Làng cổ Đông Ngạc Đường đi : Đại học văn hóa ( Đê La Thành ) Cầu Giấy – Xuân Thủy – Phạm Văn Đồng – Cầu Thăng Long – Làng Đông Ngạc. • Những điểm tham quan chính: 1. Đình Vẽ( đình Đông Ngạc) xóm 1 2. Nhà thờ họ Phạm, xóm 3 3. Nhà thờ họ Đỗ, xóm 3 4. Nhà thờ họ Phan, xóm 4A 5. Chùa Tư Khánh, xóm 4C.
Trang 1Xây dựng chương trình tham quan và viết thuyết minh cho điểm du lịch Làng cổ Đông Ngạc Thực hành hướng dẫn tại điểm du lịch đó
Làng cổ Đông Ngạc
Đường đi : Đại học văn hóa ( Đê La Thành ) - Cầu Giấy – Xuân Thủy – Phạm Văn Đồng – Cầu Thăng Long – Làng Đông Ngạc
Những điểm tham quan chính:
1 Đình Vẽ( đình Đông Ngạc) xóm 1
2 Nhà thờ họ Phạm, xóm 3
3 Nhà thờ họ Đỗ, xóm 3
4 Nhà thờ họ Phan, xóm 4A
5 Chùa Tư Khánh, xóm 4C
Bài thuyết trình:
Chào quí khách, tôi là Bùi Quỳnh Giao, đến từ công ty du lịch Saigontourist, rất hân hạnh được dẫn quý khách đến thăm làng cổ Đông Ngạc ngày hôm nay : ngôi làng không chỉ được biết đến là một trong những ngôi làng cổ nhất của kinh thành Thăng Long xưa và thủ đô Hà Nội nay mà còn nổi tiếng với truyền thống hiếu học khoa bảng Rất hi vọng chúng ta sẽ có một chuyến đi thực sự lí thú và bổ ích
Kính thưa quí khách, để giúp quí khách có cái nhìn bao quát về di tích tham quan của chúng ta hôm nay thì trước khi bắt đầu hành trình, tôi xin cung cấp cho quí khách những nét khái quát chung về lịch sử
Làng cổ Đông Ngạc
1 Đôi nét khái quát về làng cổ Đông Ngạc
Làng cổ Đông Ngạc nằm về phía tây bắc thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thành phố 11km, phía đông giáp làng Nhật Tảo, đông nam giáp làng Cáo Đỉnh( xã Xuân Đỉnh), phía nam giáp làng Cổ Nhuế, phía tây giáp làng Chèm( xã Thụy Phương), phía bắc giáp sông Hồng
Trang 2Làng cổ Đông Ngạc được coi là một trong những làng cổ nhất ở Hà Nội làng có tên Nôm là Làng Vẽ theo các thư tịch cổ còn lại đến nay, vào cuối đời nhà Trần( thế kỉ 14), lần lượt các dòng họ Nguyễn, Phạm, Phan, Đỗ…từ các đất Ái Châu, Hoan Châu ra định cư ở làng Làng từ đó mà hình thành.Thời Lê Trung Hưng, ở làng đào được một cái chuông cổ, có khắc chữ:” Đống Ngạch phường, Diên Hỗ tự chung, Diên Hựu nhị niên chú Tín hoạn Tông Trân thí kim nhất lạng” qua đó cho thấy chuông đúc vào năm 1315 triều Trần Minh Tông Làng Vẽ khi đó có tên là phường Đống Ngạch, sang đến triều Lê Sơ mới đổi tên là làng Đông Ngạc có nhiều cách giải thích khác nhau về tên gọi của làng Về cái tên làng Vẽ, người dân cho rằng sở dĩ đặt tên vậy là vì: làng có đường đi lối lại thẳng tắp như bàn cờ, đẹp như vẽ lại có cách giải thích rất dân gian là: do làng
có nhiều quan to nên hay bày vẽ trong cách ăn ở, sinh hoạt về cái tên Đông Ngạc ngày nay được giải thích như sau: xưa làng ở trên một gò đất cao kề bờ sông, trên gò có nhiều hàng quán phục vụ khách vãng lai, là nơi học trò tụ tập để học bài, những trưa hè tiếng những chú bé học bài ,đọc vang những câu đông dao, nghe râm ran như tiếng ếch, đống ếch( theo cách goi dân gian của người thôn quê) , sau đó người ta gọi tên làng là Đông Ngạc hay cách giải thích khác là: thời nhà Trần, dân làng có nghề làm gạch rất phát đạt, người dân ở nhiều nơi tụ tập về đây làm ăn sinh sống và hành nghề, các ngõ xóm đều có những lò gạch và 1 đống gạch chất cao trước cổng xóm, người ta đọc chệch chữ đống gạch thành Đống Ngạch rồi chuyển là Đông Ngạc, tên làng cổ từ những sự ly giải rất dân quê ấy mà ra đời
Xưa làng có 13 xóm ở trong đê có 6 xóm là: ngõ Đông, ngõ Ngác, ngõ
Vẽ, ngõ Trung, ngõ Ngấn, ngõ chùa Ngoài đê cò 7 xóm là: Lò Nồi, Vạn, Vườn, Hàng Quang, Thượng Khu, Hạ Khu, Trung Khu Ngày nay, làng còn lại 12 xóm và các xóm mang tên các số như sau: Ngõ Đông mang tên xóm 1A( cách 1 cái cầu là xóm 1B mới lập); Ngõ Ngác- xóm 2, Ngõ
Trang 3Vẽ-xóm 3 đây là Vẽ-xóm tập trung nhiều quan lại khi xưa nhất làng; Ngõ Trung-xóm 4A; Ngõ Ngấn- Trung-xóm 4B; Ngõ Chùa- Trung-xóm 4C gọi tên là ngõ chùa vì
có ngôi chùa Tư Khánh bề thế nằm ở đây; Lò Nồi, Vạn, Vườn- xóm 5A; Hàng Quan, Thượng Khu, Trung Khu, Hạ Khu- xóm 5B; xóm 6 xưa là ấp trại nay phát triển như phố thị; xóm 7 dọc theo đê từ song Nhuệ vào lang Giàn; xóm 8 là xóm mới lập
Theo tương truyền, ngày trước ở làng mỗi xóm đều có cổng riêng và 1 cổng chung của làng, chiếc cổng nào cũng có cánh cổng bằng gỗ và người dân quy đinh giờ đóng mở cổng ở mỗi xóm, đến nay làng không còn cổng làng chung mà chỉ cỏ những cổng riêng của từng xóm, những cổng này đều được xây mời, cổng không có cánh nên người dân có thể ra vào xóm bất cứ giờ nào cũng được chiếc cổng xóm thường được xây 4 trụ cột bằng đá, trên có ghi những chữ Hán Tự tên của xóm Các trụ cột đều xây cao với 2 chóp nhọn như 1 cây bút, điều này tượng trưng cho tinh thần hiếu học của làng
Các cô chú đã từng nghe câu nói dân gian“ đất kẻ Giàng, quan kẻ Vẽ” chưa ạ? câu nói đề cao truyền thống khoa bảng của làng cổ Đông Ngạc làng có nhiều người đỗ đạt cao và làm quan nhiều đời ngay từ cuối đời Trần đã có cụ Phan Phu Tiên đỗ Thái Học Sinh vào năm Quý Dậu(1393), sau đó lại đỗ khoa Minh Kinh vào năm Kỷ Dậu( 1429) Từ đó đến hết triều Nguyễn, làng Đông Ngạc đã có 21 tiến sĩ, 2 Sĩ Vọng và hàng trăm
cử nhân, tú tài, ngoài ra còn có 1 tạo sĩ( tiến sĩ võ)
Ngày nay, truyền thống văn hóa học giỏi vẫn được kế tục, duy trì và phát triển ở làng, vì vậy làng Đông Ngạc được suy tôn là làng Văn Hiến
Trải qua những biến động của lịch sử, thiên nhiên tàn phá nhiều hạng mục của làng bị phá hủy hoặc xuống cấp xong làng vẫn giữa được nguyên vẹn nét kiến trúc cổ, mang đậm dấu ấn của 1 làng văn hiến lâu đời cho tới nay, làng cổ Đông Ngạc còn lại nhiều di tích với những giá trị lịch sử văn hóa sâu sắc như: đình làng Vẽ nguy nga, tráng lệ, nhiều
Trang 4nhà thờ cổ kính của các dòng họ như Phan, Phạm, Đỗ, Nguyễn, và ngôi chùa Tư Khánh có từ rất sớm còn nguyên vẹn kiến trúc cổ xưa
Vì vậy, đến với làng cổ Đông Ngạc du khách không chỉ biết thêm phần nào về truyền thống hiếu học, khoa bảng của mảnh đất ven kinh kì xưa
mà còn khám phá những nét kiến trúc văn hóa thông qua các di tích còn lại đã tái hiện hình ảnh 1 làng quê cổ điển hình với nếp sống xưa cũ của con người nơi đây
Từ bao đời nay, khi nhắc đến làng quê cổ truyền vùng đồng bằng Bắc Bộ người ta không thể không nhắc đến ngôi đình làng, một kiến trúc đặc trưng, điển hình cùa làng, nơi hội tụ những giá trị cũng như chức năng của loại hình di tích này Vì vậy, điểm tham quan đầu tiên trong lộ trình tìm hiểu làng cổ Đông Ngạc của chúng ta hôm nay là đình Đông Ngạc, tên gọi phổ biến là đình làng Vẽ ở xóm 1
Kính thưa quý khách, chúng ta đang đi trên con đường của xóm 1, điểm tham quan đầu tiên của ta ở phía trước ạ Quí khách có thấy con đường làng này rất đẹp không ạ? Vâng, đây là một nét đăc trưng của làng cổ Đông Ngạc, những con đường dẫn vào mỗi xóm đều lát bắng gạch đều đặn, hàng tiếp hàng rất đẹp, tạo 1 không gian đường quê quang đãng, sạch sẽ Đây là kết quả của những lần nộp cheo của các cô gái làng từ xa xưa Xưa , con gái làng Đông Ngạc xuất giá, nhà chồng lại thể hiện sự tri
ân với cha mẹ, làng xóm bằng việc bỏ công, của xây dựng một đoạn đường cứ như vậy, đường tiếp đường những người con gái Đông Ngạc
đã góp phần làm cho xóm thôn khang trang, sạch đẹp quả là một tục lệ đẹp phải không ạ?
Vâng, thưa quý khách trước mắt chúng ta là ngôi đình làng Đông Ngạc
từ vị trí này, quí khách có thể bao quát thấy toàn bộ không gian và kết cấu kiến trúc đình Ngôi đình có một kiến trúc tổng thể hoàn chỉnh Được xây dựng theo kiểu Nội công ngoại quốc Qua tam quan ngoại vào tam quan nội có ba cửa thông suốt, một đường gạch thẳng vào sân rộng hai bên
Trang 5nhà hành lang mỗi dãy 7 gian Đại đình có hai bái đường nội và ngoại, mỗi lớp 9 gian, trung cung 3 gian và hậu cung 3 gian
Lịch sử xây dựng đình :
Tương truyền từ xưa, ở ven sông của làng đã có một ngôi miếu nhỏ thờ thần, không biết được xây dựng từ bao giờ Khoảng nửa cuối thế kỉ 15, sau khi bình định xong giặc Minh, nhà Lê được thành lập, đất nước thanh bình trơ lại Đời sống dân làng ổn định và phát triển cả về vật chất và văn hóa, nhất là về nho học khoa bảng Do nhu cầu tín ngưỡng tâm linh, người làng đã lần lượt đi rước chân nhang 2 vị thần nữa về thờ là Thiên Thần và Nhân Thần cho đủ ba bậc tam tài là Thiên – Địa – Nhân Về sau,
do bờ sông khi lở khi bồi nhu cầu có một ngôi đình to lớn vĩnh cửu cho xứng với tầm của một kho bảng trở nên cấp bách
Đến năm Dương Hòa III , triều Lê Thần Tông ( 1637 ) , dân làng đã quyết định xây dựng ngôi đình mới ở đầu xóm Ngác ( xóm 1 ) và rước 3 vị thượng đẳng thần từ miếu cũ ở bờ sông về thờ Ngôi đình đã trải qua nhều lần trùng tu song vẫn giữ nguyên vẹn nét cổ kính, kiến trúc của ngôi đình truyền thống xưa
Bây giờ xin mời quí vị vào trong
Chúng ta đang đứng trước cửa tam quan nội Hai bên là hai ao Nhật -Nguyệt tượng trưng cho hai mắt rồng, ngôi đình được đặt trên một thế đất đẹp có hình đầu rồng nói về thế đất này dân làng có truyền nhau một bài thơ:
Đình làng Đông Ngạc dáng đầu rồng Chính mũi tam quan thẳng hướng sông Hai giếng to tròn hình mắt ngọc
Trang 6Một tòa đại bái đỉnh đầu long Nội cung u tĩnh thờ ba vị Miếu mạo trang nghiêm nức một vùng Tam thánh tối linh ban phúc lớn
Dân yên, tục đẹp, quý vô cùng.
Qua tam quan nội xin quý khách hướng tầm mắt của mình qua hai bên tả
vu và hữu vu Đây là hai kiến trúc phổ biến của đình làng Bắc bộ Bên phải là điện thờ cụ Phạm Thọ Lý, người đã có công hiến đất để xây dựng đình, người dân thường quen gọi cụ là cụ Đường, khi làng đang tìm đất thì có thầy địa lý nói rằng “ khu đất này có tú khí trung tụ, nếu làm đình thì dân làng sẽ được thịnh vượng, hiển đạt đời đời” Khi đình được hoàn thành, đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của dân làng, không quên công lao cụ, họ đã mang bài vị cụ đến đây để thờ
Bên trái là nhà bia nơi lưu giữ 7 tấm bia nói về công lao của các vị đã cống hiến để xây dựng ngôi đình và những lần trùng tu ngôi đình Các bạn nhìn thấy có một tấm bia duy nhất đặt trên lưng rùa, đó là tấm bia của
cụ Phan Phu Tiên, đây là người đầu tiên đỗ đạt tiến sĩ mở đầu cho khoa bảng làng Đông Ngạc
Qua hai dãy tả - hữu vu, chúng ta sẽ tham quan thượng điện là nơi thờ chính của đình với 5 gian 2 dĩ Mái đình lợp bằng ngói mũi hài, một loại ngói cổ của Việt Nam Các đao đình vút cong ở 4 góc mái làm cho 2 mái đình trở nên thanh thoát, nhẹ nhàng Mặt ngoài của các đầu đao được đắp nhiều hình rồng sinh động như quý vị có thể thấy Bây giờ xin mời quý vị cùng vào bên trong thượng điện
Trang 7Trước mắt quí khách là đôi tượng hạc gỗ, một con vật được thờ phổ biến
ở nhiều đình làng Bắc Bộ, hình tượng hạc đứng trên lưng rùa tượng trưng cho sự kết hợp âm dương Ngày trước đình có đôi hạc bằng đồng rất quý đặt trong thượng điện nhưng nay đã bị thất lạc
Bên trái của gian thờ này là bàn thờ đức Lê Quận Công, tên thật là Phạm Công Dung, đỗ Đình Nguyên tiến sĩ khoa Bính Tuất (1706) dưới thời vua
Lê Dụ Tông Cụ giữ nhiều chức vị quan trọng trong triều đình, khi mất,
cụ được phong chức Công bộ Thượng thư, tước Lê Quận Công Cụ chính
là người hiến toàn bộ số gỗ để xây dựng ngôi đình này
Bên phải của gian thờ này là bàn thờ đức Mạc Quận Công Vị thần này đã có công giúp vua Trần đánh quân Nguyên xâm lược, có bùa phép Nhân dân trong làng đã rước chân nhang tữ xã Trân Vệ (vùng ven song Đà) về thờ ở bờ sông của làng, sau đó mới chuyền về thờ ở đình
Trước mắt quý vị là bộ tranh cổ được vẽ bằng sơn màu vào gỗ rất quý hiếm Xưa kia làng có 48 bức nhưng 8 bức đã bị kẽ gian lấy mất vào đêm mùng 2 tháng 3 năm Ất Hợi( 1995) cùng với đôi hạc đồng Đình trưng bày 32 bức ở ngoại bái đường này Trên 16 bức tranh lớn kia có 16 đại tự,
16 bức tranh nhỏ kề bên mỗi bức lớn có 16 câu thơ của hai bài thơ Đường luật, lấy 16 chữ trên làm tiếng đầu câu.Các quý vị có thể thấy tại gian này
có hai bức hoàng phi, bức bên tay trái quý vị là “Kỳ phúc tang lưu”( nơi xin thẻ cầu phúc), bức kia là”Đông lân thụ phúc”(làng Đông Ngạc nhận phúc)
Hai bên của hương án này là 8 đồ trang trí dùng trong các nghi lễ Như quý khách có thể thấy hai bên thượng điện có 8 bục đá, xưa kia chỉ những người có chức sắc trong làng được ngồi để bàn việc làng, hay trong lễ hội Thể hiện sự đề cao các chức sắc trong làng như dân gian đã từng nói : “ Một miếng của làng bằng một sàng xó bếp ”
Lớp sau của thượng điện là một cung nhỏ thờ Hạ thần quan, vào hậu cung chúng ta bắt gặp tượng hai ông phỗng đang giơ tay về phía
Trang 8trước ám chỉ đây là cung cấm không được vào Trong hậu cung này thờ
“Tam vị Đại vương Thượng đẳng tối linh thần” tức là 3 vị thần tượng trưng cho tam tài" Đầu tiên là Đệ nhất đẳng thần (thiên thần) là thần Độc Cước còn gọi là Hỏa Quang Tiêu, Sơn Tiêu đại thánh, thần có năng lực trừ yêu quái, bảo vệ dân biển Phan Phu Tiên đã rước chân nhang thần từ Cửa Roi- Nghệ An về thờ tại đình Đệ nhị đẳng thần (nhân thần) là Lê Khôi- cháu gọi vua Lê Thái Tổ bằng chú ruột Thần có công bảo vệ dân vùng song nước được bình an vô sự Cụ Đô đốc đồng tri Đông Xuyên Hầu đã rước chân nhang từ vùng Trào Khẩu- Hưng Nguyên- Nghệ An về thờ.Vị cuối cùng là Đệ tam đảng thần( địa thần) là thần cai quản vùng đất này Thần vốn được thờ ở ven sông để trừ tai, bảo vệ và ban phúc cho dân làng
Lễ hội đình được tổ chức vào ngày mùng 9 tháng 2 âm lịch Xưa, lễ hội đình lành Vẽ được tổ chức rất qui mô, nghiêm túc và có những nét đặc thù của một làng nho học, quan cách Qui trình lễ hội thường diễn ra như sau: mồng 8 mở cửa đình, trần thiết lễ cụ và trồng kiệu Ngày mồng 9, sang diễn ra lễ phục triều( lễ mặc mũ áo đại triều vào thánh giá trên long ngai), lễ phụng nghênh( lễ đặt mũ, đai, kiếm của 3 vị lên ngai của 3 cỗ kiệu bát cống) Ngày mùng 10, sang là lễ rước văn, trưa diễn ra lễ chính tịch Ngày 11 diễn ra hội lễ tế xuân, lễ giải triều y, hóa mã, rước bài vị thần vào hậu cung và lễ đóng cửa đình
Điểm tham quan tiếp theo trong lộ trình của chúng ta hôm nay là các nhà thờ tộc của các dòng họ, đây là 1 loại hình di tích đặc biệt, nhất là
ở các làng khoa bảng trước tiên chúng ta sẽ thăm quan nhà thờ họ Phạm
ở xóm 3
Thưa quý khách, chúng ta đang có mặt tại nhà thờ họ Phạm làng Đông Ngạc Đây là dòng họ lớn nhất, lâu đời nhất trong làng Họ Phạm đến đây có lẽ muộn nhất là khoảng năm 1370- 1380 khi giặc Chiêm tiến vào thành Thăng Long Cả họ Nguyễn và họ Phạm trong làng đều từ
Trang 9Thanh Hóa đến Theo thư tịch cổ thì có ba anh em họ Phạm từ Thanh Hóa lên ba vùng khác nhau: Đôn Thư( Thanh Oai), Bát Tràng, và Đông Ngạc Khi đến Đông Ngạc thì dòng họ này nổi tiếng ngay vì tinh thần hiếu học Người đỗ đại khoa đầu tiên của họ Phạm là cụ Phạm Lân Định, thi đỗ tam giáp đồng tiến sĩ khoa Giáp Tuất 1514, khai khoa họ Phạm Cụ cũng chính là người đầu tiên ở làng có tên khắc trên bia đá ở Văn Miếu vào thời Lê.Từ đó cho đến năm 1849 có 11 người đỗ đại khoa( 9 tiến sĩ và 2
sĩ vọng), đến trước cách mạng tháng Tám, họ có tổng cộng 16 tiến sĩ và
78 cử nhân.Trong 16 tiến sĩ đó có 11 người đỗ đại khoa Hán học và 5 người đỗ tiễn sĩ Tây học ở Pháp
Thưa quý khách, trước mắt quý khách là hòn non bộ Đây là một hòn núi giả thường được đặt ở trước sân của mỗi nhà thờ họ cũng như ở một số ngôi nhà ở Việt Nam để tượng trưng cho sự hòa hợp âm dương, gia đình, họ tộc sẽ thịnh vượng
Trên hai cây cột này là đôi câu đối:
“Tòng quân kiệt tiết mãn xoan trung nghĩa quán hồng luân”- bên trái
“Học cổ chí than dịch thề khoa danh khai xích xí”-bên phải của quý
khách
Đôi câu đối này nói về truyền thống hiếu học và khoa bảng của dòng họ Phạm Phía trên đỉnh hai cột có đắp nổi hình con Nghê là con vật thiêng, có khả năng nhận ra kẻ ác hay kẻ thiện
Phía sau hai chiếc cột này là hai bức tường với hai bức tranh vinh quy bái tổ, thể hiện khung cảnh của làng quê mỗi khi trong làng cò người
đỗ đạt
Xin mời quý khách hãy nhìn sang bên tay phải, đây là tấm bia ghi danh sách những vị tiến sĩ của dòng họ Trên tấm bia này khắc tên 9 vị tiến sĩ
và hai cụ đỗ sĩ vọng Đó là các cụ : Phạm Lân Đính, Phạm Thọ Chỉ,
Phạm Hiển Danh, Phạm Quang Trạch, Phạm Quang Hoàn, Phạm Thế Anh, Phạm Công Liêu Điều đặc biệt là cụ Phạm Quang Trạch chính là
Trang 10thầy dạy của Trạng Quỳnh Riêng họ Phạm có 9 tiến sĩ, còn các dòng họ khác trong làng chỉ có từ 4 đến 5 tiến sĩ Họ Đỗ thì có Đỗ Thế Giai và
Đỗ Thế Dân( tạo sĩ- tiến sĩ võ) Họ Nguyễn có 5 tiến sĩ thuộc 5 họ khác nhau:họ Nguyễn gốc có tiến sĩ Nguyễn Văn Tùng, họ Nguyễn ở Mai Dịch
có Nguyễn Dự,họ Nguyễn ở Thanh Trì có phó bảng Nguyễn Văn Hội, họ Nguyễn Hữu có Nguyễn Hữu Tạo, họ Nguyễn Đình có Nguyễn Đình Thạc Ngoài ra, còn có họ Hoàng, là dòng họ đền làng muộn nhất, người khai khoa là Hoàng Nguyên Thự, sau đó là Hoàng Tế Mĩ, Hoàng Tướng Hiệp, Hoàng Tăng Bí
Thưa quý khách!
Trước mắt quý khách là cửa nhà thờ họ với bức hoành phi ở giữa
có các Hán tự “ Phạm tộc từ đường ” (nhà thờ tổ họ Phạm), bức hoành phi bên trái có chữ “Ất chi” (chi Ất), bên phải là “Giáp chi” (chi Giáp) Xin mời quý khách cùng vào bên trong nhà thờ Tại đây có bàn thờ gia tộc họ Phạm, ngày mồng 3 tháng Giêng hàng năm là ngày xuân tế của họ Phạm Bây giờ, xin mời quý khách cùng ra bên ngoài để tiếp tục hành trình tham quan Phía sau của nhà thờ này là nhà thờ của chi Ất nhất
họ Phạm Chúng ta sẽ đến một nhà thờ họ tiếp theo cũng có truyền thống khoa bảng đó la nhà thờ họ Đỗ cùng ở xóm 3
Họ Đỗ ở làng Đông Ngạc thì xuất hiện muộn hơn dòng họ Phạm, nhà thờ
họ được xây dựng khoảng năm 1740, thờ cụ tổ Đỗ Thế Giai – là người đỗ tiến sĩ đầu tiên của dòng họ Đỗ Cụ sinh ngày 21/ 10 năm Kỷ Sửu, đời Vĩnh Thịnh (1079), là một quan chức cao cấp thời Lê – Trịnh Năm Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Hựu, cụ thi hội và đỗ Tam trưởng, được phong làm Huấn đạo huyện Trà Vinh Năm Mậu Ngọ cụ làm hai bài văn chức, và được vào phủ chúa Trịnh giảng kinh Khi chúa Trịnh Minh Vương lên ngôi, giao cho cụ làm Quân hậu nội thủy đội Năm Quý Hợi được thăng làm Tham nghị tỉnh Tuyên Quang Năm Cảnh Hưng thứ 3 được phong làm Phó Chi binh phiên Năm Cảnh Hưng thứ 11 lại được phong làm Suy