1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LÝ THUYẾT PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN và VIỆC dạy học văn bản kí TRUNG đại TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG

57 115 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 96,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhận rộng rãi và thực sự trở thành tên gọi chính thức cho giaiđoạn sau “ngữ pháp văn bản” - giai đoạn “phân tích diễn ngôn”.Tiếp theo quan niệm của các nhà cấu trúc chủ nghĩa ở giaiđoạn

Trang 1

LÝ THUYẾT PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN VÀ VIỆC DẠY HỌC VĂN BẢN KÍ TRUNG ĐẠI TRONG NHÀ TRƯỜNG

PHỔ THÔNG

Khái quát về diễn ngôn và phân tích diễn ngôn

Hoạt động giao tiếp

Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là sự tiếp xúc giữa conngười (nhóm người) với con người (nhóm người), trong đó diễn

ra sự trao đổi thông tin (theo cách hiểu rộng), đồng thời thể hiệnthái độ, cách đánh giá, cách ứng xử của các nhân vật giao tiếpvới nhau

Trong quá trình giao tiếp, để đạt được đích giao tiếp vàtruyền tải một nội dung nào đó đến người nhận, người phát phảilựa chọn các phương tiện ngôn ngữ sắp đặt chúng theo nhữngnguyên tắc nhất định (quá trình mã hóa hay quá trình tạo lậpdiễn ngôn); sản phẩm được người phát mã hóa trong giao tiếpđược gọi là ngôn bản (diễn ngôn); người nhận, ngược lại tiếpnhận và lí giải diễn ngôn để tìm ra nội dung và mục đích giaotiếp của người phát

Để lĩnh hội được diễn ngôn chúng ta không thể không căn

cứ vào các nhân tố giao tiếp Theo GS Đỗ Hữu Châu có cácnhân tố sau tham gia vào cuộc giao tiếp:

Trang 2

Nhân vật giao tiếp: là những người tham gia vào cuộc

giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra lời nói, cácdiễn ngôn qua đó tác động lẫn nhau Giữa các nhân vật giaotiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân Đặc biệt,trong khái niệm cần chú ý quan hệ liên cá nhân giữa các nhânvật (ngang vai/ không ngang vai) được xác định bởi trục quyền

uy và trục thân sơ Quan hệ liên cá nhân chi phối cả tiến trìnhgiao tiếp, cả nội dung và hình thức của diễn ngôn

Nội dung giao tiếp: là hiện thực, thực tế khách quan được

các nhân vật giao tiếp đưa vào cuộc giao tiếp Đề tài của diễnngôn là một mảng trong thế giới khả hữu được chọn để làm hệquy chiếu cho các diễn ngôn về đề tài đó Thế giới khả hữu lànhững dạng thức tồn tại của hiện thực, cùng với thế giới thựctại chúng ta đang sống hợp lại tạo thành hiện thực ngoài diễnngôn Người phát trước khi giao tiếp phải có quá trình nhậnthức thực tế khách quan Mặt khác, người nhận, độc lập vớingười phát cũng có những nhận thức khách quan nhất định vềnội dung mà người phát đưa vào cuộc giao tiếp

Tiền giả định giao tiếp: Tổng thể các đặc điểm tự nhiên

và xã hội của một dân tộc, một cộng đồng Tiền giả định giaotiếp tồn tại dưới dạng những hiểu biết, những kinh nghiệm vềthế giới tự nhiên và xã hội có trước hoạt động giao tiếp trong tưduy của người phát và người nhận Tiền giả định giúp cho lời

Trang 3

nói của người phát ra được tiếp nhận một cách dễ hiểu, thuậnlợi

Hoàn cảnh giao tiếp: là nơi chốn cụ thể trong một thờigian xác định Hoàn cảnh giao tiếp ảnh hưởng trực tiếp đến đếnhình thức và nội dung của cuộc giao tiếp

Đích giao tiếp: là ý đồ, ý định mà các nhân vật giao tiếp

đặt ra trong một cuộc giao tiếp nhất định Đây là yếu tố quantrọng nhất trong cuộc giao tiếp, nó chi phối việc lựa chọn cácyếu tố còn lại và toàn bộ cách thức tiến hành cuộc giao tiếp.Chọn mạng hiện thực nào trong thế giới để đưa vào nội dunggiao tiếp là do mục đích giao tiếp chi phối Từ mục đích, nhânvật giao tiếp chọn nội dung giao tiếp phù hợp, thiết lập chiếnthuật giao tiếp hiệu quả: Với ai? Trong hoàn cảnh nào? Bằngphương tiện giao tiếp nào…?

Phương tiện giao tiếp: là hệ thống tín hiệu (ở đây là ngôn

ngữ) và cách truyền tín hiệu mà các nhân vật giao tiếp sử dụngtrong quá trình giao tiếp

Các yếu tố của hoạt động giao tiếp có ảnh hưởng qua lại,tác động lẫn nhau và đều ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp

Chúng tôi cho rằng để tiếp cận một tác phẩm theo đườnghướng diễn ngôn người dạy trước tiên cần tìm hiểu về hoạtđộng giao tiếp nói chung Vì suy đến cùng, quá trình sáng tạo ratác phẩm nghệ thuật chính là một hoạt động giao tiếp giữa

Trang 4

người viết/nói với người đọc/nghe Việc hiểu sâu sắc về hoạtđộng giao tiếp sẽ giúp người dạy huy động, vận dụng tập hợptất cả các nhân tố tham gia của cuộc giao tiếp nói chung đểkhám phá triệt để nội dung tư tưởng cũng như hình thức nghệthuật của tác phẩm Ngoài ra việc tìm hiểu các yếu tố phi ngônngữ và tái hiện lại môi trường giao tiếp thật sự trong lớp học sẽgiúp giáo viên thiết kế các hoạt động học tập phù hợp và mới

mẻ

Diễn ngôn và văn bản

“Diễn ngôn” là trong những khái niệm xuất hiện vàonhững năm 50 của thế kỉ XX trong giới phê bình văn học cũngnhư xã hội học “Diễn ngôn” ra đời sau khái niệm “Văn bản” và

