1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn kinh tế các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế tác động đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu á​

92 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU (12)
    • 1.1. Lý do lựa chọn đề tài (12)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (13)
    • 1.3. Phương pháp nghiên cứu (13)
    • 1.4. Phạm vi nghiên cứu (14)
    • 1.5. Ý nghĩa của đề tài (14)
    • 1.6. Kết cấu đề tài (14)
  • CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH PHẦN CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐẾN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY (16)
    • 2.1. Cơ sở lý thuyết (16)
      • 2.1.1. Cân đối ngân sách (16)
        • 2.1.1.1. Khái niệm cân đối ngân sách nhà nước (16)
        • 2.1.1.2. Tài trợ thâm hụt ngân sách (16)
      • 2.1.2. Cán cân thanh toán quốc tế (BOP) (19)
        • 2.1.2.1. Khái niệm (19)
        • 2.1.2.2. Các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế (19)
        • 2.1.2.3. Các yếu tố tác động đến cán cân thanh toán quốc tế (20)
      • 2.1.3. Tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước (21)
        • 2.1.3.1. Tác động của cán cân tài khoản vãng lai đến cân đối ngân sách nhà nước (21)
        • 2.1.3.2. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến cân đối ngân sách nhà nước 13 2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây (23)
      • 2.2.1 Cân đối ngân sách nhà nước (24)
      • 2.2.2 Các cách tiếp cận trong phân tích cán cân thanh toán quốc tế (27)
      • 2.2.3 Tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước (30)
        • 2.2.3.1. Cán cân tài khoản vãng lai tác động đến cân đối ngân sách nhà nước (30)
        • 2.2.3.2. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến cân đối ngân sách nhà nước. 23 2.3. Kết luận (33)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (36)
    • 3.1. Phương pháp nghiên cứu (36)
    • 3.2. Dữ liệu (38)
    • 3.3. Mô hình nghiên cứu (39)
    • 3.4. Giới thiệu các biến (39)
    • 3.5. Các bước tiến hành (40)
    • 3.6. Kết luận (41)
  • CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH VÀ PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH PHẦN CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐẾN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC (43)
    • 4.1.1 Việt Nam (43)
    • 4.1.2 Thái Lan (45)
    • 4.1.3 Philippines (48)
    • 4.1.4 Malaysia (50)
    • 4.1.5 Indonesia (52)
    • 4.1.6 Ấn Độ (53)
    • 4.1.7 Pakistan (54)
    • 4.1.8 Bangladesh (55)
    • 4.1.9 Sri Lanka (56)
    • 4.1.10 Mông Cổ (57)
    • 4.2. Phân tích định lượng tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á (58)
      • 4.2.1. Kết quả thống kê mô tả (58)
      • 4.2.2. Kết quả kiểm định tính dừng (60)
      • 4.2.3. Kết quả hồi quy Pool OLS, FEM và REM (61)
      • 4.2.4. Kết quả hồi quy GLS (63)
      • 4.2.5. Thảo luận về kết quả nghiên cứu (63)
    • 4.3. Kết luận (64)
  • CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN, HÀM Ý VÀ KIẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH (65)
    • 5.1. Kết luận của nghiên cứu (65)
    • 5.2. Hàm ý và kiến nghị về chính sách (65)
      • 5.2.1. Chính sách tác động cán cân tài khoản vãng lai (66)
      • 5.2.2. Chính sách tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài (66)
      • 5.2.3. Chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (67)
    • 5.3. Hạn chế và hướng phát triển của đề tài (68)

Nội dung

Khác với những nghiên cứu trước đây, chỉ tìm hiểu mối quan hệ giữa thâm hụt tài khoản vãng lai và thâm hụt ngân sách nhà nước, luận văn đã mở rộng nghiên cứu sự tác động của các thành ph

GIỚI THIỆU

Lý do lựa chọn đề tài

Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong việc ổn định, tăng trưởng kinh tế, giúp phân bổ lại nguồn lực, giảm bất bình đẳng thu nhập và xã hội, quản lý doanh nghiệp nhà nước Nếu ngân sách nhà nước bị thâm hụt lớn sẽ gây bất ổn kinh tế, nó ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thực, tổng sản lượng đầu ra, tiết kiệm tư nhân, đầu tư tư nhân và cán cân tài khoản vãng lai (Papadogonas & Stournaras, 2006) Arjomand và các cộng sự (2016) cũng tìm thấy mối quan hệ ngược chiều của thâm hụt ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế khi nghiên cứu vai trò của thâm hụt ngân sách ở các quốc gia MENA Tuy nhiên, hiện tại ngân sách nhà nước của các quốc gia đang phát triển bị thâm hụt lớn, vì ở các nước này, thu nhập thấp nên số thu thuế không nhiều, trong khi, nhu cầu về tài trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, bảo hộ các ngành sản xuất trong nước làm chính phủ phải chi tiêu rất lớn, vượt xa khả năng thu thuế của mình

