Một trong những biện pháp để thay đổi hình thức kiểm tra - đánh giá môn Ngữ Văn hiện nay là việc ra đề mở - loại đề gây hứng thú cho học sinh, có khả năng tạo không gian thoáng cho học s
Trang 1ĐỀ TÀI:
VÀI KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ
MÔN NGỮ VĂN QUA HỆ THỐNG ĐỀ MỞ
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Muốn chữa bệnh cần có thuốc đắng”
Đó là quan điểm mà ông Nguyễn Vinh Hiển, Thứ trưởng bộ GD&ĐT đãnêu ra trong cuộc hội thảo về đổi mới kiểm tra - đánh giá môn Ngữ văn ngày10/4/2014 tại Hà Nội Theo ông Nguyễn Vinh Hiển, để thực hiện mục tiêu đổimới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam thì phải xem việc đổi mới kiểmtra - đánh giá là khâu đột phá, có ý nghĩa quan trọng để “chữa bệnh” cho nềngiáo dục Việt Nam hiện nay - một nền giáo dục còn nhiều bất cập Khi Bộ Giáodục và Đào tạo ban hành Thông tư số 26/2020/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một
số điều của Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh THCS, THPT ban hành kèmThông tư số 58/2011/TT-BGDĐT đã thể hiện rõ quan điểm đổi mới hoạt độngkiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh, đảmbảo hoạt động kiểm tra, đánh giá như một hoạt động học tập
Đối với bộ môn Ngữ Văn, việc đổi mới kiểm tra - đánh giá có ý nghĩa vôcùng quan trọng, vì đổi mới kiểm tra - đánh giá có tác dụng thúc đẩy việc thayđổi phương pháp dạy và học Một trong những biện pháp để thay đổi hình thức
kiểm tra - đánh giá môn Ngữ Văn hiện nay là việc ra đề mở - loại đề gây hứng
thú cho học sinh, có khả năng tạo không gian thoáng cho học sinh suy nghĩ Việc
ra đề mở đối với bộ môn Ngữ Văn không phải là mới mẻ Tại Trung Quốc, Mĩ
và nhiều nước khác trên thế giới đã áp dụng kiểu đề theo hướng mở để phát huy
khả năng sáng tạo của học sinh Ở nước ta hiện nay, việc ra đề mở cũng đã được
chú ý trong các kì thi Tốt nghiệp THPT, Tuyển sinh ĐH - CĐ, Tuyển chọn Họcsinh giỏi
Song có một thực tế không thể phủ nhận rằng: ở một số trường học cònquá quen ra đề văn theo kiểu truyền thống, trong đó bao giờ cũng có yêu cầu vềnội dung (kiến thức) và yêu cầu về cách thức thể hiện, dưới hình thức mệnhlệnh Khi chấm bài, chúng ta vẫn dựa vào việc đếm ý phù hợp với đáp án để chođiểm Điều này có nguồn gốc từ cách dạy - học còn cũ kĩ: người dạy thường cảmnhận, lí giải những vấn đề của cuộc sống, của văn chương thay cho học sinh Vàtrong kiểm tra – đánh giá, yêu cầu học sinh lặp lại cách hiểu, cách cảm mà ngườidạy đã truyền đạt! Do cách ra đề và đáp án “đóng”, cùng với việc coi trọng kiếnthức văn học hơn rèn luyện kĩ năng nên các đề kiểm tra viết lâu nay chưa tạođiều kiện cho học sinh phát biểu những suy nghĩ riêng và vận dụng những kiếnthức đã học vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống của mình.Điều này đã góp phần dẫn đến việc học sinh ngày càng không “mặn mà” đối với
Trang 2bộ môn Ngữ văn Đó là một sự thật đáng buồn, nhất là đối với những giáo viêndạy văn yêu nghề, yêu văn chương !
Qua thực tiễn giảng dạy môn Ngữ văn, tôi nhận thức được rằng: để thựchiện mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam mà Nghị quyếtHội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ban hành thì việc đổimới kiểm tra - đánh giá môn Ngữ văn là khâu đột phá có ý nghĩa vô cùng quantrọng để đổi mới phương pháp dạy - học bộ môn, góp phần nâng dần chất lượng
giáo dục Đặc biệt, việc ra đề mở trong kiểm tra - đánh giá môn Ngữ văn là
hướng đi tất yếu, phù hợp với nhu cầu đào tạo thế hệ trẻ tích cực năng động chothời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế
Đó là lí do tôi chọn đề tài: “Vài kinh nghiệm đổi mới kiểm tra, đánh
giá môn Ngữ văn qua hệ thống đề mở”.
Trong công tác giảng dạy, việc ra đề mở để kiểm tra - đánh giá năng lực
đọc - hiểu, kĩ năng viết của học sinh phải được thực hiện thường xuyên; nghĩa làphải được thực hiện trong kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì, kiểm tra cuốihọc kì Có như vậy mới phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo củahọc sinh Tuy nhiên, trong phạm vi của sáng kiến kinh nghiệm này, tôi chỉ trình
bày những kinh nghiệm trong việc ra đề mở và mạnh dạn giới thiệu hệ thống đề
mở ở phần Làm văn trong kiểm tra định kì nhằm đánh giá kĩ năng viết, phù hợp
với trình độ học sinh THPT
II PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Mặc dù yêu cầu đổi mới phương pháp dạy - học đã được đặt ra từ năm
2002 nhưng thực tế cho thấy cách dạy nhồi nhét kiến thức vẫn còn khá thịnhhành; nặng cung cấp kiến thức, xem nhẹ tính chất công cụ của bộ môn Điều này
có nhiều nguyên nhân như chương trình, sách giáo khoa hiện hành chưa phù hợp
“khiến tiết Văn như bị cầm tù trong lớp”, không ít thầy cô giáo còn chưa quen
với việc ra đề mở, chấm mở…Trong đó, nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến
quá trình dạy - học còn nhiều bất cập này là do việc chậm đổi mới trong kiểm tra
- đánh giá
Hiện nay, việc kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn ở bậcTHPT chưa “đo” được năng lực người học và chưa góp phần điều chỉnh, đổimới phương pháp dạy - học Các đề kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì, đềthi học kì thường ra theo dạng “đề đóng”, tính tích hợp (giữa các phân mônTiếng Việt, Làm văn, Văn học và liên môn) chưa rõ Để làm được bài, học sinhphải ghi nhớ máy móc nội dung bài học Đáp án của đề thi đưa ra hệ thống ý màcác em phải trình bày cùng với biểu điểm cụ thể, chi tiết Cách làm này mangtính áp đặt, không khuyến khích tính sáng tạo và sự độc lập trong suy nghĩ củahọc sinh Như vậy, đề “đóng” chưa đánh giá được toàn diện năng lực Ngữ văncủa người học, chưa khuyến khích được sự sáng tạo của học sinh trong làm bài.Ngoài ra, “tâm lí thực dụng” chi phối khi chúng ta đưa ra các câu hỏi trong đề
Trang 3kiểm tra thường xuyên, định kì, kiểm tra học kì đều theo “mẫu”, theo “dạng” củacác đề thi tốt nghiệp và tuyển sinh Đại học, Cao đẳng Tính “ổn định” trong cách
ra đề và làm đáp án của hai kì thi Quốc gia này có ảnh hưởng không nhỏ tới việckiểm tra - đánh giá và phương pháp dạy - học Ngữ văn trong nhà trường phổthông lâu nay
Mấy năm qua, nhiều thầy cô giáo, nhiều tổ chuyên môn nhận rõ thựctrạng này và đã có nhiều cố gắng thay đổi cách thức kiểm tra – đánh giá Tạibuổi sinh hoạt chuyên môn của tổ Ngữ Văn tại trường THPT Quế Phong ngày
10/4/2019, chúng tôi đã lấy việc ra đề mở làm chủ đề để thảo luận Dù có nhiều
ý kiến khác nhau nhưng tất cả đều thống nhất việc ra đề mở trong bộ môn Ngữ
văn là cần thiết để đổi mới phương pháp dạy - học văn
Thời gian qua, việc ra đề mở đã được giới thiệu rải rác trong các sách tham khảo, trên các trang mạng xã hội Đặc biệt, đã có một hệ thống đề mở môn Ngữ văn cho khối 10, 11 do PGS TS Đỗ Ngọc Thống chủ biên Số lượng các đề
mở đưa ra rất phong phú, đa dạng, là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích đối giáo viên và học sinh Tuy nhiên, số lượng đề mở đưa ra nhiều nhưng số lượng đề có
gợi ý làm bài rất ít Thêm vào đó, các đề này chỉ phù hợp với học sinh khá giỏi;
vì theo PGS TS Đỗ Ngọc Thống, “ Đề mở là loại đề khó, vì loại đề này đòi hỏi học sinh sáng tạo, biết nêu những suy nghĩ cá nhân, không dựa vào những tài liệu có sẵn,… Loại đề này rất phù hợp với học sinh khá giỏi và cần thiết khi muốn phân hóa đối tượng người học”(Hệ thống đề mở Ngữ văn 11, NXB Giáo dục, 2008) Như vậy, có thể thấy, theo quan niệm của nhiều người, việc ra đề mở
chỉ phù hợp với học sinh khá, giỏi Đối với những lớp có trình độ thấp, người tavẫn ra đề theo kiểu truyền thống Từ thực tế giảng dạy ở những lớp có trình độ
khác nhau, tôi nhận thấy rằng đề mở không phải bao giờ cũng khó và việc ra đề
mở trong tất cả các bài kiểm tra ở tất cả các lớp, khối lớp cần được đẩy mạnh và thực hiện thường xuyên, đồng bộ Việc ra đề mở đã và sẽ phát huy được tác dụng tích cực, nếu chúng ta biết ra đề mở phù hợp với đối tượng học sinh mình
giảng dạy
Các lớp thể nghiệm: 10A3, 11A1 và Đội tuyển Học sinh giỏi môn Ngữvăn lớp 10 của Trường
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi chọn đề tài “Vài kinh nghiệm đổi mới
kiểm tra - đánh giá môn Ngữ văn qua hệ thống đề mở” với mong muốn đóng
góp thêm một số đề mở có gợi ý đáp án để cùng bàn bạc, tham khảo, rút kinh
nghiệm chung Đồng thời qua đề tài này, tôi muốn trao đổi với đồng nghiệp về
kinh nghiệm ra đề mở, làm đáp án mở, chấm mở Tôi cũng xem đây là một
cách tự cải thiện, nâng dần năng lực chuyên môn của bản thân để đáp ứng yêucầu ngày càng cao của ngành Giáo dục
Các lớp thể nghiệm: 10A3, 11A1 và Đội tuyển Học sinh giỏi môn Ngữvăn lớp 10 của trường THPT Quế Phong
Trang 4III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận để phân tích, tổng hợp, nghiên cứu,khái quát những vấn đề liên quan đến việc đổi mới kiểm tra - đánh giá môn Ngữ
văn qua hệ thống đề mở ở trường trung học phổ thông.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn để khảo sát, tổng kết, đánh giá thựctiễn hoạt động dạy học môn ngữ văn nói chung cũng như việc kiểm tra đánh giátheo hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường trung học phổ thông
- Các phương pháp khác nhằm hỗ trợ, phục vụ cho quá trình nghiên cứu
lý luận, đánh giá thực tiễn, xây dựng biện pháp và thực nghiệm thăm dò tính khả
thi, cần thiết của việc đổi mới kiểm tra - đánh giá môn Ngữ văn qua hệ thống đề
mở ở trường THPT.
IV CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
Ngoài phần đặt vấn đề và phần kết luận, nội dung của đề tài tập trung làmsáng rõ các vấn đề sau:
Phần I Cơ sở của đề tài
Phần III Kết quả nghiên cứu
Trên đây là bản đề cương sáng kiến kinh nghiệm theo đề tài “Vài kinh
nghiệm đổi mới kiểm tra - đánh giá môn Ngữ văn qua hệ thống đề mở”.
Trang 5PHẦN I: CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI
Hoạt động kiểm tra - đánh giá trên thực tế luôn diễn ra song hành với hoạtđộng dạy - học của giáo viên và học sinh Do vậy, việc đổi mới kiểm tra - đánhgiá sẽ có ý nghĩa thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy - học và có tác độngtích cực trở lại đối với quá trình dạy - học Với môn học Ngữ văn, một trongnhững hướng đổi mới kiểm tra - đánh giá đang được quan tâm hiện nay là việc
ra đề kiểm tra theo hướng mở Đây được coi là một trong những bước đột phá,tạo nên điểm nhấn trong dạy học Ngữ văn những năm qua
Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XI đã đề ra mục tiêu
thay đổi căn bản, toàn diện nền Giáo dục Việt Nam Trong đó, Hội nghị ban
hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về việc “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan” Vừa qua, Bộ GD & ĐT đã tổ chức diễn đàn trao đổi trên báo Giáo dục - Thời đại và tiến hành hội thảo nhằm đổi mới kiểm tra - đánh giá chất lượng học
tập môn Ngữ văn theo yêu cầu phát triển năng lực học sinh Việc đổi mới kiểmtra - đánh giá sẽ được tiến hành theo các mức độ: từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều,
từ đơn giản đến phức tạp, từ hẹp đến rộng, từ kiến thức của một vài môn đếntổng hợp liên môn, trong lộ trình đổi mới mục tiêu, chương trình, sách giáo khoasau năm 2022 Việt Nam cũng đã tham gia Chương trình đánh giá học sinh quốc
tế (PISA) và đạt được kết quả hết sức khả quan, nhất là ở lĩnh vực đọchiểu Trên thực tế, năng lực Ngữ văn của học sinh phong phú hơn nhiều so vớinhững “chuẩn” nêu ở trong chương trình hiện hành Vì vậy, không cần phải đợiđến khi có chương trình giảng dạy phổ thông môn Ngữ văn theo hướng tiếp cậnnăng lực ra đời mới đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập Ngữ văn củahọc sinh theo hướng đánh giá năng lực Gần đây, ở các tổ chuyên môn, sinh hoạtcụm chuyên môn đều thường xuyên tổ chức các chuyên đề về những cách thứcnghiên cứu và đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, trong đó có chươngtrình môn Ngữ văn theo hướng tiếp cận năng lực Điều đó cho thấy việc đổi mới
Trang 6kiểm tra - đánh giá môn Ngữ văn qua đề mở là hướng đi đúng đắn, phù hợp với
xu thế phát triển của đất nước trong tiến trình hội nhập quốc tế
2 Cơ sở thực tiễn
Mặc dù yêu cầu đổi mới phương pháp dạy - học đã được đặt ra từ năm
2002 nhưng thực tế cho thấy cách dạy nhồi nhét kiến thức vẫn còn khá thịnhhành; nặng cung cấp kiến thức, xem nhẹ tính chất công cụ của bộ môn Điều này
có nhiều nguyên nhân như chương trình, sách giáo khoa hiện hành chưa phù hợp
“khiến tiết văn như bị cầm tù trong lớp”, không ít thầy cô giáo còn chưa quen
với việc ra đề mở, chấm mở…Trong đó, nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến
quá trình dạy - học còn nhiều bất cập này là do việc chậm đổi mới trong kiểm tra
- đánh giá
Hiện nay, việc kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn bậcTHPT ở một số đơn vị chưa “đo” được năng lực người học và chưa góp phầnđiều chỉnh, đổi mới phương pháp dạy - học Các đề kiểm tra thường xuyên, kiểmtra định kì, đề thi học kì thường ra theo dạng “đề đóng”, tính tích hợp (giữa cácphân môn Tiếng Việt, Làm văn, Văn học và liên môn) chưa rõ Để làm được bài,học sinh phải ghi nhớ máy móc nội dung bài học Đáp án của đề thi đưa ra hệthống ý mà các em phải trình bày cùng với biểu điểm cụ thể, chi tiết Cách làmnày mang tính áp đặt, không khuyến khích tính sáng tạo và sự độc lập trong suynghĩ của học sinh Như vậy, đề “đóng” chưa đánh giá được toàn diện năng lựcNgữ văn của người học, chưa khuyến khích được sự sáng tạo của học sinh tronglàm bài
Mấy năm qua, nhiều thầy cô giáo, nhiều Tổ chuyên môn nhận rõ thực trạng này và đã có nhiều cố gắng thay đổi cách thức kiểm tra – đánh giá Tại các buổi sinh hoạt chuyên môn nhóm Ngữ Văn tại trường THPT Quế Phong, trong
rất nhiều cuộc họp chúng tôi lấy việc ra đề mở làm chủ đề để thảo luận Dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng tất cả đều thống nhất việc ra đề mở trong bộ môn
Ngữ văn là cần thiết để đổi mới phương pháp dạy - học văn Các giáo viên dạy Ngữ văn của Trường THPT Quế Phong sau sinh hoạt chuyên môn đã ứng dụng vào thực tiễn giảng dạy Mọi phản hồi đều khẳng định các đề mở rất hứng thú cho học sinh, phát huy tối đa năng lực, phẩm chất của học sinh Và chính điều này, rất thuận lợi cho các em vì được thoải mái bày tỏ quan điểm, chính kiến củariêng mình
Với nhận thức thay đổi, việc ra đề mở đã được giới thiệu trong các sách
tham khảo, trên các trang mạng xã hội Trước khi diễn ra cuộc thi tốt nghiệp THPT quốc gia năm 2018, tại buổi họp báo, nhiều PV báo đài đặt câu hỏi quan tâm đến cách chấm thi, đáp án đề thi môn Ngữ văn THPT quốc gia Trả lời câu hỏi này, ông Mai Văn Trinh khẳng định, cách ra đề mở không mới “Từ năm
2014, bộ đã bắt đầu sử dụng các câu hỏi mở Trên nguyên tắc, câu hỏi mở thì đáp án cũng mở Chỉ cần thí sinh làm bài thi không trái thuần phong mỹ tục và trái pháp luật thì đều được chấp nhận, cho điểm” Lý giải thêm về điều này, ông
Trang 7Sái Công Hồng, Phó Cục trưởng Cục quản lý chất lượng (Bộ GD&ĐT) nói thêm, đa số các môn thi đều ở dạng trắc nghiệm duy chỉ có đề Ngữ văn là tự luận Đề đảm bảo chuẩn kiến thức chương trình lớp 11 và lớp 12 với các câu hỏiđược chia theo 4 cấp độ Do đó, những câu hỏi cấp độ vận dụng cao sẽ khó hơn
Cụ thể, trong đề văn năm nay, hội đồng đề đã lựa chọn 2 tác phẩm thuộc chươngtrình lớp 12 và 1 tác phẩm thuộc chương trình lớp 11 Như vậy ban ra đề đã đáp ứng đúng chủ trương Theo đáp án môn Ngữ văn mà Bộ GD&ĐT công bố ngaysau đó, ở câu 4, phần I đề yêu cầu thí sinh nêu quan điểm “Có còn phù hợp ” thì đáp án chỉ đưa ra ba phương án trả lời: “Thí sinh có thể trả lời quan điểm củatác giả còn phù hợp/ không còn phù hợp/phù hợp một phần nhưng phải lí giải hợp lý, thuyết phục” Hay ở phần làm văn, đề yêu cầu viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về sứ mệnh “đánh thức tiềm lực”, đáp án cũng chỉ yêu cầu thí sinh làm
rõ sứ mệnh “đánh thức tiềm lực” đất nước của mỗi cá nhân trong cuộc sống hiệnnay Đáp án đưa ra các hướng như: xuất phát từ thực tiễn đất nước, mỗi cá nhân cần ý thức được sứ mệnh của mình, có hành động cụ thể để đánh thức tiềm lực bản thân, từ đó tác động tích cực đến cộng đồng nhằm đánh thức tiềm lực đất nước TS Trịnh Thu Tuyết, Nguyên giáo viên dạy Ngữ văn Trường THPT Chu Văn An (Hà Nội) cho rằng, đây là một đáp án đã chuyển vấn đề nội dung quan điểm sang bình diện học thuật, chủ yếu kiểm tra khả năng lập luận và tính thuyếtphục của lập luận Hoàn toàn có thể ghi nhận đây là một đáp án mở theo tinh thần của Bộ GD&ĐT, tuy nhiên, với một vấn đề mang tính thời sự, giành được
sự quan tâm của đông đảo dư luận cộng đồng, nếu có được một số ý cơ bản cho từng phương án thì giám khảo và thí sinh sẽ yên tâm hơn trước sự phát sinh các phương án trả lời của những thí sinh có sự hiểu biết, quan tâm và tâm huyết với cuộc sống xã hội xung quanh mình Việc đánh giá bài làm của học trò sẽ không
bị phụ thuộc vào cảm giác chủ quan của người chấm
Đặc biệt, đã có một hệ thống đề mở môn Ngữ văn cho khối 10, 11 do PGS TS Đỗ Ngọc Thống chủ biên Số lượng các đề mở đưa ra rất phong phú, đa
dạng, là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích đối giáo viên và học sinh Tuy nhiên, số
lượng đề mở đưa ra nhiều nhưng số lượng đề có gợi ý làm bài rất ít Thêm vào
đó, các đề này chỉ phù hợp với học sinh khá giỏi; vì theo PGS TS Đỗ Ngọc
Thống, “ Đề mở là loại đề khó, vì loại đề này đòi hỏi học sinh sáng tạo, biết nêu những suy nghĩ cá nhân, không dựa vào những tài liệu có sẵn,… Loại đề này rất phù hợp với học sinh khá giỏi và cần thiết khi muốn phân hóa đối tượng người học”(Hệ thống đề mở Ngữ văn 11, NXB Giáo dục, 2008) Như vậy, có thể thấy, theo quan niệm của nhiều người, việc ra đề mở chỉ phù hợp với học sinh khá,
giỏi Đối với những lớp có trình độ thấp, người ta vẫn ra đề theo kiểu truyền thống Từ thực tế giảng dạy ở những lớp có trình độ khác nhau, tôi nhận thấy
rằng đề mở không phải bao giờ cũng khó và việc ra đề mở trong tất cả các bài
kiểm tra ở tất cả các lớp, khối lớp cần được đẩy mạnh và thực hiện thường
xuyên, đồng bộ Việc ra đề mở đã và sẽ phát huy được tác dụng tích cực, nếu chúng ta biết ra đề mở phù hợp với đối tượng học sinh mình giảng dạy
Trang 8Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi chọn đề tài “Vài kinh nghiệm đổi mới
kiểm tra - đánh giá môn Ngữ văn qua hệ thống đề mở” với mong muốn đóng
góp thêm một số đề mở có gợi ý đáp án để cùng bàn bạc, tham khảo, rút kinh
nghiệm chung Đồng thời qua đề tài này, tôi muốn trao đổi với đồng nghiệp về
kinh nghiệm ra đề mở, làm đáp án mở, chấm mở Tôi cũng xem đây là một
cách tự cải thiện, nâng dần năng lực chuyên môn của bản thân để đáp ứng yêucầu ngày càng cao của ngành Giáo dục
Trang 9PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Đề mở và ưu thế của đề mở
Trong nhà trường phổ thông, kiểm tra là khâu quan trọng, chủ yếu để xác
định năng lực của người học, từ đó có cơ sở để điều chỉnh quá trình dạy và học;
là động lực để đổi mới phương pháp dạy - học, góp phần nâng chất lượng dạy –học trong nhà trường Có nhiều hình thức để đánh giá Bài kiểm tra là công cụ,phương tiện và hình thức quan trọng trong việc đánh giá học sinh
Trước đây, trong dạy học Làm văn, chúng ta thường ra đề văn truyềnthống, trong đó bao giờ cũng có phạm vi kiến thức và yêu cầu dưới hình thứccâu mệnh lệnh
Ví dụ:
Đề 1: Hãy phân tích hình tượng Huấn Cao trong truyện ngắn “Chữ
người tử tù” của Nguyễn Tuân.
Đề 2: Hãy bình giảng đoạn thơ sau:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
……….
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
(Trích “ Tây Tiến” - Quang Dũng, SGK Ngữ văn 12)
Có thể thấy, đề Làm văn truyền thống không tạo điều kiện cho học sinhphát huy tính độc lập suy nghĩ, chủ động sáng tạo khi làm bài, không phân loạiđược năng lực học sinh mà chủ yếu dừng lại ở những nội dung kiểm tra kiếnthức văn học Đây là loại đề “đóng” (chữ dùng của PGS.TS Đỗ Ngọc Thống)
Đề văn truyền thống đã tạo ra những hệ lụy: sách văn mẫu tràn lan ở các quầysách tham khảo, trên mạng internet, cả trong cách giảng dạy, ôn luyện của chúng
ta, nên “vô tình” định hình trong không ít học sinh một “phương pháp học tập”lệch lạc: học và ôn tập không xuất phát từ tác phẩm văn học, từ suy nghĩ mangmàu sắc cá nhân mà từ bài văn mẫu, từ cách cảm cách nghĩ thay của thầy cô bộ
môn GS Phan Trọng Luận nhận định: “Cái dở nhất của đề thi Văn hiện nay là chủ yếu nhắm đến khâu tái hiện kiến thức theo kiểu "nhớ lại" chứ không chú y đến vận dụng kiến thức của học sinh", "quanh đi quẩn lại cũng chỉ có mấy kiểu
đề với mấy chủ điểm quen thuộc: không bình giảng thì phân tích, không phân tích thì chứng minh, không chứng minh thì cao hơn là bình luận Trở đi trở lại cũng chỉ có mấy bài thơ, mấy đoạn trích quen thuộc”
(Nguồn: http://tuoitre.vn/Pages/Printview.aspx?ArticleID=169187)
Như vậy, trong kiểm tra - đánh giá môn Ngữ văn lâu nay chủ yếu vẫn theolối “học cái gì, thi cái ấy” Thầy cô giáo thiếu không gian, thời gian để rèn kĩ
Trang 10năng, bồi dưỡng năng lực cho học sinh Các em thì không được tạo điều kiện đểbộc lộ suy nghĩ, sáng tạo riêng
Vậy thế nào là một đề mở? Theo chúng tôi, đề mở là một khái niệm có
tính quy ước để chỉ những đề tự luận mang màu sắc đổi mới theo hướng pháthuy tính chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập Đó là những đề khôngrập khuôn theo những mô hình cũ mà cách hỏi, cách nêu vấn đề linh hoạt, buộc
học sinh phải suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo Đặc biệt, đề mở còn là những đề hướng
cho nhiều học sinh có những suy nghĩ của riêng mình, trước cùng một vấn đề
Tính chủ động sáng tạo của đề mở đối với học sinh nằm chính ở điều này Tóm lại, đề mở là loại đề chỉ nêu vấn đề cần bàn luận trong bài nghị luận hoặc chỉ nêu
đề tài… không có câu lệnh về thao tác lập luận, về phương thức biểu đạt, về
kiểu văn bản (như hãy chứng minh, phân tích, bình luận, hãy kể, hãy phát biểu cảm nghĩ…) Học sinh được tự do lựa chọn thao tác lập luận, phương thức biểu
đạt phù hợp
Ví dụ:
Đề 1: Hãy nói về một lần thất bại của bản thân.
Đề 2: Với em, điều cần thiết nhất trong cuộc sống là gì?
Đề 3: Về quan niệm sống nhàn trong bài thơ “ Nhàn” của Nguyễn Bỉnh
Khiêm.
Đề 4: Hình ảnh cây cầu trong ca dao Việt Nam.
Đề 5: Nghĩ về cách sống “vội vàng” qua bài thơ cùng tên của Xuân
Diệu.
Qua mấy đề mở trên, ta thấy so với kiểu đề tự luận thường dùng lâu nay,
đề mở có một số ưu thế nhất định trong việc tác động đến người học, khiến
người học phải thay đổi động hình học tập từ thụ động, ỷ lại sang chủ động, tíchcực
Thứ nhất: Với đề mở, năng lực tư duy của học sinh có điều kiện để phát huy cao độ Vì đề mở thường đặt học sinh vào những tình huống “có vấn đề”,
buộc học sinh phải suy nghĩ
Thứ hai: Với đề mở, học sinh không chỉ dừng lại ở việc tái hiện kiến thức
theo kiểu thuộc lòng mà đòi hỏi cao hơn ở khả năng ứng dụng của người họctrong việc xem xét ý nghĩa của tác phẩm trong những mối tương quan khácnhau, có thể là đối với bản thân hoặc đối với thời đại…
Thứ ba: Với đề mở, học sinh sẽ được tự do hơn trong việc trình bày một
vấn đề Từ đó hình thành và phát huy khả năng phát biểu một cách chủ động chohọc sinh
Nhìn chung, từ khía cạnh đổi mới kiểm tra đánh giá, đề mở sẽ là một
trong những cách hiệu quả giúp học sinh từ bỏ thói quen thụ động, từ đó hình
Trang 11thành thói quen tự học, tự nghiên cứu một cách chủ động, sáng tạo trong quátrình học tập.
2 Những định hướng khi kiểm tra - đánh giá môn Ngữ văn qua hệ
thống đề mở
2.1 Về việc ra đề mở:
Ra đề mở trong kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn hiện nay là việc làm thiết thực nhưng ra đề mở như thế nào, “mở” đến đâu, và điều quan trọng là các đề văn mở phải gắn với kiến thức văn học như thế nào (chứ không thể thoát ly hoặc
tách rời với kiến thức đã học trong chương trình) Từ đó, học sinh phải dùng
kiến thức văn học để luận giải các vấn đề đặt ra của đề bài Quan trọng nhất, đề văn mở vẫn phải đảm bảo được chuẩn kiến thức – kĩ năng, lấy chuẩn kiến thức –
kĩ năng bộ môn Ngữ văn ở từng bài học làm cơ sở, từ đó mở ra cho học sinh một
vấn đề nào đó từ văn chương và cuộc sống.
Khi ra đề mở, chúng ta cần chú ý đến các vấn đề sau:
- Ra đề mở nhưng “không thể mở một cách phiêu lưu” Việc ra đề mở
trước hết cần đáp ứng được mục tiêu, tiêu chí đánh giá (hình thành hay củng cốkhắc sâu ở học sinh kĩ năng gì, thái độ gì và kiến thức gì?)
- Đề mở cần bám sát nội dung chương trình (tác phẩm văn học, giai đoạn
văn học, kiểu văn bản đang học, ) Có thể sử dụng linh hoạt kiến thức văn học
có liên quan ở bài trước, lớp trước nhưng phải phù hợp thực tế học tập của họcsinh; có mối quan hệ tích hợp gắn bó với các phân môn Tiếng Việt và Văn họctrong khung phân phối chương trình
- Đề mở cần bám sát tâm sinh lý lứa tuổi, tình cảm đạo đức, điều kiện
sống, thực tế cuộc sống học sinh và phải có nội dung phù hợp với chương trìnhNgữ văn hiện hành, nhất là phù hợp với trình độ, đối tượng học sinh
- Tránh những đề mở liên quan đến những vấn đề nhạy cảm, những vấn
đề có khả năng dẫn đến những hướng triển khai của học sinh mà người chấmkhông thể kiểm soát nổi
- Điều quan trọng nhất của đề mở là kích thích sự sáng tạo, khơi nguồn
cảm hứng, đánh thức niềm yêu thích văn chương ở học sinh
Như vậy, ra đề Làm văn mở, chúng ta cần thực hiện các bước sau:
- Xác định mục đích kiểm tra: rèn luyện kĩ năng nào, bồi dưỡng thái độ
gì, kiểm tra những đơn vị kiến thức nào,
- Xác định trình độ chung của đối tượng kiểm tra
- Chọn nội dung kiểm tra phù hợp với đối tượng, phù hợp với khung phânphối chương trình, với chuẩn kiến thức – kĩ năng
Trang 12- Chọn cách nêu vấn đề, diễn đạt nội dung đề có khả năng đánh thức nănglực Ngữ văn thực sự của các em.
- Thử nghiệm ở một nhóm học sinh (hoặc một lớp) trước khi kiểm tra đạitrà
Ví dụ: Bài Làm văn số 2, lớp 10, chương trình chuẩn
Nếu là hướng dẫn viên du lịch, anh (chị) sẽ giới thiệu như thế nào về đất nước Việt Nam?
3 Về việc làm đáp án
Ra đề mở đã khó, làm đáp án cho đề mở càng khó hơn bởi nhiều khi học
sinh có những ý tưởng, suy nghĩ, quan niệm và cảm nhận riêng, có khi tráingược với người ra đề Do đó, việc làm đáp án cho đề mở cần chú ý:
- Coi trọng việc xây dựng đáp án, biểu điểm của đề theo tinh thần thoáng,
mở, khái quát; tránh sa vào những chi tiết cụ thể, tỉ mỉ để tạo khoảng trống, độthoáng cho người chấm đánh giá sự sáng tạo của học sinh
- Đề mở chấp nhận nhiều cách trả lời, thậm chí có những cách trả lời đối
ngược nhau, miễn là học sinh bộc lộ được nhận thức và lập luận lo-gic, thuyếtphục Vì vậy, khi làm đáp án cần định hướng cách giải quyết vấn đề, dự đoánhướng mở về nội dung và hình thức bài làm của học sinh có thể gặp Đáp ánkhông áp đặt nội dung trả lời mà nên nêu được các phương án mà học sinh cóthể trình bày, phân tích được sự hợp lí của các phương án đó Ngoài ra còn phảichấp nhận những phương án ngoài dự kiến; miễn là có sự kiến giải hợp lí
- Đồng thời đáp án cần nêu được những yêu cầu về kĩ năng làm bài củahọc sinh, khuyến khích học sinh sử dụng nhiều kĩ năng, thao tác khác nhau tronggiải quyết vấn đề; khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, quan điểm riêngcủa mình, chấp nhận nhiều cách hiểu và giải quyết vấn đề khác nhau miễn làquan điểm của người viết không trái với các giá trị nhân văn, chuẩn mực đạođức và pháp luật mà xã hội đã thừa nhận; khuyến khích học sinh vận dụng đượcnhững điều đã học vào giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đặt ra một cách cósức thuyết phục, hợp lí, tự nhiên, phù hợp với trình độ của các em
So sánh nội dung chủ yếu một đáp án “đề đóng” với một đáp án đề mở để hình dung sự khác biệt trong cách làm:
Đây là bài nghị luận văn học Đề chỉ
nêu vấn đề nghị luận, người viết cần
Là bài nghị luận văn học, nội dungnghị luận được xác định rõ: bức tranh
Trang 13xác định nội dung nghị luận, thao tác
lập luận để làm sáng tỏ lời tỏ tình trong
bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn
Mặc Tử Có thể xác định chủ thể tỏ
tình là Hàn Mặc Tử (Hàn Mặc Tử đang
tỏ tình với người con gái thôn Vĩ, với
Xứ Huế thơ mộng và với cuộc đời
bằng một bài thơ tài hoa, trong sáng)
Sau đây là gợi ý nội dung làm bài:
- Giới thiệu vài nét về tác giả, tác
- Ý nghĩa của lời tỏ tình?
- Cảm nghĩ của người viết về lời tỏ
tình
* Lưu ý: HS có thể hiểu theo 1
trong 3 cách trên, hoặc cả 3 cách
hiểu Miễn phải xuất phát từ chính
văn bản, lập luận chặt chẽ, thuyết
phục thì vẫn cho điểm tối đa Nếu
học sinh xác định chủ thể tỏ tình là
người con gái thôn Vĩ và bài thơ là sự
bày tỏ tình cảm đối với Hàn Mặc Tử
- khách đường xa và lập luận chặt
chẽ, dẫn chứng thuyết phục từ chính
văn bản thì vẫn được chấp nhận
thiên nhiên trong khổ thơ đầu của bài
“Đây thôn Vĩ Dạ”; học sinh không có
sự lựa chọn nào khác, ngoài việc chiađoạn và phân tích Đáp án của đề nàythường được xác định theo ba luậnđiểm sau:
- Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm
- Phân tích bức tranh thiên nhiên Vĩ Dạtrong khổ thơ đầu
+ Câu 1: Lời trách móc, cũng là lờimời gọi về với thôn Vĩ, bộc lộ ướcmong thầm kín của Hàn Mặc Tử: được
về lại với Huế, với cuộc đời
+ Câu 2 và 3: Cảnh thôn Vĩ trongtrẻo, thanh khiết, đầy sức sống trongánh bình minh
+ Câu 4: Con người và thiên nhiênhài hòa, làm tăng thêm vẻ đẹp của khuvườn và con người Vĩ Dạ
- Đánh giá chung về nội dung và nghệthuật:
+ Về nội dung + Về nghệ thuật
4 Về việc chấm bài
“Ra đề mở, hướng dẫn chấm cũng phải mở” Đây là quan điểm được
đồng tình tại các buổi hội thảo về đổi mới kiểm tra - đánh giá môn Ngữ văn
THPT Vì vậy, khi chấm đề mở, chúng ta không nên phụ thuộc vào đáp án một cách máy móc Trong hội thảo, PGS Nguyễn Trí cho rằng: “Đối với đề thi mở thì người ra đề cần viết cả hướng dẫn chấm mở và viết hướng dẫn chấm đóng Hướng dẫn chấm đóng là một kênh tham khảo, khẳng định đấy là suy luận chủ quan của người viết hướng dẫn Người chấm cần chấp nhận tất cả các phương
Trang 14án khác nhau của học sinh trước đề bài của mình chứ không chỉ dựa vào dàn bài rồi đếm y cho điểm”
cach-phieu-luu-2976149.html)
Để làm được điều đó, chúng ta phải có tư duy thoáng mở, không ngừng
tự bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn để đủ sự sắc sảo, nhạy bén thẩmđịnh những ý kiến, đề xuất táo bạo, mới lạ của học sinh trước các vấn đề vănhọc và đời sống
Bên cạnh đó, khi chấm bài Làm văn từ đề mở, chúng ta cần đánh giá cao
năng lực vận dụng kiến thức, khả năng diễn đạt, trình bày của học sinh; cần trântrọng vốn hiểu biết, tri thức của học sinh được thể hiện trong bài làm; cần biếtlắng nghe, thấu hiểu, trân trọng cảm thụ riêng của người học PGS Nguyễn Trí
cũng khẳng định: khi đề thi mở, tấm lòng và thái độ người thầy trước một bài văn rất quan trọng Dẫn câu chuyện bài văn điểm 0 của nhà văn Nguyễn Quang
Sáng kể về một học sinh đã nộp giấy trắng khi cô ra đề "Tả ba em đọc báo".Thầy Trí cho biết: nếu giáo viên đừng cho 0 điểm vội mà để lại bài văn và tròchuyện với học sinh, sẽ biết được câu chuyện học sinh ấy không có ba, và thông
cảm với em "Người thầy khi chấm bài văn mở không cần kỹ thuật mà cần tấm lòng, thái độ Đối với bài làm khác với suy nghĩ của mình thì cần tìm cách giải thích cho đúng", PGS Trí nói.
Cùng với những việc trên, chúng ta cần chấn chỉnh những quan niệm saitrái, lệch lạc của học sinh Cần định hướng học sinh theo các chuẩn mực đạođức, hướng học sinh đến các giá trị chân – thiện - mĩ để rèn luyện nhân cách
Bởi “Văn học là nhân học” ( M Gorki), học văn là học cách làm một con người chân chính!
5 Thực hành ra đề mở
Thời gian qua, nhiều bài viết của học sinh được ca ngợi trên báo chí và
các phương tiện thông tin đại chúng đều là những bài viết của những đề mở như: đề: Bản chất của thành công, đề: Bệnh vô cảm… Điều đó cho thấy đề mở gây
nhiều hứng thú, kích thích sự sáng tạo trong học sinh
Để phục vụ cho việc học tập và rèn luyện kĩ năng viết văn với yêu cầusáng tạo, chống lại bệnh rập khuôn, ghi nhớ máy móc, học thuộc lòng, chép văn
mẫu… tôi mạnh dạn đề xuất những đề mở trong kiểm tra 1-2 tiết, kiểm tra cuối học kì ở ba khối lớp 10, 11, 12 và một số đề mở trong kiểm tra/ thi chọn học sinh
giỏi
5.1 Những đề mở ở khối lớp 10
Ở lớp 10, học sinh chủ yếu rèn luyện và thực hành các kiểu bài làm vănnhư: văn biểu cảm, văn tự sự, văn thuyết minh, văn nghị luận Từ năm 2020 đãgiảm tải, cả năm học còn 2 bài kiểm tra giữa kì, 2 bài kiểm tra học kì theo sự
Trang 15thống nhất của Tổ chuyên môn, khối lớp 10 có 4 bài viết, các nội dung cụ thể ởlớp 10 như sau: Văn tự sự, văn nghị luận xã hội, văn thuyết minh, nghị laaunjvăn học
Vì vậy, việc ra đề mở, bên cạnh việc phù hợp với đối tượng học sinh còn
cần phù hợp với từng kiểu bài Làm văn trong chương trình, với mức độ mở và
khó tăng dần từ bài viết số 1 đến bài viết số 4 Nếu như ở bài viết số 1, đề mở
quá khó thì học sinh sẽ không xác định được nội dung đề và kiểu bài để triển
khai bài làm dẫn đến nguy cơ các em “dị ứng” với đề mở và sẽ có định kiến là
đề mở luôn luôn khó Học sinh cần có thời gian để làm quen và thích nghi dần với kiểu đề mở
5.1.1 Đề mở của kiểu bài văn tự sự
* Đề: Trong giấc mơ, tôi đã gặp Mị Châu (Truyền thuyết An Dương
Vương và Mị Châu – Trọng Thủy)
* Gợi ý làm bài:
Để làm kiểu bài này, học sinh cần nắm vững được phương pháp làm văn tự
sự để kể lại một câu chuyện tưởng tượng về một nhân vật đã học trong truyềnthuyết Để câu chuyện kể có sức hấp dẫn, cần vận dụng kết hợp phương thứcbiểu đạt miêu tả và biểu cảm Bài viết cần có cốt truyện chặt chẽ, lo-gic
Có thể tham khảo đáp án sau:
- Học sinh phải đặt nhan đề phù hợp và có ý nghĩa
- Chọn ngôi kể phù hợp: Ngôi thứ nhất, học sinh xưng “tôi” để kể
- Đây là câu chuyện hư cấu: kể lại giấc mơ gặp Mị Châu - nhân vật quan trọng
trong truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, nhân vật đến
nay vẫn còn nhiều ý kiến khen - chê, lên án - bênh vực,…Học sinh khi kể lại câuchuyện này sẽ có dịp bộc lộ quan điểm đánh giá, tình cảm của mình đối vớinhân vật
- Tùy theo khả năng tưởng tượng, học sinh sẽ có những câu chuyện khác nhau
kể lại giấc mơ gặp Mị Châu, miễn có cốt truyện hợp lí theo mô hình: mở đầu,phát triển và kết thúc
* Lưu ý: Đây là dạng đề mở, học sinh tự do bộc lộ quan điểm, tình cảm
của mình, nhưng chúng ta cần đứng trên quan điểm của nhân dân khi đánh giá
Mị Châu để đánh giá những bài làm có suy nghĩ, tình cảm không đúng đắn hoặclệch lạc, không lành mạnh
* Một số đề tham khảo:
Đề 1: Mùa đông năm ấy đến muộn Đã bước sang tháng 10 mà nắng vẫn
chói chang, lá bàng vẫn xanh ngăn ngắt Vẫn như mọi khi, chúng tôi tụ tập đá bóng đến tối mịt mới về Hôm ấy, trên đường về, tôi và Nam đang tranh luận rôm rả về bàn thắng lúc chiều thì bỗng…
Trang 16Hãy tưởng tượng và kể tiếp câu chuyện trên.
Đề 2: Cho các dữ liệu sau: Một xóm nghèo, một người đàn bà góa, 2 đứa
bé 10 tuổi và 15 tuổi, một con chó.
Hãy tưởng tượng và kể một câu chuyện có 4 dữ kiện trên.
Đề 3: Một bài học nhớ đời.
Đề 4: Giả sử khi Trọng Thủy (An Dương Vương và Mị Châu – Trọng
Thủy) đang đánh tráo lẫy nỏ thì bị Cao Lỗ phát hiện
Hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện.
Đề 5: Điều làm tôi buồn, điều khiến tôi vui.
5.1.2 Đề mở của kiểu bài nghị luận xã hội
* Đề: Suy nghĩ của anh (chị) về lời dạy của đức Phật: “Sự phá
sản lớn nhất của đời người là lòng ghen tị”
* Gợi ý làm bài:
Học sinh cần nắm vững được phương pháp làm văn nghị luận Bài làmphải có hệ thống luận điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục
Có thể tham khảo đáp án sau:
- Giải thích về lời dạy của đức Phật
- Biểu hiện của lòng ghen tị?
- Tác hại của lòng ghen tị?
- Nguyên nhân của lòng ghen tị?
- Giải pháp để hạn chế tính ghen tị trong cộng đồng
- Bài học nhận thức, hành động”:
+ Hiểu rõ hậu quả của lòng ghen tị
+ Phải đấu tranh với chính bản thân mình để loại bỏ lòng ghen tị, biết hài lòngvới những gì mình có và biết vươn đến một cuộc sống tốt đẹp bằng chính nănglực và sự cố gắng của bản thân
* Một số đề tham khảo:
Đề 1: Hãy viết một bài văn nghị luận với chủ đề: “ Hãy ước mơ”
Đề 2: Hãy viết một bài văn nghị luận về: một sự lựa chọn khó khăn trong
đời.
Đề 3: Hãy viết một bài văn nghị luận về một chủ đề tự chọn.
Đề 4: Bạn xấu, có nên chơi không?
Đề 5: Đức tính quan trọng nhất của một con người?
Trang 175.1.3 Đề mở của kiểu bài văn thuyết minh
* Đề: Một nét đẹp văn hóa ngày Tết ở quê hương tôi.
* Gợi ý làm bài
Để làm kiểu bài này, học sinh cần nắm vững kiểu bài văn thuyết minh đểgiới thiệu một nét đẹp văn hóa của ngày Tết ở quê hương mình Nét đẹp văn hóa
đó có thể là:
- Việc bày biện mâm ngũ quả để dâng cúng ông bà tổ tiên
- Việc trang trí nhà cửa khi Tết đến xuân về
- Việc nấu bánh chưng, bánh tét, các loại bánh mứt
- Việc cả nhà quây quần đón giao thừa
- Việc thăm viếng, chúc tết ông bà, thầy cô, bạn bè trong ngày xuân
- Việc tảo mộ trong ngày đầu năm
- Việc tổ chức các lễ hội, các trò chơi trong ngày Tết như hát bài chòi, thả thơ,…
Có thể tham khảo đáp án sau:
- Học sinh phải đặt nhan đề phù hợp và có ý nghĩa
- Giới thiệu nét đẹp văn hóa ngày Tết được thuyết minh
- Cung cấp tri thức về nét đẹp văn hóa đó
+ Lịch sử của nét đẹp văn hóa
+ Sự thể hiện của nét đẹp văn hóa đó trong ngày Tết
- Ý nghĩa của nét đẹp văn hóa đó trong ngày Tết, trong đời sống và đối với bảnthân
- Suy nghĩ của bản thân về nét đẹp văn hóa đó
* Lưu ý: Tùy theo mỗi vùng miền và tùy theo hiểu biết, học sinh có thể
chọn lựa và trình bày một nét đẹp của văn hóa ngày Tết mà mình tâm đắc đểgiới thiệu
* Một số đề tham khảo:
Đề 1: Hãy giới thiệu về bản thân mình.
Đề 2: Hãy giới thiệu một nhân vật mà anh (chị) yêu thích.
Đề 3: Nếu là hướng dẫn viên du lịch, anh (chị) sẽ giới thiệu như thế nào
về quê hương Quảng Nam?
Đề 4: Hãy giới thiệu một món ăn đặc sản của quê hương.
Đề 5: Giới thiệu một cuốn sách đã đọc.
5.1.4 Đề mở của kiểu bài văn nghị luận văn học
Trang 18* Đề: Giấc mơ công lí trong “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”
(Nguyễn Dữ)
* Gợi ý làm bài:
Để làm kiểu bài này, học sinh cần nắm vững kĩ năng làm văn nghị luậnvăn học để làm sáng tỏ giấc mơ công lí của nhân dân mà Nguyễn Dữ đã gửi gắmqua hình tượng nhân vật Ngô Tử Văn và cốt truyện giàu kịch tính, kì ảo
Có thể tham khảo đáp án sau:
- Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Dữ và tác phẩm “Chuyện chức phán sựđền Tản Viên”
- Giải thích: “giấc mơ công lí”: ước mơ về một thế giới công bằng, nơi công líđược thực thi, nơi cái thiện luôn luôn chiến thắng cái ác, chính nghĩa thắng giantà
- Giấc mơ công lí được thể hiện qua việc Ngô Tử văn đấu tranh và chiến thắnghồn ma tên tướng giặc hung ác, tham lam, xảo quyệt để bảo vệ công lí; qua việcNgô Tử Văn được nhận chức phán sự
- Giấc mơ công lí được thể hiện qua cốt truyện giàu kịch tính, cách dẫn truyệnkhéo léo, lối kể hấp dẫn với nhiều tình tiết hoang đường, kì ảo
- Qua kết thúc có hậu của chuyện, tác phẩm đề cao nhân tài, văn hóa nước Việt,thể hiện ước mơ, niềm tin công lí của nhân dân và của Nguyễn Dữ trong xã hộibất công đương thời
- Cảm nghĩ của người viết về giấc mơ công lí đó
Đề 3: Vẻ đẹp của nhân vật Từ Hải trong“Chí khí anh hùng” (Trích
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du)
Đề 4: Nhân vật Thúy Kiều trong tôi.
Đề 5: Bức tranh ngày hè trong “ Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi
5.2 Những đề mở ở khối lớp 11.
Ở lớp 11, học sinh có 4 bài viết, đều là văn nghị luận Trong đó, cụ thểnhư sau: nghị luận xã hội và nghị luận văn học
5.2.1 Đề mở của kiểu bài văn nghị luận xã hội
* Đề : Người thầy ngày nay
Trang 19* Gợi ý làm bài:
Đây là kiểu bài văn nghị luận xã hội, yêu cầu người viết bộc lộ những suynghĩ chân thực về người thầy trong xã hội hiện nay Do đó, học sinh cần nắmvững kĩ năng làm văn nghị luận xã hội, có kết hợp với kĩ năng làm văn tự sự vàphát biểu cảm nghĩ ở một mức độ thích hợp
Có thể tham khảo đáp án sau:
- Giới thiệu chung về người thầy trong xã hội hiện nay.
- Vai trò, vị trí của người thầy giáo trong xã hội xưa và nay
- Thái độ của học sinh, phụ huynh và xã hội đối với người thầy ngày nay: đánhgiá cao, kính trọng, biết ơn (cả thái độ thiếu tôn trọng nghề dạy học và ngườithầy giáo)
- Nguyên nhân sự kính trọng và không tôn trọng nêu trên
- Nêu các giải pháp để nâng cao vai trò, vị trí của người thầy trong xã hội ngàynay
- Khẳng định vai trò của người thầy ngày nay và bày tỏ thái độ, tình cảm của
người viết đối với người thầy giáo
* Lưu ý: Đối với vấn đề người thầy trong xã hội ngày nay, học sinh có
thể có những ý kiến đánh giá rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Khi chấmbài, chúng ta nên tôn trọng những suy nghĩ chân thật của học sinh về người thầynhưng cũng cần chỉ ra những ý kiến đánh giá chủ quan, phiến diện, vơ đũa cảnắm,… để uốn nắn, làm sáng tỏ vấn đề
* Một số đề tham khảo:
Đề 1: Hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lỗi lầm.
Đề 2: Suy nghĩ của anh (chị) về quan niệm sống trong 2 câu thơ sau:
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm
(Giục giã - Xuân Diệu)
Đề 3: Bạn dựa vào điều gì khi chọn nghề nghiệp trong tương lai?
Hãy viết bài văn nghị luận để trả lời cho câu hỏi trên.
Đề 4: Có hay không căn bệnh vô cảm trong trường học?
Đề 5: Suy nghĩ của anh (chị) về đạo đức của người học sinh hiện nay.
5.2.2 Đề mở của kiểu bài văn nghị luận văn học
* Đề 1: Cảm nhận về bức chân dung bà Tú qua bài thơ Thương vợ của
Trần Tế Xương Liên hệ với vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong một tácphẩm khác mà em đã được học
Trang 20* Gợi ý làm bài:
Đây là kiểu bài nghị luận văn học Bài viết cần có hệ thống luận điểm rõràng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục, diễn đạt lưu loát; lời văn trongsáng, không mắc lỗi dùng từ, chính tả, ngữ pháp
Có thể tham khảo đáp án sau:
- Bà Tú là một phụ nữ đảm đang: một mình tảo tần buôn bán, nuôi bảymiệng ăn trong gia đình - Mặc dù ý thức được việc mình làm là vất vả, là giankhổ: buôn bán ở những nơi nguy hiểm bấp bênh khi quảng vắng, buổi đò đông,vất vả nuôi chồng, con mà nuôi năm con có lẽ không vất vả bằng nuôi mộtchồng vì nhu cầu của ông Tú chắc chắn nhiều hơn so với 5 đứa trẻ (chính ông
Tú đã nhiều lần tự bạch trong thơ về nhu cầu của mình), nhưng bà Tú vẫn nhẫnnại, cam chịu không hề kêu ca
- Nhẫn nại, chịu thương chịu khó, hi sinh vì chồng, vì con như thế chỉ lígiải được bằng một lí do duy nhất là đức hi sinh, là tình yêu thương chân thành
* Lưu ý: Đối với nhân vật ông Tú, học sinh có thể có cách nhìn nhận,
đánh giá khác Có thể có học sinh đứng về phía bà Tú, do thương bà Tú mà phêphán ông Tú vô tâm, hờ hững, ăn bám, là kẻ bất tài, không đáng mặt đàn ông,…Chúng ta cần tôn trọng ý kiến, cảm nhận của học sinh song cần chỉ ra nhữngnguyên nhân nào khiến ông Tú phải ăn bám vợ, phải tỏ ra hờ hững với vợ,… đểhọc sinh hiểu được vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của Tú Xương, không nên áp đặtsuy nghĩ cho học trò
* Đề 2: Cái chết của Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam
Cao
*Gợi ý làm bài:
Đây là kiểu bài nghị luận văn học, yêu cầu học sinh nêu ý kiến, suy nghĩ
về cái chết của của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm “ Chí Phèo” của NamCao
Trang 21Chí Phèo là tác phẩm kiệt xuất của nền văn học Việt Nam gắn với tên tuổi
của nhà văn Nam Cao Tác phẩm nói về quá trình tha hóa của người nông dânlương thiện dưới chế độ thực dân phong kiến Nhà văn đã kết án đanh thép cái
xã hội tàn bạo đã tàn phá cả thể xác lẫn tâm hồn của người dân lao động, đồngthời khẳng định bản chất lương thiện của họ ngay trong khi họ bị biến thành quỷdữ
Cái chết của chí Phèo ở cuối truyện thể hiện sâu sắc giá trị hiện thực vànhân đạo của tác phẩm, thể hiện được phong cách của nhà văn hiện thực NamCao Cái chết của Chí Phèo khiến người ta phải trăn trở, day dứt về bi kịch bị cựtuyệt quyền làm người, về khả năng hướng thiện của con người và về sự baodung, tha thứ cho những lầm lạc của con người,…
Sau đây đáp án tham khảo:
- Giới thiệu về tác giả Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo (Tóm tắt cốt truyện, giá
trị nội dung và nghệ thuât)
- Trình bày cái chết của Chí Phèo (Nguyên nhân dẫn đến cái chết, cái chết củaChí Phèo diễn ra như thế nào?)
- Ý kiến đánh giá của người viết về cái chết và ý nghĩa của cái chết đó với nhânvật, với tác phẩm
- Cảm nghĩ của người viết về cái chết của Chí Phèo
* Lưu ý:
Học sinh có thể có những ý kiến đánh giá khác nhau về cái chết của ChíPhèo Tuy nhiên, chúng ta cần đứng trên lập trường nhân văn để thấy được vẻđẹp tâm hồn của nhân vật Chí Phèo và giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩmthông qua cái chết đó, đồng thời thấy được tài năng và tấm lòng yêu thương conngười ở nhà văn Nam Cao
Đề 3: Tình yêu cuộc sống trong bài thơ “Chiều tối” ( Hồ Chí Minh)
Đề 4: Nhân vật khó quên trong “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam
Đề 5: Nhân vật Thị Nở trong truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao
5.3 Hệ thống đề mở ở khối lớp 12
Ở khối 12 hiện nay, học sinh chỉ thực hành loại văn nghị luận với 2dạng cơ bản: nghị luận xã hội và nghị luận văn học Cụ thể: Nghị luận về một tư
Trang 22tưởng, đạo lí ; Nghị luận về một hiện tượng đời sống; Nghị luận về một bài thơ,đoạn thơ; Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi.
5.3.1 Đề mở của kiểu bài văn nghị luận xã hội
* Đề: Hãy viết một bài văn nghị luận với chủ đề: Hạnh phúc.
* Gợi ý làm bài:
Đây là kiểu bài nghị luận xã hội, yêu cầu học sinh trình bày quan điểm, ýkiến của mình về hạnh phúc Mỗi học sinh sẽ có một quan niệm, suy nghĩ, cảmnhận khác nhau về hạnh phúc
Đáp án tham khảo:
- Hạnh phúc là gì?
- Hạnh phúc được biểu hiện như thế nào?
- Tại sao con người cần có hạnh phúc?
- Làm thế nào để có được hạnh phúc?
- Mối quan hệ giữa hạnh phúc riêng và hạnh phúc chung
- Hạnh phúc của người viết là gì?
* Một số đề tham khảo:
Đề 1: Người tôi muốn trở thành
Đề 2: Một căn bệnh của xã hội hiện đại
Đề 3: Viết bài văn nghị luận với chủ đề: “Ước mơ của tôi”
Đề 4: “Nếu tôi không đỗ vào Đại học….”
Đề 5: Hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: “Thành công và thất
bại”
5.3.2 Đề mở của kiểu bài nghị luận văn học
* Đề: Vẻ đẹp của thiên nhiên trong bài thơ “Việt Bắc”
* Gợi ý làm bài:
Đây là kiểu bài nghị luận văn học, yêu cầu học sinh trình bày cảm nhậncủa mình về vẻ đẹp của thiên nhiên trong bài thơ “ Việt Bắc” - một bài thơ thểhiện rõ nét đặc trưng phong cách thơ Tố Hữu
Có thể tham khảo đáp án sau:
- Giới thiệu về tác giả Tố Hữu và bài thơ “ Việt Bắc”
- Thiên nhiên - hình ảnh núi rừng trong bài thơ “Việt Bắc” là một thiênnhiên mang vẻ đẹp phong phú với một sức sống riêng Thiên nhiên Việt Bắccàng đẹp hơn khi hiện lên trong tình yêu, nỗi nhớ của nhân vật trữ tình, người đãtừng gắn bó và sắp chia xa
Trang 23- Thiên nhiên trong bài thơ được thể hiện qua cái nhìn mới mẻ, sống độngqua các biện pháp nghệ thuật chấm phá, so sánh, nhân hóa, hoán dụ, ẩn dụ…
- Thiên nhiên Việt Bắc là biểu tượng cho Tổ quốc, nhân dân trong khángchiến
* Một số đề tham khảo
Đề 1: Chi tiết bát chè cám trong tác phẩm “Vợ nhặt” (Kim Lân)
Đề 2: Hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” (Quang Dũng)
Đề 3: Vẻ đẹp tình yêu trong bài thơ “Sóng” (Xuân Quỳnh)
Đề 4: Người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của
Nguyễn Minh Châu
Đề 5: Sông Hương (Tùy bút “Ai đã dặt tên cho dòng sông” - Hoàng Phủ
Ngọc Tường) và sông Đà (Tùy bút “Người lái đò sông Đà”- Nguyễn Tuân) dưới góc nhìn so sánh
5.4 Hệ thống đề mở trong dạy bồi dưỡng học sinh giỏi
Trong giảng dạy học sinh giỏi, với đối tượng học sinh có năng khiếu và
yêu thích văn chương thì việc ra đề mở sẽ phát huy tác dụng tối đa trong việc khơi gợi khả năng sáng tạo của học sinh Ra đề mở khiến các em có dịp bộc lộ
hết những suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ cùng những cảm nhận riêng, nhiều khi độcđáo, mới lạ về văn học và đời sống Trong các kì thi học sinh giỏi hiện nay cũngchỉ xoay quanh dạng văn nghị luận với 2 kiểu bài: nghị luận văn học và nghịluận xã hội
5.5 Đề mở của kiểu bài nghị luận xã hội
* Đề 1: Báo điện tử Giáo dục Việt Nam ngày 4/12/2013 đã đưa tin: Trưa
4/12/2013, xe tải chở 1500 thùng bia đi từ thành phố Hồ Chí Minh ra Phan Thiết, khi đến vòng xoay Tam Hiệp (Biên Hòa), bất ngờ xe gặp tai nạn khiến cả ngàn thùng bia trên xe đổ ào xuống đường Nhân cơ hội đó, người dân xung quanh đã lao ra “hôi của” mặc cho lái xe khóc lóc, van xin.
Anh (chị) suy nghĩ gì về vụ việc trên?
* Gợi ý làm bài:
Trên cơ sở những hiểu biết về hiện tượng xã hội đã nêu ở đề và kĩ năng làm
văn nghị luận về một hiện tượng xã hội, học sinh trình bày suy nghĩ, ý kiến của
mình về vụ việc “ hôi bia” diễn ra ở Biên Hòa ngày 4/12/2013
Bài viết có thể trình bày những ý kiến đánh giá khác nhau về vụ việc trên
Có thể có học sinh thấy việc “hôi của” là bình thường và thấy mình trong nhữngngười “hôi của” trên nhưng đa số sẽ lên án, phê phán lòng tham, sự vô tâm, nhẫntâm của những người hôi bia, thậm chí phẫn nộ Người chấm cần tôn trọng sự
Trang 24chân thành, trung thực trong suy nghĩ, cảm nhận của học sinh nhưng cũng cầnchỉ ra những sai lạc trong nhận thức của các em
Có thể tham khảo đáp án sau:
- Kể, tả lại vụ việc “ hôi bia” diễn ra ở Biên Hòa ngày 4/12/2013
- Đây là hiện tượng sai trái, vi phạm đạo đức và vi phạm pháp luật, cho thấy sựxuống cấp đạo đức trong xã hội hiện nay
- Nhiều người ngụy biện: việc “hôi của” của họ là chuyện bình thường bởi họnhặt được của rơi, không trộm cướp nhưng thực chất là họ đang che đậy lòngtham lam và sự vô tâm trước tai nạn của người khác Có một người thanh niêngiúp đỡ người lái xe thu nhặt số bia còn lại; xong lặng lẽ bỏ đi, người lái xe chưakịp nói lời cám ơn
- Nguyên nhân của vụ việc: Lòng tham, tâm lí đám đông, sự thiếu ý thức
- Giải pháp: Tăng cường giáo dục ý thức đạo đức và pháp luật cho người dân, xử
lí nghiêm minh những người vi phạm, lên án nhũng người có hành vi xấu
- Bài học nhận thức và hành động
- Cảm nghĩ riêng của bản thân
* Đề 2:“Tôi đã khóc vì không có giày để đi cho đến khi tôi nhìn thấy một
người không có chân để đi giày.”
Lời tâm sự của nhà văn nữ người Mĩ Helen Keller trên đây gợi cho anh/chị
điều gì?
* Gợi ý làm bài:
Đây là kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Tư tưởng đạo lí đó chứatrong một lời tâm sự đầy hình ảnh của nhà văn nữ người Mĩ Helen Keller Từlời tâm sự đó, học sinh có thể có những suy nghĩ, nhận thức khác nhau về ýnghĩa mà lời tâm sự đã gửi gắm
Sau đây là đáp án tham khảo:
- Giải thích ý kiến:
+ khóc: hàm nghĩa là buồn đau, tuyệt vọng.
+ không có giày để đi: hàm ý hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn (về vật chất)
+ không có chân để đi giày: có thể hiểu là hoàn cảnh bất hạnh, nghiệt ngã (của
số phận);
Ý nghĩa của lời tâm sự: sự thiếu thốn, khó khăn của riêng ta chẳng thấm gì nếu
so sánh với những khổ đau, bất hạnh của nhiều người quanh ta
- Bàn bạc vấn đề:
+ Đời người có thể gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, trắc trở; nếu thiếu bản lĩnh,
Trang 25nghị lực, con người dễ buồn đau, thất vọng, buông xuôi.
+ Nếu nhìn ra xung quanh, ta sẽ thấy có nhiều người phải chịu những thiệt thòi,bất hạnh hơn ta rất nhiều
+ Nhận thức được những điều trên, ta phải tự vươn lên cải tạo, chiến thắng hoàncảnh khắc nghiệt chứ không thúc thủ, đầu hàng
“Không nỗi đau nào của riêng ai”, phải nhìn ra cuộc đời để nhận biết, đồngcảm, chia sẻ; từ đó có thêm động lực, thêm niềm tin yêu để sống, làm việc vàcống hiến
Không nên khóc trước khó khăn thử thách trong cuộc đời riêng, càng không nên
khóc khi gặp người bất hạnh Nước mắt, buồn đau không giải quyết được vấn đề,phải làm gì để cải tạo hoàn cảnh để cuộc sống có nhiều niềm vui và rất ít nỗibuồn
+ Nhiều người hay than thân trách phận mà không nhìn ra chung quanh để đồngcảm, chia sẻ
Đề 3: Một căn bệnh của xã hội hiện đại
Đề 4: Sự vô tâm của con người
Đề 5: Nếu ngày hôm nay là ngày cuối cùng…
5.6 Đề mở của kiểu bài nghị luận văn học
* Đề: Sự vận dụng ngôn ngữ, hình ảnh văn học dân gian trong bài thơ
Thương vợ của Trần Tế Xương.
* Gợi ý làm bài
Trên cơ sở những hiểu biết về nội dung và nghệ thuật bài thơ “Thương vợ”,học sinh trình bày hiểu biết của mình về việc vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngônngữ văn học dân gian của Trần Tế Xương
Sau đây là đáp án tham khảo:
- Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm
- Phân tích việc vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian của
Trần Tế Xương trong bài thơ “Thương vợ”
Trang 26+ Vận dụng sáng tạo hình ảnh “con cò” trong văn học dân gian
+ Vận dụng sáng tạo ngôn ngữ văn học dân gian: vận dụng lời ăn tiếng nói dângian để tạo nên thành ngữ mới
+ Ý nghĩa của việc vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian:
Tú Xương đã phá vỡ quy phạm của văn học Trung đại để đổi mới văn học, mởđường cho văn học phát triển theo hướng hiện đại (dùng điển cố thuần Việt, tạonên thành ngữ mới, Việt hóa thơ luật Đường)
- Bài học qua vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian của Trần
Tế Xương trong bài thơ và nêu cảm nghĩ
* Một số đề tham khảo:
Đề 1: Vẻ đẹp của hình ảnh cây cầu trong ca dao Việt Nam
Đề 2: Nỗi nhớ trong ca dao Việt Nam
Đề 3: Bàn về kết thúc của “Truyền Kiều” (Nguyễn Du)
Đề 4: Nhân vật ấn tượng trong “Truyện Kiều” (Nguyễn Du)
Đề 5: Nhân vật Thúy Kiều trong “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du và Thị
Nở trong “Chí Phèo” của Nam Cao
Đề 6: Nhân vật viên quản ngục trong “ Chữ người tử tù” của Nguyễn
Tuân và nhân vật Đan Thiềm trong đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” ( Trích “Vũ Như Tô” của Nguyễn Huy Tưởng)
Đề 7: Chi tiết ấn tượng trong “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam
Đề 8: “Sóng” của Xuân Quỳnh và “ Biển” của Xuân Diệu
Đề 9: Tiếng đàn tri âm trong “Đàn ghi ta của Lor-ca”(Thanh Thảo)
Đề 10: Bi kịch của cái đẹp qua đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”
(Trích “Vũ Như Tô” của Nguyễn Huy Tưởng)