“Phân tích diễn ngôn” vốn được coi như giai đoạn “hậu Ngữpháp văn bản” trong nghiên cứu Ngôn ngữ học, khởi đầu từluận điểm cấu trúc luận của F.de Saussure, R Barthes,T.Todorov, G.Genette…

Ở giai đoạn đầu của “diễn ngôn” - “ngữ pháp văn bản”,R.Barthes đã đưa ra định nghĩa về diễn ngôn: “là một đoạn lờinói hữu tận bất kì, tạo thành một thể thống nhất xét từ quanđiểm nội dung, được truyền đạt cùng với những mục đích giaotiếp thứ cấp, và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mụcđích này [ ] gắn bó với những nhân tố văn hóa khác nữa, ngoài

Trang 5

những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ” [Error:Reference source not found;151]

Có thể nói, “đối với các nhà cấu trúc chủ nghĩa, diễn ngônđược hiểu là cấu trúc của ngôn ngữ/ lời nói, những nguyên tắc

tổ chức, sắp xếp ngôn từ trong hệ thống theo một quy định nhấtđịnh” [Error: Reference source not found;47] Các tác giả trêncoi văn bản như sự nối dài của câu và cố gắng phân tách vănbản thành các thành tố và phân tích chúng Họ đi tìm những môthức chung nhất, những cấu trúc khái quát bất biến, phi thờigian nhằm đưa ra một con đường tìm hiểu chung cho mọi loạivăn bản

Trong thời kì này, các nhà nghiên cứu chưa thật sự phânbiệt được bậc ngôn ngữ với bậc diễn ngôn bởi vậy, họ cố gắng

áp dụng các phương pháp trong nghiên cứu đơn vị câu vàonghiên cứu bậc trên câu - văn bản Họ sử dụng các mô hìnhlogic và toán học như một cách tiếp cận máy móc và tất nhiên,

nó hoàn toàn không thành công bởi lẽ diễn ngôn không phải làđơn vị ngữ pháp như các nhà nghiên cứu măc định

Ở các giai đoạn sau, quan niệm về diễn ngôn luôn luônvận động và dần thoát khỏi tình trạng “đặc hữu” của ngànhNgôn ngữ học Đây cũng là giai đoạn các nhà nghiên cứu tranhcãi về việc thống nhất tên gọi cho địa hạt mới mẻ này Cuốicùng trong các công trình của Brown và Yule cũng như “Dụnghọc” của Levinson, cái tên “phân tích diễn ngôn” đã được thừa

Trang 6

nhận rộng rãi và thực sự trở thành tên gọi chính thức cho giaiđoạn sau “ngữ pháp văn bản” - giai đoạn “phân tích diễn ngôn”.

Tiếp theo quan niệm của các nhà cấu trúc chủ nghĩa ở giaiđoạn đầu, nhà nghiên cứu M.Bakhtin đã tiếp cận diễn ngôn theohướng phong cách học, coi diễn ngôn là những đối thoại, phủnhận ngôn ngữ như một hệ thống tĩnh tại, biệt lập mà cần đặt nótrong tương quan với thực tế đời sống Ông chú ý đến lời nóivới sự thấm đẫm của tư tưởng, tri thức hệ Diễn ngôn là khoảngtrời giao tiếp chung của người nói và người nghe mà ở đó lờinói chứa đựng cảm xúc, trầm tích thời đại, sự đa dạng, phức tạpcủa mâu thuẫn xã hội

Cách tiếp cận thứ 3 về diễn ngôn là những tư tưởng củaM.Foucault, ông tổ của lí thuyết hậu hiện đại Ông không quantâm đến cấu trúc của diễn ngôn mà chỉ đi sâu nghiên cứu nhữngyếu tố chi phối việc kiến tạo và vận hành các diễn ngôn Đó là

sự thay thế của các tri thức hệ, của mối quan hệ quyền lực vàdiễn ngôn được coi như một công cụ để kiến tạo tri thức và thựchành quyền lực

Như vậy, Saussure nhấn mạnh đến tính tĩnh tại, khép kíncủa diễn ngôn thì các nhà M.Bakhtin và M.Foucault lại khẳngđịnh tính khả biến, vận động lưu chuyển của diễn ngôn trongđời sống đa dạng, đa tầng Diễn ngôn không chỉ được nghiêncứu về những mô hình bất biến của văn học và ngôn ngữ màcòn được nhìn nhận ở sự giao lưu, đối thoại giữa các tư tưởng

Trang 7

hệ và vạch trần những cơ chế quyền lực ấn giấu bên trong ngônngữ.

Với nhiều hướng tiếp cận, các nhà nghiên cứu có nhiềucách phân loại khác nhau về diễn ngôn GS.TS Trần Đình Sử

bàn luận: “Diễn ngôn là hiện tượng siêu văn bản, liên văn bản,

nó thể hiện trong các văn bản nhưng không đồng nhất với văn bản, không giới hạn trong các văn bản Diễn ngôn là hiện tượng xã hội, có tính chỉnh thể, tính liên tục, tính thống nhất, tính hệ thống Nó gắn với ý thức hệ xã hội, người ta có thể dung ý thức hệ để gọi tên diễn ngôn: diễn ngôn tư sản, vô sản, diễn ngôn mác - xít, diễn ngôn hiện đại, hậu hiện đại Nó cũng gắn với các lĩnh vực tri thức, cho nên có thể lấy lĩnh vực tri thức mà gọi tên nó: ví dụ diễn ngôn văn học, diễn ngôn vật lí, diễn ngôn thi ca, diễn ngôn tính dục Diễn ngôn do đó có tính chỉnh thể hữu hạn Do đó nghiên cứu diễn ngôn không thoát li văn bản cụ thể, nhưng không giới hạn trong bất cứ văn bản nào, bởi tính liên văn bản của nó, không câu nệ vào văn bản cụ thể, mà hướng đến khái quát các cơ chế chung trong việc kiến tạo nên diễn ngôn”[Error: Reference source not found].

Nhà nghiên cứu Trần Thiện Khanh, ông chia thành cácloại sau:

“Dựa vào dạng tồn tại của ngôn ngữ có thể chia diễn ngôn thành hai loại lớn: diễn ngôn nói và diễn ngôn viết.

Trang 8

Dựa vào các lĩnh vực tri thức có thể chia diễn ngôn ra thành các loại: diễn ngôn văn học, diễn ngôn khoa học, diễn ngôn tôn giáo, diễn ngôn đạo đức, diễn ngôn kinh tế, diễn ngôn chính trị, diễn ngôn báo chí, diễn ngôn hành chính, diễn ngôn hội thoại đời thường, diễn ngôn nghệ thuật, diễn ngôn phi nghệ thuật, diễn ngôn pháp lí, diễn ngôn quân sự

Dựa vào nội dung phát ngôn có thể chia diễn ngôn thành các loại: diễn ngôn kì ảo, diễn ngôn về tính dục, diễn ngôn về con người, diễn ngôn về bệnh điên, diễn ngôn phù thuật, diễn ngôn hiện thực, diễn ngôn hậu thực dân.

Dựa vào thể loại, có thể chia diễn ngôn báo chí thành diễn ngôn tin tức, diễn ngôn quảng cáo, diễn ngôn phóng sự điều tra, diễn ngôn tường thuật; có thể phân loại diễn ngôn văn học thành diễn ngôn tự sự, diễn ngôn thơ, diễn ngôn phê bình hoặc diễn ngôn hội thoại đời thành diễn ngôn phỏng vấn, xin lỗi, giới thiệu, chào hỏi…

Dựa vào cấp độ của diễn ngôn có thể chia diễn ngôn thành: diễn ngôn và siêu diễn ngôn.

Dựa vào chủ thể diễn ngôn có thể chia diễn ngôn thành: diễn ngôn của cá nhân và diễn ngôn của tập thể, diễn ngôn có nhu cầu có tên “tác giả” và diễn ngôn không có nhu cầu có

“tác giả”, diễn ngôn văn học nữ giới…

Trang 9

Dựa vào cấu trúc có thể xác định diễn ngôn độc lập và diễn ngôn phụ thuộc; diễn ngôn nguồn, diễn ngôn phụ trợ và diễn ngôn bao chứa; diễn ngôn của người kể chuyện và diễn ngôn của nhân vật; diễn ngôn liên tục và diễn ngôn gián đoạn…

Dựa vào chức năng của ngôn ngữ (D Nunan) có thể chia diễn ngôn thành hai loại: diễn ngôn giao dịch và diễn ngôn liên nhân” [Error: Reference source not found].

Trong giới hạn của luận văn chúng tôi chưa có điều kiệngiới thuyết về từng loại diễn ngôn nhưng có thể khẳng địnhtrong một loại diễn ngôn có thể bao chứa và liên quan đến cácloại diễn ngôn khác Chúng tôi tập trung vào loại diễn ngôn vănhọc “Các nhà trần thuật học quan niệm văn học có bản chấtgiao tiếp Sự giao tiếp văn học được tiến hành trên cơ sở mộtchuỗi giao tiếp gồm người gửi, người nhận, thông báo, sự mãhoá các kí hiệu và hệ thống chế ước của việc sử dụng các kíhiệu Các nhà trần thuật học chủ trương phân tích diễn ngôngiao tiếp Đối với họ, mỗi văn bản trần thuật thống hợp trongmình nó diễn ngôn của người trần thuật với diễn ngôn của cácvai; và mỗi diễn ngôn đó lại có thể phân chia thành các đơn vịnhỏ hơn”[Error: Reference source not found]

Trong công trình “Kí như một loại hình diễn ngôn”, tácgiả Nguyễn Ngọc Minh đã khẳng định kí đầy đủ đặc điểm,thậm chí thích hợp để coi là một loại hình diễn ngôn Kí trung

Trang 10

đại đặc biệt liên quan đến các diễn ngôn về quyền lực, ý thức hệ

và cách tạo lập ngôn từ mang tính đặc trưng phổ quát tiêu biểucho thể loại Chính nhờ những nhân tố đó, chúng tôi cho rằngtiếp cận kí dưới góc độ diễn ngôn là một hướng đi khả quan,hứa hẹn nhiều điều thú vị

Như vậy có thể thấy “Diễn ngôn” là một khái niệm rộng,

có nhiều cách hiểu nhưng tựu chung lại, nghiên cứu diễn ngônđồng nghĩa với việc nghiên cứu ngôn ngữ Tuy nhiên, đó khôngphải nghiên cứu ngôn ngữ một cách đơn thuần hình thức mà tậptrung vào mặt nghĩa ẩn sâu bên trong lớp ngôn từ Bên cạnh đó,địa vực diễn ngôn cũng đi sau lí giải căn nguyên cho sự lựachọn ngôn từ không hề “ngẫu nhiên” của tác giả như minhchứng cho việc mỗi tác giả đều thể hiện cá tính và tư tưởng quakhông chỉ nội dung, ý nghĩa của văn bản mà còn qua việc tổchức, lựa chọn, sắp xếp ngôn từ một cách đầy “dụng ý”

Sau khi định hình hai giai đoạn trên, không ít nhà phêbình cố gắng đi tìm câu trả lời xoay quanh câu hỏi lớn “diễnngôn hay văn bản?”

