếc thuyền mà chỉ cònthấy dòng Trường Giang chảy ở lưng trời
* Tiếp tục truyền cảm hứng, kích thích sự háo hức vừa được khơi dậy ở học sinh, tôi sử dụng câu hỏi nêu vấn đề : Hãy xác lập mối quan hệ giữa không gian
( lầu Hoàng Hạc – sông Trường Giang – Dương Châu), thời gian ( tháng ba – mùahoa khói) và con người ( cố nhân…) trong bài thơ Mối quan hệ ấy có tác dụngnhư thế nào trong việc thể hiện khung cảnh và tâm tình người đưa tiễn?
Câu hỏi này đòi hỏihọc sinh phải xác định và phân tích được các quan hệ
mà Lí Bạch đã dựng lên trong bài thơ Đó chính là chìa khoá để giáo viên giúphọc sinh giải mã bài thơ Tuy nhiên, đây là một câu hỏi khó, câu hỏi nêu vấn đề
- một vấn đề có tính khái quát cao, không dễ trả lời ngay Cần phải tách nó thànhcác vấn đề nhỏ qua các câu hỏi gợi mở thì học sinh mới giải quyết được vấn đềlớn đã đặt ra
* Để dẫn dắt và định hướng học sinh tìm hiểu tác phẩm, tôi sử dụng câu hỏi gợi mở: Đây là bài thơ viết về cuộc chia tay của Lí Bạch đối với bạn mình là Mạnh
Hạo Nhiên Cuộc chia tay diễn ra ở đâu, điểm kết nối giữa nơi đến và nơi chia tay
là gì? Học sinh phát hiện các đơn vị kiến thức cơ bản, tôi bổ sung, chốt ý:
- Nơi tiễn: lầu Hoàng Hạc Đây là một thắng cảnh nổi tiếng ở Tứ Xuyên, Hồ Bắc,
Trung Quốc do Ngô Phù Sai thời Xuân Thu sai người tạo lập Nơi đây đã đượcbiết tới như một lầu huyền thoại, nơi có tiên cưỡi hạc vàng bay về thượng giới, đãbất hủ với bài thơ cùng tên của Thôi Hiệu, là nơi các danh sĩ Trung Quốc thườnggặp gỡ, xướng họa Mạnh Hạo Nhiên và Lí Bạch chắc đã hơn một lần gặp nhau ởnơi đây và bây giờ lại cùng chia biệt trên lầu thơ này Chọn địa điểm đưa tiễn làlầu Hoàng Hạc có lẽ còn vì đây là nơi có vị trí cao, dễ theo dõi lâu nhất bóng hìnhngười ra đi
- Nơi đến: Dương Châu Là chốn phồn hoa đô hội bậc nhất vùng Đông Nam
Trung Quốc thời Đường bấy giờ