Chính vì thực trạng và tầm quan trọng của thâm hụt ngân sách nhà nước, nên có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm nghiên cứu các yếu tố tác động đến thâm hụt ngân sách nhà nước Theo Neaime (2015), gánh nặng nợ lớn hay số thu thuế không tương xứng với chi tiêu của chính phủ cho đầu tư cơ sở hạ tầng làm gia tăng thâm hụt ngân sách nhà nước Một nghiên cứu khác của Arjomand và các cộng sự (2016), tác giả tìm thấy tăng trưởng kinh tế, lạm phát tác động cùng chiều với thâm hụt ngân sách nhà nước, trong khi, năng suất lao động ảnh hưởng ngược chiều Khalid, A M và Guan (1999) cho rằng thâm hụt tài khoản vãng lai được tài trợ bởi nợ công, tiền lãi trên các khoản nợ công này tăng lên qua từng năm, dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước lớn hơn Và cũng có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác tìm hiểu mối quan hệ giữa bộ đôi thâm hụt ngân sách nhà nước và thâm hụt tài khoản vãng lai Tuy nhiên, hầu hết những nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở việc phân tích tác động của thâm hụt tài khoản vãng lai đến thâm hụt ngân sách nhà nước mà không phân tích thực nghiệm tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước Mặc dù một thành phần khác của cán cân thanh toán quốc tế - đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có những ảnh hưởng đến cân đối ngân sách nhà nước Vì vậy, để làm rõ những vấn đề trên, tác giả luận văn chọn đề tài

“Các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế tác động đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á” làm luận văn tốt nghiệp của mình.

Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á, từ đó đề xuất những chính sách để bảo đảm cân đối ngân sách nhà nước Đề tài trả lời cho câu hỏi nghiên cứu:

- Các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế, bao gồm: cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài, tác động đến cân đối ngân sách nhà nước tại

10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á như thế nào?

- Các giải pháp nào có thể cải thiện cân đối ngân sách nhà nước?

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả luận văn phân tích định tính và định lượng để tìm hiểu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á Đối với phân tích định tính, tác giả luận văn sử dụng thống kê mô tả, tổng hợp để đánh giá thực trạng về các thành phần cán cân thanh toán quốc tế: cán cân tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài, và cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á Đối với phân tích định lượng, tác giả luận văn thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị để kiểm định tính dừng của dữ liệu Tiếp theo, thực hiện hồi quy POLS, FEM, REM theo mô hình nghiên cứu Từ kết quả hồi quy, lựa chọn mô hình tốt nhất và kiểm định tự tương quan, phương sai thay đổi, đa cộng tuyến Sau khi thực hiện các kiểm định trên, tác giả sử dụng mô hình ước lượng GLS để khắc phục và tìm hiểu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á.

Phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á Trong đó, luận văn tập trung vào nghiên cứu tác động của cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài đến cân đối ngân sách nhà nước

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn thu thập dữ liệu theo năm trong giai đoạn từ năm

1991 đến năm 2017 của 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á: Việt Nam, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Mông Cổ.

Nguồn dữ liệu: Các dữ liệu về các biến của mô hình nghiên cứu được thu thập từ worldbank và website chỉ số các biến kinh tế www.ieconomics.com.

Ý nghĩa của đề tài

Từ kết quả nghiên cứu, luận văn sẽ trả lời cho câu hỏi nghiên cứu: các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế, gồm: cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á như thế nào?

Từ những nền tảng lý thuyết kết hợp với kết quả của ước lượng GLS, luận văn đưa ra một số đề xuất về chính sách để đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á.

