Bên cạnh đó, những kiến thức về thể loại văn học, tiếp nhận văn học… vốn được xem là kiến thức nền, kiến thức công cụ định hướng cho việc tiếp nhận và tự tiếp nhận của học sinh lại được
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT HÀ VĂN MAO
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM VẬN DỤNG CÁC BƯỚC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC DỰA TRÊN CẤU TRÚC TRONG GIỜ HỌC VĂN Ở TRƯỜNG THPT HÀ VĂN MAO - BÁ THƯỚC
Người thực hiện: Trương Thị Giang
Chức vụ: Giáo viên SKKN thuộc môn: Ngữ Văn
THANH HOÁ NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
1.2 Mục đích nghiên cứu 1 1.3 Đối tượng nghiên cứu 2 1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 2 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3 2.3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 3 2.3.1 Cung cấp cho học sinh những kiến thức cần thiết về văn bản
văn học và đọc - hiểu văn bản văn học
3
2.3.2 Hướng dẫn học sinh các bước đọc - hiểu văn bản văn học
dựa trên cấu trúc
4
2.4 Hiệu quả của sáng kiến 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 31 Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
Việc biên soạn cấu trúc chương trình sách giáo khoa Văn học trước đây được tiến hành chủ yếu theo tiêu chí văn học sử, điều này đã giúp cho học sinh bồi dưỡng tư duy lô gic, tư duy hệ thống hóa… Tuy nhiên, mục tiêu dạy học trên lại làm cho học sinh thiếu đi năng lực tiếp nhận văn học Các em không thể
tự mình (và cũng không bao giờ tự giác) đọc và lý giải những giá trị về nội dung, nghệ thuật, tư tưởng tình cảm của tác giả… trong các bài đọc thêm, nếu như không có sự hướng dẫn hoặc bắt buộc của giáo viên Vì vậy, những kiến thức về văn học của học sinh cũng chỉ giới hạn ở những tác giả, tác phẩm đã được học, còn những tác phẩm ngoài sách giáo khoa thì hầu như "ngoài vùng phủ sóng" đối với các em Bên cạnh đó, những kiến thức về thể loại văn học, tiếp nhận văn học… vốn được xem là kiến thức nền, kiến thức công cụ định hướng cho việc tiếp nhận và tự tiếp nhận của học sinh lại được phân phối dạy ở phần cuối chương trình nên hầu như không có ý nghĩa hỗ trợ cho việc tiếp nhận văn học mà còn làm nặng thêm lượng kiến thức do đứng độc lập với các văn bản trong chương trình SGK
Mục tiêu chung của môn Ngữ văn ở trường THPT hiện nay là bồi dưỡng
và nâng cao thêm một bước năng lực văn học cho học sinh, trong đó có năng lực đọc hiểu văn bản Chính vì thế chương trình được xây dựng theo trục tích hợp đọc văn và làm văn Với nguyên tắc này, chương trình hiện nay vẫn dựa vào tiến trình lịch sử của văn học dân tộc nhưng mỗi giai đoạn sẽ lựa chọn những thể loại tác phẩm văn học tiêu biểu để làm văn bản mẫu cho việc đọc - hiểu Theo tinh thần này, môn Ngữ văn có nhiệm vụ kép: thông qua dạy kiến thức mà trang bị
và rèn luyện cho học sinh cách đọc, phương pháp đọc để các em có thể tự mình đọc và hiểu những văn bản khác
Từ thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở trường THPT Hà Văn Mao, huyện Bá Thước - một trong những trường miền núi còn nhiều khó khăn, học sinh chủ yếu là con em đồng bào dân tộc Mường, chất lượng đầu vào thấp Hàng năm, còn nhiều học sinh phải thi lại, phải lưu ban, thậm chí bỏ học giữa chừng
do chán nản về kết quả học tập của mình Tôi thiết nghĩ, để tạo hứng thú cho học sinh trong học tập ở nhà trường nói chung, nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập môn Ngữ văn nói riêng thì điều trước tiên người giáo viên phải cung cấp được cho các em kĩ năng, phương pháp tiếp cận, chiếm lĩnh tri thức về bộ môn
Với những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: "Kinh nghiệm vận dụng các bước đọc - hiểu văn bản văn học dựa trên cấu trúc trong giờ học văn ở trường THPT Hà Văn Mao - Bá Thước" làm đề tài nghiên cứu của mình 1.2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng việc học tập môn Ngữ văn ở trường THPT Hà Văn Mao
Xây dựng mô hình dạy học đọc - hiểu văn bản văn học theo các bước, tương ứng với lớp cấu trúc nghĩa của văn bản văn học để tiếp tục rèn luyện, nâng cao năng lực tự đọc, tự học các văn bản văn học; rèn luyện tư duy liên tưởng, tưởng tượng… trau dồi thêm các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh
Trang 4Tạo hứng thú cho các em trong các tiết đọc - hiểu văn bản văn học.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài hướng vào vấn đề các bước đọc - hiểu văn bản văn học dựa trên cấu trúc văn bản và mô hình bài đọc - hiểu văn bản văn học theo các bước này
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Sử dụng phiếu câu trả lời nhanh để tìm hiểu thực trạng của học sinh về kĩ năng đọc - hiểu văn bản văn học theo các bước dựa trên cấu trúc văn bản
Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: nghiên cứu các tài liệu dạy học, thiết kế các tiết đọc - hiểu văn bản văn học theo các bước phù hợp với đối tượng cụ thể ở các lớp trong từng khối
Phương pháp thống kê và xử lí số liệu: Qua các bài kiểm tra thường xuyên
và định kì, so sánh để đánh giá hiệu quả về kĩ năng, tinh thần, thái độ học tập của học sinh trước và sau khi vận dụng sáng kiến
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Như trên đã nói, một trong những mục tiêu cơ bản của môn Ngữ văn ở trường phổ thông là hình thành và phát triển ở học sinh năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe và đọc) và năng lực tạo lập văn bản (gồm kĩ năng nói và viết) Khái niệm "văn bản" được hiểu bao gồm cả văn bản văn học
Tài liệu tập huấn "Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh của Bộ Giáo dục và đào tạo" (năm 2014) cũng xác định rõ: Dạy học đọc - hiểu là một trong những nội dung cơ bản của
đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong việc tiếp nhận văn bản Cách dạy đọc - hiểu không nhằm truyền thụ một chiều cho học sinh những cảm nhận của giáo viên về văn bản được học, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật, có sắc thái cá nhân (6, 59- 60)
Dựa trên đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THPT: Có sự phát triển mạnh
mẽ về các phẩm chất, năng lực: như năng lực tư duy, phân tích, khái quát hóa… Các em cũng đã có khả năng tư duy một cách độc lập và sáng tạo, khả năng quan sát một phẩm chất cá nhân cũng bắt đầu phát triển Tuy nhiên, sự quan sát
ở các em thường phân tán, chưa tập trung vào một nhiệm vụ nhất định, trong khi quan sát một đối tượng vẫn còn mang tính đại khái, phiến diện, kết luận đưa ra còn vội vàng, thậm chí không có cơ sở thực tế
Đối với một văn bản văn học cũng cần phải có hướng tiếp cận, đánh giá sao cho phù hợp với ngưỡng nhận thức của học sinh THPT đồng thời có thể tạo hứng thú cho các em khi tiếp nhận văn bản
Xuất phát từ yêu cầu thực tế của việc dạy và học bộ môn Ngữ văn hiện nay ở trường THPT Hà Văn Mao nói riêng, các nhà trường THPT nói chung, việc dạy năng lực đọc - hiểu, phương pháp đọc - hiểu cho học sinh được xem là một việc làm hết sức cần thiết nhằm hướng các em đến các hoạt động chủ động
về tư duy trong việc tiếp nhận, lĩnh hội tri thức và bồi dưỡng tâm hồn
Do đó, việc trang bị các đơn vị kiến thức căn bản cho học sinh khi tiếp cận, đánh giá văn bản văn học là một việc làm thiết yếu, nhằm:
Tạo hứng thú, tăng cường khả năng chú ý, nắm bắt nội dung bài học Phát
Trang 5triển tính chủ động, độc lập, ham hiểu biết và khả năng suy luận, khả năng tư duy cho người học
Tăng cường khả năng thực hành và vận dụng các kiến thức đã học Kiến thức cung cấp trong giờ học được giảm nhẹ, quá trình học tập diễn ra tự nhiên, hấp dẫn hơn, góp phần làm giảm mệt mỏi, căng thẳng trong học tập cho học sinh
Tăng cường khả năng giao tiếp giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với nhau, giúp học sinh rèn luyện khả năng giao tiếp, ứng xử
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Trong những giờ dạy môn Ngữ văn của bản thân ở lớp được phân công cũng như qua những lần dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy rằng hiện nay đang xuất hiện một thực trạng học sinh ngày càng thụ động, không chịu phát biểu xây dựng bài Nhiều lần thầy cô giáo đặt câu hỏi, thậm chí là câu hỏi trong sách giáo khoa và gần gũi với các đơn vị kiến thức mà các em đã được cung cấp trước đó nhưng vẫn không có em học sinh nào trả lời, hoặc nếu có trả lời cũng là những phát hiện tức thời, vụn vặt còn từ những phát hiện đó để đưa ra nhận xét khái quát về đối tượng thì lại không làm được Cuối cùng thì thầy cô lại là người phải đưa ra câu trả lời cho chính câu hỏi của mình Thậm chí cũng có nhiều trường hợp, khi thầy cô giáo lí giải một vấn đề nào đó thường bị các em cho rằng đó chỉ
là những suy diễn của riêng thầy cô mà thôi… Những tình huống như vậy thường gây tâm lí ức chế cho thầy cô rất nhiều, thậm chí chán nản, không tha thiết với công việc của mình Bản thân các em cũng căng thẳng, mệt mỏi mỗi khi có tiết học
Nguyên nhân của hiện tượng trên, ngoài xuất phát từ tâm lí chung của học sinh là ngại phát biểu, lười suy nghĩ, không chịu hoặc rất ít khi chuẩn bị bài ở nhà… một phần còn do các em thiếu kiến thức căn bản, thiếu kiến thức hệ thống nên việc tiếp nhận thường diễn ra vụn vặt theo đơn vị bài học, "thấy cây mà không thấy rừng"… lâu dần sẽ dẫn đến suy nghĩ cho rằng đây là môn học khó, không có công thức để làm theo, đáp án nhiều khi mang tính suy diễn,
Tình trạng này nếu kéo dài không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả dạy
và học mà sâu xa hơn còn dẫn đến sự thiếu hụt về mặt tri thức, sự cằn cỗi trong tâm hồn thế hệ trẻ, làm yếu đi nguồn nhân lực của đất nước
Trước tình hình đó, tôi nghĩ người giáo viên cần khôi phục động lực học tập, khơi dậy niềm đam mê của học sinh đối với môn học bằng những giờ học thực sự lôi cuốn, hấp dẫn, bằng việc trang bị kiến thức nền nhằm phát huy nội lực trong chính bản thân các em
Qua thực tế giảng dạy của mình, tôi xin chia sẻ một số biện pháp mà tôi
đã thực hiện trong thời gian qua để khắc phục tình trạng trên như sau:
2.3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
2.3.1 Cung cấp cho học sinh những kiến thức cần thiết về văn bản văn học
và đọc - hiểu văn bản văn học
2.3.1.1 Khái niệm văn bản văn học
Về khái niệm văn bản văn học, được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp:
- Hiểu theo nghĩa rộng, văn bản văn học là tất cả các văn bản sử dụng ngôn từ một cách nghệ thuật (bao gồm không chỉ văn bản thơ, truyện, kịch mà còn cả
Trang 6các văn bản hịch, cáo, chiếu, biểu, sử kí của thời trung đại và kí, tạp văn của thời hiện đại)
- Hiểu theo nghĩa hẹp, văn bản văn học chỉ bao gồm các sáng tác có hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng hư cấu (thơ ca, tiểu thuyết, kịch…)
2.3.1.2 Cấu trúc của văn bản văn học
2.3.1.2.1 Tầng ngôn từ (ngữ âm, ngữ nghĩa)
Đối tượng đầu tiên khi tiếp xúc với một văn bản văn học đó là ngôn từ
Để hiểu đúng tác phẩm, trước hết chúng ta phải hiểu ngôn từ Hiểu ngôn từ là hiểu các nghĩa (tường minh, hàm ẩn) của các từ ngữ, là hiểu các âm thanh được gợi ra khi phát âm
2.3.1.2.2 Tầng hình tượng
Hình tượng văn học là một dạng đặc thù của hình tượng nghệ thuật, được thể hiện bằng ngôn từ Hình tượng văn học có thể là hình ảnh thiên nhiên, sự vật hay con người (hoa sen, cây tùng ) do tác giả sáng tạo ra, không hoàn toàn giống như sự thật của cuộc đời Hình tượng không chỉ phản ánh mà còn khái quát hiện thực, khám phá cái cốt lõi, cái bất biến, cái vĩnh hằng trong cái đơn lẻ, nhất thời, ngẫu nhiên, nhằm gửi gắm ý tình sâu kín của tác giả với người đọc, với cuộc đời
2.3.1.2.3.Tầng hàm nghĩa
Hàm nghĩa của văn bản văn học là ý nghĩa ẩn kín, ý nghĩa tiềm tàng của văn bản Đọc tác phẩm văn học, xuất phát từ tầng ngôn từ, tầng hình tượng, dần dần người đọc nhận ra tầng hàm nghĩa của văn bản Trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học, việc nắm bắt tầng hàm nghĩa là rất khó Nó phụ thuộc vào vốn sống, nhận thức, quan niệm, tư tưởng tình cảm của người tiếp nhận
2.3.1.3 Đọc - hiểu văn bản văn học
Có rất nhiều định nghĩa về đọc - hiểu, được phát biểu bởi các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam Nhìn chung, trong các phát biểu này, đọc - hiểu được định nghĩa như một quá trình tương tác tích cực và tạo nghĩa Như vậy, để đọc hiểu được văn bản, người đọc cần phải có năng lực để đạt được mục đích cuối cùng của quá trình "đọc" là sự "hiểu" văn bản
Dưới góc độ phương pháp, dạy đọc - hiểu là dạy người tiếp nhận cách thức đọc ra nội dung trong các mối quan hệ qua lại phức tạp của văn bản, là cung cấp cho người tiếp nhận cách đọc để có quan điểm, thái độ và kĩ năng đọc những sáng tạo ngôn ngữ theo quan điểm thẩm mĩ nhất định Dạy đọc - hiểu vừa
là dạy cách thức tiếp xúc với văn bản, thông hiểu nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được vai trò, tác dụng của các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết, các giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật và cả ý nghĩa xã hội nhân văn của tác phẩm trong ngữ cảnh của nó, vừa tập trung hình thành cách đọc văn, phương pháp đọc hiểu theo thể loại (sẽ trình bày ở một đề tài khác) để dần dần các em có thể tự đọc văn, hiểu tác phẩm văn học một cách khoa học, đúng đắn
2.3.2 Hướng dẫn học sinh các bước đọc - hiểu văn bản văn học dựa trên cấu trúc
Trong hoạt động đọc văn bản văn học thì các bước đọc - hiểu là quan trọng nhất, bởi nó đạt tới mức sâu nhất của hiểu biết và làm cơ sở cho đọc đánh
Trang 7giá, đọc sáng tạo và vận dụng Công việc tìm hiểu văn bản bắt đầu trước khi đọc, được mở ra trong quá trình đọc và tiếp tục suy nghĩ cả sau khi đọc xong Các bước đọc - hiểu được thể hiện qua hệ thống câu hỏi và phần luyện tập Số lượng câu hỏi, mức độ câu hỏi và các bài luyện tập được sử dụng phù hợp nhằm giúp học sinh hình thành các bước đọc - hiểu, tiến tới hình thành gần như là một quy trình đọc - hiểu, có thể hình dung với các bước như sau:
2.3.2.1 Bước 1: Đọc - hiểu ngôn từ
Để đọc - hiểu văn bản văn học thì trước hết phải có ấn tượng toàn vẹn về văn bản, muốn vậy phải đọc thông suốt toàn bộ văn bản, hiểu được các từ khó,
từ lạ, các điển cố, các phép tu từ, hình ảnh… Đối với thơ, việc đọc thuộc hay lặp
đi lặp lại nhiều lần sẽ giúp nhận ra tứ thơ, âm hưởng, giọng điệu, hình ảnh là
cơ sở để hiểu thơ Đối với tác phẩm truyện phải nắm được cốt truyện và các chi tiết từ mở đầu đến kết thúc Với kịch hay các tác phẩm văn học dân gian thì việc tiếp xúc trực tiếp trong môi trường diễn xướng là rất quan trọng…
Khi đọc văn bản cần hiểu được các diễn đạt, nắm bắt mạch văn xuyên suốt từ câu trước đến câu sau, từ ý này chuyển sang ý khác, đặc biệt phát hiện ra mạch ngầm (mạch hàm ẩn), từ đó mới phát hiện ra chất văn Bởi thế, cần đọc kĩ thì mới phát hiện ra những đặc điểm khác thường, thú vị
Ở cấp độ ban đầu này, đọc hiểu ngôn từ được xem như là “nhận ra nghĩa của chữ” Tuy nhiên, với mức thấp nhất này cũng có những đòi hỏi nhất định, đó
là phải hiểu đúng Nếu không hiểu hoặc hiểu sai sẽ dẫn đến cảm thụ sai lệch nội dung của văn bản Trong văn bản văn học, ẩn đằng sau ngôn từ là tư tưởng, tình cảm, thái độ của tác giả trước những vấn đề của cuộc sống Vì vậy, ngay ở bước đầu tiên, song song với việc nhận ra nghĩa của từ là sự rung động của người đọc qua các phương diện ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp
Trong quá trình đọc văn bản, không phải tất cả các từ, ngữ đều có hàm ý Chỉ những từ, ngữ nào chứa đựng lượng thông tin lớn, là cánh cửa mời gọi người đọc mở ra để bước vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm (được gọi là “chỗ vấp thẩm mĩ” hay "nhãn tự”) thì mới có hàm ý Những từ ngữ này khiến người đọc phải dừng lại, quan sát chúng, tự đặt ra những câu hỏi và tự lí giải Sự khác biệt giữa từ ngữ thông thường và từ ngữ được coi là “chỗ vấp thẩm mĩ” là gì? Cần hiểu rằng ngôn ngữ mang bản chất kí hiệu Bất kì một từ, ngữ nào cũng gồm hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Nhưng ở tín hiệu thẩm mĩ vi mô thì cả hai mặt của từ ngữ thông thường trở thành cái biểu đạt mới cho cái được biểu đạt mang tính thẩm mĩ cao
Ví dụ:
Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay (Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử)
Từ “mây” trong ngôn ngữ thông thường thì cái biểu đạt là vỏ ngôn từ (“mây” - nói và viết) và cái được biểu đạt là đám hơi nước Nhưng trong câu thơ trên, đặc điểm của đám hơi nước là nhẹ, trôi nổi, vô định đã trở thành cái biểu đạt để nói về sự phiêu dạt, lang thang không định hướng của kiếp người Cố Giáo sư Đỗ Hữu Châu gọi đó là tính liên hội của ngôn ngữ Trong tứ thơ trên không chỉ “mây” là chỗ vấp thẩm mĩ Những từ “gió”, “lối gió”, “đường mây”,
Trang 8“dòng nước buồn thiu”, “hoa bắp lay” đều là những tín hiệu thẩm mĩ vì theo quy luật của tự nhiên thì “gió thổi mây bay”, mây và gió là bạn đồng hành Nhưng ở trong cảm nhận của nhà thơ thì gió mây chia lìa đôi ngả, ám ảnh cảm giác cô đơn cô độc trong dòng đời Cảnh thiên nhiên trong câu thơ thấm đẫm tâm trạng con người Dòng nước “buồn thiu” - buồn đến ngây lặng, buồn đến mức quên chảy, tĩnh lặng và đông đặc lại Hoa bắp hai bên bờ vốn đã nhàn nhạt về màu sắc, đến chuyển động cũng là khẽ lay động như có như không Bình thường những hình ảnh này luôn sinh động, gắn bó quấn quýt nhưng trong câu thơ mặc
dù hình ảnh nào cũng vẫn rất thực, rất đẹp nhưng lại rời rạc, gợi tả sự cô đơn và nỗi buồn chan chứa trong tâm hồn thi sĩ
"Chỗ vấp thẩm mĩ" không chỉ nằm ở từ ngữ mà còn nằm ở cấu trúc của câu thơ, bài thơ Vì thế, khi đọc phải tinh ý để phát hiện ra những điều khác thường của câu thơ, dòng thơ
Ví dụ:
Rồi hóng mát thuở ngày trường Hoè lục đùn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương
Lao xao chợ cá làng ngư phủ, Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương.
(Cảnh ngày hè - Nguyễn Trãi)
Bài thơ là một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Trãi về hình thức thơ Câu
thất ngôn xen lục ngôn, cách ngắt nhịp 3/4 rất tài tình Để tăng sức biểu hiện của
các động từ (lao xao, dắng dỏi), tác giả đem chúng đặt ở đầu câu Cách sử dụng
từ láy (đùn đùn), các động từ mạnh (giương, phun) làm thành phần bổ ngữ… Tất
cả đã huy động, tái hiện trong tâm trí người đọc về khung cảnh ngày hè: tươi đẹp, sinh động và tràn đầy sức sống - dù là ở vào thời điểm cuối
Trong văn xuôi cũng có những cách diễn đạt đặc biệt: “Chiều, chiều rồi Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của cô; Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”
(Hai đứa trẻ - Thạch Lam)
Câu mở đầu chỉ là những từ, ngữ “Chiều, chiều rồi” Thử diễn đạt bằng một câu khác: “Chiều về rồi” Câu thay thế so với câu văn của Thạch Lam tuy không thay đổi về thông tin, sự kiện nhưng sắc thái biểu cảm mờ nhạt đi rất nhiều “Chiều, chiều rồi” sự lặp lại của “chiều” như một tiếng reo thầm khi niềm mong đợi đã đến Chiều rồi là bóng tối đã bắt đầu lan tỏa, thời khắc chuyến tàu đêm đi qua phố huyện đang đến gần “Chiều, chiều rồi” sự lặp lại của “chiều” như một vòng tròn chán ngắt, buồn tẻ của thời gian ở phố huyện nghèo
Như vậy, phát hiện ra "chỗ vấp thẩm mĩ" là phát hiện ra tính nghệ thuật của ngôn ngữ văn chương so với ngôn ngữ đời sống Khi nào ngôn từ được sử
Trang 9dụng “không bình thường” về mặt ngữ âm, từ vựng, cú pháp thì đấy là chỗ có vấn đề, cần chú ý và giải mã Một câu thơ toàn vần bằng, một tứ thơ dồi dào vần trắc, sự lặp lại của từ ngữ, các biện pháp tu từ, sự ngắt nhịp, cấu trúc câu đảo vị trí của chủ ngữ, vị ngữ hoặc thiếu các thành phần câu đấy chính là biển chỉ đường, là những con đường dẫn dắt người đọc đến với các tầng ý nghĩa của văn bản văn học
Tín hiệu thẩm mĩ cũng có một tính chất là tính có lí do, có thể lí giải được “Tính có lí do, có thể lí giải được” là điểm khác với tín hiệu ngôn ngữ thông thường Bản chất của tín hiệu ngôn ngữ thông thường là có tính võ đoán: tức là giữa hình thức và khái niệm không có mối tương quan bên trong nào, không thể giải thích được lí do của mối quan hệ giữa hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Nhưng ở tín hiệu thẩm mĩ, mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt có thể cắt nghĩa được, giải thích được, bởi vì “khi lựa chọn một cái biểu đạt nào đó để biểu đạt cho một ý nghĩa thẩm mĩ nào đó, người nghệ sĩ
đã căn cứ vào một mối quan hệ nhất định (ẩn dụ hay hoán dụ)” [2; tr 166]
Ví dụ: Đây là một số câu thơ trong bài Sóng của Xuân Quỳnh:
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức.
Ở khổ thơ này, có hai tín hiệu thẩm mĩ là sóng và bờ “Sóng” là cái biểu
đạt chứa đựng cái được biểu đạt là sự chuyển động theo nhịp lặp đi lặp lại của mặt nước Điểm này tương đồng với tình yêu thủy chung, với nỗi nhớ người yêu thường trực trong tâm hồn người con gái Tình yêu và nỗi nhớ có lúc được biểu hiện bằng hành động, có lúc được giấu kín trong sâu thẳm tâm hồn Tương tự như vậy, “bờ” là cái biểu đạt cho điểm gặp gỡ giữa đất và nước, cho sự bao quanh mặt nước, đặc điểm của bờ là vững chãi, bao bọc, che chở Theo cơ chế
ẩn dụ, “bờ” chỉ người con trai và “sóng” chỉ người con gái
2.3.2.2 Bước 2: Đọc - hiểu hình tượng nghệ thuật
Hình tượng văn học là thế giới đời sống do ngôn từ gợi lên trong tâm trí người đọc Từng câu, từng chữ của văn bản với các hình ảnh, chi tiết về hành vi, lời nói, chân dung của nhân vật, màu sắc của ngoại cảnh cùng với cách bố cục, kết cấu của văn bản mà tác giả lựa chọn… dần dần gợi ra thế giới của những sự vật - hiện tượng có đặc điểm riêng, thế giới của những con người có cuộc sống riêng, đó chính là hình tượng nghệ thuật Gọi thế giới đó là hình tượng vì tuy cũng sống động, hấp dẫn như cuộc sống thật nhưng nó chỉ tồn tại đối với trí tưởng tượng và trong tưởng tượng
Xét theo quan điểm của ngôn ngữ học, hình tượng nghệ thuật cũng là một
tín hiệu thẩm mĩ của văn bản văn học Trong Ngôn ngữ với văn chương, Giáo sư
Bùi Minh Toán gọi hình tượng là tín hiệu thẩm mĩ vĩ mô “Tín hiệu thẩm mĩ được hình thành từ cả một tập hợp các từ ngữ trong một văn bản nghệ thuật Ở tầm vĩ mô, tín hiệu thẩm mĩ bao quát cả một bộ phận lớn hay cả một tác phẩm văn chương” [2; tr 142] Hình tượng nghệ thuật là một hệ thống các tín hiệu
Trang 10thẩm mĩ vi mô liên kết, tích hợp tạo ra, bao trùm cả tác phẩm hay một bộ phận trong tác phẩm chứ không tồn tại ở một câu hay một đoạn Đọc - hiểu hình tượng nghệ thuật của văn bản văn học đòi hỏi người đọc phải biết tưởng tượng, biết “cụ thể hóa” các tình cảnh để hiểu những điều mà ngôn từ chỉ có thể biểu đạt khái quát
Ví dụ: Bức tranh mùa hè trong “Cảnh ngày hè" của tác giả Nguyễn Trãi
[7; tr 117] được tái hiện thật đẹp và tràn đầy sức sống với những hình ảnh cụ thể, chân thật, sinh động qua toàn bộ bài thơ: hòe lục, thạch lựu đỏ, hồng liên Màu xanh của hòe, màu đỏ của lựu, màu hồng của hoa sen - những màu sắc rực
rỡ, đan cài vào nhau Cùng với đó là các động từ: đùn đùn, phun, giương… là
các động từ mạnh biểu đạt một sức sống bền bỉ, mãnh liệt như có gì đó đang thôi thúc, sức sống tràn đầy từ bên trong, không kìm lại được, phải trương lên, phải đùn, phun ra hết lớp này đến lớp khác Bức tranh của ngày hè náo nhiệt cũng gắn liền với những hình ảnh rất đời thường, dân dã nhưng lại rất sôi động: tiếng
ve kêu, tiếng xôn xao của chợ cá, các từ láy tượng thanh như "lao xao", "dắng dỏi" cùng với phép tu từ đảo ngữ đã góp phần tạo nên một khung cảnh ngày hè
nhộn nhịp với cuộc sống ấm no, đủ đầy Như vậy, có thể thấy đây là một bức tranh ngày hè tràn ngập âm thanh và màu sắc, khiến cho người đọc hình dung lên một không gian đầy sức sống Trong không gian ấy, con người hiện lên thật hạnh phúc, vui tươi; mong ước trỗi dậy thật mãnh liệt, mạnh mẽ:
Dẽ có ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương.
Đọc - hiểu hình tượng nghệ thuật còn đòi hỏi phát hiện ra những mâu thuẫn tiềm ẩn trong đó và hiểu được sự lôgic bên trong của chúng vì hình tượng trong văn bản văn học thường hàm chứa nhiều ý nghĩa Cũng theo Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng: “Tầng cấu trúc hình tượng nghệ thuật thường được tổ chức thành mối quan hệ vô cùng phức tạp Chúng thường không mạch lạc tuyến tính, không thể đối chiếu với logic hiện thực đời sống và không hợp với kiểu suy nghĩ đời thường mà tự nó là sự tổng hợp, khái quát và huyền ảo hóa hiện thực bằng hư cấu qua tư duy hình tượng” [3; tr 57]
Ví dụ: Trong đời sống, non - núi thường mang đặc điểm bền vững, cao
lớn, hùng vĩ, cứng cỏi; nước mang đặc điểm mềm mại, nhẹ nhàng Đi vào văn học, non thường biểu tượng cho người đàn ông, nước biểu tượng cho người phụ
nữ như trong câu ca dao: Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra… Thế nhưng, trong bài thơ Thề non nước của Tản Đà, ở tầng
hàm ý ta thấy hình tượng “non” biểu tượng cho người con gái và hình tượng
“nước” biểu tượng cho người con trai “Non” là người ở lại, là người chờ đợi, ngóng trông mòn mỏi “Non” mang đặc điểm yếu mềm “suối khô dòng lệ”, dáng vóc của người con gái “xương mai”, “tóc mây” và vẻ đẹp đầy nữ tính “phơi vẻ ngọc nét vàng” “Nước” là người con trai với chí hồ hải tang bồng “nước đi đi mãi”, với ngôn ngữ quyết đoán ngang tàng:
Non cao đã biết hay chưa?
Nước đi ra biển lại mưa về nguồn
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi!