hình thành nhân cách văn hóa, ứng xử văn hóa tốt đẹp củangười việt, tạo nên đặc trưng của LSVH Việt Nam”.[34]Các khía cạnh của LSVH đã được nói đến ở nhiều tácphẩm khác trong đó tập trun
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC LỐI SỐNG VĂN HÓA CHO HỌC SINH TRUNG
HỌC CƠ SỞ
Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Các nghiên cứu trên thế giới
Lối sống, văn hóa, LSVH đã được nhiều nhà khoa họctrên thế giới quan tâm nghiên cứu
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” của C.Mác và
Ph.Ăngghen đã nêu lên phạm trù “lối sống” đã làm rõ mốiquan hệ giữa con người với hoàn cảnh, điều kiện sống,C.Mác và Ph.Ăngghen đã bổ sung vào khái niệm “phươngthức sản xuất” khái niệm “phương thức sinh sống”, các ôngcho rằng: “không nên nghiên cứu phương thức sản xuấtđơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất sự tồn tại thểxác của các cá nhân Mà hơn thế, nó là phương thức hoạtđộng nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhấtđịnh của hoạt động sống của họ, một phương thức sinhsống nhất định của họ”[38]
Trang 2Max Weber (1864-1920), một nhà xã hộ học ngườiĐức đã sử dụng thuật ngữ “lối sống” lần đầu tiên như một
“khái niệm khoa học” trong một công trình nghiên cứu xãhội học của ông Trong tác phẩm này, ông đã nêu lên sự
“phân tầng xã hội” Sự khác nhau về địa vị xã hội và điềukiện sống đã tạo ra các “lối sống” và “mức sống” khácnhau
Các nhà xã hội học phương Tây cũng đã đề cập đến phạm trù “lối sống” trong những năm cuối thập niên 70 vànhững năm đầu của thập niên 80 của thế kỷ XX Các nội
dung được nghiên cứu là “việc làm, hôn nhân gia đình, tôn
giáo, ly hôn, sự khác biệt về giới tính” Đó chỉ là những
nghiên cứu chưa có hệ thống, tách rời nhau
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đã phát triểnmạnh mẽ lý thuyết “Lối sống Xô Viết” và “Lối sống xã hộichủ nghĩa Xô Viết” Các nghiên cứu đã được tiến hành theohai hướng khác nhau Các nhà khoa học như V.I.Tostykh,V.I.Daxepin, G.D.Clezenman, V.G.Sinisyn,A.T.Rukerenko, N.M.Kêgiêrôv, XM Lêpêkhin … vớihướng thứ nhất là theo hướng triết học tức là nghiên cứucấu trúc, chức năng và bản chất của lối sống và hướng thứhai là hướng chuyên ngành(tâm lý học, giáo dục học, kinh
Trang 3tế học) Mỗi nhà nghiên cứu có một cách hiểu khác nhau vềchất về lối sống nhưng tổng chung lại cho thấy khái niệmlối sống đặc trưng cho một hiện thực xã hội Nó là bản chấtcủa một hình thái kinh tế xã hội nhất định được thể hiệntrong đời sống hàng ngày của mỗi cá nhân
Các nước XHCN khi nghiên cứu về lối sống đều dựa
trên nền tảng của “chủ nghĩa Mac - Lênin” Các nghiên cứu
này chưa đi sâu vào đặc trưng của lối sống của nhóm xã hội
và cá nhân mà mang tính kinh viện, chủ yếu tập trung vàoxác lập các tiêu chí của lối sống bằng, làm rõ sự đối lập củalối sống TB và lối sống XHCN
Về vấn đề “văn hóa”, cũng đã có những nghiên cứuvới các quan điểm khác nhau Văn hóa bao gồm văn hóa vậtchất và văn hóa tinh thần Có thể kể đến các nghiên cứu
“văn hóa nguyên thủy” của tác giả Edward Burnet Tylo(1832-1917) hay tác phẩm “Lý thuyết văn hóa” của nhànhân loại học người Mỹ Edward Sapir (1884-1839)
Tóm lại, các nghiên cứu về “lối sống” và “văn hóa”của các tác giả nước ngoài chủ yếu mang tính lý thuyết,nặng tính hàn lâm hoặc thể hiện từng mặt của lối sống vàvăn hóa Sự quan tâm tới nghiên cứu bản chất của LSVHchưa rõ nét
Trang 4Các nghiên cứu ở Việt Nam
Vấn đề “Lối sống” được nghiên cứu nhiều Ở ViệtNam Từ những năm 1980, vấn đề “lối sống” đã đượcnhiều tác giả nghiên cứu Tiêu biểu như tác giả Vũ Khiêu,
Hà Xuân Trường, Lê Như Hoa, Nguyễn Trọng Thụ, ĐỗHuy,… Trong các công trình này, các tác giả đã đề cập đếnvấn đề lối sống theo các quan điểm khác nhau, kể cả “vềmặt lí luận cũng như phương pháp luận nghiên cứu và xâydựng lối sống xã hội chủ nghĩa, chống lại lối sống tư bản”
Đến những năm đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, cónhiều công trình nghiên cứu về lối sống của hế hệ trẻ nhưtác giả Đặng Thúy An, Vũ Hùng, Trần Thị Minh Đức, TrầnThị Tố Oanh, Đỗ Long, Lê Đức Phúc, Mạc Văn Trang,Nguyễn Quang Uẩn đã nêu lên “bức tranh toàn cảnh về lốisống của HS, sinh viên” Ngoài ra cũng đã có nhiều luậnvăn, luận án nghiên cứu về vấn đề này Tiêu biểu như:
Tác giả Nguyễn Thanh Bình với “Xây dựng nội qui và
biện pháp giáo dục lối sống lành mạnh trong quan hệ bạn
bè khác giới cho HS phổ thông” Tạp chí Nghiên cứu giáo
dục số 6 - 1995.[10]
Trang 5Tác giả Lê Văn Khuyến với “Bước đầu tìm hiểu thực
trạng và phương hướng giáo dục lối sống sinh viên sư phạm” Luận văn tốt nghiệp ĐHSP, ĐHQG Hà Nội.[36]
Tác giả Trần Vũ Hà với “Bước đầu tìm hiểu lối sống
của HS phổ thông trung học Hà Nội hiện nay” Luận văn
tốt nghiệp ĐHSP, ĐHQG Hà Nội.[24]
Tác giả Đỗ Long với bài viết “Lối sống và nhân cách
của thanh niên” đăng trên Tạp chí Tâm lí học tháng 8
-1996.[40]
Trong những năm gần đây, nhiều tác giả đã nghiêncứu về “LSVH, bàn về nếp sống, đạo đức, lối sống” Trong
cuốn “Văn hóa và lối sống” của tác giả Thành Lê đã đã nêu
lên các vấn đề về “lối sống, nếp sống của con người ViệtNam; tác giả nêu lên việc ủng hộ cái đẹp, phê phán cái xấu,hướng tới chân - thiện - mỹ chính là giá trị văn hóa tốt đẹpcủa lối sống”.[30]
Trong tác phẩm “Nhân cách văn hoá trong bảng giá
trị Việt Nam”, của các tác giả Đỗ Huy, Chu Khắc, Vũ Khắc
Liên, Trường Lưu, Lê Quang Thiêm đã làm rõ “những giátrị cơ bản trong bảng giá trị Việt Nam, góp phần vào việc
Trang 6hình thành nhân cách văn hóa, ứng xử văn hóa tốt đẹp củangười việt, tạo nên đặc trưng của LSVH Việt Nam”.[34]
Các khía cạnh của LSVH đã được nói đến ở nhiều tácphẩm khác trong đó tập trung vào việc nghiên cứu lối sốngtheo pháp luật như:
Tác giả Nguyễn Thị Bích Hồng với “Lối sống theo
pháp luật trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam”, Luận văn
thạc sĩ luật học.[33]
Tác giả Nguyễn Khắc Bộ với “Xây dựng ý thức pháp
luật và lối sống theo pháp luật”, Tạp chí Dân chủ và pháp
luật, số 10.[11]
Tác giả Đào Trí Úc (chủ nhiệm) với “Cơ sở khoa
học của việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật”.
[51]
Trong các công trình nghiên cứu đó, vấn đề LSVH
đã được các tác giả đi sâu nghiên cứu và làm rõ Nhữngbiểu hiện của LSVH cũng được các tác giả chỉ ra Tuynhiên, những nghiên cứu về LSVH, quản lí giáo dụcLSVH cho HS, đặc biệt là HS THCS thì chưa có
Một số khái niệm cơ bản
Trang 7Văn hóa
Văn hóa có nhiều cách tiếp cận theo nhiều cách khácnhau và đến nay vẫn chưa có sự thống nhất giữa các nhàkhoa học về định nghĩa văn hóa
Ở phương Đông: Thuật ngữ văn hoá theo gốc Hánđược sử dụng lâu đời ở Việt Nam Nguyên từ văn hoá đượcgộp bởi hai từ văn và hoá “Văn (文) có hàng chục nghĩanhư để chỉ người có học vấn, văn vẻ, văn chương, lễ phép,dáng bề ngoài, cái đẹp Hoá (化) cũng có nhiều nghĩa đểchỉ sự thay đổi một cách tự nhiên hay chủ ý, sự biến hoácủa vạn vật, sự dạy dỗ cho thành người Văn hóa ban đầuđược hiểu là làm cho đẹp đẽ, về sau văn hóa được hiểu làdùng Thi, Thư, Lễ, Nhạc… để giáo hóa dân chúng, đối lậpvới dùng uy quyền, vũ lực, áp chế” Như vậy, văn hoá làmuốn nói đến sự thay đổi một cách hợp quy luật những sựvật hiện tượng, quan hệ do con người sáng tạo ra
Với phương Tây, “văn hóa” được bắt nguồn từ chữ
Latinh Cultus nghĩa là gieo trồng; Cultus Agri là trồng trọt nông nghiệp; Cultus Animi là trồng trọt tinh thần tức là sự
giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người Thomas Hobbes
cho rằng "lao động dành cho đất là sự canh tác và dạy dỗ
trẻ em là sự trồng trọt tinh thần".
Trang 8Theo nghĩa rộng “văn hóa là một khái niệm đa nghĩa,tuy nhiên nói tới văn hoá là nói tới con người, là nói tới việcphát huy những năng lực bản chất của con người để hoànthiện con người”.
Bản thân khái niệm văn hóa vừa có nghĩa rộng, vừa cónghĩa hẹp, thậm chí để chỉ một hoạt động riêng lẻ nào đó.Văn hoá là để chỉ toàn bộ những sáng tạo của con người vềvật chất, về tinh thần và về ứng xử, đó là những sáng tạo vàhoạt động có ích cho cuộc sống của con người Văn hoá làmột khái quát rất rộng về quá trình sáng tạo của nhân loại,một phức hệ hay là đa phức hệ các hoạt động của xã hộiloài người, không dùng để chỉ một cái cụ thể nào mà chỉ tất
cả những cái cụ thể hay toàn bộ cái cụ thể
Trong đời sống xã hội, văn hóa được dùng để chỉ
“những hoạt động của con người về mặt tinh thần Nó cũng
để chỉ trình độ học vấn của con người, đồng thời nó còn chỉthái độ, hành vi ứng xử văn minh của mỗi con người”.Theo
quan điểm triết học: “Văn hoá là tổng hoà các giá trị vật
chất và tinh thần cũng như các phương thức tạo ra chúng.Văn hoá còn chỉ sự truyền thụ lại những di sản văn hoá từthế hệ này sang thế hệ khác Văn hoá được nhìn nhận từ haigóc độ: góc độ thứ nhất là hoạt động sáng tạo của cải vậtchất, của cải tinh thần và sáng tạo ra các mối quan hệ ứng
Trang 9xử giữa con người với nhau và giữa con người với vũ trụ;góc độ thứ hai chỉ thừa nhận những lao động có ích cho conngười, mang lại cho con người niềm kiêu hãnh”
Văn hoá là cách ứng xử giữa người với người và ngườivới thế giới tự nhiên.Văn hóa gồm văn hóa tinh thần và vănhóa vật chất
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác: “Văn hóa là sựtổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiệncủa nó, mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng vớinhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”
Theo tác giả William Isaac Thomas: “Văn hóa là các
giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào bao gồm các thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử…” (William
Isaac Thomas)
Theo tác giả Pitirim Alexandrovich Sorokin: “Với
nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo
ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau”.
Theo tác giả Ralph Linton: “Văn hóa suy cho cùng là
các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên
Trang 10xã hội… Văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa”.
Theo tác giả Edward Burnett Tylor: “Văn hóa hay văn
minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào
mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội”.
Theo tác giả Edward Sapir: “Văn hóa chính là bản
thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống”.
Theo định nghĩa của UNESCO, “văn hóa nên được đềcập đến như là một tập hợp những đặc trưng về tinh thần,vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhómngười trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn hóa và nghệthuật, cả các phong cách sống, các lối chung sống, các hệthống giá trị, các truyền thống và đức tin”
Trang 11Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của loài người, được tạo
ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xãhội nhưng đồng thời, văn hóa lại tham gia vào việc tạo nêncon người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóađược truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quátrình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quátrình hành động và tương tác xã hội của con người Vì thếvăn hóa có chức năng như là một khuôn mẫu chuẩn mực quyđịnh các hành vi xã hội của một cá nhân Muốn trở thànhmột con người xã hội, mỗi cá nhân phải tuân thủ các chuẩnmực văn hóa
Lối sống
Hiện nay phạm trù lối sống có rất nhiều định nghĩa vàcách tiếp cận khác nhau
Theo tác giả Trần Văn Bính: “Lối sống là một phạm
trù xã hội học khải quát toàn hộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và biểu hiện trong các lĩnh vực của đời sống, trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa ” [9, tr 211]
Trang 12Tác giả Thành Lê đưa ra định nghĩa: “Nói một cách
đơn giản, lối sống nói rõ con người sống như thế nào, để làm gì, họ làm những gì, cuộc sống của họ chứa đựng những hành vi nào Vì thế, về thực chất, lối sống không chỉ bao quát những điều kiện sống mà là toàn bộ những hình thức hoạt động sống của con người trong quá trình sản xuất của cải vật chất và tinh thần, cũng như trong lĩnh vực
xã hội - chính trị và gia đình - sinh hoạt” [39, tr 45]
Theo tác giả Lê Như Hoa: "Lối sống là một khái niệm
bao gồm các mối quan hệ kinh tế-xã hội, tư tưởng, tâm lý đạo đức, văn hóa và các mối quan hệ khác của con người Đặc trưng sinh hoạt của họ trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định" [31, tr 9].
GS Vũ Khiêu đã đưa ra một khái niệm lối sống theo
nghĩa rộng: "Lối sống là phạm trù xã hội khái quát toàn bọ
hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh
tế - xã hôi nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa" [35, tr.
121,122]
Trang 13Từ các định nghĩa đó, ta thấy: nói đến lối sống là nóiđến “tất cả các hoạt động của con người, từ lao động, sinhhoạt, hoạt động xã hội, chính trị và giải trí” Lối sống là tậphợp những biểu hiện hoạt động của cá nhân và của cộngđồng qua phương thức sản xuất, quan hệ xã hội, tạo nên mộtkiểu sinh hoạt, một phong cách sống của cá nhân hoặc cộngđồng nào đó.
Trong phạm vi của luận văn, tôi theo định nghĩa của
nhà nghiên cứu Phạm Hồng Tung cho rằng: “Lối sống của
con người là các chiều cạnh chủ quan của văn hóa, là quá trình hiện thực hóa các giá trị văn hóa thông qua hoạt động sống của con người Lối sống bao gồm tất cả những hoạt động sống và phương thức tiến hành các hoạt động sống được một bộ phận lớn hoặc toàn thể nhóm hay cộng đồng người chấp nhận và thực hành trong một khoảng thời gian tương đối ổn định, đặt trong mối tương tác biện chứng của các điều kiện sống hiện hữu và trong các mối liên hệ lịch sử của chúng” [49, tr 278]
LSVH
Từ tiếp cận “lối sống” và “văn hóa” nêu trên, tác giảquan niệm về LSVH như sau:
Trang 14“ LSVH là tổng hòa các phương thức hoạt động sống căn bản, ổn định của cá nhân và cộng đồng người theo tiêu chí chân - thiện - mỹ; được phản ánh cụ thể trong nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và chịu sự chi phối của những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định ”
Nói tới LSVH là nói tới các đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, “ LSVH là tổng hòa các hoạt động sống ổn
định của con người gắn liền với dân tộc, giai cấp, nhóm xãhội và cá nhân trong cộng đồng Vì vậy, có thể phân loạiLSVH theo ba cấp độ: LSVH của dân tộc (quốc gia), LSVHcủa giai cấp (nhóm xã hội), LSVH của cá nhân” Trong bacấp độ phân loại nêu trên đề tài đặc biệt quan tâm đến cấp
độ LSVH của nhóm xã hội, mà cụ thể, trực tiếp là LSVHcủa HS các trường THCS Đây cũng là đối tượng trực tiếp
mà đề tài tập trung nghiên cứu
Thứ hai, hình thức và nội dung của LSVH chính là
tổng hòa các khuôn mẫu ứng xử, các thể chế xã hội đượcvận hành hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ trongnhững điều kiện kinh tế - xã hội nhất định
Trang 15Thứ ba, xét ở tầm vĩ mô LSVH chịu sự quy định của
phương thức sản xuất và các điều kiện sống của con người
Thứ tư, LSVH đương nhiên phải mang tính văn hóa,
bởi vì trong các hành động xã hội, các quan hệ xã hội, thểchế xã hội, các khuôn mẫu ứng xử trong lối sống đềumang ý nghĩa văn hóa, hướng đến cái đúng, cái tốt và cáiđẹp (chân - thiện - mỹ) Chính vì vậy, xã hội càng pháttriển thì LSVH cũng phát triển theo ngày càng ở trình độcao hơn, văn minh, tiến bộ, hiện đại LSVH theo khía cạnhnày chính là chỉ số quan trọng, là thước đo trình độ pháttriển của xã hội Mặt khác, trong một xã hội cụ thể, mỗinhóm xã hội cấu thành nên xã hội đó ngoài dấu ấn đậm nétcủa LSVH đặc trưng chung cho cả xã hội, còn có LSVHriêng đặc thù của từng nhóm xã hội
Tóm lại, LSVH là cách sống của con người có hành
xử đẹp trong cuộc sống hàng ngày, phù hợp với chuẩn mựccủa xã hội LSVH của người Việt Nam là sự thể hiện nhữnggiá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc: yêu lao động, cần
cù chịu khó; tinh thần đoàn kết, yêu thương, tương trợ giúp
đỡ lẫn nhau Những phẩm chất này được thể hiện ở các đạo
lý sống, đạo lý làm người và đã trở thành những chuẩn mựctruyền thống trong lối sống của người Việt Nam: “Nhiễu
Trang 16điều phủ lấy giá gương, người trong một nước thì thươngnhau cùng”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng”, “Lá lành đùm lárách”, “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừalòng nhau”, “Đói cho sạch, rách cho thơm” Trong lối sốngcủa người Việt Nam, hành vi ứng xử đẹp trong cuộc sống
và giao tiếp giữa người với người không phụ thuộc vào tiềnbạc mà chủ yếu phụ thuộc vào tình cảm và nhận thức củamỗi con người Có thể nói, lối sống đẹp theo quan niệmtruyền thống của nhân dân ta là “lối sống trọng tình nghĩa,giàu lòng nhân ái, vị tha và mang tính cộng đồng cao”
Giáo dục LSVH
Giáo dục
Giáo dục là quá trình truyền lại những kinh nghiệm xãhội, lịch sử từ thế hệ trước sang thế hệ sau bằng việc giảngdạy, nghiên cứu, đào tạo Nó diễn ra theo hai hình thức: qua
sự hướng dẫn của người khác hay tự học Các giai đoạn củagiáo dục gồm “giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáodục trung học và giáo dục đại học”
Theo nghĩa rộng, “giáo dục là quá trình giúp ngườihọc lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội của loài ngườibằng việc tổ các hoạt động một các có mục đích, thông quaquan hệ giữa người được giáo dục và nhà giáo dục nhằmhình thành nhân cách của người được giáo dục”
Trang 17Theo nghĩa hẹp, giáo dục là những tác động của nhàtrường thông qua các môn học và các hoạt động khác nhằmhình thành nhân cách toàn diện của HS, nhằm hình thành ởcác em đức, trí, thể, mỹ và ý thức lao động Quá trình này
sẽ hình thành cho HS thế giới quan, lý tưởng, niềm tin,động cơ, tình cảm, thái độ , những hành vi, thói quen ứng
xử đúng đắn trong xã hội
Giáo dục LSVH
Giáo dục LSVH là quá trình hình thành nhân cách củacon người Nó là những tác động có mục đích thông qua cáchoạt động sư phạm của nhà trường, của nhà giáo dục giúp
HS lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội, lịch sử củacộng đồng Từ đó giúp các em biết được những giá trịtruyền thống tốt đẹp, những các hành xử văn hóa trong cuộcsống, mang những nét riêng của văn hóa dân tộc
Giáo dục LSVH là quá trình hình thành cơ sở khoahọc của thế giới quan, lý tưởng, niềm tin, động cơ, tìnhcảm, thái độ, những thói quen, hành vi, ứng xử đúng đắntrong xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội Từ đó HShoàn thiện toàn diện nhân cách của mình
Giáo dục LSVH là giáo dục cách sống có văn hóatrong mối quan hệ giữa người với người, người với cộngđồng, người với môi trường sống
Trang 18Giáo dục LSVH cho HS là giáo dục cách hành xử của
HS với mọi người (ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè), giáodục ý thức chấp hành các quy định của cộng đồng, của nhàtrường, của lớp, giáo dục ý thức vệ sinh các nhân, sử dụngtrang phục, các thói quen tốt hàng ngày, ý thức bảo vệ môitrường,… nhằm xây dựng một xã hội ngày càng văn minh
Mục tiêu giáo dục LSVH cho HS là giáo dục cácchuẩn mực văn hóa nhằm hình thành ở HS lối sống có tráchnhiệm biết chia sẻ trong quan hệ với người khác, với chínhbản thân mình, với môi trường thiên nhiên
Quản lý
Trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, khicon người muốn hoàn thành được mục đích chung hay riêngcủa mình, người ta phải dựa vào sự nỗ lực của tất cả cácthành viên trong cộng đồng Khi xã hội có sự phân côngtrong lao động thì hoạt động quản lí xuất hiện Quản lý làmột chức năng của lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất
xã hội của lao động Theo nghĩa rộng quản lý là hoạt động
có mục đích của con người nhằm liên kết và điều hành cácthành viên của một tổ chức hướng tới hoàn thành các mụctiêu đề ra Quản lý chính là các hoạt động do một hoặcnhiều người điều phối hành động của những người khácnhằm thu được kết quả mong muốn Theo quan điểm hoạt
Trang 19động: quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích củachủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạ được mụctiêu tổ chức đề ra Từ đó có thể hiểu khái niệm quản lý gồmcác ý cơ bản sau:
+ Quản lý bao giờ cũng có tính hướng đích nghĩa là nóphải hướng tới một mục tiêu xác định
+ Quản lý thể hiện qua hệ giữa chủ thể quản lý vàngười được quản lý
+ Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan của chủthể quản lý nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan
Có nhiều nhà khoa học đã có những định nghĩa khácnhau về thuật ngữ “ quản lý”
Nhóm tác giả Harold Koontz cho rằng: “Quản lý là
hoạt động một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất… Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với tư cách kiến thức thì quản lý là một khoa học”, “Quản lý là hoạt động đảm bảo sự nỗ lực của
cá nhân để đạt được mục tiêu quan trọng điều kiện chi phí
Trang 20thời gian, công sức, tài liệu, vật liệu ít nhất và đạt được kết quả cao nhất” [25, tr 32]
Theo Trần Kiểm: “Quản lý là các hoạt động động
được thực hiện nhằm đảm bảo sự hình thành công việc qua
nỗ lực của người khác Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những cộng sự khác cùng chung một tổ chức”.[37, trang 12, 13]
Cũng theo Trần Kiểm: “Quản lý nhằm phối hợp nỗ
lực của nhiều người sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [37, tr 32]
Quản lý gồm “quản” + “lý” “Quản” là chăm sóc, giữgìn sự ổn định “Lý” là sửa sang, sắp xếp đổi mới, pháttriển Vì vậy “quản lý” = “ổn định” + “phát triển”
Từ các nội dung trên, ta có thể hiểu: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được mục tiêu đề ra một cách có hiệu quả ” Nói cách khác, ta
cũng có thể hiểu: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng phù hợp quy luật khách quan của chủ thể quản
lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác và tận dụng hiệu quả những tiềm năng và cơ hội của đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu quản lý ”
Quản lý giáo dục LSVH cho HS THCS
Trang 21Từ các khái niệm quản lý và giáo dục LSVH, ta có thể
đi đến khái niệm quản lý giáo dục LSVH như sau: “Quản lí giáo dục LSVH là hoạt động có ý thức, có kế hoạch, hợp quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm trên cơ sở khai thác và tận dụng có hiệu quả những tiềm năng và cơ hội của đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu giáo dục LSVH”
Quản lý giáo dục LSVH cho HS THCS là sự tác động
có ý thức, có kế hoạch, phù hợp với quy luật khách quancủa hiệu trưởng nhà trường trên cơ sở khai thác các cơ hội
và tiềm năng sẵn có của nhà trường, sử dụng một cách khoahọc các phương pháp quản lý làm cho việc giáo dục LSVHđạt hiệu quả mong muốn, giúp HS có cách ứng xử phù hợptrong quan hệ những người khác(ông bà, cha mẹ, thầy cô,bạn bè,…), với chính bản thân mình, với môi trường thiênnhiên
Quản lý giáo dục LSVH cho HS THCS được xét ở 2cấp độ: đó là cấp độ nội bộ trường học và cấp độ quản lýcủa các cấp, các ngành, tổ chức Ở phạm cấp độ thứ nhất,Hiệu trưởng là chủ thể quản lý, còn đối tượng quản lý làgiáo dục LSVH cho HS Ở cấp độ thứ hai, chủ thể quản lý
là các cấp quản lý, còn đối tượng quản lý là Hiệu trưởngnhà trường
Trang 22Trong phạm vi của đề tài này, tác giả nghiên cứu ở cấp
độ một, với chủ thể quản lý là hiệu trưởng
Giáo dục LSVH cho HS THCS
Đặc điểm lối sống của HS THCS
Lối sống của HS THCS có sự thay đổi to lớn do sựthay đổi mạnh mẽ của tâm sinh lý của HS, đặc biệt là quátrình dạy thì ở các em
Các em đã bắt đầu có định hướng tương lai, có hoàibão, có lý tưởng sống, mục đích sống tương đối rõ ràng
Các em đã có mục đích học rõ ràng, đã có sự khẳngđịnh mình trong học tập và cuộc sống
Các em đang tập làm người lớn, muốn khẳng địnhmình với bạn bè, thầy có, bố mẹ,…
Các em chịu sự tác động to lớn của gia đình, bạn bè,phim ảnh, mạng xã hội, …
Các em dễ thay đổi, dễ thích nghi với sự thay đổi của
xã hội
Cách ăn mặc và việc ứng xử đã có sự thay đổi Các emhay học theo thần tượng như các ca sĩ, cầu thủ, diễn viên,…nổi tiếng
Có thể nói, lối sống của HS bị ảnh hưởng rất nhiều từ
sự thay đổi về tâm sinh lý ở tuổi “dậy thì” Các em bắt đầutập làm người lớn nhưng hành vi, suy nghĩ vẫn mang tính
Trang 23trẻ con Lối sống của các em bị ảnh hưởng rất nhiều từ giađình, nhà trường, xã hội cả về mặt tiêu cực lẫn tích cực.
Mục tiêu, nội dung và các phương pháp giáo dục lối sống văn hóa cho học sinh THCS
Mục tiêu giáo dục lối sống văn hóa cho học sinh THCS
Hiểu được các yêu cầu về LSVH và tuân thủ pháp luậttrong cuộc sống hàng ngày
Có hiểu biết về môi trường xung quanh
Về kĩ năng
Có ứng xử văn hóa theo những kiến thức đã được giáodục;
Biết giao tiếp có văn hóa;
Thực hiện tốt nghĩa vụ công dân;
Biết các tự phục vụ, chăm sóc bản thân;
Biết các quan tâm đến người khác, đặc biệt là ông bà,
bố mẹ, thầy cô, bạn bè,…