Kết cấu đề tài

Đề tài gồm có các phần sau:

Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đế cân đối ngân sách nhà nước và các nghiên cứu trước đây

Trong chương này sẽ giới thiệu một số nghiên cứu liên quan đến cán cân thanh toán quốc tế, cân đối ngân sách nhà nước, tác động của cán cân tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài đến cân đối ngân sách nhà nước qua các nghiên cứu thực nghiệm

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

Nội dung của chương trình bày phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, giới thiệu các biến, các giả định được sử dụng cũng như quy trình thực hiện hồi quy và kiểm định mô hình và kết quả ước lượng

Chương 4: Phân tích định tính và định lượng về tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước

Trình bày kết quả phân tích định tính về thực trạng của ngân sách nhà nước, cán cân tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á Đồng thời, kết quả hồi quy ước lượng mô hình nghiên cứu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước cũng được trình bày trong chương này

Chương 5: Kết luận, hàm ý và kiến nghị về chính sách

Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả luận văn đề xuất một số kiến nghị về chính sách nhằm đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH PHẦN CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐẾN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Cơ sở lý thuyết

2.1.1.1 Khái niệm cân đối ngân sách nhà nước

Cân đối ngân sách nhà nước là việc điều chỉnh số thu đảm bảo cho chi tiêu của chính phủ (Cameron, 2004) Vì vậy, cân bằng ngân sách nhà nước là sự khác biệt giữa tổng số thu và chi tiêu Ngân sách nhà nước bị thâm hụt khi chi tiêu công vượt quá số thu thuế và thặng dư khi số thu thuế lớn hơn chi tiêu công Ngân sách nhà nước có mối quan hệ ngược chiều với chi tiêu công Nghĩa là, nếu số thu thuế không đổi, việc tăng chi tiêu công sẽ làm xấu đi ngân sách nhà nước Ngược lại, ngân sách nhà nước có mối quan hệ cùng chiều với số thu thuế, nếu số thu thuế tăng trong khi chi tiêu công không đổi, giúp cải thiện ngân sách nhà nước Những chính phủ có số thu bất ổn thì thâm hụt ngân sách nhà nước sẽ lớn hơn và nếu chính phủ kiểm soát chi tiêu tốt hơn sẽ giảm thâm hụt ngân sách nhà nước (Morrison, 1982).

2.1.1.2 Tài trợ thâm hụt ngân sách

Theo Govil (2014), để tài trợ cho thâm hụt ngân sách nhà nước, chính phủ có thể vay mượn từ ngân hàng trung ương, vay nợ nước ngoài, vay nợ các ngân hàng thương mại và vay nợ từ khu vực phi ngân hàng trong nước

Vay nợ ngân hàng trung ương được thực hiện bằng việc tăng cung tiền (Govil,

2014) Tăng cung tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách chỉ được sử dụng khi chính phủ buộc phải phát hành tiền để lưu hành lúc thực sự cần thiết (Ghosh, 2002) Giả sử M là lượng tiền tệ đang lưu hành, V là vòng quay của tiền, P là mức giá hàng hóa, T là khối lượng giao dịch, mua bán, theo Boariu & Bilan (2007), phương trình sức mua tiền tệ của Irving Fisher có dạng:

Vì vậy, nếu cung tiền tăng, trong khi khối lượng hàng hóa và dịch vụ, vòng quay tiền tệ không thay đổi, mức giá gia tăng Tại một mức thu nhập danh nghĩa, sự gia tăng mức giá làm giảm thu nhập thực của các cá nhân và tổ chức Vì vậy, tăng cung tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách nhà nước tác động đến việc phân phối thu nhập của người dân theo đúng chủ đích của chính phủ, đó là, lượng tiền tăng thêm được dùng để mua hàng hóa, dịch vụ và chi tiêu công (Fischer & Dornbusch, 1997) Tăng cung tiền để tài trợ thâm hụt ngân sách làm tăng giá Tuy nhiên, trong dài hạn, tăng cung tiền để tài trợ thâm hụt ngân sách nhà nước có làm lạm phát gia tăng hay không, còn phụ thuộc vào cách sử dụng nguồn lực của chính phủ (Boariu & Bilan,

2007) Nếu lượng tiền in thêm được sử dụng để tài trợ cho các dự án đầu tư, làm sản lượng tăng Do đó, sự gia tăng lượng tiền lưu thông sẽ tương đương với số lượng hàng hóa, dịch vụ giao dịch tăng lên Đến cuối cùng, trong dài hạn, sẽ không còn sự tăng giá Nếu lượng tiền in thêm được sử dụng để tài trợ cho chi tiêu dùng, không làm tăng GDP, trong dài hạn, gây ra tình trạng lạm phát