Văn bản theo nhà nghiên cứu Diệp Quang Ban đó là “mộtloại đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời nói hay lờiviết hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài , như một truyện

kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường.”

Trong giới nghiên cứu xuất hiện ba khuynh hướng:

Trang 11

Thuật ngữ “diễn ngôn” và “văn bản” có thể thay thế chonhau Khuynh hướng này được đề cập đến trong giai đoạn đầucủa “Phân tích diễn ngôn” Cả hai thuật ngữ đều được dùng đểchỉ sản phẩm ngôn ngữ nói và viết có tính mạch lạc và liên kết

“Văn bản” đối lập với “diễn ngôn” Họ cho rằng “vănbản” là sản phẩm ngôn ngữ dạng viết và “diễn ngôn” thì ngượclại - ở dạng nói

“Diễn ngôn” bao hàm “văn bản” Theo nhà nghiên cứu

Nguyễn Hòa “ngoại diên của diễn ngôn rộng hơn so với văn bản, bởi lẽ với tư cách là một quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp, nó còn bao hàm cả yếu tố ngoài ngôn ngữ như ngữ cảnh tình huống, yếu tố dụng học và tác động của các chiến lược văn hóa ở người sử dụng” [Error: Reference source not

found;32]

Tuy nhiên, G Brown và G Yule (1983) có lẽ đã đưa ra

cách phân biệt được tán thành hơn cả: “Văn bản là sản phẩm của diễn ngôn như một quá trình” [Error: Reference source not found;48] D.Numan (1993) cũng khẳng định: “văn bản chỉ ghi chép hoặc ghi âm một sản phẩm giao tiếp, trong khi đó diễn ngôn chỉ một sản phẩm giao tiếp trong ngữ cảnh” [Error:

Reference source not found;37]

Văn bản (bề mặt từ

ngữ)

Trang 12

Diễn ngôn và văn bản [Error: Reference source not

found;215]

Như vậy, nếu như văn bản là sản phẩm cuối cùng của hoạtđộng giao tiếp thì diễn ngôn lại là cả quá trình giao tiếp từ lúcbắt đầu cuộc giao tiếp cho đến khi cuộc giao tiếp kết thúc Do

đó, văn bản đơn thuần là bề mặt ngôn từ có thể diễn đạt bằngchữ viết hoặc âm thanh, còn diễn ngôn thiên về mặt nghĩa vàchức năng Bởi vậy, văn bản tĩnh tại, khép kín còn diễn ngônmang tính động và mở (đối với các nhân tố ngoài văn bản/ngônngữ)

Rõ ràng, thực tiễn nghiên cứu văn học cho thấy, ngữ phápvăn bản không thể lí giải và đủ công cụ cũng như phương pháp

để giải quyết các vấn đề ngoài ngôn ngữ, cách phân tích vănbản đơn thuần không đủ góc cạnh để nhìn nhận một cách đúngđắn quá trình sáng tác - tiếp nhận của nhà văn - độc giả Điều

đó khiến việc đánh giá, phê bình một tác phẩm trở nên hạn chế

và khuôn mẫu Truy tìm “dấu vết tác giả” trong quá trình sángtác là một thao tác vô cùng quan trọng trong việc kiến tạo nghĩacủa văn bản Đó chính là lí do tại sao “phân tích diễn ngôn” ra

Diễn ngôn (nghĩa-logic,

chức năng)

Trang 13

đời như một tín hiệu đáng mừng, cung cấp cho người nghiêncứu những khái niệm công cụ và cách thức tiếp cận văn bản vănchương một cách thỏa đáng hơn

Phân tích diễn ngôn và Ngữ pháp văn bản.

Cùng với sự phát triển của lĩnh vực “diễn ngôn”, kháiniệm “phân tích diễn ngôn” ra đời như một công cụ hữu hiệu,một mô hình giúp các nhà ngôn ngữ học giải mã các mã củavăn bản một cách có hệ thống và đầy thuyết phục bên cạnh kháiniệm “ngữ pháp văn bản” Mặc dù đã được đón nhận đông đảo

và rộng rãi hơn nhưng cách hiểu khái niệm “phân tích diễnngôn” vẫn còn là một vấn đề đối với nhiều nhà nghiên cứu

Trong cuốn “Phân tích diễn ngôn”, G Brown và G.Yule

đã nhận định: “Phân tích diễn ngôn nhất thiết phải phân tích ngôn ngữ đang được sử dụng” tức chú ý đến đối tượng và phạm

vi nghiên cứu của bộ môn này Theo đó, hai ông đã trình bàytrong công trình của mình 7 thành tố chính cấu thành nội dungcủa “phân tích diễn ngôn”:

Hình thức và chức năng ngôn ngữ

Vai trò của ngữ cảnh trong giải thuyết diễn ngôn

Chủ đề và việc biểu hiện nội dung của diễn ngôn

“Phân đoạn” và việc biểu hiện cấu trúc của diễn ngôn.Cấu trúc thông tin

Trang 14

Bản chất của quy chiếu trong văn bản và diễn ngôn

Tính mạch lạc trong việc giải quyết diễn ngôn

Đóng vai trò là một trong những nhà nghiên cứu gạo cội

về “phân tích diễn ngôn” ở Việt Nam, GS.TS Diệp Quang Ban

đã đưa ra ý kiến và ủng hộ quan điểm: “Phân tích diễn ngôn là

đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên

câu (diễn ngôn hay văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó,

bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt

hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực (register) mà nội

dung hết sức phong phú và đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc

thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá nhân, cho

đến các hiện tượng xã hội, văn hóa, dân tộc)” [Error: Reference

source not found;158]

Trong định nghĩa này có 3 yếu tố quan trọng nhất như sơ

đồ sau:

Đối tượng khảo sát: tài

liệu ngôn ngữ nói và viết

bậc trên câu (diễn ngôn/

văn bản)

Đối tượng nghiên cứu:

ý nghĩa của các từ trong văn bản/diễn ngôn Phân tích

diễn ngôn

Phương pháp tiếp cận:

ngôn ngữ đang trong sử

dụng

Trang 15

Khái niệm “Phân tích diễn ngôn

Nếu như ngôn ngữ học văn bản với cái nhìn của các nhàcấu trúc học khiến văn bản chỉ được tiếp nhận một cách khépkín hoàn toàn dựa trên những gì xuất hiện trên trang giấy thìphân tích diễn ngôn cho phép mở rộng quá trình nhìn nhận sự

ra đời của một văn bản, từ lúc nhen nhóm ý tưởng, quá trình tôiluyện cho đến khi đến được tay độc giả và thu nhận phản hồi.Những cuộc giao tiếp ấy, lí thuyết phân tích văn bản đơn thuầnchưa thể giải quyết triệt để và chưa đủ công cụ để khai triển Rõràng, phân tích diễn ngôn đã chú trọng đến toàn bộ quá trìnhgiao tiếp thay vì chỉ quan tâm đến sản phẩm cuối cùng của giaotiếp – văn bản (dạng nói hoặc viết) Phân tích diễn ngôn chophép các nhà nghiên cứu tiếp cận văn bản dưới nhiều góc độ,xem xét tác phẩm một cách đa chiều và gắn liền chúng với thờiđại ra đời cũng như những quy tắc, phong cách của việc sángtác văn học (chung và riêng)

Ngữ vực

Ngữ vực là thuật ngữ biểu thị những gì liên quan đến môitrường ngoài ngôn ngữ của văn bản Diệp Quang Ban quanniệm: ngữ vực là dấu vết nghĩa tiềm ẩn bên dưới các từ ngữ,chúng phản ánh tình huống ngoại văn bản Theo ông, các yếu tố

Trang 16

thuộc ngữ vực gồm: trường diễn ngôn, phương thức diễn ngôn

và không khí diễn ngôn

Trường diễn ngôn

Diệp Quang Ban cho rằng: “trường (field) là sự kiện tổng quát trong đó diễn ngôn/ văn bản hành chức, cùng với tính chủ động có mục đích của nói/ người viết, nó bao gồm cả đề tài - chủ đề, nói vắn tắt, trường là tin động xã hội được thực hiện”

[Error: Reference source not found;159]; hiểu đơn giản trường

là hoàn cảnh bao quanh diễn ngôn Trường được coi là nơi gây

ra kích thích để con người chủ động tạo văn bản, là nơi cungcấp chủ đề - đề tài cho văn bản

Thức diễn ngôn

“Thức ( mode), là chức năng của văn bản trong sự kiện hữu quan, nói và viết, ứng khẩu và có chuẩn bị, các thể loại của diễn ngôn / văn các phép tu từ hoặc các hành động ngôn ngữ như kể, hỏi, thuyết phục, khuyên nhủ, đe dọa, đưa đẩy , nói vắn tắt, thức là vai trò của ngôn ngữ trong tình huống Như vậy, có thể hiểu là các cách tạo ngôn ngữ thích hợp với sự kiện cần diễn đạt, chịu sự chi phối của các điều kiện tạo văn bản” [Error: Reference source not found;159].

Không khí diễn ngôn

“Không khí chung (tenor) phản ánh các kiểu trao đổi

Trang 17

theo vai, gồm các quan hệ xã hội thích ứng với các vai, quan hệ lâu dài hay nhất thời, giữa những người tham dự cuộc tương tác, nói vắn tắt, không khí chung là các vai xã hội được trình diễn” [Error: Reference source not found; 159].

Không khí diễn ngôn phản ánh mối quan hệ giữa nhữngngười tham gia giao tiếp với trạng thái tâm sinh lí của họ, vớicác kiểu quan hệ giữa họ

Vai trò của ngữ cảnh trong giải thuyết diễn ngôn

Trong tất cả các đường hướng phân tích diễn ngôn có thểthấy ngữ cảnh là khái niệm quan trọng như một nhân tố cốt yếu

để tạo lập và hiểu diễn ngôn Bởi lẽ, ngôn ngữ về bản chất chứcnăng giao tiếp không thể diễn ra trong môi trường chân khôngđơn thuần mà luôn luôn nảy sinh trong một ngữ cảnh nhất định.Tuy nhiên, để hiểu sâu sắc và thống nhất khái niệm này là điềukhông hề đơn giản

D Numan nhận định “Ngữ cảnh quy chiếu về tình huống gây ra diễn ngôn và tình huống trong đó diễn ngôn được gắn vào” [Error: Reference source not found;22] Ông chia ngữ

cảnh thành hai loại chính: ngữ cảnh ngôn ngữ - ngôn ngữ baoquanh và đi kèm với sản phẩm diễn ngôn đang được phân tích

và thứ hai là ngữ cảnh phi ngôn ngữ hay là ngữ cảnh tiền giảđịnh mà trong đó diễn ngôn xảy ra Các ngữ cảnh phi ngôn ngữbao gồm: kiểu loại của sử dụng giao tiếp, đề tài, mục đích của

Trang 18

sự kiện, bối cảnh…

G.Brown và G Yule còn gọi ngữ cảnh là ngữ cảnh mởrộng (nơi diễn ngôn tồn tại) Nó luôn thay đổi và được tái tạotrong quá trình giao tiếp và được bổ sung thêm các yếu tố mới.Hai ông chỉ ra sự khác nhau giữa những nhà phân tích diễn

ngôn và những nhà ngôn ngữ học hình thức ở chỗ “Bởi vì nhà phân tích khảo sát cách người viết/nói dùng ngôn ngữ trong ngữ cảnh, cho nên anh ta quan tâm đến mối quan hệ giữa người nói và phát ngôn trong trường hợp sử dụng cụ thể nào

đó, hơn là mối quan hệ tiềm ẩn giữa câu này với câu kia, mà không tính đến cách dùng của chúng.”[Error: Reference source

not found;53] Cũng bởi vậy mà “Chính người nói qui chiếu(bằng cách dùng từ ngữ thích hợp): anh ta làm cho từ ngữ cótính qui chiếu thông qua hành vi qui chiếu” [Error: Referencesource not found;53]

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hòa cho rằng về cơ bản ngữ cảnh

là sự tích hợp của ba thành tố: kiến thức, tình huống, văn bản ởmức độ khác nhau

Theo Diệp Quang Ban, để dung hòa cũng như kế thừathành tựu của Dụng học, ông đã đưa ra cách hiểu chung về bacấp bậc của ngữ cảnh gắn liền với các cấp độ trong hệ thốngngôn ngữ:

Ngữ cảnh (thuộc) phát ngôn (một số nhà nghiên cứu gọi

Trang 19

là ngôn cảnh (co-text)) là kiểu ngữ cảnh nằm trong nội tại phát

ngôn:

Ngữ cảnh ngữ âm là chu cảnh ngữ âm của một yếu tố ngữ

âm nào đó

Ngữ cảnh từ ngữ là những từ ngữ

Ngữ cảnh (thuộc) tình huống (The context of situation)

là ngữ cảnh bao gồm các yếu tố phi ngôn ngữ, liên quan đếnmôi trường bên ngoài văn bản có ảnh hưởng trực tiếp đến ýnghĩa của văn bản Trong một số trường hợp để hiểu sâu sắchơn ngữ cảnh tình huống chúng ta cần xem xét đến ngữ cảnhvăn hóa như thói quen, thể chế, quyền lực, của một lớp người,cộng đồng trong cùng một khu vực hoặc thời đại nào đó

Để hiểu giải quyết được vấn đề ngữ cảnh tất nhiên takhông thể không chú ý vào nội hàm của các khái niệm “quychiếu”, “tiền giả định”, “hàm ý” và “luận suy” Trong đó có haikhái niệm cần chú ý hơn cả do sự khác biệt trong quan niệmgiữa các nhà ngữ dụng với các nhà phân tích diễn ngôn TheoYule và Brown, từ ngữ không quy chiếu đến vật, sự vật màchính người viết mới là người “nhúng tay” vào công đoạn này

“Chính người nói quy chiếu (bằng cách dùng từ ngữ thích hợp): anh ta làm cho từ ngữ có tính quy chiếu thông qua hành

vi quy chiếu”.[Error: Reference source not found;53] Về phép luận suy hai ông cũng có những nhận định khác biệt “Vì các

Trang 20

nhà phân tích diễn ngôn, giống như người nghe, không tiếp cận trực tiếp đến nghĩa theo dự định của người nói khi tạo ra phát ngôn, anh ta thường phải dựa vào quá trình luận suy để đi đến một cách hiểu nào đó đối với phát ngôn hay liên hệ giữa các phát ngôn” [Error: Reference source not found;61] Tuy nhiên,

trong giới hạn của luận văn chúng tôi sẽ áp dụng chủ yếu kiểungữ cảnh thứ ba: ngữ cảnh tình huống (theo lí thuyết của Brown

và Yule)

Để hiểu rõ hơn về các yếu tố của ngữ vực và vai trò củangữ cảnh trong giải thuyết diễn ngôn chúng ta cùng xem xét ví

dụ sau đây: Cuộc thoại giữa chị Dậu và Nghị Quế:

“Bắt chân chữ Ngũ ông vểnh mặt hút sòng sọc một hơi: Con mẹ kia! Bán con bán cái thế nào? Vào mà nói chuyện với bà !

Rón rén, chị Dậu đứng nép vào cửa và ngập ngừng:

Thưa lạy hai cụ, nhà con túng quá, xin hai cụ cứu giúp con.

Bà Nghị nhả miếng bã trầu cầm tay, quai thật dài cặp môi cắn chỉ:

Chẳng cứu với vớt gì cả! Mày có bán đứa con gái tao mua!

Xin vâng!

Trang 21

Sáng ngày chồng mày nói rằng con bé ấy đã lên bẩy tuổi, xin lấy ba đồng Cụ Ông tưởng nó nói thật, bằng lòng cho nó hai đồng Nhưng giờ nghe nói con mày mới có sáu tuổi, thì tao triết đi một nửa, chỉ cho một đồng thôi Thuận bán thì về đưa nhau sang đây!

Chị Dậu ngơ ngác:

Thưa cụ, thật quả cháu đã lên bẩy, nó đẻ tháng dần năm

Tý Chúng con không dám nói dối thưa cụ!

Tao không thể tin cái miệng vợ chồng nhà mày! Người ta mách tao là nó lên sáu, thì tao hay nó lên sáu Chứ tao biết đâu

nó đẻ năm tý hay đẻ năm tỵ năm tỳ !”

(Tắt đèn, Ngô Tất Tố)

Ngữ cảnh: Bối cảnh truyện Tắt đèn diễn ra trong một

cuộc đốc sưu, đốc thuế ở làng quê Việt Nam, cụ thể ở đây làlàng Đông Xá dưới thời Pháp thuộc Vợ chồng chị Dậu sau haicái tang liên tiếp của mẹ chồng và chú Hợi, tuy cả hai cùng đầutắt mặt tối quanh năm mà cơm vẫn không đủ ăn, áo vẫn không

đủ mặc Giờ đã là hạng cùng đinh bậc nhì, bậc nhất trong làng.Anh Dậu chồng chị bị trận ốm thập tử nhất sinh, kéo dài mấytháng trời, không có sức lao động Vì không có tiền nộp sưu,anh Dậu bị bọn cường hào bắt trói tra tấn dã man Chị Dậu chạytất tả khắp nơi, ngược xuôi vay mượn, bước đường cùng chịđành rứt ruột cả đứa con gái đầu lòng và ổ chó mới sinh cho vợ

Trang 22

chồng Nghị Quế để trang trải món nợ cho nhà nước Cuộc hộithoại nằm ở đoạn chị đến nhà Nghị Quế để thưa chuyện báncon Sau cuộc hội thoại mới chị Dậu mới dắt con và đàn chómới đẻ đến để trao cho vợ chồng lão địa chủ Ngữ cảnh cho tanắm các được các tiền giả định về bối cảnh xã hội cũng như chucảnh ngôn ngữ bao quanh đoạn hội thoại nhằm khai thác vàthấu hiểu những điều tác giả cố tình “chỉ xuất” đến Vì sao ta cóthể thấy căm hận hay xót thương cho tình cảnh của chị Dậu bởiNgô Tất Tố đã cố tình sắp đặt và lựa chọn những phân vai đặcsắc nhằm bộc lộ diễn ngôn về “xã hội nửa thực dân, nửa phongkiến thối nát” Vợ chồng Nghị Quế là đại diện cho giai cấp địachủ phong kiến (chỉ xuất gián tiếp) tàn nhẫn, ác độc, mưu mô,xảo quyệt Chị Dậu điển hình cho giai cấp nông dân vô sản,cùng đinh, thấp cổ bé họng Tất cả những kết luận này đều rút

ra nhờ những chỉ xuất gián tiếp thông qua dụng ý của tác giả

Trường diễn ngôn: tại nhà Nghị Quế, nơi cuộc mua bán

giữa chị Dậu và vợ chồng Nghị Quế diễn ra Nghị Quế mặc cả,

ép giá bán cái Tý khi biết cái Tý mới được 6 tuổi Cuộc hộithoại diễn ra với sự van nài, thuyết phục của chị Dâu nhưngkhông thành công Có thể thấy đây là cuộc hội thoại diễn ra ở

xã hội cũ qua các từ ngữ “Nghị Quế”, ‘chúng con”, “thưa cụ” Cuộc hội thoại thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm, lên án sựnghiệt ngã, bất công trong xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến,khi con người bị chèn ép đến tận cùng phải bán đi chính những

Trang 23

gì mình yêu quý nhất Có thể thấy trường diễn ngôn ở đâychính là hoàn cảnh xã hội phi lí đã thúc đấy tính chủ động vàmục đích của người viết

Thức diễn ngôn: là cách thức trao đổi giữa chị Dậu và hai

vợ chồng Nghị Quế qua hình thức đối thoại có qui thức, lễ nghi,

có kính ngữ “thưa, bẩm”, lời đối thoại của Nghị Quế có sựchuẩn bị trước (vì đã biết được anh Dậu nói sai sự thật) còn lờithoại của chị Dậu là những lời van xin, nài nỉ, không đượcchuẩn bị trước hay có thể nói là không như những gì chị tưởngtượng trước đó Qua đó có thể thấy Nghị Quế là con người vôcùng xảo quyệt, toan tính, keo kiệt đối lập với chị Dậu ngâythơ, chất phác và yếu thế

Không khí diễn ngôn: là không khí trao đổi thông tin

trên các kiểu trên vai của một bên là địa chủ phong kiến và mộtbên là người nông dân nghèo hèn, không có sự ngang bằng về

vị thế giao tiếp Đây là mối quan hệ cố định, bền vững nên chịDậu chỉ biết “rón rén, ngơ ngác” và không dám phản kháng.Tâm lí của chị Dậu là muốn thương thỏa để có đủ tiền đóng sưuthuế nhưng không thành và đành chấp nhận sự áp đặt, lí lẽ của

vợ chồng Nghị Quế

Như vậy, để phân tích diễn ngôn/ tư tưởng của mỗi ngườinói chúng ta cần lưu ý đến ngữ vực và ngữ cảnh để đặt đốitượng xem xét vào môi trường giao tiếp cụ thể với những thành

tố giao tiếp nhằm đảm bảo tính toàn vẹn và hoàn chỉnh của quá

Trang 24

trình giao tiếp và sản phẩm giao tiếp

Liên kết và mạch lạc

Khái niệm liên kết và mạch lạc

Khái niệm liên kết (cohesion) và mạch lạc (coherence) làhai khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đề cập và

có liên quan mật thiết với nhau

Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Hệ thống liên kết văn bản

tiếng Việt” đã đưa ra định nghĩa về khái niệm liên kết: “Liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ các câu trong văn bản” [Error: Reference source not found;19] Theo ông,

liên kết là vấn đề thuộc phạm vi cấu trúc nội tại của văn bảnđược thể hiện ở liên kết nội dung và hình thức

Diệp Quang Ban cũng đưa ra định nghĩa: “Liên kết, xét cụthể, là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm tronghai câu (mệnh đề/ lượt lời/ luận cứ…) theo cách giải thích nghĩacho nhau” [Error: Reference source not found;347] và mạch lạc

là “khái niệm có ngoại diên bao quát rộng, bao gồm tất cả các kiểu cấu trúc có bản chất khác nhau, liên quan đến mặt nghĩa

và mặt sử dụng văn bản” [Error: Reference source not

found;293] Nói một cách rõ ràng hơn, mạch lạc chính là sự nốikết có tính chất hợp lí về mặt nghĩa và về mặt chức năng đượctrình bày trong quá trình triển khai một văn bản nhằm tạo ra sựkết nối với nhau hơn là liên kết câu với câu

Trang 25

Brown & Yule cho rằng: “Một trong những ảo tưởng khá phổ biến trong phân tích ngôn ngữ là ảo tưởng cho rằng chúng

ta hiểu được nghĩa của một thông điệp ngôn ngữ chỉ trên cơ sở

từ ngữ và cấu trúc mà câu dùng để chuyển giao thông điệp ấy”,

[Error: Reference source not found;345] Xuất phát từ nhậnđịnh ấy, chúng tôi băn khoăn về con đường truy tìm “dấu vết”,

“sợi dẫn” mà người nói đã sắp đặt trong cuộc hội thoại củamình Đó là những kết cấu logic về nghĩa được ẩn chứa dướinhững kết cấu bề mặt Trong các phần trên chúng tôi đã nói đếnviệc văn bản đơn thuần là bề mặt ngôn từ có thể diễn đạt bằngchữ viết hoặc âm thanh, còn diễn ngôn thiên về mặt nghĩa vàchức năng Vậy thì nghĩa và chức năng được thể hiện rõ ràngnhất ở tính liên kết và mạch lạc Tất cả các phép liên kết hìnhthức đều nhằm hướng đến mạch lạc về nghĩa, chủ đề mà ít cóhọc sinh quan tâm đến khi nghiên cứu tác phẩm Điều có cũngkéo theo việc học sinh không biết cách tìm ra mạch lạc của vănbản và mạch lạc được thể hiện như thế nào trên bề mặt nhữngcon chữ dày đặc

Hai khái niệm liên kết và mạch lạc đều có nội hàm rộng,phức tạp với cả những dấu hiệu ngôn ngữ và phi ngôn ngữ màđến nay để vận dụng chúng vào nghiên cứu cả một quá trìnhgiao tiếp là điều không hề dễ dàng Trong phần giới thuyếtchúng tôi sẽ đề cập đến một số nội dung thuộc hai địa hạt này

Trang 26

mà chúng tôi cho rằng thích hợp với thể loại ký sự cũng nhưtầm đón nhận của học sinh trong quá trình giảng dạy

Biểu hiện của liên kết và mạch lạc

Theo GS Diệp Quang Ban mạch lạc và liên kết đều liên

quan đến “sợi dây nối” nghĩa giữa các yếu tố trong văn bản

nhưng nếu như mạch lạc chính là sợi dây đó thì liên kết là hiệnthực hóa các sợi dây đó ở những chỗ cần thiết (bằng ngôn ngữhoặc phi ngôn ngữ) Ông đã trình bày về các nội dung sau củaliên kết và mạch lạc

Phương thức liên kết:

Phép lặpPhép thếPhép đốiPhép nốiPhép liêntưởng

Phép tuyếntính

Trong quan hệ ngoạichiếu

Trong quan hệ lập luậnTrong quan hệ thíchhợp giữa các hành động nói

Trang 27

… ….

Biểu hiện của liên kết và mạch lạc.

Liên kết và mạch lạc chúng tôi nhận thấy rằng: mạch lạc

và liên kết là hai phương diện khác nhau Mạch lạc là “sợi dâynối” các yếu tố mang nghĩa trong văn bản, trong câu, giữa vănbản với thế giới khách quan Liên kết lại là một bộ phận trong

hệ thống của một ngôn ngữ với chức năng nối nghĩa của câutrong văn bản, theo những cấu hình nghĩa xác định Một chuỗicâu có liên kết vẫn có thể không mạch lạc với nhau và khôngtạo thành một văn bản Liên kết chỉ góp phần tạo ra mạch lạctrong một văn bản vốn đã chứa mạch lạc, điều đó dẫn đến việcnhững chuỗi câu tuy không có liên kết về hình thức, ngôn ngữvẫn có tính mạch lạc và tạo nên một văn bản

Ví dụ: Một trong những danh nhân văn hóa thế giới củaViệt Nam là Nguyễn Trãi Nguyễn Trãi là trường chuyên rất nổitiếng ở tỉnh Hải Dương

Rõ ràng trong ví dụ trên, từ “Nguyễn Trãi” được lặp lạinhưng không hề có tính nối kết về nghĩa của hai câu Điều đótạo nên tính không thống nhất về mặt đề tài cũng như tính hợp

lí về nghĩa giữa hai câu Ngược lại trong ví dụ sau dù không cóbiểu hiện về liên kết nhưng cuộc hội thoại vẫn có mạch lạc:

A: Ê, tối nay đi nghe ca nhạc không?

B: Có trận bóng đá chung kết giải ngoại hạng Anh mà

Trang 28

A: Đành vậy

Mở đầu cuộc thoại là lời mời của A, theo lẽ thường, B sẽphải đáp lại là “cảm ơn” hoặc “xin lỗi” Tuy nhiên, B đã từ chốibằng cách đưa ra một thông tin khác phù hợp với sở thích củamình A đáp lại là “đành vậy” tỏ ý chấp nhận lời xin lỗi của B.Tất cả những hành động nói trên dung hợp được với nhau tạothành tính mạch lạc cho cuộc hội thoại, mặc dù giữa các câu nóikhông có các phương tiện liên kết

Từ những phân tích trên, chúng tôi xin phép được trìnhbày về mạch lạc như yếu tố chủ chốt, là “đốt xương sống” đểcác yếu tố liên kết được thêm vào nhằm làm nổi bật dụng ý củangười nói Các biểu hiện của liên kết sẽ được trình bày lồngghép với các biểu hiện của mạch lạc để thể hiện mối quan hệgiữa hai yếu tố trên được rõ nét hơn

Mạch lạc thể hiện trong quan hệ giữa các đề tài-chủ đề của các câu

Đề tài là phạm vi hiện thực bao quát được người nói đưavào diễn ngôn Chủ đề là khía cạnh, phương diện chủ yếu màngười nói đề cập đếm để làm nổi bật đề tài và tư tưởng củangười nói/viết Đề tài có thể được thể hiện qua các danh từ(cụm danh từ) trong các chức năng cú pháp chủ ngữ, bổ ngữ…,

có thể là động từ (cụm động từ), tính từ (cụm tính từ) trongchức năng cú pháp vị ngữ, bổ ngữ… miễn là chúng có thể đối

Ngày đăng: 25/05/2021, 17:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w