1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số vấn đề lý LUẬN về xây DỰNG và sử DỤNG TRÒ CHƠI PHÁT TRIỂN kỹ NĂNG xã hội CHO TRẺ KHUYẾT tật TRÍ TUỆ 4 5 TUỔI TRONG lớp mầm NON hòa NHẬP

64 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 61,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn XuânHải năm 2008 cũng nói về “Điều chỉnh nội dung dạy học một số môn học cho học sinh CPTTT lớp 1 hòa nhập”[6] , luận án tiến sĩ của tác giả Đinh

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VÀ

SỬ DỤNG TRÒ CHƠI PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG

XÃ HỘI CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ 4

-5 TUỔI TRONG LỚP MẦM NON HÒA NHẬP

Cơ sở lý luận

Trên thế giới

Nghiên cứu về trẻ KTTT thì trước thế kỷ XIX,

hầu như chưa có quan điểm khoa học nào vềKTTT Kể từ khi quyển sách mang tên “De I’education d’ un home sauvage” của Itard ra đờinăm 1801, xã hội mới tham gia tích cực vàoviệc cải thiện tình trạng của trẻ KTTT Itard tinrằng, tình trạng KTTT có thể được khắc phụcphần nào nhờ quá trình giáo dục tốt Học tròcủa Itard là Seguin đã mở những ngôi trườngđầu tiên cho trẻ KTTT tại Mỹ Cả hai nhà khoahọc này đều có thể được coi là những người đầutiên quan tâm tới trẻ KTTT [12]

Sự quan tâm tới những người KTTT đã cómột thời thụt lùi, đó là vào khoảng cuối thế kỷ

Trang 2

XIX Do có những phát hiện về biến dị thần kinhtrung ương trong ngành thần kinh học, người tacho rằng tình trạng KTTT luôn có nguyên nhân

là những tổn thương ở thùy não Vì những tổnthương ở não là không thể thay đổi được nênngười ta cho rằng việc điều trị cho những ngườiKTTT là hoàn toàn vô ích Lý thuyết về biến dịnày đã có ảnh hưởng rất tiêu cực đến nhữngngười KTTT, rất nhiều người trong số họ phảisống tách biệt suốt đời với cộng đồng xã hộitrong những trung tâm cư trú lớn [12]

Từ những năm 1970, quan điểm về KTTT đã

có những thay đổi Phẩm chất về con ngườicũng như những nhu cầu về xã hội được đề cao.Người ta cho rằng, người KTTT nên được sốngtrong một môi trường bình thường thay vì sốngtrong các trung tâm riêng biệt Đây chính làthời kì của sự bình thường hóa và hội nhập

Luận điểm phát triển đã được sử dụng đểcãi thiện những khía cạnh phát triển khác nhau.Luận điểm chính của cách xem xét này là:những người KTTT có khả năng phát triển trong

Trang 3

suốt cuộc đời, dĩ nhiên là với tốc độ và cường

độ riêng và với mức độ linh hoạt khác nhau.Luận điểm này dựa trên 4 yếu tố là tiền đề sinhhọc; chức năng nền tảng: cảm giác, vận động

và tâm lý; những ảnh hưởng của môi trường;lịch sử phát triển Bốn yếu tố này có ảnh hưởngqua lại với nhau, sự thay đổi của một yếu tốkéo theo sự thay đổi của cả tổng thể [12]

Nghiên cứu về kỹ năng xã hội của trẻ KTTT lứa tuổi mầm non, năm 1966, nhà xuất bản giáo dục Matxcova cho ra đời cuốn “Tâm lý học hoạt động nhận thức của trẻ bình thường và trẻ

có tật” Đây là công trình nghiên cứu của các

nhà tâm lý học Nga về trẻ em nói chung và trẻkhuyết tật nói riêng Dù không trực tiếp bànđến vấn đề KNXH nhưng công trình cũng đã bắtđầu quan tâm đến việc đánh giá và giáo dục kỹnăng thích ứng nói chung và kỹ năng xã hội nóiriêng cho trẻ KTTT

Vào những năm 1970, nhiều công trìnhnghiên cứu với những kết quả đánh giá cụ thể

đã xác định những kỹ năng cần phải có để

Trang 4

người KTTT có thể hội nhập cộng đồng Điều

này được công bố trong các cuốn sách: “Đánh giá HVTƯ – cẩm nang KTTT: Lý thuyết và nghiên cứu tâm lý” của Meyers, Nihira và Zetlin “Nghiên cứu sự thay đổi của HVTƯ của người KTTT nặng và rất nặng”của Whitman và

Scibak

Năm 1988, tác giả Goldstein cho ra đời

cuốn sách “Đánh giá kỹ năng xã hội”, trong đó

nói về đánh giá và một số phương pháp đánhgiá KNXH cho trẻ

Nghiên cứu của A.S.Seipt qua trò chơi sẽlàm bình thường hóa các quan hệ của đứa trẻvới thế giới xung quanh Trò chơi có thể giúpđứa trẻ bớt đi tính nhõng nhẽo, ích kỷ, hàn gắnnhững tổn thương của đứa trẻ

Nghiên cứu của G.Piagie cho rằng: “Tròchơi của trẻ em là hoạt động trí tuệ thuần túy,

là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triểntrí tuệ là sự thích nghi.”

Nhà tâm lí học nổi tiếng H.Wallon xem tròchơi là một hiện tượng xã hội đáng quan tâm,

Trang 5

ông chỉ ra đặc tính phức tạp và đầy mâu thuẫntrong hoạt động vui chơi của đứa trẻ và chorằng động cơ vui chơi của trẻ em là sự cố gắngtích cực của đứa trẻ để tác động vào thế giớibên ngoài nhằm lĩnh hội những năng lực củacon người chứa trong thế giới đó Qua trò chơitrẻ luyện tập những năng lực vận động, cảmgiác, trí tuệ và luyện tập các chức năng xã hội.

Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, ngay từ những năm 60 của thế

kỷ 20, Chính phủ đã quan tâm đến vấn đề giáodục và nghiên cứu về trẻ khuyết tật Đã có một

số nghiên cứu về trẻ KTTT và công tác giáo dụctrẻ KTTT

Năm 1966, Nhà nước ban hành Thông tư số202/CP về chính sách đối với người già, trẻ mồcôi và trẻ khuyết tật Năm 1975, Bộ y tế đã raquyết định số 91/BYT về việc thành lập khoa tâmthần thuộc bệnh viện Bạch Mai với nhiệm vụđiều tra cơ bản về trẻ KTTT phối hợp với việcthăm khám và và chữa bệnh Kể từ đó, việc

Trang 6

chăm sóc và dạy KNS cho trẻ KTTT được quantâm.

Năm 1995, tác giả Trần Trọng Thủy có côngtrình nghiên cứu về trẻ học kém và phươngpháp dạy học chính trị Cùng thời gian này,công trình nghiên cứu về đặc điểm tâm sinh lýcủa tác giả Nguyễn Cảnh Thìn cũng được công

bố Trong những công trình nghiên cứu này,tình trạng hạn chế về nhận thức và các kỹ năngthích ứng của trẻ KTTT cũng đã được đề cập

Cũng trong thời gian này, nhiều công trìnhnghiên cứu về trẻ KTTT đã được triển khai thực

hiện như “Trẻ chậm khôn”(1994) của tác giả

Phạm Văn Đoàn và các cộng sự [4] Năm 2003tác giả Trần Thị Lệ Thu cho ra đời cuốn sách

“Đại cương giáo dục đặc biệt cho trẻ KTTT”[13],

và năm 2010, tác giả này cho ra đời cuốn “Đại cương về can thiệp sớm cho trẻ KTTT”[14].

Năm 2008, một số tác giả xuất bản một số sách

như :“Đại cương giáo dục trẻ KTTT” (Huỳnh Thị Thu Hằng)[7],“ Đánh giá trẻ khuyết tật trong giáo dục đặc biệt” (Nguyễn Thị Nguyệt) [9].

Trang 7

Trong luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Xuân

Hải năm 2008 cũng nói về “Điều chỉnh nội dung dạy học một số môn học cho học sinh CPTTT lớp 1 hòa nhập”[6] , luận án tiến sĩ của tác giả

Đinh Nguyễn Trang Thu năm 2017 nghiên cứu

về “Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh KTTT học hòa nhập ở tiểu học”[15] hay luận án

tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Hưng năm 2017

viết về “Giáo dục kỹ năng xã hội cho học sinh khuyết tật trí tuệ học lớp 1 hòa nhập”[8]

Kỹ năng xã hội (KNXH) là một trong những

yếu tố được quan tâm nhiều trong sự quan tâmchung về sự phát triển của những người KTTT.Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về KNXHcho người KTTT không nhiều, hầu hết là nhữngbài viết, những bình luận ngắn trên các tạp tríkhác nhau Mà chủ yếu, KNXH được nghiên cứulồng ghép trong những công trình nghiên cứu

về hành vi thích ứng nói chung

Đề tài cấp bộ mã số B 2000-49-18: “Biện pháp hình thành và phát triển kỹ năng xã hội cho trẻ KTTT bậc tiểu học trong môi trường giáo

Trang 8

dục hòa nhập bậc tiểu học” của tác giả Nguyễn

Văn Đình cùng đồng nghiệp thực hiện, đãnghiên cứu về các biện pháp hình thành kỹnăng xã hội cho học sinh KTTT ở bậc tiểu học.Các kỹ năng đó bao gồm: kỹ năng sinh hoạt tạigia đình, các kỹ năng sinh hoạt tại cộng đồng,

kỹ năng vui chơi, kỹ năng giao tiếp ứng xử [5]

Nghiên cứu về trò chơi phát triển KNXH chotrẻ KTTT trong lớp mầm non hòa nhập cũng đã

có một số đề tài nghiên cứu Trong công trìnhnghiên cứu của Đoàn Thị Thao năm 2014 đã nói

về “Biện pháp phát triển KNXH cho trẻ KTTT 4 –

5 tuổi thông qua trò chơi dân gian”[12] hay nghiên cứu của Lưu Thị Bich về “Sử dung phương pháp trò chơi để hình thành và phát triển KNXH cho trẻ CPTTT học hòa nhập tại trường tiểu học Hải Vân, TP Đà Nẵng”[3]

Như vậy, qua một số nghiên cứu về tròchơi, có thể thấy rằng trò chơi đóng một vai tròquan trọng trong việc giáo dục, hình thànhnhân cách, phẩm chất cho trẻ em nói chung vàphát triển KNXH cho trẻ KTTT nói riêng

Trang 9

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ

Khái niệm khuyết tật trí tuệ (KTTT)

Theo DSM – 5 khuyết tật trí tuệ được định

nghĩa như sau: Khuyết tật trí tuệ là một rối loạn khởi phát trong giai đoạn phát triển bao gồm cả thiếu hụt trong hoạt động trí tuệ và thích ứng trong các lĩnh vực nhận thức, xã hội, và thực tế.

Ba tiêu chí sau đây phải được đáp ứng:

Thiếu hụt trong các chức năng trí tuệ chẳnghạn như tư duy trừu tượng, giải quyết vấn đề,lập kế hoạch, đánh giá, học tập từ tài liệu, vàhọc hỏi từ kinh nghiệm, những thiếu hụt nàyđược xác nhận qua đánh giá lâm sàng và cánhân, kiểm tra trí thông minh đã chuẩn hóa

Thiếu hụt trong hoạt động thích ứng dẫnđến thất bại trong việc đáp ứng các chuẩn vềphát triển văn hóa xã hội, độc lập cá nhân vàtrách nhiệm xã hội Nếu không có sự hỗ trợ, thì

sự thiếu hụt sẽ giới hạn chức năng trong mộthoặc nhiều hoạt động của cuộc sống hàngngày Chẳng hạn như giao tiếp, hòa nhập xã hội

Trang 10

và sống tự lập… trên nhiều môi trường như: tạinhà, tại trường học, nơi làm việc, và cộng đồng.

Thiếu hụt trí tuệ và thích ứng trong giaiđoạn phát triển [2]

Theo AAMR “KTTT là một dạng tật có đặc điểm là bị hạn chế đáng kể trong việc thực hiện chắc năng trí tuệ và các kỹ năng thích nghi thực tế, thích nghi xã hội, kỹ năng nhận thức Loại tật xuất hiện trước 18 tuổi”.

Như vậy, KTTT là một khuyết tật được đặctrưng bởi những hạn chế đáng kể cả về chứcnăng trí tuệ (lí luận, học tập, giải quyết vấnđề…) và trong hành vi thích ứng, bao gồm các

kỹ năng thực hành và kỹ năng xã hội hàngngày Khuyết tật này xuất hiện trước 18 tuổi.[13]

Phân loại khuyết tật trí tuệ

Phân loại KTTT theo DSM –5[1]:

Mức

độ

Lĩnh vực khái niệm

Lĩnh vực xã hội

Lĩnh vực thực hành

Nhẹ Ở độ tuổi mầm Khả năng tương Kỹ năng chăm

Trang 11

so với các bạnđồng trang lứa.

Khó khăn có thểtrong điều tiếtcảm xúc vàhành vi thíchứng với lứa tuổi

sóc cá nhân cóthể phù hợp vớilứa tuổi, nhưngcác nhiệm vụphức tạp hơn cóthể cần hỗ trợ Vídụ: mua sắm đồ

ăn, vận chuyểnnhà, chuẩn bịthực phẩm vàquản lý tiền

Trẻ có thể chămsóc bản thân tốttuổi trưởng thành.Người lớn thường

Trang 12

năng học đường.

Trẻ em ở độ tuổi

đi học tiến bộ

trong việc đọc

viết hiểu biết về

thời gian và tiền

so với các bạnkhác Trẻ gặpvấn đề với nhậnthức các thôngtin trong cáctình huống xãhội Trẻ bị giớihạn khả năngđánh giá và đưa

ra quyết địnhcủa mình Trẻcần nhiều sự trợgiúp trong cuộcsống

có thể tham giavào tất cả cáccông việc giađình Có thể làmviệc với sự hỗ trợđáng kể tại nơilàm việc

Trẻ cần hỗ trợcho mọi hoạtđộng trong cuộcsống hàng ngày

Trang 13

Cần giám sát trẻmọi lúc Chúngtôi sẽ không đưa

ra quyết định cótrách nhiệm liênquan đến phúclợi

Sử dụng các tínhiệu không lời

để thể hiện Cóthể trả lời vàcảm thấy thoảimái với nhữngngười thânquen Có thể bắtđầu tương tác xãhội với nhữngngười như vậy

Phụ thuộc vàongười khác chotất cả các côngviệc liên quanđến chăm sóc cơthể hàng ngày.Việc tham giavào các hoạtđộng này bị hạnchế Một sốnhiệm vụ cụ thểđơn giản nhưmang bát đĩa đếnbàn có thể được

Trang 14

thông qua các

cử chỉ đơn giản

Các vấn đề vềcảm giác và thểchất có thể gâyảnh hưởng đếncác hoạt động

xã hội

hoàn thành Trẻcùng lúc bị suygiảm thể chất vàcảm giác là ràocản đối với sựtham giam vàocác hoạt động tựphục vụ

Theo AAMR, sử dụng tiêu chí thích ứng đểphân loại mức độ KTTT, với 4 mức độ hỗ trợ:

Hỗ trợ không thường xuyên: Hỗ trợ dựatrên nhu cầu Hình thức hỗ trợ này có đặc điểm

là không liên tục, một người không phải lúc nàocũng cần được hỗ trợ hoặc chỉ cần sự hỗ trợngắn hạn trong suốt cuộc đời Hỗ trợ khôngthường xuyên có thể ở mức độ cao hoặc thấp

Hỗ trợ có giới hạn: Mức độ hỗ trợ tùy theothời điểm, hạn chế về thời hạn nhưng khônggiống với hình thức hỗ trợ không thường xuyên,

Trang 15

hình thức hỗ trợ này cần ít nhân viên hơn vàkinh phí thấp hơn

và trong suốt cuộc đời Hỗ trợ toàn diện đòi hỏi

sự tham gia của nhiều người, hình thức hỗ trợnày mang tính chất xâm nhập nhiều hơn so với

hỗ trợ mở rộng và hạn chế hoặc hỗ trợ hạn chế

về thời gian

Nói tóm lại, cách phân loại mức độ KTTTthường được sử dụng hiện nay là cách phân loạitheo DSM – 5 và AAMR Việc phân loại KTTTgiúp có cơ sở để đoán biết và đặt kì vọng ở mức

độ hành vi của trẻ, xác định được mức độ, hìnhthức chăm sóc, giáo dục cần thiết và phù hợpvới trẻ

Một số đặc điểm tâm lý của trẻ khuyết tật trí tuệ 4 – 5 tuổi

Trang 16

Đặc điểm về nhận thức của trẻ KTTT

Theo học thuyết của Piaget, sự phát triểnnhận thức ở trẻ KTTT khác với trẻ bình thườngthể hiện ở đặc điểm: từng giai đoạn phát triểnkéo dài hơn và cả quá trình phát triển sẽ dừnglại sớm hơn Sự trì hoãn hoàn thiện của hệthống vỏ não cấp một và cấp hai sẽ đưa đếnviệc thiếu hụt các hoạt động tập trung đối vớitrẻ KTTT Theo lí thuyết của Piaget điều này sẽdẫn đến giảm khả năng học của trẻ [14]

Kinh nghiệm cho thấy trong những thángđầu tiên trẻ KTTT rất thụ động và ít biểu hiện sựquan tâm tới môi trường xung quanh Có thểngay từ giai đoạn phát triển này, trẻ đã bắt đầuphải chịu đựng "khuyết tật thứ phát" của mình,

đó là không được kích thích đầy đủ do khôngđược tương tác với môi trường Trẻ không thíchnghi với môi trường giống như những trẻ bìnhthường khác Giai đoạn phát triển đầu tiên củatrẻ KTTT sẽ kéo dài hơn so với trẻ bình thường

và các giai đoạn tiếp theo cũng kéo dài hơn,

Trang 17

cuối cùng sự phát triển của trẻ sẽ chững lại ởmột giai đoạn nào đó [14]

Lí thuyết của Piaget đưa ra một mô hìnhtrong đó gợi mở những vấn đề thực tiễn về quátrình phát triển của trẻ/người KTTT:

Trẻ KTTT rất nặng (IQ < 20) không pháttriển qua được giai đoạn vận động-cảm giác Cóthể học giao tiếp với các đồ vật và thể hiện sựthích thú trong khám phá Đôi khi họ điềukhiển/kiểm soát được những vật cố định và cóquan hệ xã hội cơ bản với những người quantrọng trong môi trường của họ nhưng các chứcnăng và khái niệm phản ứng chỉ đạt mức độcủa một đứa trẻ dưới 2 tuổi.[14]

Trẻ KTTT nặng (IQ 20-35): có thể so sánhvới mức phát triển của một trẻ bình thườngtrong khoảng 2-4 tuổi Theo Piaget, đây là giaiđoạn tiền thao tác trong đó ngôn ngữ nói pháttriển Giao tiếp ở mức đơn giản Những ngườinày không có các khái niệm nhận thức, do đókhông có khả năng dự đoán những tình huốngmới dựa trên nhận thức hiện tại [14]

Trang 18

Trẻ KTTT trung bình (IQ 35-50): có thể sosánh với trẻ ở tuổi 4 đến 7 tuổi Họ ở giai đoạntiền tư duy logic Họ có thể tạo ra những kháiniệm dựa trên những trải nghiệm, nhưng nóichung họ vẫn quan tâm chủ yếu tới các trảinghiệm trực tiếp qua nhận thức Họ không cócác khái niệm trừu tượng và thường cố giảiquyết vấn đề theo nguyên tắc "thử và sai" (thử,nếu sai thì làm lại).

Trẻ KTTT nhẹ (IQ 50-70): có thể được sosánh với trẻ 7 đến 12 tuổi Đây là giai đoạnthao tác cụ thể, các vấn đề được giải quyếttheo tư duy logic, nhưng không có khả năng tưduy trừu tượng

Theo cách phân loại trên, những ngườiKTTT không bao giờ đạt được giai đoạn thao táchình thức (giai đoạn từ sau tuổi 12), giai đoạn

mà tư duy biểu tượng và trừu tượng xuất hiện.[14]

Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ KTTT

Ngôn ngữ của trẻ KTTT chậm hơn so với trẻbình thường cùng độ tuổi Khi đến tuổi đến

Trang 19

trường, những trẻ KTTT có vốn từ nghèo nànhơn, các em ít dùng các câu phức tạp, câu cóliên từ khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ đểdiễn tả ý kiến của bản thân và hay trả lời cộclốc Nếu ở trẻ em bình thường giai đoạn 3- 4 tuổi

có tích lũy 1 số lượng lớn các từ, ngôn ngữ tíchcực của trẻ phần lớn có hình thức ngữ phápchính xác dù phát âm vẫn có đôi chỗ sai sót.Trong khi đó ở độ tuổi này, việc phân biệt âmthanh cũng như hình thành lời nói ở trẻ KTTTxuất hiện rất chậm, ngôn ngữ nghèo nàn và saisót Chính sự phát triển chậm và không đầy đủcủa cơ quan phân tích ở trẻ KTTT đã kìm hãm sựphát triển ngôn ngữ như là quy luật, nhất làtrong thời kì mà ngôn ngữ phải được sử dụngnhư 1 phương tiện giao tiếp và là công cụ của tưduy Sự không phát triển về mặt giao tiếp đãgây cho trẻ sự ngưng trệ về mặt phát triển trênnhiều khía cạnh: tư duy, giao tiếp, hành vi…Ởtrẻ KTTT các từ riêng biệt được thể hiện rõ phảiđến khi trẻ 2-3 tuổi, những câu ngắn gọn có tính

Trang 20

chất ngữ pháp phù hợp với hoàn cảnh phải đếnkhi trẻ 5- 6 tuổi mới xuất hiện [12]

Hơn nữa vốn từ mà trẻ KTTT 4- 5 tuổi cóđược mất một thời gian dài để hoàn thiện ýnghĩa Điều này cũng xảy ra ở trẻ bình thường,theo thời gian trẻ sẽ dần hiểu được khái niệmcủa từ và sử dụng mang tính chính xác hơn.Theo ý kiến của K.M Xeesesenop: từ tồn tại đốivới trẻ em trong một thời gian nào đó khôngphải là khái niệm mà chỉ là tên riêng để dànhcho một vài sự vật Qua thực tiễn học tập, ýnghĩa của từ mới được tăng lên và hình thànhkhái niệm chính xác Ở trẻ KTTT nhẹ, quá trìnhchuyển từ tên riêng đến từ khái niệm đượchoàn thiện rất lâu và khó khăn hơn rất nhiều.[12]

Hệ thống ngữ pháp ở trẻ KTTT cũng rất khó hoàn thiện Những câu nói của trẻ thường rất

đơn giản, ít sử dụng mệnh đề phụ và rất khókhăn trong việc lựa chọn từ để thể hiện những ýnghĩ có sắc thái khác nhau Khi tới tuổi đếntrường, trẻ KTTT vẫn thường sử dụng những cấu

Trang 21

trúc câu mà trẻ bình thường sử dụng ở độ tuổi 3hay 4 Ngôn ngữ của trẻ chắp vá không nêuđược nội dụng ý nghĩa Vì vậy muốn biết được ýnghĩa của trẻ phải hiểu tâm trạng của trẻ.[13]

Trong giai đoạn trước khi đến trường (0-5tuổi), trẻ phát triển những kỹ năng giao tiếp và

xã hội Trẻ có những khuyết tật rất nhỏ trongcác lĩnh vực vận động cảm giác và thườngkhông phân biệt được khỏi những trẻ không bịkhuyết tật trí tuệ Đến cuối thời kì thiếu niênchúng có thể đạt được những kỹ năng học tập ởmức độ xấp xỉ với lớp 6 Trẻ cần được dạynhững môn học cơ bản tại trường ở mức độ tối

đa mà khả năng của trẻ cho phép

Trẻ KTTT nhẹ có khả năng thể hiện mìnhtrong việc chọn bạn, trong các hoạt động giảitrí, cách ăn mặc,…Khi trở thành người lớn, trẻthường đạt được những kỹ năng xã hội và nghềphù hợp cho việc tự hỗ trợ bản thân ở mức tốithiểu nhưng sẽ cần có người giám sát, hướngdẫn và giúp đỡ Đặc biệt khi trẻ gặp phải nhữngvấn đề khó khăn và chịu sức ép về kinh tế hoặc

Trang 22

tình cảm bất thường (trẻ thường dễ bị tổnthương về vấn đề tình cảm) Khi được trợ giúpthích hợp, người KTTT nhẹ có thể sống kháthành công trong cộng đồng, hoặc một cáchđộc lập hoặc tại những môi trường có giám sát.[12]

Đặc điểm tình cảm xã hội của trẻ KTTT

Khó xây dựng các mối quan hệ gắn bó: Trẻ

KTTT cùng với người mẹ của mình khó xây dựngđược mối quan hệ gắn bó mẹ con theo hướngtích cực Tín hiệu mà trẻ phát ra, sự chủ độnghành động của trẻ là rất yếu Nếu sự đáp ứngcủa người mẹ mạnh có thể phần nào xây dựngđược mối quan hệ gắn bó, dù không được tốtnhất, nhưng nếu sự đáp ứng của người mẹ cũngyếu thì sự phát triển mối quan hệ của trẻ vớingười xung quanh là rất khó khăn

Các giai đoạn phát triển tình cảm – xã hộicủa trẻ KTTT chậm hơn so với trẻ bình thường,trẻ cần nhiều kích thích hơn trẻ bình thường.Tần số kích thích không quan trọng bằng chấtlượng kích thích, nghĩa là mức độ đáp ứng đúng

Trang 23

nhu cầu thực sự của trẻ Vì những nhu cầu ấykhác nhau ở mỗi trẻ và người lớn thường khôngnhận ra điều đó nên trẻ KTTT thường ít nhậnđược những kích thích phù hợp hơn trẻ bìnhthường Trái lại, trẻ thường bị kích thích quámức hoặc bị kích thích dưới mức thông thường.Các kích thích cuãng ảnh hưởng tới chất lượngcủa sự phát triển tình cảm – xã hội ở trẻ.

Không hứng thú tham gia vào các tương tác xã hội: Do tính thụ động của trẻ kéo dài

trong giai đoạn phát triển đầu tiên nên trẻ KTTT

có thể không hứng thú tham gia vào các tươngtác xã hội với môi trường Những kích thích từtiếp xúc với mẹ có thể không đủ với trẻ Thêmvào đó, việc cha mẹ trẻ ý thức rằng họ có 1 đứacon KTTT có thể gây ra những vấn đề trong giađình

Phản ứng với sự trêu đùa: Tại sao nghiên

cứu về sự trêu đùa lại có ý nghĩa trong việcnghiên cứu đặc điểm phát triển tình cảm – xãhội của trẻ KTTT? Trêu đùa, chọc tức người khác

là một trong những cách trẻ tìm hiểu thế giới xã

Trang 24

hội và những giới hạn của giao tiếp xã hội TrẻKTTT kém nhạy cảm trong nắm bắt thái độ củangười xung quanh; bộc lộ sự đồng cảm củamình một cách rất “trẻ con”, chỉ như những trẻ12- 18 tháng tuổi (khóc, buồn, diễn đạt sự đồngcảm bằng ngôn ngữ đơn giản, khiến người kháckhông hiểu).

Tìm hiểu mục tiêu của người khác: Trẻ

KTTT khó hiểu được các mục tiêu của ngườikhác, bởi mục tiêu đó không thể hiện trực quan.Trẻ khó liên kết được các tình huống có tínhchất liên hệ

Hiểu cảm xúc: Trẻ KTTT khó có thể hiểu

được các suy nghĩ biểu hiện ra bên ngoài Dovậy trẻ khó khăn trong việc đoán biết được ýđịnh của người khác để có những phương thứccũng như những hành động phù hợp trong giaotiếp Trẻ không có thuyết suy nghĩ sẽ khônghiểu được những cảm xúc, suy nghĩ của chínhmình cũng như của người khác Không cóthuyết suy nghĩ là 1 trong những khiếm khuyếtrất lớn gây trở ngại trong quá trình tương tác xã

Trang 25

hội, dẫn đến những hạn chế trong giao tiếp vàhọc tập.

Trên đây là 1 số đặc điểm về tình cảm- xãhội và ngôn ngữ của trẻ KTTT nhẹ Đây lànhững đặc điểm ảnh hưởng trực tiếp đến sựphát triển kỹ năng xã hội cho trẻ KTTT [12]

Đặc điểm về hành vi của trẻ KTTT

Hành vi trẻ KTTT được các nhà khoa họcbiết đến như là một thách thức lớn không chỉcho người giáo viên trực tiếp dạy học cho đốitượng này trong lớp học mà còn cho cả các nhàkhoa học, nhà nghiên cứu Trong tổng số trẻKTTT thì có tới 40% trẻ có những biểu hiệnhành vi lệch chuẩn (hành vi bất thường) Đặcđiểm hành vi của trẻ KTTT được thể hiện trên 3cấp độ: tự ý thức, tự nhận thức và tự ý thức vềmặt xã hội và các kĩ năng xã hội

Tự ý thức được hiểu như là khả năng tự

nhận thức mặt tình cảm, xã hội về chính bảnthân cũng như về những người xung quanh cóđược qua việc ghi nhớ và trải nghiệm nhữngtương tác trong đời sống thực của một cá nhân

Trang 26

Liên quan đến trẻ KTTT thì điều này rất có giátrị vì chỉ cần một trong các yếu tố của tự ý thức

bị hạn chế sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đếncác yếu tố còn lại

Theo Lí thuyết phát triển nhận thức thì sựphát triển tự ý thức phụ thuộc vào sự hoànthiện của quá trình nhận thức Một cách rõ ràng

là có những trẻ sẽ bị trì hoãn sự phát triển nhậnthức và có thể sẽ không đạt được sự phát triển

tự ý thức của giai đoạn tiếp theo Đối với trẻKTTT, khả năng nhận thức hạn chế sẽ kéo theo

tự ý thức của trẻ chỉ đạt đến một giai đoạn nhấtđịnh trong các giai đoạn phát triển mà thôi

Như vậy, hành vi của trẻ KTTT chịu ảnhhưởng trực tiếp bởi những đặc điểm phát triểnđặc trưng về nhận thức của mỗi giai đoạn Nếutrẻ KTTT khó phản ảnh, nhận thức được nhữngcảm nhận của chính bản thân mình, trẻ sẽ khókiềm chế nổi những hành vi tự phát, khôngmong đợi của chính bản thân mình xuất hiện,trẻ cũng khó xác định và khó có khả năng tự ýthức điều chỉnh, điều khiển các hành vi đó trở

Trang 27

nên bình thường Khi tương tác với môi trường

xã hội xung quanh, trẻ KTTT khó phát hiệnnhững hành vi không hợp chuẩn của mình hoặc

cớ sự khác biệt so với mọi người Mức độ tựnhận thức, phát hiện, so sánh và điều chỉnhhành vi phù hợp với trẻ có hạn chế đáng kể Trẻcũng khó khăn trong nhận diện, xác định cáchthể hiện hành vi phù hợp với tình huống, bốicảnh khác nhau và đặc biệt trong việc phânđịnh vị trí, vai trò của mối quan hệ thứ bậctrong gia đình và cộng đồng

Tự nhận thức bao gồm khả năng liên kết

giữa các phản ứng mang tính tự ý thức, khảnăng tự nhận thức được tình cảm và nhu cầucủa người khác và khả năng giữ cân bằng, duytrì nội tâm bền vững và những vấn đề đã trảinghiệm

Như đã đề cập, tự nhận thức của trẻ KTTTchỉ phát triển đến một mức độ hay giai đoạnnhất định và thường không đạt đến giai đoạnphát triển cao hơn Trẻ thường khó có thể pháthuy được khả năng tự nhận thức do thiếu khả

Trang 28

năng kiểm soát hành vi trong việc thể hiện mức

độ liên kết phù hợp giữa sự biểu đạt nhu cầu vàkhả năng bản thân phù hợp với mong đợi củagiáo viên, bạn bè và những người xung quanh

Tự ý thức về mặt xã hội và các kĩ năng xã hội:

Tất cả mọi người: cha mẹ, giáo viên, bạn

bè, đều nhận thấy trẻ KTTT bị thiếu hụt những

kĩ năng xã hội là do những nguyên nhân :

Không hiểu vấn đề do thiếu tập trung chú ýđối với những dấu hiệu và chi tiết của thông tin

Không lựa chọn sử dụng được thông tin mộtcách phù hợp

Không liên kết các thông tin với thông tin

đã thu lượm được từ trước

Không đưa ra được những phản hồi phù hợpvới bối cảnh đòi hỏi nhiều giải pháp

Không có khả năng kiểm soát được thôngtin

Những thất bại trong quá trình xử lí thôngtin làm cho trẻ KTTT có cảm giác: không được

Trang 29

tự tin trong các tình huống: có cảm giác vôdung, không làm được gì, lệ thuộc vào ngườikhác và thấy mình không có ý nghĩa gì.

Cảm giác vô dụng được đề cập đến như làviệc một cá nhân luôn luôn gặp thất bại trongcác tình huống nhiều sức ép dẫn đến việc giảmnhiệt huyết để hoàn thành một công việc nàođó

Việc "gắn mác, gọi tên, coi thường vàkhông tôn trọng" của giáo viên và những ngườixung quanh đối với trẻ KTTT sẽ là nhữngnguyên nhân làm cho trẻ có cái nhìn tiêu cực vềchính bản thân mình

Những trải nghiệm thất bại ở trẻ KTTT cóthể sẽ làm giảm lòng tự trọng và thậm chí xuấthiện trầm cảm ở cá nhân: trẻ tự nhận thứcmang tính tiêu cực, kinh nghiệm tiêu cực, nhìnnhận tương lai tiêu cực

Cảm giác vô dụng của trẻ KTTT có thể cónhững liên quan đến trầm cảm Về phương diệnnày, rất nhiều ý kiến cho rằng rối loạn về trầmcảm có liên quan chủ yếu tới sự thiếu hụt trong

Trang 30

học tập và nhận thức Tuy nhiên, không thểkhẳng định giữa tính trầm cảm và KTTT có mốiliên hệ nhân quả Song những người chăm sóc

và giáo viên cần ý thức được vấn đề là tínhtrầm cảm có thể đóng một vai trò quan trọngđối với việc làm tăng sự trì trệ trong hoạt độngnhận thức của trẻ KTTT

Trẻ KTTT cũng thường gặp những khó khăn

về khả năng tự diễn đạt nhu cầu và các suynghĩ, tình cảm, cảm xúc của bản thân Đượcnhận và cảm nhận được sự quan tâm tích cực

vô điều kiện là cơ sở quan trọng để phát triểntình cảm lành mạnh Trong môi trường giáo dụcthì những kết quả đạt được về học tập, nhất làtrong việc giao tiếp bằng ngôn ngữ nói và viết

có ý nghĩa quan trọng đối với việc khuyến khíchhọc sinh tự diễn đạt Tuy nhiên, những nỗ lựctích cực của trẻ KTTT thì thường lại không đượcđánh giá cao về các mặt như không có tính phêphán, trực tiếp hướng cuộc giao tiếp vào chủđề; không có khả năng trong quá trình điềuđình và đưa ra quyết định; thường không hiểu

Trang 31

được chi tiết hay ý nghĩa của giao tiếp Do đó ởtrẻ thường xuất hiện:

Cảm giác xấu hổ về khả năng hạn chế củabản thân

Có thể dẫn đến việc nói dối, tạo ra một thếgiới riêng cho bản thân

Khó khăn trong việc tự diễn đạt trong quátrình giao tiếp

Cảm giác không an toàn khi mắc lỗi

Đây chính là những nguyên nhân làm xuấthiện hành vi không phù hợp của trẻ KTTT trongcác tình huống xã hội Đa số các trẻ KTTT xuấthiện hành vi điển hình để chống lại cảm giác vôdụng, bối rối của mình Hành vi trẻ KTTT có thểxuất hiện dưới kiểu hành vi sau:

Hành vi hướng nội: Trầm cảm, sợ hãi, bốirối, thu mình lại, tự làm tổn thương mình…

Hành vi hướng ngoại: Hung hăng, làm tổnthương hay tấn công người khác, tăng động/giảm tập trung, quấy rối…

Trang 32

Trong dạy học và giáo dục, hiểu đượcnhững tác động từ môi trường xã hội, các trảinghiệm của trẻ và những cảm giác của trẻ vềnhận thức xã hội có ý nghĩa quan trọng trongxác định và điều chỉnh hành vi không phù hợpcủa trẻ KTTT Giáo viên cần:

Tiếp xúc ngay từ đầu và không nên gây áplực đối với những trẻ KTTT

Tạo các cơ hội bình đẳng về tự diễn đạt.Tạo cơ hội để diễn đạt tình cảm thực vàhiểu biết mặc dù có thể không biết chính xácnhững tình cảm thực và hiểu biết đó cụ thể làgì

Được thừa nhận giá trị về tự khẳng định.Hành vi trẻ KTTT rất phong phú, đa dạng vàphức tạp Những biểu hiện hành vi trẻ KTTT phụthuộc rất nhiều vào những tương tác xã hội sớm

để có được cách thể hiện những mong muốnbản thân, nhận thấy mình có ý nghĩa và mongmuốn được tương tác với những người khác…giáo viên cần hết sức lưu ý khi dạy học đối

Ngày đăng: 25/05/2021, 17:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w