Tài trợ thâm hụt bằng hình thức vay nợ, bao gồm vay nợ ngân hàng thương mại, vay nợ nước ngoài, vay nợ khu vực phi ngân hàng trong nước (Govil, 2014) Khi tài trợ thâm hụt ngân sách nhà nước bằng vay nợ từ ngân hàng thương mại, hay các tổ chức phi ngân hàng, phát hành trái phiếu sẽ gây ra hiện tượng lấn át đầu tư, lạm phát và gánh nặng nợ trong tương lai (Paiko, 2012) Việc tài trợ thâm hụt ngân sách nhà nước bằng vay nợ, chính phủ có thể mở rộng chi tiêu nhưng đồng thời làm tăng thêm nợ công dẫn đến hậu quả trong ngắn hạn và dài hạn Chính phủ không chỉ phải trả lãi suất hàng năm cho các khoản vay mà còn phải trả lại khoản tiền vay gốc, dẫn đến trong tương lai, thuế sẽ tăng Keynes (1930) đã nhấn mạnh đến hiệu quả mở rộng của việc tài trợ nợ trong chi tiêu của chính phủ hoặc thâm hụt ngân sách nhà nước Trong mô hình Keynes (1930) với mức giá P cố định, C là tiêu dùng của hộ gia đình, I là đầu tư tư nhân, G là chi tiêu chính phủ, sự gia tăng chi tiêu của chính phủ thông qua sử dụng tiền vay dẫn đến sự thay đổi về tổng chi tiêu (C + I + G) Nếu nền kinh tế đang dưới mức toàn dụng, chi tiêu của chính phủ tăng lên sẽ làm tăng sản lượng hoặc thu nhập Từ đây, thuế thu được từ thu nhập sẽ tăng, dẫn đến giảm thâm hụt ngân sách nhà nước Tuy nhiên, chi tiêu của chính phủ được tài trợ bằng nợ được bù đắp phần lớn nhờ hiệu quả của việc huy động vốn từ đầu tư tư nhân Hiệu ứng chèn lấn đối với đầu tư tư nhân diễn ra theo nhiều cách Thứ nhất, các khoản vay của chính phủ để bù đắp ngân sách sẽ làm tăng cầu về các khoản vay dẫn đến mức lãi suất tăng lên Việc tăng lãi suất sẽ làm cho đầu tư tư nhân giảm Do đó, sự gia tăng chi tiêu của chính phủ trong việc vay nợ đã làm giảm đầu tư tư nhân Mặt khác, gánh nặng nợ mà xã hội phải gánh gia tăng do việc mở rộng nợ trong chi tiêu của chính phủ Nếu thâm hụt ngân sách nhà nước phát sinh do giảm thuế, chi tiêu của chính phủ không đổi, điều này cũng sẽ dẫn đến tăng lãi suất và sẽ gây ra hiệu ứng chèn lấn đối với đầu tư tư nhân Điều này xảy ra vì việc giảm thuế kích thích tiêu dùng, tiêu dùng của người dân làm giảm tiết kiệm Sự sụt giảm tiết kiệm làm tăng lãi suất dẫn đến sự sụt giảm trong đầu tư tư nhân Ngoài ra, việc vay nợ nước ngoài để tài trợ thâm hụt ngân sách nhà nước làm gia tăng nợ nước ngoài và ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế, rủi ro tỷ giá hối đoái (Govil, 2014) Thâm hụt ngân sách nhà nước cũng có thể được tài trợ bằng tăng thuế (Okafor và các cộng sự, 2017) theo lý thuyết đường cong Laffer Lý thuyết Laffer do Arrthur

B Laffer đưa ra năm 1974 Lý thuyết cho rằng những thay đổi về thuế suất có tác động về mặt số học và kinh tế đến số thu thuế Về mặt số học, khi thuế suất hạ xuống sẽ làm giảm số thu thuế, thâm hụt ngân sách nhà nước tăng và ngược lại, khi thuế suất tăng làm tăng số thu thuế, thâm hụt ngân sách nhà nước giảm Về mặt kinh tế, theo Laffer (2004) việc giảm thuế suất tác động tích cực đến việc làm và sản lượng, do đó tạo ra động lực để tăng cường các hoạt động kinh tế Nếu thuế suất tăng sẽ không khuyến khích những hoạt động kinh tế bị đánh thuế Vì vậy, Mitchell

(2010) đã khuyến cáo các nhà hoạch định chính sách nên đặt mức thuế ở mức tối đa hóa tăng trưởng chứ không phải mức tối đa hóa số thu và đường cong Laffer không cho biết việc cắt giảm thuế sẽ làm giảm hay tăng số thu thuế Những thay đổi về thuế suất ảnh hưởng như thế nào đến số thu thuế còn phụ thuộc vào hệ thống thuế, thời hạn áp dụng, khả năng tiếp cận các hoạt động kinh tế ngầm, thuế suất hiện hành, tỷ lệ lỗ hổng pháp lý hay năng suất của nền kinh tế (Okafor và các cộng sự.,

2017) Lý thuyết đường cong Laffer đã được Trostel (1995) mở rộng trong mô hình tăng trưởng tân cổ điển Theo Trostel, thâm hụt tài chính làm trì hoãn thuế hiện tại, nghĩa là, thuế suất tương lai sẽ tăng Nếu thuế dựa vào thu nhập, việc tăng thuế sẽ giảm tỷ lệ tiền lương ròng trong tương lai Ngoài ra, việc giảm thuế suất hiện hành dẫn đến tăng tỷ lệ tiền lương ròng hiện tại Điều này ảnh hưởng đến đầu tư vốn nhân lực Vì vậy, thâm hụt ngân sách nhà nước ảnh hưởng đến tiêu dùng, việc làm, đầu tư vốn, tổng sản lượng, tỷ lệ tiền lương ròng (Okafor và các cộng sự, 2017)

2.1.2 Cán cân thanh toán quốc tế (BOP)

Theo định nghĩa của IMF (2009), cán cân thanh toán quốc tế là một báo cáo thống kê những giao dịch kinh tế của một quốc gia với các quốc gia khác trên thế giới trong một khoảng thời gian, có thể là một năm hoặc một quý Cán cân thanh toán quốc tế được ghi nhận theo nguyên tắc kế toán kép, một giao dịch sẽ được ghi nhận bằng hai bút toán: bút toán nợ và bút toán có

2.1.2.2 Các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế

Theo công ước quốc tế, cán cân thanh toán quốc tế bao gồm tài khoản vãng lai, tài khoản vốn và tài khoản tài chính, dự trữ ngoại hối và sai số thống kê (Copeland,

Theo định nghĩa của IMF (2009), tài khoản vãng lai cho thấy dòng chảy của hàng hóa, dịch vụ, thu nhập sơ cấp và thu nhập thứ cấp của một quốc gia với các nước khác Và cân bằng tài khoản vãng lai chính là sự khác biệt giữa tổng xuất khẩu, thu nhập phải thu và tổng nhập khẩu, thu nhập phải trả Tài khoản vãng lai bao gồm: cán cân mậu dịch, xuất nhập khẩu thuần về dịch vụ, tiền lãi, lợi nhuận và cổ tức nhận được từ đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp nước ngoài cộng với tiền lương của người lao động ở nước ngoài, tổng các khoản biếu, cho tặng nhận được từ những người di cư ra nước ngoài (Copeland, 2005)

Tài khoản vốn và tài khoản tài chính là tài khoản ghi nhận các dòng vốn trực tiếp ảnh hưởng đến tài sản và nợ nước ngoài của một quốc gia Trong đó, tài khoản vốn phản ánh những giao dịch mua bán tài sản cố định Các thành phần của tài khoản tài chính bao gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài thuần, đầu tư gián tiếp nước ngoài thuần, đầu tư khác thuần bao gồm cho vay, tín dụng thương mại, tài sản dự trữ (Copeland,

Dự trữ ngoại hối bao gồm vàng và các tài sản khác của ngân hàng trung ương, những tài sản này dễ dàng giao dịch trên thị trường tài chính quốc tế (Manchev,

2009) Theo cuốn sách tái bản lần thứ sáu của IMF (2009), dự trữ ngoại hối là các tài sản bằng ngoại tệ được kiểm soát bởi các cơ quan tiền tệ, để tài trợ trực tiếp cho sự mất cân bằng thanh toán, và gián tiếp điều chỉnh mức độ cân bằng thông qua việc can thiệp trên thị trường ngoại hối để tác động đến tỷ giá hối đoái

Sai số thống kê bao gồm giao dịch không thống kê được hoặc bị bỏ sót vì các hoạt động kinh tế ngầm, phi chính thức (Copeland, 2005).

2.1.2.3 Các yếu tố tác động đến cán cân thanh toán quốc tế

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Phân tích định tính: tác giả luận văn thực hiện thống kê mô tả, phân tích tổng hợp để đánh giá thực trạng về cán cân tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài và cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á

Phân tích định lượng Tác giả luận văn phân tích tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á Để phân tích dữ liệu bảng, kinh tế lượng có rất nhiều kỹ thuật có thể sử dụng Kỹ thuật đơn giản nhất là mô hình hồi quy không đổi theo thời gian, không gian Pool OLS Tuy nhiên, mô hình Pool OLS thường không hiệu quả Để khắc phục những hạn chế của mô hình hồi quy Pool OLS, mô hình tác động cố định (fixed - effects) và mô hình ảnh hưởng biến thiên REM (random - effects) được sử dụng phổ biến nhất Ngoài ra, để khắc phục những nhược điểm của mô hình FEM, REM, phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát GLS được tác giả luận văn lựa chọn làm phương pháp luận Trong nội dung của phần này sẽ tổng quát phương pháp Pool OLS, FEM, REM và mô hình GLS Đồng thời, những bước thực hiện hồi quy cũng sẽ được trình bày cụ thể trong phần này

Phương pháp Pool OLS áp dụng cho loại dữ liệu có hệ số không đổi theo thời gian và cá nhân (Gujarati, 2011) Có nghĩa là giả định rằng giá trị tung độ gốc của 10 quốc gia phải như nhau và hệ số độ dốc của biến giải thích cũng bằng nhau trong tất cả các quốc gia trong mẫu Tuy nhiên, mô hình OLS có nhược điểm đó là dễ gây ra hiện tượng tự tương quan vì hệ số Durbin-Watson nhỏ

Mô hình tác động cố định FEM FEM được sử dụng chỉ khi quan tâm đến việc phân tích tác động của các biến số thay đổi theo thời gian (Gujarati, 2011) FEM tìm hiểu mối quan hệ giữa dự báo và các biến kết quả trong một thực thể (quốc gia, con người, công ty) Mỗi một thực thể có những đặc điểm riêng có thể hoặc không ảnh hưởng đến các biến dự đoán Khi sử dụng FEM, các nhà nghiên cứu giả định rằng đặc điểm của mỗi cá nhân có thể tác động hoặc làm chệch các biến dự đoán hoặc các biến kết quả và cần phải kiểm soát việc này Đây cũng là giả thiết về mối tương quan giữa phần dư và các biến dự đoán FEM loại bỏ ảnh hưởng của những đặc điểm không thay đổi theo thời gian này để chúng ta có thể đánh giá được hiệu quả thuần của các dự báo trên biến kết quả Một giả định quan trọng khác của mô hình FEM là những đặc điểm riêng biệt của cá nhân không thay đổi theo thời gian, và không được tương quan với các đặc điểm cá nhân khác Nhược điểm của mô hình FEM, nếu mô hình có nhiều biến thì dễ bị hiện tượng đa cộng tuyến (Baltagi, 2008)

Mô hình tác động ngẫu nhiên REM Trong REM, sự khác biệt giữa các thực thể được giả định là ngẫu nhiên và không tương quan với các biến dự báo hoặc biến độc lập bao gồm trong mô hình (Gujarati, 2011) Theo Greene (2008), sự khác biệt giữa mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên REM là sự biến động giữa các quan sát chéo là yếu tố tương quan với các biến hồi quy trong mô hình, chứ sự khác nhau không phải là hiệu ứng ngẫu nhiên hay không Nếu sự khác biệt giữa các thực thể có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc thì nên sử dụng hiệu ứng ngẫu nhiên Lợi thế của REM đó là bao gồm các biến số bất biến thời gian

Mô hình bình phương tối thiểu tổng quát GLS (Generalized least squares model) được Alexander Aitken phát triển vào năm 1934 Trong kinh tế lượng và thống kê, phương pháp bình phường tối thiểu tổng quát (GLS) thường được sử dụng để ước lượng các tham số không xác định trong mô hình hồi quy tuyến tính và khắc phục hiện tượng tự tương quan xảy ra khi thực hiện hồi quy bằng các phương pháp Pool OLS, FEM, REM (Gujarati, 2011) Phương pháp bình phương tối thiểu tống quát là ước lượng không chệch, vững, hiệu quả và tiệm cận (Baltagi, 2008) Trường hợp đặc biệt của bình phương tối thiểu tổng quát GLS là bình phương nhỏ nhất có trọng số WLS (weighted least squares) WLS xảy ra khi giá trị các biến trong mẫu quan sát không tương đồng (tồn tại hiện tượng tự tương quan) nhưng lại không có sự tương quan giữa các biến quan sát Trọng số của mỗi đơn vị đó chính là sự biến thiên của các biến Phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát GLS còn có một trường hợp khác là bình phương tối thiểu tổng quát khả thi FGLS (Feasible generalized least squares) Mô hình FGLS gồm hai bước: sử dụng mô hình OLS hoặc một mô hình khác để ước lượng, phần dư của mô hình hồi quy được sử dụng để xây dựng ma trận hiệp phương sai Sau đó, dựa vào ma trận hiệp phương sai phù hợp để thực hiện hồi quy theo GLS Đối với mẫu có kích thước lớn, hồi quy theo phương pháp bình phương tối thiểu khả thi sẽ hiệu quả hơn so với OLS Nhưng trong trường hợp mẫu nhỏ, ước lượng FGLS sẽ không hiệu quả bằng OLS (Kuan, 2004).

Dữ liệu

Luận văn thu thập số liệu 10 quốc gia đang phát triển tại Châu Á trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến năm 2017, bao gồm: Việt Nam, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Mông Cổ Các quốc gia này đều theo đuổi chính sách định hướng thị trường như tự do hoá thương mại và thả nổi tỷ giá hối đoái, tốc độ phát triển kinh tế nhanh và tương đối đồng đều, tốc độ gia tăng dân số, tăng trưởng GDP bình quân đầu người không cách biệt quá lớn Ngoài ra, xu hướng tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách của 10 quốc gia này tương đối giống nhau Các dữ liệu thu thập từ Wordbank và các chỉ số kinh tế quốc tế Bảng 3.1 sẽ trình bày rõ hơn về nguồn thu thập số liệu

Bảng 3.1 Nguồn thu thập số liệu

Biến Tên biến Nguồn số liệu

BB/GDP (%) Cán cân ngân sách/Tổng thu nhập quốc nội www.ieconomics.com

CA/GDP (%) Cán cân tài khoản vãng lai/Tổng thu nhập quốc nội Wordbank

FDI/GDP (%) Đấu tư trực tiếp nước ngoài/Tổng sản phẩm quốc nội Được tính toán dựa trên số liệu của Wordbank

INF (%) Tỷ lệ lạm phát Wordbank

EX (Nội tệ/USD) Tỷ giá hối đoái Wordbank

GDP (USD) Tổng thu nhập quốc nội Wordbank

Mô hình nghiên cứu

Dựa trên số liệu hàng năm của 10 quốc gia đang phát triển tại Châu Á, luận văn tiến hành chạy mô hình hồi quy ước lượng Pool OLS, FEM, REM, GLS Để tìm hiểu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước, tác giả luận văn dựa trên mô hình hồi quy dữ liệu bảng của Anoruo & Ramchander (1998), có dạng sau:

(BB/GDP)it =β1 + β2i(CA/GDP)it +β3i (FDI/GDP)it +β4iINFit +β4iEXit + β4iGDPit +ɛ t (3.1)

Trong đó: BB/GDP là cân đối ngân sách nhà nước trên tổng sản phẩm quốc nội, CA/GDP là cán cân tài khoản vãng lai trên tổng sản phẩm quốc nội, FDI/GDP là đầu tư trực tiếp nước ngoài vào trên tổng sản phẩm quốc nội, EX là biến tỷ giá hối đoái, GDP là tổng sản phẩm quốc nội, i và t lần lượt là chỉ mục quốc gia, thời gian, ɛ là sai số ngẫu nhiên của mô hình.

Giới thiệu các biến

Để loại trừ xu hướng đi lên trong thâm hụt do sự gia tăng về mức giá và tăng trưởng kinh tế, chuỗi thâm hụt danh nghĩa được tính bằng tổng sản phẩm quốc nội của quốc gia (Xie & Chen, 2014) Trọng tâm chính của luận văn là tìm hiểu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách, gồm: cán cân tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài, tuy nhiên, để tránh làm sai lệch kết quả, luận văn sử dụng các biến kiểm soát Các biến này bao gồm tỷ giá hối đoái (EX), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và lạm phát (INF)

Lạm phát (%) có thể có tác động đến các khoản thu và chi của chính phủ thông qua sự gia tăng danh nghĩa về thuế suất và khung thuế, và thông qua việc lập chỉ số giá các khoản thu và chi Ngoài tác động này, lạm phát có thể tác động đến cân đối ngân sách bằng cách giả định các chính phủ điều chỉnh chính sách trong trường hợp lạm phát, ví dụ như lạm phát cao làm giảm khả năng cạnh tranh và rủi ro gây áp lực lên tỷ giá cố định cho các nước tham gia vào một thỏa thuận tỷ giá hối đoái (Perotti

& Kontopoulos, 2002) Nó cũng có thể làm tăng lãi suất dài hạn và do đó có tác động tiêu cực đến đầu tư và tăng trưởng kinh tế Mặt khác, các chính phủ cũng có thể sử dụng lạm phát để làm giảm giá trị thực của nợ chính phủ danh nghĩa Như vậy, hiệu quả tổng thể của lạm phát đối với các cân đối ngân sách nhà nước không rõ ràng (Tujula, Mika; Guido, 2004)

Tỷ giá hối đoái (Nội tệ/USD) Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến cân đối ngân sách thông qua sự tác động đến xuất nhập khẩu của một quốc gia Đồng thời, tỷ giá hối đoái tăng cũng làm tăng nợ công (Carrera & Vergara, 2012) Điều này cũng tác động đến cân đối ngân sách Để tránh sai lệch khi hồi quy, biến tỷ giá hối đoái sẽ được lấy logarit Nepe

Tổng sản phẩm quốc nội (USD) Tăng trưởng kinh tế, gia tăng GDP là một trong những mục tiêu kinh tế vĩ mô luôn được các nhà chính sách quan tâm Nếu chính phủ sử dụng chính sách tài khoá mở rộng hay chính sách tài khoá thắt chặt để tác động đến tổng cầu, những chính sách này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số thu thuế hay chi tiêu chính phủ Do đó, tác động đến cân đối ngân sách nhà nước (Tujula, Mika; Guido, 2004) Để tránh sai lệch khi hồi quy, biến tỷ giá hối đoái sẽ được lấy logarit Nepe.

Các bước tiến hành

Kiểm định tính dừng bằng kiểm định nghiệm đơn vị của Levin-Lin-Chu Với giả thiết H0: Dữ liệu bảng có nghiệm đơn vị

H1: Dữ liệu bảng ổn định

Nếu giả thiết H0 bị bác bỏ, thì dữ liệu sẽ có tính dừng

Hồi quy Pool OLS, FEM, REM Sau khi thực hiện kiểm định tính dừng của dữ liệu

10 quốc gia đang phát triển tại Châu Á, tác giả bài khoá luận tiến hành hồi quy theo mô hình 3.1 bằng các ước lượng Pool OLS, FEM, REM Để xem xét tính hiệu quả của kỹ thuật Pooled OLS và REM, luận văn sử dụng kiểm định LM test, với giải thiết

Nếu giả thiết H0 được chấp nhận, mô hình Pooled OLS hiệu quả hơn Nếu không đủ bằng chứng để bác bỏ giả thiết H0, mô hình REM hiệu quả hơn Để so sánh tính hiệu quả của hai mô hình FEM, REM, luận văn sử dụng kiểm định Hausman Mục đích của kiểm định này là xem xét giữa ɛ i và uit có bị hiện tượng tự tương quan hay không Kiểm định Hausman có giả thiết như sau:

H0: ɛ i và biến độc lập không tương quan

H1: ɛ i và biến độc lập có tương quan

Nếu giả thiết H0 bị bác bỏ, FEM sẽ hiệu quả hơn, và ngược lại, nếu không đủ bằng chứng để bác bỏ giả thiết H0, REM sẽ hiệu quả hơn

Dựa vào kết quả kiểm định LM test và kiểm định Hausman, bài khoá luận sẽ lựa chọn mô hình hiệu quả nhất Sau đó, tác giả bài khoá luận thực hiện kiểm định các bệnh của mô hình như: đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, tự tương quan

 Đa cộng tuyến : là hiện tượng mà các biến giải thích trong mô hình có sự tương quan với nhau

 Phương sai thay đổi: là hiện tượng phương sai của biến phụ thuộc thay đổi khác nhau ứng với từng giá trị của biến độc lập Hiện tượng phương sai thay đổi sẽ làm ước lượng không được hiệu quả Các kiểm định White, kiểm định Park hay kiểm định Breusch Pargan thường được sử dụng để kiểm tra hiện tượng phương sai thay đổi có xảy ra trong kết quả ước lượng hay không

 Tự tương quan: là quan hệ tương quan giữa các thành viên của chuỗi của các quan sát được sắp xếp theo thời gian (như trong dữ liệu chuỗi thời gian) hoặc không gian (như trong dữ liệu chéo) Các kiểm định BG (Breusch – Godfrey), kiểm định Durbin-Watson và phương pháp đồ thị để kiểm tra hiện tượng tự tương quan có xảy ra hay không

Hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát GLS Sau khi thực hiện kiểm định các hiện tượng đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, tự tương quan, tác giả luận văn thực hiện hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát GLS.

Kết luận

Chương 3 trình bày về phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu của luận văn Để nghiên cứu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước, tác giả luận văn thu thập số liệu hàng năm của 10 quốc gia đang phát triển tại châu Á trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2017 Luận văn sử dụng phương pháp định tính và định lượng bằng hồi quy Pool OLS, FEM, REM, GLS theo mô hình nghiên cứu với biến phụ thuộc là cân đối ngân sách trên tổng sản phẩm quốc nội (BB/GDP), biến độc lập là cán cân tài khoản vãng lai trên tổng sản phẩm quốc nội (CA/GDP), đầu tư trực tiếp nước ngoài vào trên tổng sản phẩm quốc nội (FDI/GDP) Tác giả sử dụng biến tỷ giá hối đoái (EX), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) làm các biến kiểm soát của mô hình hồi quy.

PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH VÀ PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH PHẦN CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐẾN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Ngày đăng: 25/05/2021, 17:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm