1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN của VIỆC THIẾT kế TRÒ CHƠI PHÁT TRIỂN kỹ NĂNG đếm số LƯỢNG BẰNG TIẾNG ANH của TRẺ 3 – 4 TUỔI

24 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 33,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ TRÒ CHƠI PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG ĐẾM SỐ LƯỢNG BẰNGTIẾNG ANH CỦA TRẺ 3 – 4 TUỔI Lịch sử nghiên cứu vấn đề.. Như vậy, các nhà tâm lý học, giáo dục phương Tây và

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ TRÒ CHƠI PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG ĐẾM SỐ LƯỢNG BẰNG

TIẾNG ANH CỦA TRẺ 3 – 4 TUỔI

Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Những nghiên cứu về trò chơi.

Nghiên cứu về vai trò của TC trong việc phát triểnnhận thức cho trẻ mẫu giáo, có rất nhiều những tác giả trênthế giới và trong nước đã đưa ra những nhận định chuyênsâu về vấn đề này

Nhà tâm lí học nổi tiếng thế giới J Piaget – người luônđặt tầm quan trọng lớn đối với giáo dục trẻ em cho rằng khichơi, ở trẻ phát triển tri giác, trí thông minh, những khuynhhướng thử nghiệm, những bản năng xã hội Như vậy, Piaget

đã đưa ra nhận định rõ ràng rằng TC là yếu tố cần thiết đểthúc đẩy sự phát triển toàn diện của trẻ

Theo nhà giáo dục nổi tiếng người Nga Macarencô:

“TC có một ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống của đứatrẻ chẳng khác gì sự làm việc, sư phục vụ của người lớn…”

Trang 2

Không chơi trẻ không phát triển, không chơi đứa trẻ chỉ tồntại chứ không phải đang sống [8, 167].

Một nhà giáo dục người Nga khác, K.Đ.Uskinxki coitrọng TC tập thể của trẻ bởi vì nó hình thành và phát triểnnhững mối quan hệ xã hội đầu tiên của trẻ Đồng thời thôngqua các TC này, trẻ dễ dàng lĩnh hội được một số kinhnghiệm lịch sử - văn hóa xã hội của loài người Như vậy,

TC còn giúp trẻ xây dựng và phát triển mối quan hệ củachính mình và mở rộng nhận thức [8, 167]

Một số nhà tâm lí học, giáo dục học phương Tây như

A Vallon, N Khrixtencen,… cho rằng, TC trẻ em là sựphản ánh cuộc sống, là hoạt động được quy định bởi nhữngđiều kiện xã hội trẻ nhắc lại những ấn tượng đã được trảinghiệm vào TC một cách có chọn lọc Theo họ, TC khôngphải là bất biến, nó phản ánh hiện thực xã hội luôn luôn vậnđộng và phát triển

Như vậy, các nhà tâm lý học, giáo dục phương Tây và

Xô Viết đều xem xét TC trẻ em như một hoạt đọng xã hội,nội dung chơi của trẻ phán ánh hiện thực xã hội xungquanh.TC đóng một vai trò tất yếu trong sự hình thành vàphát triển toàn diện của trẻ

Trang 3

Cùng bàn về vấn đề này, ở Việt Nam có một số tác giảtiêu biểu như PGS.TS Nguyễn Thị Hòa, PGS.TS NguyễnÁnh Tuyết, PGS.TS Đỗ Thị Minh Liên,… đã nêu ra vai tròcủa hoạt động chơi, cũng như hiệu quả của TC trong các tiếthọc của trẻ mẫu giáo.

PGS.TS Nguyễn Thị Hòa chỉ ra rằng: “Trẻ học tốtnhất thông qua chơi, nội dung chủ yếu của chơi là phản ánhthế giới xung quanh trẻ và chính nhờ có chơi mà trẻ hiểusâu sắc hơn nữa cuộc sống xung quanh” [8, 155] Như vậy,tác giả đề cao vai trò của hoạt động chơi trong quá trìnhgiáo dục phát triển trí tuệ của trẻ Điều này cho thấy tác giảcũng đề cao vai trò của TC đối với sự phát triển khả năngtưởng tượng và sự sang tạo của trẻ

PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết có rất nhiều những côngtrình nghiên cứu về TC của trẻ em như: “TC trẻ em”,

“Không chơi thì không phát triển được”, “Tâm lí học trẻ emlứa tuổi mầm non”, hoặc “Tổ chức và hướng dẫn trẻ em

mẫu giáo chơi” Tác giả đã nêu ra vai trò của TC đối với sự

phát triển tâm lý và nhận thức của trẻ trong các công trìnhnghiên cứu của mình

Trang 4

Tác giả Phạm Thị Thu Thủy cũng đề cập đến vai tròcủa TC đối với sự phát triển nhận thức của trẻ trong luậnvăn thạc sĩ của mình: “TC không chỉ có tác dụng củng cốnhững biểu tượng đã có ở trẻ mà nó còn là một hình thứchoạt động nhận thức tích cực độc đáo Trong quá trình hoạtđộng này, trẻ còn nắm được những tri thức mới do TC đòihỏi” Như vậy, TC có vai trò rất quan trọng đối với sự pháttriển của trẻ nhỏ Nó không chỉ tác động vào quá phát triển

tư duy tưởng tượng của trẻ, mà nó còn giúp trẻ mở rộngđược vốn hiểu biết và kiến thức thông qua quá trình chơi vàgiải quyết các nhiệm vụ chơi [20]

Như vậy, có thể nói, chơi là phương tiện giáo dục toàndiện cho trẻ, trong đó hình thức thể hiện đặc trưng của cáchoạt động vui chơi là TC Vì vậy, việc tổ chức các hoạtđộng vui chơi cho trẻ là vô cùng cần thiết và có ý nghĩagiáo dục to lớn Nhà giáo dục cần khai thác các thế mạnhcủa hoạt động vui chơi trong quá trình chăm sóc và giáodục trẻ, đồng thời tạo ra các môi trường thuận lợi để trẻđược chơi tự do, chủ động và sáng tạo, từ đó góp phần giúptrẻ phát triển một cách toàn diện nhất

Sự phát triển ngôn ngữ nói chung và kỹ năng tiếng Anh của trẻ 3 – 4 tuổi nói riêng.

Trang 5

Noam Chomxki trong tác phầm “Cấu trúc ngữ nghĩa”

đã cho rằng trẻ em đóng vai trò chính và là nhân tố chínhtrong sự phát triển ngôn ngữ của mình Ông coi ngôn ngữ

có cơ sở sinh học của nó Thành tựu chỉ có ở con người.Con người mới có cơ quan sinh sản ngôn ngữ trong não bộ,chỉ cần có sự tác động từ bên ngoài (môi trường nói năng)

là ngôn ngữ có cơ hội xuất hiện Như vậy, Noam Chomxki

đề cao tầm quan trọng của trẻ nhỏ trong sự phát triển ngônngữ của chúng, và yếu tố xúc tác để ngôn ngữ được pháttriển chính là môi trường bên ngoài đứa trẻ

Beverly Otto – một chuyên gia trong lĩnh vực pháttriển ngôn ngữ trẻ em của đại học Illinois (Hoa Kì) đã chỉ ratrong cuốn sách “Phát triển ngôn ngữ trẻ thơ”(Development of language in early childhood – 2008) bacấp độ của việc phát triển ngôn ngữ của trẻ là:

+ Cấp độ 1: Biết nói (linguistic knowledge)

+ Cấp độ 2: Biết nói một cách có hiểu biết(megalinguistic knowledge)

+ Cấp độ 3: Bày tỏ bằng lời nói một cách có hiểu biết(Verbalization of megalinguistic) [3]

Trang 6

Như vậy sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ là phát triển theotừng bước, từng cấp độ Các cấp độ sẽ nâng cao dần khi trẻphát triển đầy đủ hơn về mặt nhận thức.

Các nhà ngôn ngữ học đều thống nhất với nhau và chia

sự phát triển ngôn ngữ trẻ em ra làm hai giai đoạn: giaiđoạn tiền ngôn ngữ (từ 0 – 12 tháng tuổi), giai đoạn 2 là giaiđoạn ngôn ngữ (từ 12 tháng tuổi trở đi)

Bàn về khả năng tiếng Anh của trẻ mầm non, trongcuốn phát triển ngôn ngữ ở trẻ mầm non (Languagedevelopment in early childhood, 2018) có nêu ra rằng trẻ

em sử dụng hai thứ tiếng có khả năng hiểu và / hoặc sửdụng hai ngôn ngữ và được chia ra làm hai kiểu:

Song ngữ đồng thời (Simultaneous bilinguals): Thuật

ngữ này đề cập đến những trẻ tiếp xúc với hai ngôn ngữ ởnhà, trong đó một ngôn ngữ sẽ thường chiếm ưu thế hơn.Nói chung, những trẻ này vẫn đạt được các mốc ngôn ngữquan trọng (như từ đầu tiên, kết hợp các từ, ngữ pháp và

KN kể chuyện) ở độ tuổi như bạn cùng trang lứa

Song ngữ tuần tự (Sequential bilinguals): Thuật ngữ

này đề cập đến những trẻ có ngôn ngữ đầu tiên được thiếtlập tại nhà, trước khi một ngôn ngữ thứ hai được giới thiệu

Trang 7

(chẳng hạn như chỉ học tiếng Anh khi họ bắt đầu đi họcmẫu giáo) Khi ngôn ngữ thứ hai được giới thiệu, trẻ em cóthể hoặc suy giảm ít thay đổi ở việc sử dụng ngôn ngữ đầutiên của trẻ, hoặc trẻ có thể phát triển hai ngôn ngữ cùng lúcvới tốc độ chậm hơn [4, 9]

Như vậy, việc học song song hai ngôn ngữ có thể sẽảnh hưởng tới tốc độ phát triển ngôn ngữ chậm hơn so vớiviệc cho trẻ chỉ học một ngôn ngữ Tuy vậy, việc cho trẻhọc ngôn ngữ sớm, và học đồng thời hai ngôn ngữ sẽ giúpích cho trẻ rất nhiều vào việc học sau này ở các cấp học caohơn Nếu có những yếu tố kích thích khả năng tư duy cũngnhư hứng thú của trẻ một cách đồng thời thì có thể sẽ manglại một hiệu quả tốt hơn trong việc học song song hai ngônngữ

Ở Việt Nam, PGS TS Đinh Hồng Thái, tác giả cuốnsách “Giáo trình phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non” cũngnghiên cứu sâu về sự phát triển ngôn ngữ cảu trẻ mầm non.Ngoài ra, còn một số nhà giáo dục khác như PGS TSNguyễn Ánh Tuyết, TS Nguyễn Thị Như Mai có đề cập đến

sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo như sau: lứa tuổimẫu giáo là giai đoạn phát cảm đối với hiện tượng ngônngữ khiến cho phát triển ngôn ngữ đạt tới tốc độ nhanh và

Trang 8

đến cuối tuổi mẫu giáo hầu hết trẻ em đều có thể sử dụngthông thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hằng ngày [15, 213]

Có thể thấy, vấn đề phát triển ngôn ngữ của trẻ nhỏnhận được nhiều sự quan tâm từ phía các nhà nghiên cứu,cũng như các nhà giáo dục Họ đều xem sự phát triển ngônngữ là một phần tất yếu trong sự phát triển toàn diện của trẻnhỏ, nhất là với giai đoạn mẫu giáo

Bàn về vấn đề khả năng học tiếng nước ngoài của trẻ,tác giả Nguyễn Xuân Khoa viết trong cuốn Phương phápphát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo như sau: Những thửnghiệm về việc dạy tiếng nước ngoài cho trẻ mẫu giáo chỉ

ra rằng: trẻ mẫu giáo dễ dàng tiếp thu tiếng nước ngoài, tiếpthu nhanh hơn rất nhiều so với người lớn Nếu người lớnsuy nghĩ về logic của tiếng nước ngoài, thì trẻ lại sử dụngtiếng nước ngoài mà không cần để ý tới việc phân tíchnhữung gì đã nói [11, 227]

Như vậy, bên cạnh những nghiên cứu về sự phát triểnngôn ngữ của trẻ, thì khả năng tiếp thu cũng như khả năng

sử dụng tiếng nước ngoài của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo cũng

là một vấn đề được quan tâm và phân tích bởi các nhà giáo

Trang 9

dục nhằm tìm ra giải pháp giúp trẻ phát triển tốt nhất cảtiếng mẹ đẻ và cả ngôn ngữ thứ hai.

Những nghiên cứu về kỹ năng đếm số lượng bằng tiếng Anh của trẻ 3 – 4 tuổi.

Bàn về KN đếm số lượng ở trẻ 3 – 4 tuổi, trong cuốn

“Developmental Psychology”, hai tác giả Irwin W.Silverman và Arthur P RoseBowling có bàn về hai KNđếm của trẻ là KN đếm bằng mắt và KN đếm (Subitizingand Counting Skills) Tác giả có thử nghiệm hai KN nàytrên một nhóm trẻ 3 – 4 tuổi, tương đồng về lứa tuổi, giớitính, khả năng nhận thức, và kết quả mà ông nhận được lànhóm trẻ với yêu cầu chỉ đếm bằng mắt và đọc kết quả gặprất nhiều khó khăn Tác giả quan sát tháy trẻ ở nhóm nàyđều đếm nhẩm trong miệng, hoặc giơ tay chỉ vào đối tượng

và đếm nhẩm Như vậy, nghiên cứu của ông cho thấy KNđếm bằng mắt của trẻ 3 – 4 tuổi vẫn còn nhiều hạn chế [10,539]

Trong tờ Resouce sheet cuốn sách Ages & Stages ofNumeracy Development của Liên đoàn Chăm sóc Trẻ emCanada và Hệ thống Nghiên cứu Ngôn ngữ và Văn họcCanada năm 2009 có viết về sự phát triển khả năng làm việc

Trang 10

với các con số (Numeracy development) qua các giai đoạn,lứa tuổi Trong đó có đưa ra các nhận định dưới đây về khảnăng đếm số lượng của trẻ 3 – 4 tuổi:

Khi đếm các đối tượng, trẻ 3 – 4 tuổi biết được từ chỉ

số đếm cuối cùng sẽ trả lời cho câu hỏi “How many…?”

Ở Việt Nam cũng có rất nhiều những nghiên cứu vềbiểu tượng số lượng, con số và phép đếm Tiêu biểu nhất làPGS.TS Đỗ Thị Minh Liên đã nói tới đặc điểm phát triểnnhững biểu tượng về số lượng, con số và phép đếm ở trẻ 3 –

4 tuổi trong cuốn “Phương pháp hình thành biểu tượng toánhọc sơ đẳng cho trẻ mầm non” Tác giả chỉ ra rằng: “Lên batuổi, trẻ đã phân biệt được các khái niệm một, ít nhiều, trẻ

đã có những phản ứng với câu hỏi “có bao nhiêu”, một sốtrẻ đã sử dụng các từ số: một, ba, năm, tám… nhưng khôngứng chúng với số lượng vật tương ứng Qua đó chứng tỏ trẻ

Trang 11

đã có suy nghĩ liên quan đến số lượng của nhóm vật.” [13,80]

Ngoài ra, trong cuốn Lý luận và phương pháp hìnhthành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non củamình, PGS TS Đỗ Thị Minh Liên cũng cho rằng vào cuốinăm ba tuổi thì trẻ có nhu cầu xác định chính xác SL cácnhóm đối tượng, vì vậy trẻ bắt đầu bắt chước người lớn đếm

và sử dụng các con số Có thể nói những đặc điểm trên là cơ

sở để hình thành KN đếm số lượng cho trẻ Từ đó, tác giảđưa ra những gợi ý về nội dung dạy đếm trong phạm vi 5cho trẻ 3 – 4 tuổi cho GV như dạy trẻ đọc thuộc số theotrình tự, sau đó dạy trẻ đếm đúng trên đồ vật và tổ chức chotrẻ thực hành đếm [12, 126]

Trong cuốn “Toán và phương pháp hình thành cácbiểu tượng toán học cho trẻ mẫu giáo”, tác giả Đinh ThịNhung có chỉ ra rằng: trẻ 3 – 4 tuổi chưa biết đếm, song khilập tập hợp thì trẻ đã biết gắn mỗi động tác, mỗi vật với một

từ giống nhau “này, này, này,…” hay “nữa, nữa, nữa,…”

Đó là những tiền đề để trẻ học phép đếm sau này [16, 81]

Như vậy, các nghiên cứu ở nước ngoài và ở Việt Nam

có phần khác nhau về nhận định KN đếm của trẻ Điều này

Trang 12

là dễ hiểu bởi họ nghiên cứu những đứa trẻ khác nhau, sống

ở những địa điểm cách xa nhau và điều kiện sống, môitrường và phong cách học tập khác nhau

Trò chơi phát triển kỹ năng đếm số lượng bằng tiếng Anh cho trẻ 3 – 4 tuổi.

Một số khái niệm cơ bản.

Trò chơi.

