Tiêu biểu là các công trình của tác giả Thái Duy Tuyên với công trình “Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học", Phan Trọng Luận với bài viết "Đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hoá ngư
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ
Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Các nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học
Các nhà tâm lý học nổi tiếng cũng đã có những công trình nghiên cứu sâu sắc liên quan đến PPGD như: Piagiê, Lêônchiep là các nhà khoa học đặt cơ sở lý luận có tính nền tảng cho PPGD.
J.A.Komenxki (1592 - 1670) đã đưa ra các biện pháp dạy học buộc học sinh phải tìm tòi, suy nghĩ để nắm được bản chất của sự vật hiện tượng J.J.Rousseau (1712 - 1778) chủ trương giáo dục người học biết tự khám phá tích luỹ
kiến thức thông qua chính hoạt động của mình “Lấy hoạt động của trẻ làm trung tâm” là một trong những tư tưởng
giáo dục tiến bộ của loài người đã tìm thấy trong tư tưởng giáo dục của ông [dẫn theo 27, tr7].
Trang 2John Dewey (1859 - 1952) - người Mỹ cho rằng việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú, phải để trẻ em độc lập tìm tòi, thầy giáo vừa là người thiết kế vừa là người cố vấn [dẫn theo 13, tr5].
Hay “Những cơ sở của lý luận dạy học” của tác giả B.P.Êxipop (1978); “Dạy học nêu vấn đề” của I.Ia.Lecne (1977);“Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề” của tác
giả V.Ôkôn (1968) là những tài liệu về phương pháp dạy học và đổi mới phương pháp dạy học của các nhà giáo dục học trên thế giới.
Ở Việt Nam, việc đổi mới phương pháp dạy học được triển khai từ năm 1986, đặc biệt là từ khi Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII (1991) ra đời Đổi mới giáo dục (đặc biệt là đổi mới phương pháp giáo dục hay phương pháp giáo dục lấy trẻ làm trung tâm) là hết sức cần thiết và quan trọng Ở nước ta, đã có nhiều nhà khoa học tiến hành nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học, giáo dục: Hồ Ngọc Đại, Đồ Đình Đoan, Nguyễn Kỳ, Trần Kiều, Nguyễn Cảnh Toàn
Trang 3Mai Trọng Mậu (2014), “Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS Nguyễn Đình Chiểu, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long”, Sáng kiến kinh nghiệm.
Nguyễn Đức Loan (2016), “Đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học cơ sở theo định hướng phát triển năng lực người học”, Hiệu trưởng trường THCS Quyết
Thắng, Ninh Giang, Hải Dương
Tiêu biểu là các công trình của tác giả Thái Duy
Tuyên với công trình “Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học", Phan Trọng Luận với bài viết "Đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hoá người học trong các
bộ môn khoa học xã hội và nhân văn ở THPT”, Quách Tuấn Ngọc, "Đổi mới phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin Xu thế của thời đại" Năm 2002, tác giả Lưu Xuân Mới có bài "Đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo" Hoàng Minh Thao, Hà Thế Truyền với “QLGD tiểu học theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
Ngày nay, trên thế giới tồn tại nhiều quan niệm, xu hướng dạy học khác nhau như: Dạy học giải quyết vấn đề, dạy học hướng vào học sinh, dạy học tích cực, dạy học định
Trang 4hướng hành động, dạy học kiến tạo, dạy học theo đề án, dạy học theo tình huống, dạy học hợp tác, dạy học khám phá, phát hiện, dạy học trường hợp điển hình, dạy học mở.
Các nghiên cứu về quản lý đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực giao tiếp
Trường học của thế kỷ XXI tập trung phát triển kỹ năng tư duy; đánh giá không tách rời giảng dạy; hợp tác giải quyết vấn đề; học kỹ năng trong bối cảnh các vấn đề thực
sự; “lấy người học làm trung tâm”, định hướng vào giáo viên; tất cả học sinh được học cách “tư duy” Tại Hoa Kỳ,
trong những năm 1970, chủ trương tiếp cận năng lực trong giáo dục tập trung chủ yếu vào năng lực hành động, nhắm tới những gì người học dự kiến phải làm được hơn là nhắm tới những gì họ cần phải học được [30, tr.33].
Nhiều tác giả như V.P Xtrêzicodin, G.I Goócsaia, V.A.Xukhomlinxki đã đưa ra một số công việc quản lý của người hiệu trưởng trong trường phổ thông, trong đó có đề cập đến việc xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, tổ chức hội thảo khoa học trong đội ngũ giáo viên về các vấn
đề trong đổi mới quá trình dạy học, phương pháp dạy học
Trang 5và giáo dục học sinh, tổ chức dự giờ thăm lớp và phân tích bài học
Hay theo tác giả Phạm Quang Huân, để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục cần thực hiện một số vấn đề trọng tâm trong quản lý, trong đó có nêu lên công tác tổ chức, chỉ đạo đổi mới PPDH như sau:
Tổ chức nghiên cứu tìm hiểu và học tập các vấn đề đổi mới PPDH cho đội ngũ giáo viên trong nhà trường;
Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các hoạt động thực hành đổi mới PPDH thường xuyên trong năm học;
Đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá các hoạt động đổi mới PPDH; Tăng cường xây dựng hệ điều kiện cho quá trình đổi mới PPDH [dẫn theo 20].
Tác giả Trần Văn Quang (2015), “Quản lý đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT thành phố Đà Nẵng”,
Luận án Tiến sĩ Khoa học giáo dục, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam Luận án đã làm sáng tỏ hệ thống cơ sở lý luận và đưa ra những đề xuất, những biện pháp quản lý khả thi và cần thiết đáp ứng cho công tác quản lý của các trường THPT thành phố Đà Nẵng trong đổi mới phương pháp dạy học [30].
Trang 6Võ Hồng Dương với Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học:
“Biện pháp quản lý đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng hình thành năng lực và phẩm chất người học ở các trường THCS thành phố Kon Tum”, tác giả đã nghiên
cứu và đề xuất được các biện pháp giúp các trường THCS trên địa bàn quản lý có hiệu quả hoạt động đổi mới phương pháp dạy học nhằm hình thành năng lực và phẩm chất cho người học [7].
Trong những thời gian gần đây, ở nước ta có nhiều nhà nghiên cứu, học viên cao học đã lựa chọn quản lý đổi mới phương pháp dạy học làm vấn đề nghiên cứu:
Luận văn thạc sỹ QLGD của tác giả Lê Thành Hiếu:
Trang 7Lương Thùy Nga (2013): “Biện pháp quản lý đổi mới phương pháp dạy học ở Trường Trung học cơ sở Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý
Giáo dục, Đại học sư phạm Thái Nguyên [27].
Nguyễn Thị Thanh Trà (2013): “Quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở trường tiểu học Nguyễn Tri Phương quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng”, Luận
văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục, Trường Đại học Giáo dục [33].
Đặng Quang Huy (2015): “Quản lý đổi mới phương pháp dạy học theo tiếp cận quản lý sự thay đổi ở trường THPT Thanh Nưa, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên”, Luận
văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục, Đại học Giáo dục [19]
Sau quá trình tìm hiểu, nghiên cứu các công trình khác nhau của một số tác giả trong và ngoài nước về đổi mới phương pháp dạy học va quản lý đổi mới phương pháp dạy học, có thể rút ra một số nhận xét sau:
Hoạt động đổi mới phương pháp dạy học là hoạt động
vô cùng quan trọng và có tính cấp thiết trong quá trình thực hiện đổi mới giáo dục hiện nay nhằm trang bị cho học sinh kiến thức và kỹ năng để phát triển toàn diện bản thân Công
Trang 8tác quản lý đổi mới phương pháp dạy học vì thế cũng là nhiệm vụ ưu tiên và cấp bách trong xu thế đổi mới căn bản toàn diện giáo dục.
Nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học và công tác quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học được triển khai ở nhiều khía cạnh, môn học và cấp học khác nhau; đặc biệt quan tâm đến công tác quản lý các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực cho người học
Nghiên cứu của các tác giả chưa tập trung vào quản lý đổi mới phương pháp dạy học phát triển năng lực giao tiếp cho người học
Chính vì vậy, luận văn này là sự kế thừa và phát huy
từ những thành tựu, kết quả mà các nghiên cứu trước đã đạt được Dựa trên những giá trị khoa học và kết quả nghiên cứu thực tiễn về quản lý đổi mới phương pháp dạy học để làm nền tảng cơ sở cho sự nghiên cứu và phát triển của đề tài Bên cạnh đó, luận văn sẽ tiếp tục mở rộng và tiến hành nâng cao hơn để làm sáng tỏ rõ những biện pháp quản lý cụ thể của hiệu trưởng nhà trường đối với hoạt động đổi mới phương pháp dạy học phát triển năng lực giao tiếp.
