2.1.1.Yêu cầu cơ bản của việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá môn GDCD theo hướng phát triển năng lực học sinh Đánh giá kết quả học tập theo định hướng tiếp cận năng lực cần c
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môn GDCD là môn học góp phần giáo dục và hoàn thiện nhân cách của học sinh Đó là môn học dạy làm người, hoàn thiện cả về tri thức và đạo đức ở bậc học phổ thông Song thực tế chất lượng và hiệu quả dạy học môn GDCD còn thấp, quá trình dạy học môn GDCD còn mang nặng tính hình thức và kiến thức hàn lâm
Định hướng đổi mới của chương trình môn GDCD là chú trọng hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh Đồng thời không chỉ coi trọng khối lượng kiến thức mà còn phải chú ý đến khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ… của học sinh vào giải quyết các tình huống trong cuộc sống hàng ngày
Phương pháp kiểm tra, đánh giá môn GDCD theo hướng tiếp cận nội dung, chủ yếu chỉ tập trung vào kiến thức hàn lâm, phần lớn câu hỏi chỉ mang tính chất tái hiện kiến thức yêu cầu học sinh học thuộc lòng nội dung bài học
Do đó phần lớn học sinh học thuộc bài mà không hiểu bài và không có khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống
Phương pháp kiểm tra, đánh giá môn GDCD theo hướng tiếp cận năng lực học sinh là kiểm tra, đánh giá theo chuẩn, sản phẩm đầu ra Không chỉ kiểm tra kiến thức mà quan trọng là phải kiểm tra khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ để giải quyết các vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra Trong quá trình giảng dạy môn GDCD, với gần 20 năm kinh nghiệm dạy
học trong nhà trường THPT tôi đã đúc rút được “Một số kinh nghiệm trong việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá học sinh lớp 12 theo hướng tiếp cận năng lực học sinh môn Giáo dục công dân ở trường THPT.”
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
SKKN đề xuất một số kinh nghiệm trong việc đổi mới phương pháp
kiểm tra, đánh giá môn GDCD đối với học sinh lớp 12 nhằm hình thành các
phẩm chất và năng lực của học sinh, giúp các em có khả năng vận dụng tri thức môn GDCD vào đời sống thực tế
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Tôi đã nghiên cứu, thực nghiệm SKKN này với học sinh lớp 12 Trường THPT Quảng Xương IV từ năm học 2017 – 2018 đến hết học kì I năm học
2020 - 2021, vì lí do chuyển công tác về trường mới - Trường THPT Quảng Xương I – Vì vậy, ngay từ đầu học kì II năm học 2020 – 2021 tôi đã áp dụng, thực nghiệm ở đơn vị công tác mới và bước đầu đã đạt được kết quả rất khả quan
Một số kinh nghiệm trong việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá học sinh lớp 12 theo hướng tiếp cận năng lực học sinh môn Giáo dục công dân
ở trường THPT
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện SKKN tôi đã sử dụng các phương pháp: Thu thập thông tin; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp điều tra khảo sát thực tế trải nghiệm, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn GDCD theo hướng tiếp cận năng lực học sinh để rút kinh nghiệm
Trang 21.5 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SKKN Tập trung vào “Một số kinh nghiệm trong việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá học sinh lớp 12 theo hướng tiếp cận năng lực học sinh môn Giáo dục công dân ở trường THPT”.
SKKN góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn GDCD ở Trường THPT
SKKN đề ra một số kinh nghiệm được áp dụng trong tổ, nhóm bộ môn GDCD ở Trường THPT Quảng Xương IV; Trường THPT Quảng Xương I và đã đạt được một số kết quả tích cực
Người viết SKKN đã áp dụng ma trận đề kiểm tra và bản đặc tả đề kiểm tra vào trong quá trình ra đề kiểm tra, ôn tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học đồng thời phát huy tính sáng tạo, chủ động và tích cực của học sinh
2 NỘI DUNG 2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN.
2.1.1.Yêu cầu cơ bản của việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá môn GDCD theo hướng phát triển năng lực học sinh
Đánh giá kết quả học tập theo định hướng tiếp cận năng lực cần chú trọng vào khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau Hay nói cách khác, đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kĩ năng
và thái độ trong những bối cảnh có ý nghĩa Đánh giá kết quả học tập của học sinh đối với các môn học và hoạt động giáo dục theo quá trình hay ở mỗi giai đoạn học tập chính là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học về kiến thức, kĩ năng, thái độ và năng lực, đồng thời có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của học sinh
Trong quá trình học tập để hình thành và phát triển được các năng lực, người học cần chuyển hóa những kiến thức, kĩ năng, thái độ có được vào giải quyết những tình huống mới và xảy ra trong môi trường mới Như vậy, có thể nói kiến thức là cơ sở để hình thành năng lực, là nguồn lực giúp cho người học tìm được các giải pháp tối ưu để thực hiện nhiệm vụ hoặc có cách ứng xử phù hợp trong bối cảnh phức tạp Khả năng đáp ứng phù hợp với bối của thực tiễn cuộc sống là đặc trưng quan trọng nhất của năng lực, khả năng đó có được dựa trên sự đồng hóa và sử dụng có cân nhắc những kiến thức, kĩ năng cần thiết trong từng hoàn cảnh cụ thể
Những kiến thức là cơ sở để hình thành và rèn luyện năng lực phải được tạo nên do chính người học chủ động nghiên cứu, tìm hiểu hoặc được hướng dẫn nghiên cứu tìm hiểu và từ đó kiến tạo nên Việc hình thành và rèn luyện năng lực được diễn ra theo hình xoáy trôn ốc, trong đó các năng lực có trước được sử dụng để kiến tạo kiến thức mới; và đến lượt mình, kiến thức mới lại đặt cơ sở để hình thành những năng lực mới
Kiến thức, kĩ năng là cơ sở cần thiết để hình thành năng lực trong một lĩnh vực hoạt động nào đó Tuy nhiên, nếu chỉ có kiến thức, kĩ năng trong một lĩnh vực nào đó thì chưa chắc đã được coi là có năng lực, mà còn cần đến việc sử dụng hiệu quả các nguồn kiến thức, kĩ năng cùng với thái độ, giá trị, trách
Trang 3nhiệm bản thân để thực hiện thành công các nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn khi điều kiện và bối cảnh thay đổi
Để đảm bảo tính khách quan, toàn diện, khoa học và trung thực, trong kiểm tra đánh giá thì kiểm tra, đánh giá cần phải đưa lại những thông tin chính xác, phản ánh đúng kết quả học tập của học sinh Để trên cơ sở đó, giáo viên có sự điều chỉnh phù hợp về phương pháp dạy học; điều chỉnh nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh; bài kiểm tra được coi là thước đo để đánh giá đúng năng lực học tập của học sinh dựa theo các yêu cầu đã đặt ra Hơn nữa, để có sự phân hóa cho các đối tượng học sinh khác nhau nhằm khuyến khích học sinh phấn đấu vươn lên, đề kiểm tra cần phải phù hợp với số đông học sinh (đại trà) và dành một số nội dung cho học sinh khá và giỏi (khoảng 40%)
Đổi mới hình thức đề kiểm tra, đánh giá theo hướng kết hợp giữa hình thức trắc nghiệm khách quan và tự luận (các câu hỏi, bài tập kiểm tra cần gắn với thực tế cuộc sống của học sinh) Ngoài ra còn đánh giá học sinh qua hình thức quan sát động; nghiên cứu sản phẩm hoạt động của học sinh…
Môn GDCD là một môn học có tính giáo dục và tính thực tiễn cao, đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng bài học và thực hành các chuẩn mực bài học vào trong cuộc sống, có sự thống nhất giữa nhận thức và hành vi Để củng cố và tăng cường ý thức rèn luyện của học sinh ở mọi nơi, mọi lúc theo yêu cầu trên, trong đổi mới kiểm tra môn GDCD cần có sự tham gia, phối kết hợp các lực lượng trong việc kiểm tra, đánh giá như: giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên bộ môn
khác, cán bộ đoàn, gia đình và cộng đồng
2.1.2 Nội dung đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá môn GDCD
Kiểm tra, đánh giá kết quả học sinh học môn GDCD giáo viên phải căn cứ
vào nội dung chương trình của môn học, cấp học để đánh giá học sinh trên cả ba mặt: kiến thức, kĩ năng, thái độ và khă năng học sinh vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống đặt ra Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng tiếp cận năng lực tập trung vào các định hướng sau:
Chuyển từ chủ yếu đánh giá kết quả học tập cuối môn học, khóa học (đánh giá tổng kết) nhằm mục đích xếp hạng, phân loại sang sử dụng các loại hình thức đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ sau từng chủ đề, từng chương nhằm mục đích phản hồi điều chỉnh quá trình dạy học (đánh giá quá trình)
Chuyển từ chủ yếu đánh giá kiến thức, kĩ năng sang đánh giá năng lực của người học Tức là chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức,…sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo Chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như độc lập với quá trình dạy học sang việc tích hợp đánh giá vào quá trình dạy học, xem đánh giá như là một phương pháp dạy học
Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá: sử dụng các phần mềm thẩm định các đặc tính đo lường của công cụ (độ tin cậy,
độ khó, độ phân biệt, độ giá trị) và sử dụng các mô hình thống kê vào xử lý phân tích, lý giải kết quả đánh giá
2.2 THỰC TRẠNG
Trang 42.2.1 Thực trạng phương pháp kiểm tra, đánh giá môn GDCD
Thực trạng trong giáo dục hiện nay là có một bộ phận không nhỏ giáo viên
ra đề kiểm tra chủ yếu dựa vào những đề mẫu Việc ra đề kiểm tra nhiều khi còn chưa được chú trọng, ít khi bảo đảm quy trình soạn đề kiểm tra Hình thức đánh giá kết quả học tập học sinh như hiện nay còn đơn điệu, nghèo nàn, thiếu tính thực tiễn và sáng tạo Nội dung các câu hỏi thường chỉ kiểm tra kiến thức ở mức độ học thuộc chứ chưa chú ý đến khả năng vận dụng liên hệ thực tiễn Kiểm tra, đánh giá giáo viên mới chỉ quan tâm đến mục tiêu cuối cùng của việc dạy học quá tập trung vào kiến thức hàn lâm hay chỉ chú trọng vào điểm
số Đánh giá đạo đức học sinh chú trọng đến việc chấp hành nội quy nhà trường, tham gia phong trào thi đua, chứ không quan tâm đến việc đánh giá chất lượng đề kiểm tra để rút kinh nghiệm…đồng thời xem xét phát hiện những thiếu sót của học sinh, để có hướng điều chỉnh hoạt động dạy và học sao cho phù hợp
Trong kết quả học tập của học sinh, ít tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá và học sinh được đánh giá lẫn nhau
Phần lớn lời phê, sửa lỗi bài làm của học sinh còn chung chung, ít khai thác lỗi để rèn luyện phương pháp tư duy Giáo viên chữa bài kiểm tra trên lớp lại thường đưa ra lời giải đúng theo cách tư duy“áp đặt”mà không giúp học sinh
tự kiểm soát, phát hiện ra những khuyết điểm để có hướng khắc phục,sửa chữa
Bên cạnh đó bệnh thành tích cũng như tình trạng thiếu khách quan trong kiểm tra, đánh giá vẫn còn khá phổ biến Kiểm tra, đánh giá chỉ mang tính áp đặt, không linh hoạt, giảm khả năng sáng tạo của học sinh
2.2.2 Nguyên nhân
Thứ nhất: Năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên GDCD vẫn còn
nhiều bất cập Kết quả kiểm tra, đánh giá môn GDCD phải chịu nhiều áp lực từ phía nhà trường, gia đình và xã hội Bên cạnh đó một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa khơi gợi được khả năng tư duy của học sinh Vì vậy dẫn tới cách dạy và học đối phó như hiện nay
Thứ hai: Học sinh coi bộ môn này là môn phụ, không hứng thú học.
Điều đó thể hiện trong suy nghĩ, tình cảm và hành động của các em Tâm lí không thích học những giờ GDCD khô khan, nhàm chán dẫn tới việc học tập thụ động, thiếu tự tin, thiếu chủ động sáng tạo Khi làm bài kiểm tra học sinh tìm mọi cách đối phó cho qua Tư tưởng “thi gì học ấy” đã len lỏi vào trong nhận thức của các em và gia đình, vì vậy các em chỉ tập trung đầu tư vào các môn thi đại học Việc tham gia vào quá trình tự kiểm tra, đánh giá; đánh giá lẫn nhau đối với học sinh vẫn còn mới lạ Các em chưa có suy nghĩ một cách đúng đắn về bộ môn GDCD, còn suy nghĩ rất phiến diện
Thứ ba: Nội dung môn học còn nặng, phân tán, thiếu tập trung một số
nội dung mang tính “hàn lâm” Lượng kiến thức trong từng bài còn dài, nhiều đơn vị kiến thức khó, trừu tượng xa rời thực tế Nếu giáo viên dạy bộ môn này không có sự đầu tư giờ học sẽ rất nhàm chán, học sinh sẽ không chú ý lắng nghe, thực tế cho thấy học sinh không hứng thú học bộ môn này
Trang 52.3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN GDCD LỚP 12 THEO HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC HỌC SINH.
Trước yêu cầu đổi mới và thực trạng trong việc kiểm tra, đánh giá hiện nay, với gần 20 năm kinh nghiệm là giáo viên trực tiếp giảng dạy tại các nhà trường THPT Tôi đã mạnh dạn đề xuất một số kinh nghiệm trong việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá học sinh lớp 12 theo hướng tiếp cận năng lực học sinh môn Giáo dục công dân như sau:
2.3.1 Yêu cầu nhận thức của giáo viên
Giáo viên cần có nhận thức đúng đắn và thay đổi chính bản thân mình đối với việc dạy học môn GDCD Yếu tố quyết định nâng cao chất lượng, hiệu quả môn GDCD phải là yếu tố giáo viên Vì nội dung chương trình có thay đổi, trang thiết bị có hiện đại, học sinh có năng động nhưng bản thân giáo viên không đổi mới thì chất lượng dạy học môn GDCD vẫn là kết quả đối phó, không được cải thiện theo hướng tích cực Chính vì đội ngũ giáo viên là nhân
tố quan trọng hàng đầu quyết định đến chất lượng, hiệu quả giáo dục
Nên mỗi người giáo viên cần phải tự bồi dưỡng, tham gia tập huấn đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh; khắc phục dần tình trạng dạy học theo lối truyền thụ một chiều, học thuộc lòng máy móc như hiện nay
Ngoài ra người giáo dạy môn GDCD còn phải có phẩm chất tốt, có trình
độ năng lực chuyên môn và năng lực sư phạm vững vàng, có hiểu biết sâu rộng mới có thể dạy môn GDCD đem lại kết quả cao Giáo viên dạy môn GDCD phải tạo được uy tín trước học sinh giúp họ có động cơ, thái độ học tập đúng đắn và say mê yêu thích bộ môn; giảm thiểu những tệ nạn xã hội; xây dựng môi trường văn hóa học đường lành mạnh
2.3.2 Hiểu tâm lý lứa tuổi học sinh
Hiểu tâm lý lứa tuổi học sinh là một điều cần thiết của giáo viên trong quá trình dạy học môn GDCD Bởi đối tượng giáo viên cần tác động chính là học sinh với đặc điểm tâm lí nổi trội như: Xu hướng nghề nghiệp mở rộng; nhu cầu được tôn trọng, bình đẳng, chứng tỏ bản thân; phát triển tư duy lý luận, óc phê phán độc lập; có nhu cầu kết bạn tâm tình; xuất hiện nhu cầu yêu đương hồn nhiên, thầm kín, dễ vỡ… nếu cảm xúc, tình cảm lứa tuổi này phát triển mạnh sẽ giúp học sinh say mê với môn học, là cơ sở để bồi dưỡng niềm tin, ý chí quyết tâm của người học… ngược lại, người học có tình cảm tiêu cực thì dễ chán nản, thiếu hứng thú, không kích thích được tính tích cực, chủ động, sáng tạo Hiểu rõ đời sống tình cảm của học sinh chính là cơ sở để người dạy điều chỉnh cảm xúc, bồi dưỡng, phát triển tính tích cực của các em trong quá trình học
2.3.3 Tuyên truyền nhằm thay đổi nhận thức của học sinh
Thực tế hiện nay, học sinh chỉ chú trọng học những môn thi đại học, chọn những ngành nghề phù hợp với chính mình Song các em lại coi nhẹ, không cần học môn GDCD Bởi cho nó là môn phụ Còn các môn học khác, các em chỉ học đối phó với mục đích sao cho có đủ điều kiện để được lên lớp
Trang 6Song rất nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học tuy đã có trình độ chuyên môn giỏi nhưng năng lực giao tiếp, năng lực làm việc hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề…chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế khách quan đặt ra Vì vậy khi được các nhà tuyển dụng phỏng vấn vẫn trượt, vẫn bị thất nghiệp Có rất nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân đó là khi còn ngồi trên ghế nhà trường các em đã học lệch, còn xem nhẹ các môn không thi đại học đặc biệt đã xem nhẹ và không học môn GDCD, chưa thấy hết được vai trò của môn GDCD Môn học này đã trang bị cho các em một số năng lực chuyên biệt
mà các môn học khác không có được, các lớp dạy kĩ năng sống cũng không có được Đó là năng lực tự nhận thức, tự điều chỉnh hành vi phù hợp với pháp luật
và chuẩn mực đạo đức xã hội…
Để tránh được tình trạng này ngay từ bây giờ khi còn ngồi trên ghế nhà trường các em cần thay đổi nhận thức về tất cả các môn học, không phân biệt môn chính hay môn phụ, có thi đại học hay không, các em cần phải học đều tất
cả các môn học đặc biệt cần học tốt môn GDCD
2.3.4 Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá môn GDCD theo hướng tiếp cận năng lực học sinh
Phương pháp kiểm tra, đánh giá theo hướng tiếp cận nội dung và kiểm tra, đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực học sinh có những điểm khác nhau căn bản
STT Đánh giá theo hướng tiếp cận nội dung Đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực
1
Các bài kiểm tra trên giấy được
thực hiện vào cuối một chủ đề,
một chương, một học kì,
Nhiều bài kiểm tra đa dạng (giấy, thực hành, sản phẩm dự án, cá nhân, nhóm…) trong suốt quá trình học tập
2 Nhấn mạnh sự cạnh tranh Nhấn mạnh sự hợp tác
3 Quan tâm đến mục tiêu cuối cùngcủa việc dạy học
Quan tâm đến đến phương pháp học tập, phương pháp rèn luyện của học sinh
4 Chú trọng vào điểm số
Chú trọng vào quá trình tạo ra sản phẩm, chú ý đến ý tưởng sáng tạo, đến các chi tiết của sản phẩm để nhận xét
5 Tập trung vào kiến thức hàn lâm Tập trung vào năng lực thực tế vàsáng tạo
6
Đánh giá được thực hiện bởi các
cấp quản lí và do giáo viên là chủ
yếu, còn tự đánh giá của học sinh
không hoặc ít được công nhận
Giáo viên và học sinh chủ động trong đánh giá, khuyến khích tự đánh giá và đánh giá chéo của học sinh
7 Đánh giá đạo đức học sinh chú
trọng đến việc chấp hành nội quy
nhà trường, tham gia phong trào
Đánh giá phẩm chất của học sinh toàn diện, chú trọng đến năng lực cá nhân, khuyến khích học sinh thể hiện cá
Trang 7STT Đánh giá theo hướng tiếp cận nội dung Đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực
thi đua… tính và năng lực bản thân
Việc đổi mới công tác đánh giá kết quả học tập môn học của giáo viên được thể hiện qua một số nội dung cơ bản sau:
Xác định được mục đích chủ yếu của đánh giá kết quả học tập là so sánh năng lực của học sinh với mức độ yêu cầu của chuẩn kiến thức và kĩ năng (năng lực) môn học ở từng chủ đề, từng lớp học, để từ đó cải thiện kịp thời hoạt động dạy và hoạt động học
Tiến hành đánh giá kết quả học tập môn học theo ba công đoạn cơ bản là thu thập thông tin, phân tích và xử lý thông tin, xác nhận kết quả học tập và ra quyết định điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học Yếu tố đổi mới ở mỗi công đoạn này là:
Thu thập thông tin: thông tin được thu thập từ nhiều nguồn, nhiều hình thức
và bằng nhiều phương pháp khác nhau (quan sát trên lớp, làm bài kiểm tra, sản phẩm học tập, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau, ); lựa chọn được những nội dung đánh giá cơ bản và trọng tâm, trong đó chú ý nhiều hơn đến nội dung kĩ năng; xác định đúng mức độ yêu cầu mỗi nội dung (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, ) căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng; sử dụng đa dạng các loại công cụ khác nhau (đề kiểm tra viết, câu hỏi trên lớp, phiếu học tập, bài tập về nhà, ); thiết kế các công cụ đánh giá đúng kĩ thuật (câu hỏi và bài tập phải đo lường được mức độ của chuẩn, đáp ứng các yêu cầu dạng trắc nghiệm khách quan hay
tự luận, cấu trúc đề kiểm tra khoa học và phù hợp, ); tổ chức thu thập được các thông tin chính xác, trung thực Cần bồi dưỡng cho học sinh những kĩ thuật thông tin phản hồi nhằm tạo điều kiện cho học sinh tham gia đánh giá và cải tiến quá trình dạy học
Phân tích và xử lý thông tin: các thông tin định tính về thái độ và năng lực
học tập thu được qua quan sát, trả lời miệng, trình diễn, được phân tích theo nhiều mức độ với tiêu chí rõ ràng và được lưu trữ thông qua sổ theo dõi hàng ngày; các thông tin định lượng qua bài kiểm tra được chấm điểm theo đáp án/hướng dẫn chấm – hướng dẫn đảm bảo đúng, chính xác và đáp ứng các yêu cầu kĩ thuật; số lần kiểm tra, thống kê điểm trung bình, xếp loại học lực,… theo đúng quy chế đánh giá, xếp loại ban hành
Xác nhận kết quả học tập: xác nhận học sinh đạt hay không mục tiêu từng
chủ đề, cuối lớp học, cuối cấp học dựa vào các kết quả định lượng và định tính với chứng cứ cụ thể, rõ ràng; phân tích, giải thích sự tiến bộ học tập vừa căn cứ vào kết quả đánh giá quá trình và kết quả đánh giá tổng kết, vừa căn cứ vào thái
độ học tập và hoàn cảnh gia đình cụ thể Ra quyết định cải thiện kịp thời hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh trên lớp học; ra các quyết định quan trọng với học sinh (lên lớp, thi lại, ở lại lớp, khen thưởng,…); thông báo kết quả học tập của học sinh cho các bên có liên quan (Học sinh, cha mẹ học sinh, hội đồng giáo dục nhà trường, quản lý cấp trên,…) Góp ý và kiến nghị với cấp trên về chất lượng chương trình, sách giáo khoa, cách tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục,
Trang 8Trong đánh giá thành tích học tập của học sinh không chỉ đánh giá kết quả
mà chú ý cả quá trình học tập Đánh giá thành tích học tập theo quan điểm phát triển năng lực, không giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp
Cần sử dụng phối hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau Kết hợp giữa kiểm tra miệng, kiểm tra viết, bài tập thực hành; kết hợp giữa trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan Kiểm tự luận thường đòi hỏi cao về tư duy, óc sáng tạo và tính lôgic của vấn đề, đặc biệt là sự thể hiện những ý kiến cá nhân trong cách trình bày, tuy nhiên không bao quát được hết kiến thức chương trình giáo dục phổ thôngc và kết quả kiểm tra nhiều khi còn phụ thuộc vào năng lực của người chấm bài Kiểm tra trắc nghiệm khách quan với ưu là thích hợp với quy mô lớn, học sinh không phải trình bày cách làm, số lượng câu hỏi lớn nên có thể bao quát được kiến thức toàn diện của học sinh, việc chấm điểm trở nên rất đơn giản dựa trên mẫu đã có sẵn, có thể sử dụng máy để chấm cho kết quả rất nhanh, đảm bảo được tính công bằng, độ tin cậy cao tuy nhiên nhược điểm của hình thức này là không thể hiện được tính sáng tạo, lôgic của khoa học và khả năng biểu cảm trước các vấn đề chính trị, xã hội, con người của đất nước, nhiều khi sự lựa chọn còn mang tính may mắn Do đó việc kết hợp hai hình thức kiểm tra này sẽ phát huy được những ưu điểm và hạn chế bớt những nhược điểm của mỗi hình thức kiểm tra
Giáo viên bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng để ra đề kiểm tra, không sử
dụng những nội dung xa lạ hoặc xa rời chương trình vào việc kiểm tra, đánh giá
và được tiến hành theo các bước sau:
Thứ nhất:Xác định mục tiêu kiểm tra
Đề kiểm tra, đánh giá yêu cầu học sinh cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái
độ Đặc biệt khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ của các em vào giải quyết các tình huống thực tế
Thứ hai: Xác định hình thức kiểm tra.
Đề kiểm tra thường kết hợp giữa trắc nghiệm khách quan và tự luận
Ưu điểm: Kiểm tra kiến thức học sinh trên diện rộng mà vẫn rèn được kĩ năng viết, kĩ năng trình bày vấn đề của các em
Thứ ba: Thiết lập ma trận đề kiểm tra; Bản đặc tả kĩ thuật đề kiểm tra.
Mạch dọc xác định kiến thức, kĩ năng, thái độ cần đạt được theo từng chủ đề ở học sinh
Mạch ngang tăng câu hỏi phần vận dụng nhằm rèn khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ của các em vào cuộc sống (Nhận biết 30%; thông hiểu 40%; vận dụng 30%)
Bản đặc tả kĩ thuật đề kiểm tra: Đây là một bảng có cấu trúc hai chiều, với một chiều là các chủ đề kiến thức và một chiều là các cấp độ năng lực mà người học sẽ được đánh giá thông qua kiểm tra Với mỗi chủ đề kiến thức, tại một cấp độ năng lực, căn cứ mục tiêu dạy học, người dạy đưa ra một tỷ trọng cho phù hợp
Thứ tư: Soạn câu hỏi kiểm tra
* Soạn câu hỏi phần trắc nghiệm khách quan:
Trang 9Giáo viên rút câu hỏi trắc nghiệm từ ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm đã tích luỹ trong quá trình giảng dạy.Thẩm định lại từng câu trắc nghiệm khách quan theo đúng yêu cầu về nội dung đề thi và các mạch của ma trận
Ra các câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn thay vì chỉ có các câu hỏi một lựa chọn như trước đây
*Soạn câu hỏi phần tự luận:
Giáo viên lấy câu hỏi tự luận trong ngân hàng đề đã tích lũy trong các giờ học Thẩm định lại từng câu theo đúng nội dung đề thi và các mạch của ma trận
Theo đúng quy luật nhận thức thì quá trình nhận thức bao giờ cũng phải
đi từ biết mới đến hiểu, mà có hiểu thì mới vận dụng được Vì vậy đề kiểm tra theo hướng tiếp cận năng lực phần “ đóng” vẫn phải có và thêm phần “ mở”
* Phần “đóng” có hai mức độ:
Mức độ biết: Kiểm tra kiến thức cơ bản trong chương trình, sách giáo
khoa nhưng không kiểm tra ghi nhớ máy móc Mức độ này tập trung vào những phần trọng tâm cơ bản
Mức độ hiểu: Kiểm tra hiểu biết của học sinh Ở mức độ này đòi hỏi học
sinh phải hiểu bản chất sự kiện, hiện tượng (phần kiến thức trọng tâm cơ bản), chính là kiểm tra sự sáng tạo, năng động trong hoạt động nhận thức Vì vậy, bài viết không nên chỉ là câu hỏi yêu cầu học thuộc lòng, mà có thể là bài tập tình huống, bài tập trắc nghiệm khách quan, một sự kiện để các em nhận xét, đánh giá, liên hệ, tự tìm ra cách ứng xử, cách giải quyết của bản thân hay của người khác
* Ra đề theo hướng “mở”
Đây là những câu hỏi thú vị yêu cầu học sinh hiểu bản chất vấn đề, không cần phải học thuộc các em huy động tổng hợp vốn sống, kinh nghiệm,
sự hiểu biết của mình để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống, biết rút ra những bài học kinh nghiệm Kiểu đề thi mở này giúp học sinh có cơ hội thể hiện bản thân, giúp các em bộc lộ những suy nghĩ khác người khác, sáng tạo, tự tin góp phần hình thành những năng lực, phẩm chất được mong đợi của một công dân toàn cầu
Thứ năm: Ra đề kiểm tra:
Hầu hết phần tự luận của đề kiểm tra đều là những câu hỏi ứng xử, vận dụng lí thuyết đã học và kinh nghiệm thực tế để giải quyết tình huống đã hình thành năng lực học sinh giảm thiểu sự quay cóp, chép bài của nhau Học sinh hiểu biết thêm nhiều điều từ đời sống thực tế sau khi học và làm bài môn GDCD
Kiểm tra, đánh giá học sinh học như thế nào, có biết vận dụng không, yêu cầu vận dụng là quan trọng nhất, tránh dừng lại ở lý thuyết suông, khắc phục hiện tượng tách rời nhận thức với hành vi, lời nói với việc làm, coi trọng bồi dưỡng tình cảm hứng thú, tự giác học tập mở mang hiểu biết để điều chỉnh hành
vi, thái độ tuân thủ pháp luật, tự giác tham gia các hoạt động xã hội của các em
Thứ sáu: Ra đáp án và hướng dẫn chấm:
Vì đề mở nên khi xây dựng đáp án và biểu điểm cho đề kiểm tra, đánh giá cần phải chú ý có thể có nhiều phương án trả lời khác nhau cho một câu
Trang 10hỏi Để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, giáo viên cần tôn trọng các phương án giải quyết các vấn đề, các cách diễn đạt khác nhau, không bắt buộc học sinh phải trả lời hoàn toàn như trong đáp án mà chỉ cần đảm bảo đúng
và đủ ý
Thứ bảy: Không sử dụng bất kì tài liệu nào, không có đáp án và thang
điểm, trực tiếp giải chi tiết đề kiểm tra (có bấm giờ) Sau đó chỉnh sửa nội dung
đề kiểm tra, đáp án, thang điểm, độ khó, độ dài của từng đề
Thứ tám: Coi kiểm tra nghiêm túc, đúng quy chế.
Tiến hành kiểm tra nghiêm túc, đúng quy chế, không làm bài tập thể, không gian lận, quay cóp
Thứ chín: Chấm bài
Chấm bài phải phê động viên sự cố gắng tiến bộ của học sinh và nhận xét khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ vào đời sống
Chấm bài kiểm tra phải khuyến khích sự sáng tạo của các em tránh học vẹt, học tủ….tập trung rèn luyện các kỹ năng cho các em
Việc cho điểm có thể kết hợp giữa đánh giá kết quả bài làm với theo dõi
sự cố gắng, tiến bộ của học sinh và thái độ làm bài (Công bố công khai trước học trò vẫn đảm bảo tính chính xác, khách quan trong việc đánh giá kết quả học tập của các em)
Thứ mười: Trả bài
Khi trả bài công bố công khai đáp án, thang điểm hướng dẫn học sinh tự đánh giá năng lực của mình và đánh giá bạn
Hoạt động tự đánh giá xảy ra khi một học sinh nhận lại bài kiểm tra của mình từ giáo viên hoặc sau khi các em trao đổi bài viết với bạn Khi đọc bài kiểm tra của bạn cùng với việc đọc những lời nhận xét của giáo viên và bạn cùng lớp về bài viết của mình, các em sẽ có sự tự đánh giá về mình Tự đánh giá bản thân không chỉ thể hiện năng lực tư duy mà còn thể hiện tinh thần trách nhiệm với công việc của chính mình
Học sinh có thể thực hiện việc đánh giá lẫn nhau thông qua hoạt động trao đổi bài viết cho nhau và đánh giá bài viết của bạn Sau đó các em sẽ nhận lại bài viết của mình và các em có thể trao đổi với bạn về bài viết của mình
Trả bài xong thu thập thông tin phản hồi từ học sinh Thông tin phản hồi chính là những căn cứ vững chắc giúp giáo viên phát hiện những ưu, nhược điểm của học sinh để kịp thời có biện pháp uốn nắn điều chỉnh và kịp thời động viên sự tiến bộ của các em Giúp giáo viên điều chỉnh quá trình giảng dạy, nâng cao trình độ, nghệ thuật sư phạm của mình
Thông tin phản hồi giúp học sinh biết tự đánh giá kết quả học tập, phân biệt được đúng sai, tìm ra nguyên nhân để tự khắc phục, rèn luyện kĩ năng tư duy độc lập, khả năng tự học của học sinh
Ưu điểm của đề kiểm tra theo hướng tiếp cận năng lực học sinh: Đề
kiểm tra, đánh giá yêu cầu cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh; đánh giá học sinh qua việc các em vận dụng năng lực của mình để giải quyết các vấn đề thực tế Kết quả cuối cùng hình thành được năng lực phẩm chất của học sinh