Theo từ điển Tiếng Việt Ngôn ngữ học Việt Nam: “TC

là hoạt động bày ra để vui chơi giải trí”.[25,166]

Đối với việc dạy học ở bậc học Giáo dục mầm non,

TC đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự pháttriển toàn diện cho trẻ Chính vì thế, có rất nhiều nhà giáodục tìm hiểu và nghiên cứu sâu về lí thuyết của trò chơi

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Hòa: “Chơi là hoạt động tựlập của trẻ, chơi không nhằm tạo ra sản phẩm (kết quả vậtchất) mà chủ yếu nhằm thỏa mãn nhu cầu được chơi của trẻ(kết quả tinh thần), được bắt chước làm người lớn của trẻ.”[8, 167] Như vậy, quan điểm này không hề đặt nặng yếu tốkết quả vật chất, mà đề cao kết quả tinh thần, những cảmxúc mà hoạt động chơi mang lại cho trẻ

Trang 13

Theo A Macarenco: “TC là công việc, chỉ có khácnhau một điểm đó là: công việc là sự tham gia của conngười vào sự sản xuất của xã hội để tại ra những giá trị vậtchất, giá trị văn hóa, hay nói ngắn gọn là những giá trị xãhội TC không tuân theo những mục đích như vậy Đối vớinhững mục đích xã hội, TC không có quan hệ trực tiếp,nhưng lại có quan hệ gián tiếp Nó tập cho con người cónhững cố gắng về thể lực và tâm lí cần thiết cho công việc”.Theo quan điểm trên thì TC không đơn thuần là công việc,

là nhiệm vụ được giao mà còn thể hiện giá trị văn hóa xãhội [8, 166]

Bàn về TC học tập, E.I Chikhieva cho rằng:“TC đóđược gọi là TC học tập hay TC dạy học là vì TC đó gắnliền với một mục đích dạy học nhất định, và đòi hỏi khi tổchức phải có tài liệu dạy học kèm theo phù hợp với mụcđích của TC ” [5, 8]

Dựa trên những quan điểm trên, chúng tôi hiểu: TC là hoạt động bao gồm các nhiệm vụ hoặc chuỗi nhiệm vụ khác nhau và có luật chơi, cách thức chơi mà người lớn tạo ra cho trẻ chơi với nhiều mục đích khác nhau.

Trang 14

Từ đó chúng tôi rút ra khái niệm: TC đếm số lượng là

TC bao gồm các nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ đếm số lượng; có luật chơi, cách thức chơi mà người lớn tạo ra nhằm phát triển ở trẻ kĩ năng đếm số lượng và các KN khác.

Thiết kế.

Theo từ điển tiếng Việt: “Thiết kế là lập tài liệu kĩthuật toàn bộ, gồm có bản tính toán, bản vẽ, v.v., để có thểtheo đó mà xây dựng công trình, sản xuất thiết bị, sảnphẩm” [25, 800]

Trong cuốn Công nghệ 11 do Bộ Giáo dục và đào tạoban hành, khái niệm thiết kế được hiểu là: “Thiết kế mộtsản phẩm là quá trình hoạt động sáng tạo của người thiết kế

để nhằm xác định hình dạng, kích thước, kết cấu và chứcnăng của sản phẩm đó” [1, 35]

Theo luận văn Thiết kế Modun dạy học phần phươngpháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non ở trường Cao đẳng

Sư phạm năm 2011: “Thiết kế là lập dự án kế hoạch xâydựng một công trình, sản xuất một thiết bị, sản phẩm côngnghiệp Thiết kế bao gồm công việc lập các tài liệu, các

Trang 15

thông số kỹ thuật, các tính thi công công trình, gia công sảnphẩm”.

Từ những khái niệm trên, chúng tôi quan niệm: Thiết

kế TC là quá trình sáng tạo và xây dựng nên các hoạt động bao gồm việc xây dựng các nhiệm vụ, luật chơi, cách thức chơi và dự kiến điều kiện tổ chức TC của nhà giáo dục nhằm hướng đến một hay nhiều mục đích nào đó.

Kỹ năng.

Theo từ điển tiếng Việt: “KN là khả năng con ngườivận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vựcnào đó vào thực tế” [25, 375]

Theo Vũ Dũng, “KN là năng lực vận dụng có kết quảnhững tri thức về phương thức hành động đã được chủ thểlĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng KN đượchình thành qua luyện tập” [5, 132]

Theo tác giả Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn,Trần Quốc Thành trong giáo trình Tâm lí học đại cương đềucho rằng: KN là một năng lực của con người biết vận dụngnhững thao tác của hành động theo đúng quy trình [18]

Ngày đăng: 25/05/2021, 17:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w