Trang 9Các khái niệm cơ bản
Quản lý và quản lý nhà trường
Quản lý
W.Taylor định nghĩa: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất” [dẫn theo 16, tr7].
Nigel Bennett quan niệm: “Quản lý là một hoạt động duy lý liên quan tới việc tìm ra những cách hiệu quả, hiệu suất nhất có thể để sử dụng tài nguyên đạt được mục đích của tổ chức” [dẫn theo 16, tr7].
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ
Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”[5, tr36].
Theo tác giả Trần Khánh Đức: “Quản lý là hoạt động
có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách có hiệu quả nhất” [11, tr14].
Trang 10Quản lý là “sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra”[5].
Với cách hiểu như trên, vấn đề quản lý bao gồm các yếu tố sau:
Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản
lý Chủ thể có thể là cá nhân hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ, hình thức
và phương pháp thích hợp, cần thiết và dựa trên những nguyên tắc nhất định.
Đối tượng quản lý (khách thể quản lý): Tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý.
Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý đề ra Đây là căn cứ
để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các hình thức, phương pháp thích hợp
Quản lý bao giờ cũng là một tác động có hướng đích,
có mục tiêu xác định Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa
Trang 11chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh
- phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc Quản lý là
sự tác động mang tính chất chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan Quản lý xét về mặt công nghệ là
sự vận động của thông tin Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và ngược lại.
Như vậy, Quản lý là sự tác động có tổ chức, có kế hoạch và có tính hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý thông qua việc thực hiện các chức năng quản
lý nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra.
Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội Với cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục:
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác GD & ĐT theo yêu cầu phát triển của xã hội [3]
Tác giả Trần Kiểm khẳng định: Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục
Trang 12đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường [25]
Tiếp cận vấn đề ở các khía cạnh khác nhau, song các khái niệm đều chỉ ra bản chất của quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý và các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục
Như vậy, có thể hiểu quản lý giáo dục là:
Quản lý giáo dục là dạng lao động xã hội đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển hệ thống giáo dục và các thành tố của nó, định hướng và phối hợp lao động của những người tham gia công tác giáo dục
để đạt được mục tiêu giáo dục và mục tiêu phát triển giáo dục, dựa trên thể chế giáo dục và các nguồn lực giáo dục
Quản lý giáo dục thường được thực hiện ở 3 cấp: cấp trung ương, cấp địa phương và cấp cơ sở Cấp trung ương
và cấp chính quyền địa phương tỉnh, thành phố được gọi chung là cấp cao Cấp ngành ở tỉnh, thành phố và cấp chính
Trang 13quyền quận, huyện gọi là cấp trung, và cấp trường là cấp cơ
sở
Quản lý nhà trường
Theo tác giả Nguyễn Phúc Châu , phân tích theo hai cách tiếp cận cơ bản: Theo lý luận giáo dục (quá trình giáo dục) và theo lý thuyết hoạt động (mục đích và phương tiện) Với tiếp cận thứ nhất, quản lý nhà trường bao gồm quản lý các lĩnh vực: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, phương tiện và điều kiện giáo dục, lực lượng giáo dục, hình thức tổ chức giáo dục, kết quả giáo dục, môi
trường để thực hiện được mục đích giáo dục Cách tiếp cận
thứ hai xem các phương tiện để thực hiện mục đích giáo dục của nhà trường bao gồm 5 nhóm cơ bản: chế định, bộ máy tổ chức và nhân lực, nguồn tài lực và vật lực, môi trường, thông tin và truyền thông giáo dục.
Tác giả Phạm Minh Hạc đã xác định: “QL nhà trường
là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mụctiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS” [12, tr71].
Trang 14Quản lý, lãnh đạo nhà trường là quản lý, lãnh đạo hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh, hoạt động phục vụ việc dạy và việc học của cán bộ, nhân viên trong trường Nhà trường là đơn vị cơ sở trực tiếp giáo dục - đào tạo, là cơ quan chuyên môn của ngành giáo dục - đào tạo, hoạt động của nhà trường rất đa dạng, phong phú và phức tạp, nên việc quản lý, lãnh đạo chặt chẽ, khoa học sẽ bảo đảm đoàn kết, thống nhất được mọi lực lượng, tạo nên sức mạnh đồng bộ nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu
quả mục đích giáo dục [dẫn theo 19, tr9].
Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Quản lý nhà trường là
thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục- đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [34, tr33].
Như vậy, có thể quan niệm như sau: “Quản lý nhà trường là quá trình tác động có mục đích, có định hướng, có tính kế hoạch của các chủ thể quản lý (đứng đầu là hiệu trưởng nhà trường) đến các đối tượng quản lý (giáo viên, cán
bộ nhân viên, người học, các bên liên quan…) và huy động,
sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực nhằm thực hiện sứ mệnh của nhà trường đối với hệ thống giáo dục
Trang 15và đào tạo, với cộng đồng và xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã xác định trong một môi trường luôn biến động”.
Năng lực và năng lực giao tiếp
Năng lực
Năng lực là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” như năng lực tư duy, năng lực tài chính hoặc là “phẩm chất tâm sinh
lý và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” như năng lực chuyên môn, năng lực lãnh đạo.
Tác giả Dubois định nghĩa: “Năng lực là đặc tính mà
cá nhân có được và sử dụng chúng trong những ngữ cảnh thích hợp và nhất quán để đạt được kết quả mong muốn”.
Những đặc tính này bao gồm kiến thức, kỹ năng, động cơ, nét tiêu biểu, cách suy nghĩ, cảm nghĩ, hành động
Theo Lê Đức Ngọc (2014): “Năng lực là khả năng vận dụng đồng bộ các kiến thức, kỹ năng, thái độ, phẩm chất đã tích lũy được để ứng xử, xử lý tình huống hay để giải quyết vấn đề một cách có hiệu quả” [dẫn theo 7, tr7].
Trang 16Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt Năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động Năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy (kinh nghiệm, trải nghiệm).
Như vậy “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý được tích lũy qua giáo dục, lao động của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóng đạt kết quả”.
Năng lực giao tiếp
Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối quan hệ xã hội giữa người và người, hoặc giữa người và các yếu tố xã hội nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định Giao tiếp là quá trình hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe nhằm đạt mục đích nào đó Giao tiếp là sự truyền đạt điều muốn nói từ người này sang người khác để đối tượng có thể hiểu những thông điệp truyền đi.
B Parughin nhà tâm lý học xã hội Nga cho rằng:
“Giao tiếp là một quá trình quan hệ tác động giữa các cá
Trang 17thể, là quá trình thông tin quan hệ giữa con người với con người, là quá trình hiểu biết lẫn nhau ảnh hưởng lẫn nhau
và trao đổi cảm xúc lẫn nhau” [21, tr12].
Giao tiếp là một quá trình hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe nhằm đạt được một mục đích nào đó Thông thường, giao tiếp trải qua ba trạng thái:
Trao đổi thông tin, tiếp xúc tâm lý;
Hiểu biết lẫn nhau;
Tác động và ảnh hưởng lẫn nhau
Khái niệm về năng lực giao tiếp lần đầu được xuất hiện trong những năm 1970 khi nhà ngôn ngữ học Hymes phân biệt hai loại năng lực: “năng lực ngữ pháp” và “năng lực sử dụng” Theo Hymes, “năng lực sử dụng” là khả năng vận dụng các “năng lực ngữ pháp” nhằm đảm bảo các phát ngôn phù hợp với các tình huống cụ thể Từ đó, khái niệm
“năng lực giao tiếp” được hình thành để chỉ việc sử dụng hiệu quả ngôn ngữ trong một tình huống xã hội cụ thể.
Đối với A Abbou, năng lực giao tiếp được xem xét dưới góc độ xã hội nhiều hơn là ngôn ngữ Theo Abbou,
năng lực giao tiếp của một người nào đó là “tổng hợp năng lực vốn có và các khả năng thực hiện được hệ thống tiếp
Trang 18nhận và diễn giải các tín hiệu xã hội có được theo đúng như tập hợp các chỉ dẫn và quy trình đã được xây dựng và phát triển để tạo ra trong một tình huống xã hội các hành
xử phù hợp với việc xem xét các dự định của mình”.
Dưới góc nhìn ngôn ngữ học của mình, Beautier –
Casting lại cho rằng năng lực giao tiếp là “năng lực vốn có của người nói để hiểu một tình huống trao đổi ngôn ngữ và trả lời một cách thích hợp, bằng ngôn ngữ hay không bằng ngôn ngữ Hiểu ở đây đồng nghĩa với việc đối chiếu một ngữ nghĩa không chỉ dưới hình thức quy chiếu, nghĩa học, nội dung của thông điệp, mà còn rất có thể là một hành vi, hoạt động tại lời và bởi lời có chủ đích” (Beautier-Casting,
1983)
Theo chúng tôi có thể hiểu năng lực giao tiếp là:
Năng lực giao tiếp là tổng hợp các thuộc tính tâm lý của cá nhân cho phép thực hiện có hiệu quả các hoạt động xác lập và vận hành các mối quan hệ xã hội giữa người và người, hoặc giữa người và các yếu tố
xã hội nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định
Cấu trúc của năng lực giao tiếp, theo Daniel Coste, năng lực giaotiếp bao gồm bốn thành phần:
Thành phần làm chủ ngôn ngữ gồm các kiến thức ngôn ngữ, các
kỹ năng liên quan đến sự vận hành của ngôn ngữ với tư cách là một hệthống cho phép thực hiện các phát ngôn;
Trang 19Thành phần làm chủ văn bản gồm các kiến thức ngôn ngữ, kỹ năngliên quan đến diễn ngôn, các thông điệp với tư cách là một chuỗi tổ chứcphát ngôn;-
Thành phần làm chủ các yếu tố về phong tục gồm các kiến thức,
kỹ năng liên quan đến tập quán, chiến lược, cách điều chỉnh trong traođổi liên nhân theo đúng địa vị, vai vế và ý định của những người thamgia giao tiếp;
Thành phần làm chủ tình huống bao gồm các kiến thức và kỹ năngliên quan đến các yếu tố khác nhau có thể ảnh hưởng đến cộng đồng và
sự lựa chọn của người sử dụng ngôn ngữ trong một hoàn cảnh cụ thể
Phương pháp dạy học
Thuật ngữ phương pháp trong tiếng Hy Lạp là “Méthodos” cónghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích nhấtđịnh Vì vậy, phương pháp là hệ thống những hành động tự giác, tuần tựnhằm đạt được những kết quả phù hợp với mục đích đã định
Phương pháp có cấu trúc phức tạp, bao gồm mục đích được đề ra,
hệ thống những hành động (hoạt động), những phương tiện cần thiết(phương tiện vật chất, phương tiện thực hành, phương tiện trí tuệ), quátrình làm biến đổi đối tượng, kết quả sử dụng phương pháp (mục đíchđạt được)
PPDH là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên vàhọc sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt được mục đíchdạy học
PPDH có một số đặc điểm sau:
Thực hiện mục tiêu dạy học
Là sự thống nhất của PP dạy và PP học
Trang 20Thực hiện thống nhất chức năng đào tạo và giáo dục
Là sự thống nhất của logic nội dung dạy học và logic tâm lý nhậnthức
Có mặt bên ngoài và bên trong; Có mặt khách quan và chủ quan
Là sự thống nhất của cách thức hành động và phương tiện dạy họcChịu sự chi phối của nội dung dạy học và mục đích dạy học
Hiệu quả phụ thuộc vào trình độ nghiệp vụ sư phạm của giáo viênNgày càng hoàn thiện và phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càngcao của quá trình dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức hành động có trình tự, phối hợptương tác với nhau của giáo viên và của học sinh nhằm đạt được mục đíchdạy học
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháphọc với sự tương tác lẫn nhau, trong đó phương pháp dạy đóng vai tròchủ đạo, còn phương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sựchi phối của phương pháp dạy, song nó cũng ảnh hưởng trở lại phươngpháp dạy Phương pháp dạy học là tổ hợp những biện pháp với tư cách lànhững thành phần cấu trúc của nó, song việc phân như vậy cũng chỉ cótính chất tương đối
Như vậy, có thể hiểu phương pháp dạy học là hệ thống những
hành động có chủ đích theo một trình tự nhất định của giáo viên nhằm
tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh nhằm đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học và chính như vậy mà đạt được mục đích dạy học.