1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình sinh học 11

38 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Phương Pháp Tổ Chức Hoạt Động Trải Nghiệm Sáng Tạo Trong Chương Trình Sinh Học 11
Tác giả Phạm Thị Ngọc Bích
Trường học Trường THPT Quỳnh Lưu 4
Chuyên ngành Sinh học
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2020 - 2021
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 2,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Tên tác giả : Phạm Thị Ngọc Bích

  • Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được coi là chìa khóa thực hiện việc học đi đôi với hành, học qua làm, học giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống ngay trong lớp, trong trường. Hoạt động này thích hợp để tiến hành trong các môn học ở nhà trường, trong đó có môn Sinh học.

  • - Trước khi tiến hành tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo, mỗi giáo viên cần nắm vững bản chất của hoạt động này để tránh sự lúng túng trong khâu xây dựng kế hoạch và tổ chức.

Nội dung

NỘI DUNG

Cơ sở lí luận

1.1 Cơ sở lí luận chung Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo, để đạt được mục tiêu phát triển năng lực học sinh, nội dung sách giáo khoa được viết mới và hoạt động trải nghiệm sáng tạo trở thành một nội dung học tập được cấu trúc độc lập trong kế hoạch giáo dục thuộc chương trình giáo dục phổ thông mới Mục đích của hoạt động này nhằm hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại Trong tất cả các môn học của chương trình thì Môn Sinh học đóng vai trò là một môn học công cụ nên rất phù hợp để tiến hành các hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới dạy học theo chương trình, sách giáo khoa mới.

Trước sự thay đổi của xã hội và yêu cầu đổi mới trong giáo dục, giáo viên cần chuyển mình để phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của học sinh Việc đổi mới phương pháp dạy học không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức mà còn phải tổ chức và hướng dẫn hoạt động cho học sinh Các hoạt động dạy học cần tạo ra sự say mê, hứng thú, và khuyến khích tính chủ động, sáng tạo của học sinh Trong số các phương pháp và kỹ thuật dạy học, tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một kỹ thuật tích cực rất thu hút học sinh.

1.2 Lý luận về hoạt động trải nghiệm sáng tạo

1.2.1 Theo Từ điển tiếng Việt, trải nghiệm được hiểu là trải qua, kinh qua Để học hỏi, con người cần đến sự trải nghiệm, khám phá Khám phá giúp con người nhận ra được cái đúng, cái sai trong cuộc sống, từ đó rút ra những bài học quý giá để hoàn thiện bản thân.

Sáng tạo, hay năng lực sáng tạo (creativity), thường được sử dụng đồng nghĩa với các thuật ngữ như sự sáng tạo, tư duy sáng tạo và sản phẩm sáng tạo Tất cả những thuật ngữ này đều liên quan đến từ gốc Latin “Crear”, mang ý nghĩa chung là sản xuất và tạo ra những điều mới mẻ chưa từng tồn tại Sáng tạo thể hiện tài năng trong các lĩnh vực đặc biệt và là khả năng tiếp thu tri thức, hình thành những ý tưởng độc đáo.

1.3 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một quan điểm giáo dục được David Kolb đề xuất vào năm 1939 Cùng với Ron Fry, ông đã phát triển lý thuyết trải nghiệm vào năm 1970 và công bố mô hình học tập vào năm 1984, thu hút sự chú ý và truyền cảm hứng cho nhiều nhà nghiên cứu.

D.A Kolb đã hoàn thiện lý thuyết Học tập trải nghiệm với những đặc điểm nổi bật: Học tập được tiếp nhận tốt nhất trong quá trình, không chỉ là kết quả; đây là một quá trình liên tục bắt nguồn từ kinh nghiệm Quá trình học tập cũng yêu cầu giải pháp cho các xung đột về sự thích nghi giữa các phương thức đối lập biện chứng Học tập bao gồm các tương tác giữa con người và môi trường, đồng thời là quá trình tạo ra tri thức từ giao dịch giữa kiến thức xã hội và cá nhân Những đặc điểm này được ông chuyển hóa vào quá trình học tập trong sơ đồ mô tả.

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một hình thức giáo dục, trong đó học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn dưới sự hướng dẫn của giáo viên Qua những trải nghiệm này, học sinh không chỉ phát triển năng lực thực tiễn và phẩm chất nhân cách mà còn khai thác tiềm năng sáng tạo của bản thân trong môi trường gia đình, nhà trường và xã hội.

Hoạt động này tập trung vào việc áp dụng kiến thức môn học vào thực tiễn, giúp học sinh chủ động tham gia và trải nghiệm Qua đó, học sinh có thể sáng tạo và giải quyết các vấn đề thực tiễn, tạo ra sản phẩm từ lý thuyết đã học Trải nghiệm chính là cầu nối quan trọng giữa kiến thức lý thuyết và thực tiễn cuộc sống.

Cơ sở thực tiễn

Trong những năm gần đây, phương pháp dạy học đã có sự đổi mới nhưng chưa nhiều, dẫn đến việc học sinh vẫn thiếu hứng thú với môn Sinh học Nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc áp dụng phương pháp dạy học mới, khiến bài giảng trở nên kém hấp dẫn và nhàm chán Vì vậy, việc tạo ra và áp dụng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo là rất cần thiết cho giáo viên dạy Sinh học hiện nay.

Nội dung chương trình và sách giáo khoa hiện tại vẫn nặng về lý thuyết, thiếu sự gắn kết với thực tiễn cuộc sống Mặc dù đã có các tiết dạy thực hành nhằm phát triển kỹ năng cho học sinh, nhưng số lượng tiết học này vẫn hạn chế, trong khi các tiết học lý thuyết vẫn chiếm ưu thế, dẫn đến ít cơ hội cho học sinh trải nghiệm, tự nghiên cứu và tự học.

Qua thực tế khảo sát ở một số lớp trong trường THPT Quỳnh lưu 4 cho kết quả như sau:

Lớp Sĩ số Thích Không thích

Số lượng Tỉ lệ(%) Số lượng Tỉ lệ(%)

Áp lực thi cử và yêu cầu kiểm tra - đánh giá đang khiến việc dạy học môn Sinh học hiện nay tập trung chủ yếu vào việc cung cấp kiến thức, mà chưa chú trọng đến việc rèn luyện kỹ năng Giáo viên lo lắng về việc không dạy kỹ sẽ ảnh hưởng đến kết quả thi của học sinh, dẫn đến việc giảng dạy từ A đến Z mà không có sự lựa chọn trọng tâm, không đủ thời gian cho học sinh trao đổi, và lo ngại về việc "cháy giáo án" Hệ quả là học sinh thường học một cách thụ động Để phát huy tính tích cực và chủ động của học sinh, cần phải đổi mới phương pháp và hình thức dạy học, trong đó tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một giải pháp phù hợp.

Việc tổ chức hoạt động trải nghiệm bổ trợ cho môn học gặp nhiều khó khăn do thời gian hạn chế Chương trình dạy học hiện nay thường kín lịch và chưa được giảm tải cho những nội dung không cần thiết, khiến việc sắp xếp thời gian giữa các tiết học trở nên khó khăn Không thể thực hiện một hoạt động trải nghiệm trong một tiết học mà không ảnh hưởng đến thời gian của tiết khác Do đó, cần nghiên cứu và phân bố hợp lý quỹ thời gian cho các hoạt động trải nghiệm để đảm bảo hiệu quả trong quá trình học tập.

Tham gia tập huấn về phương pháp dạy học tích cực trong chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên Sinh học THPT đã giúp tôi nhận ra tầm quan trọng của việc cho học sinh trải nghiệm thực tế trong quá trình học Qua việc tìm hiểu tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, tôi đã áp dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực trong năm học này, dẫn đến sự hứng thú và nhiệt tình tham gia của học sinh Những trải nghiệm này không chỉ giúp các em phát triển kỹ năng cần thiết cho cuộc sống mà còn tạo động lực cho tôi chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp.

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới của Việt Nam

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, theo Đề án đổi mới chương trình giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhằm phát triển năng lực học sinh thông qua nội dung sách giáo khoa mới Hoạt động này được cấu trúc độc lập trong kế hoạch giáo dục, với mục tiêu hình thành các phẩm chất, kỹ năng sống và năng lực cần thiết cho con người hiện đại Nội dung hoạt động được thiết kế linh hoạt, gắn liền với thực tiễn và tích hợp nhiều lĩnh vực giáo dục, tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm phong phú Phương pháp tổ chức chú trọng tính đa chiều, trong khi hình thức tổ chức tập trung vào sự đa dạng để khuyến khích học sinh tự hoạt động Để đánh giá hiệu quả, cần áp dụng hình thức đánh giá định tính, nhấn mạnh kinh nghiệm cá nhân của học sinh.

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có tính tích hợp và phân hóa cao, được thực hiện qua nhiều hình thức đa dạng, yêu cầu sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường Hoạt động này giúp học sinh lĩnh hội những kinh nghiệm mà các hình thức học tập khác không thể cung cấp, với các chủ đề phong phú, vừa đảm bảo yêu cầu chung vừa phù hợp với đặc điểm của từng trường và địa phương Đây là một phần quan trọng của chương trình giáo dục, kết nối chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn.

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo giúp phát triển phẩm chất nhân cách và năng lực tâm lý xã hội của học sinh, đồng thời tích lũy kinh nghiệm và khơi dậy tiềm năng sáng tạo cá nhân Điều này tạo nền tảng vững chắc cho mỗi cá nhân trong việc xây dựng sự nghiệp và có cuộc sống hạnh phúc trong tương lai.

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể áp dụng cho mọi môn học và lĩnh vực, với nội dung đa dạng và tích hợp kiến thức, kỹ năng từ nhiều lĩnh vực như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng sống, nghệ thuật, thể chất và an toàn giao thông Giáo viên nên chọn những vấn đề thiết thực và gần gũi với cuộc sống, nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các em dễ dàng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một hình thức giáo dục nổi bật với khả năng tổ chức linh hoạt, có thể thực hiện theo nhóm, lớp, khối lớp, trường hoặc liên trường Nó thu hút sự tham gia và phối hợp từ nhiều lực lượng giáo dục, bao gồm giáo viên, ban giám hiệu, hội phụ huynh, và các tổ chức, cơ quan địa phương.

Theo cô Lê Thu, giáo viên trường THCS & THPT Nguyễn Tất Thành - Hà Nội, trải nghiệm sáng tạo có thể được chia thành hai dạng: thứ nhất là trải nghiệm trong môn học, giúp học sinh liên hệ và vận dụng kiến thức vào thực tiễn; thứ hai là các hoạt động giáo dục độc lập do nhà biên soạn chương trình tổ chức Việc phân chia này cần được căn cứ trên lý luận và thực tiễn dạy học để đảm bảo hiệu quả giáo dục.

Theo TS Ngô Thị Thu Dung, Giám đốc Điều hành Trung tâm Nghiên cứu phát triển giáo dục cộng đồng (CCE), việc thiết kế các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cần tuân theo một quy trình cụ thể.

Bước 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo:

Dựa trên nhiệm vụ, mục tiêu và chương trình giáo dục, nhà giáo dục cần khảo sát nhu cầu và điều kiện thực hiện, đồng thời xác định rõ đối tượng tham gia Việc nắm bắt đặc điểm của học sinh không chỉ giúp thiết kế hoạt động phù hợp với lứa tuổi mà còn tạo ra các biện pháp phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra cho học sinh.

Đặt tên cho hoạt động là bước quan trọng, vì tên gọi không chỉ phản ánh chủ đề, mục tiêu và nội dung mà còn tạo sự hấp dẫn và kích thích tâm lý tích cực cho học sinh Để có một tên hoạt động phù hợp, cần suy nghĩ kỹ lưỡng, đảm bảo rõ ràng, chính xác và ngắn gọn, đồng thời tạo ấn tượng ban đầu mạnh mẽ cho học sinh.

Tên hoạt động trong kế hoạch trải nghiệm sáng tạo có thể được điều chỉnh tùy theo khả năng và điều kiện của từng lớp Giáo viên có thể lựa chọn các hoạt động khác ngoài những gợi ý đã có, miễn là chúng phù hợp với chủ đề và hỗ trợ tốt cho các mục tiêu giáo dục đã đề ra, nhằm đảm bảo không lệch hướng khỏi mục tiêu giáo dục.

Bước 3: Xác định mục tiêu của hoạt động

Mỗi hoạt động trong tháng đều hướng tới mục đích chung của chủ đề, nhưng cũng cần có mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động Mục tiêu này phải rõ ràng, cụ thể và phù hợp, phản ánh các yêu cầu về tri thức, kỹ năng, thái độ và định hướng giá trị Việc xác định đúng mục tiêu sẽ giúp định hướng hoạt động, lựa chọn nội dung, điều chỉnh hoạt động, đánh giá kết quả và kích thích sự tích cực của cả thầy và trò Hệ thống mục tiêu sẽ được cụ thể hóa theo từng chủ đề hoạt động trải nghiệm sáng tạo, đặc điểm học sinh và hoàn cảnh lớp học Để xác định mục tiêu, cần trả lời các câu hỏi liên quan đến hoạt động.

- Hoạt động này có thể hình thành cho học sinh những kiến thức ở mức độ nào? (Khối lượng và chất lượng đạt được của kiến thức?)

- Những kỹ năng nào có thể được hình thành ở học sinh và các mức độ của nó đạt được sau khi tham gia hoạt động?

- Những thái độ, giá trị nào có thể được hình thành hay thay đổi ở học sinh sau hoạt động?

Bước 4: Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động

Mục tiêu đạt được phụ thuộc vào việc xác định đầy đủ và hợp lý nội dung và hình thức hoạt động Cần dựa vào từng chủ đề, các mục tiêu đã xác định, điều kiện cụ thể của lớp học, nhà trường và khả năng học sinh để lựa chọn nội dung phù hợp Việc liệt kê đầy đủ các nội dung hoạt động là cần thiết, từ đó xác định phương pháp và phương tiện cần thiết để thực hiện Cuối cùng, cần lựa chọn hình thức hoạt động phù hợp, có thể là một hoạt động với nhiều hình thức khác nhau, trong đó một hình thức chủ đạo và các hình thức phụ trợ.

Để thực hiện hệ thống mục tiêu, cần lập kế hoạch chi tiết, bao gồm việc xác định các nguồn lực cần thiết như nhân lực, vật lực và tài liệu, cùng với thời gian và không gian phù hợp để hoàn thành các mục tiêu đã đề ra.

Chi phí cho mọi mặt cần được xác định rõ ràng, và việc tìm ra phương án chi phí thấp nhất cho từng mục tiêu là rất quan trọng để đạt hiệu quả cao nhất trong công việc Điều này là mong muốn của mọi nhà quản lý Kế hoạch cần được cân đối, yêu cầu giáo viên xác định đủ nguồn lực và điều kiện để thực hiện từng mục tiêu, mà không được phép tập trung nguồn lực cho một mục tiêu mà bỏ qua mục tiêu khác Sự cân đối giữa hệ thống mục tiêu và nguồn lực, cũng như khả năng thực hiện, đòi hỏi giáo viên phải nắm vững tiềm năng và hiểu rõ từng mục tiêu, đồng thời tính toán tỉ mỉ đầu tư cho mỗi mục tiêu theo phương án tối ưu.

Bước 6: Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy

Trong bước này, cần xác định số lượng công việc cần thực hiện, nội dung cụ thể của từng công việc, tiến trình và thời gian hoàn thành, cũng như phân công nhiệm vụ cho các tổ, nhóm và cá nhân Đồng thời, cần làm rõ yêu cầu cần đạt được cho mỗi công việc.

Bước 7: Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Sinh học

Nội dung giáo dục cốt lõi của môn sinh học bao gồm các cấp độ tổ chức sống từ phân tử đến sinh quyển, với kiến thức về cấu trúc, chức năng và mối quan hệ giữa chúng với môi trường Chương trình môn học khái quát các đặc tính chung của thế giới sống như trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản, cảm ứng, di truyền, biến dị và tiến hoá Ngoài ra, chương trình cũng trình bày những thành tựu công nghệ sinh học trong chăn nuôi, trồng trọt, xử lý ô nhiễm môi trường, nông nghiệp và thực phẩm sạch, cũng như trong y - dược học.

Môn sinh học không chỉ giúp học sinh phát triển năng lực tự chủ, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo mà còn hình thành năng lực chuyên biệt về sinh học, bao gồm nhận thức kiến thức, tìm tòi khám phá thế giới sống và áp dụng kiến thức vào thực tiễn Câu hỏi đặt ra là mức độ tương thích giữa nội dung chương trình sinh học và các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, cùng với việc xác định những hoạt động nào thực sự phù hợp với từng phần kiến thức trong môn học.

Để hoàn thành quá trình giáo dục thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong môn Sinh học, cần đảm bảo các yêu cầu chung của hoạt động Để đạt được hiệu quả cao, mọi giải pháp đề xuất cần được khai thác dựa trên đặc điểm riêng của từng nội dung ứng dụng.

Một số cách thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình sinh học 11

5.1 Phương pháp tổ chức trò chơi

Trò chơi là hoạt động giải trí không thể thiếu trong cuộc sống, đặc biệt đối với học sinh, mang lại nhiều lợi ích tinh thần Nó tổ chức các hoạt động vui chơi kết hợp với kiến thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau, giúp giáo dục hiệu quả với phương châm “chơi mà học, học mà chơi”.

Trò chơi đóng vai trò quan trọng trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo, từ việc làm quen, khởi động cho đến việc dẫn nhập nội dung học tập và đánh giá kết quả Chúng không chỉ giúp rèn luyện kỹ năng mà còn củng cố kiến thức đã học, phát huy tính sáng tạo và sự hứng thú của học sinh Bằng cách này, trò chơi giúp học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức mới từ nhiều lĩnh vực khác nhau, tạo ra bầu không khí thân thiện và khuyến khích sự nhanh nhẹn trong tác phong của các em.

Khi dạy học môn Sinh học 11, giáo viên nên áp dụng nhiều trò chơi thú vị để kích thích hứng thú học tập của học sinh, chẳng hạn như trò chơi tam sao thất bản, mảnh ghép, ô chữ, ai là triệu phú và chiếc nón kỳ diệu.

Ví dụ 1: Trò chơi tam sao thất bản

Trong lớp, học sinh sẽ được chia thành 4-6 đội, mỗi đội sẽ bầu chọn một đội trưởng để chỉ huy và một đại diện để nhận thông tin từ đội trưởng.

Người đội trưởng sẽ mời đại diện của đội lên nhận một tờ giấy đã chuẩn bị sẵn, trong đó ghi thông tin như "chim hô hấp bằng phổi" hoặc "cá sống ở dưới nước".

Sau khi đội trưởng ra lệnh bắt đầu trò chơi, người đại diện nhanh chóng truyền đạt mệnh lệnh cho thành viên bên cạnh, và quy trình này tiếp tục cho đến khi thông điệp được truyền đến người ngồi cuối cùng.

Cuối cùng, người tham gia sẽ lặp lại câu nói mà mình nghe được, dẫn đến khả năng có những sai lệch so với nội dung ban đầu của đội trưởng Người được chỉ định sẽ ghi lại những gì đã nghe và viết lên bảng.

- Đội nào truyền tin chính xác nhất và được nhiều câu đúng nhất là đội chiến thắng.

Trò chơi này thường làm rộ lên những trận cười vui vẻ khi đội nào đó truyền nhầm tin

+ Bước 1: Giáo viên giới thiệu và giải thích luật chơi.

+ Bước 2: Giáo viên tổ chức cho học sinh chơi

+ Bước 3: Giáo viên tổng kết trò chơi và củng cố bài học

1 Chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm gồm 9- 10 người,cử ra một người làm đội trưởng để chỉ huy tất cả các nhóm

2 Người chỉ huy mời đại diện của tất cả các đội lên và đưa cho người đại diện đọc những câu ghi trong tờ giấy và yêu cầu người địa diện ghi nhớ trong 2 giây Cụ thể:

- Nhóm 1: Tờ giấy ghi về chức năng của tim: "Tim như cái máy bơm, có chức năng hút và đẩy máu"

- Nhóm 2: Tờ giấy ghi về hệ tuần hoàn hở: "Hệ tuần hoàn hở có áp lực máu chảy thấp, tốc độ máu chảy chậm"

- Nhóm 3: Tờ giấy ghi về hệ tuần hoàn kín: "Bò sát có hệ tuần hoàn kín, tim 3 ngăn, tuần hoàn 2 vòng"

- Nhóm 4: Tờ giấy ghi về hệ tuần hoàn kín: "Thỏ có hệ tuần hoàn kín, tim

3 Sau khi người chỉ huy phát ra mệnh lệnh bắt đầu chơi, người dại diện về đội của mình và nói thầm với người kế bên, cứ như vậy cho đến người cuối cùng người cuối cùng sẽ nói to câu mà mình nghe được và cử địa diện viết lên bảng.

4 Đội nào truyền tin chính xác nhất, nhanh nhất sẽ là người thắng cuộc.

Học sinh chơi trò chơi “Tam sao thất bản”

Trò chơi được tổ chức sau phần hình thành kiến thức không chỉ giúp các nhóm thư giãn mà còn củng cố kiến thức, tạo điều kiện cho các em tham gia nhiệt tình, xua tan căng thẳng và mệt mỏi.

Ví dụ 2: Trò chơi chiếc nón kì diệu

1 Luật chơi: Giáo viên chia lớp thành 2 đội rồi gọi 2 đại diện lên quay nón Thành viên của 2 nhóm sẽ đoán từng chữ cái Mỗi lần quay sẽ được số điểm tương ứng nếu đoán đúng chữ cái Nếu quay vào ô phần thưởng thì người chơi sẽ được phần thưởng, quay vào ô may mắn sẽ được mở chữ cái đó lên mà không cần đoán Nếu quay vào ô mất lượt thì sẽ nhường lại phần chơi cho đội bạn.Cuối cùng đội nào trả lời được cả từ thì sẽ chiến thắng

Để chuẩn bị cho việc dạy học hiệu quả, giáo viên cần chuẩn bị đồ dùng trước Nếu lớp học không có máy chiếu, giáo viên có thể tự làm một chiếc nón bằng bìa cứng, ghi các con số lên nón Bên cạnh đó, cần tạo một giá đỡ bằng gỗ với một que hình trụ ở giữa để giữ nón, và một que bên ngoài để chỉ số điểm mà học sinh quay được Trong trường hợp lớp học có máy chiếu, giáo viên có thể sử dụng thiết bị này để hỗ trợ giảng dạy.

+ Bước 1: Giáo viên giới thiệu và giải thích luật chơi.

Trong bước 2, các đội sẽ cử đại diện tham gia trò chơi Giáo viên sẽ đưa ra câu hỏi, và các thành viên của hai đội sẽ quay và đoán chữ cái hoặc từ Đội nào đoán đúng cả từ sẽ giành chiến thắng.

Bước 3: Giáo viên tổng kết trò chơi và vào bài.

BÀI 23: HƯỚNG ĐỘNG Hoạt động 1: Khởi động

Câu hỏi: Đây là hiện tượng ngọn cây mọc nghiêng về phía ánh sáng

Học sinh chơi trò chơi “Chiếc nón kì diệu”

5.2 Trải nghiệm thông qua hoạt động thí nghiệm

Thực hành là yếu tố quan trọng trong việc hình thành và phát triển các khái niệm học tập Qua quá trình thực hành, học sinh có cơ hội phát hiện các đặc điểm về hình thái giải phẫu và chức năng của các đối tượng nghiên cứu Sự phát triển này không chỉ củng cố những kiến thức lý thuyết đã học mà còn giúp học sinh nhận diện những dấu hiệu mới Hơn nữa, thực hành giúp rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học, cho phép học sinh sử dụng thành thạo các thiết bị thí nghiệm như kính lúp, kính hiển vi, máy đo huyết áp và nhiệt kế Qua đó, học sinh có khả năng thực hiện các thí nghiệm như chứng minh sự thoát hơi nước ở lá, đo huyết áp và thân nhiệt, đồng thời áp dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống.

Trong chương trình sinh học lớp 11, có nhiều bài thực hành thí nghiệm quan trọng, bao gồm: Thí nghiệm thoát hơi nước và vai trò của phân bón (Bài 7), phát hiện diệp lục và carotenoit (Bài 13), hô hấp ở thực vật (Bài 14), đo một số chỉ tiêu sinh lý ở người (Bài 21), hướng động (Bài 25), xem phim về tập tính của động vật (Bài 33), xem phim về sinh trưởng và phát triển của động vật (Bài 40), và nhân giống vô tính ở thực vật bằng giâm, chiết, ghép (Bài 43).

Thiết kế giáo án minh họa

Sau đây là phần thiết kế giáo án hoạt động trải nghiệm sáng tạo: được thực hiện trong 2 tiết: Tiết 10 và tiết 11.

HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TIẾT 10: THỰC HÀNH: CHIẾT RÚT SẮC TỐ Ở THỰC VẬT

- Kể tên được các nhóm sắc tố thực vật có trong lá, củ, quả (1)

- Chiết rút được sắc tố thực vật và giải thích kết quả thí nghiệm (2)

- Giải thích được hiện tượng lá chuyển màu vào mùa thu (3)

- Nêu được vai trò của sắc tố thực vật trong đời sống(4)

- Tìm hiểu các nhóm sắc tố tạo màu và quy trình để làm xôi ngũ sắc (5)

- Tìm kiếm, thu thập và xử lí thông tin

- Kỹ năng sử dụng thiết bị phòng thí nghiệm

- Có thói quen giữ gìn vệ sinh

- Có ý thức xây dựng và thực hiện kế hoạch một cách hợp lí

4 Định hướng phát triển năng lực:

- Xác định, tìm ra kiến thức về các nhóm sắc tố trong thực vật

- Biết chiết xuất sắc tố thực vật chuẩn bị cho việc chế biến chế tạo mâm xôi ngũ sắc.

- Đánh giá được sản phẩm, quá trình thực hiện, giải thích được kết quả thí nghiệm.

1 Chuẩn bị của giáo viên:

SGK sinh học 11, SGV sinh học 11, sách hướng dẫn thực hiện một số kế hoạch dạy học chủ đề STEM ở trường THPT, Máy tính có kết nối Intenet

2 Chuẩn bị của học sinh:

SGK sinh học 11, mẫu vật giáo viên đã giao nhiệm vụ mang lên lớp: lá xanh, lá vàng, quả cà chua, cà rốt, củ nghệ

III TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC

Hoạt động học Mục tiêu Nội dung dạy học trọng tâm PP, KTDH chủ đạo Phương án đánh giá

GV đưa ra tình huống: “Vấn đề tạo màu trong thực phẩm được sử dụng như thế nào trong thị trường hiện nay?” vấn đề Nêu

HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KIỂN THỨC

Thí nghiệm khám phá kiến thức "

Phát hiện diệp lục và carotenoit"

(2) - Làm được các thí nghiệm về tách chiết các sắc trong lá cây; củ, quả

- Thực hành, thí nghiệm tìm hiểu kiến thức mới.

- HS đánh giá lẫn nhau- GV đánh giá HS: thông qua vấn đáp.

Giải thích kết quả thí nghiệm

(3) - Giải thích cách thức tiến hành thí nghiệm, hóa chất sử dụng, và nhận xét độ hòa tan của các sắc tố trng dung môi (cồn và nước)

- Kể tên các nhóm sắc tố thu được từ thí nghiệm trên.

- Phương pháp hoạt động nhóm

- Đánh giá hoạt động nhóm bằng cách đánh giá chéo.

- GV đánh giá HS: thông qua vấn đáp.

Học sinh nhận dự án về nhà thực hiện tiến trình dự án " mâm xôi ngũ sắc"

(5) - GV thông báo tiến trình dự án " Mâm xôi ngũ sắc"

- HS nhận nhiệm vụ và phân chia công việc cho từng thành viên

- Phương pháp hoạt động nhóm

- Thực hành, thí nghiệm tìm hiểu kiến thức mới

- Đánh giá hoạt động nhóm bằng cách đánh giá chéo- HS liên lạc thường xuyên với

GV thông qua điện thoại

* Ổn định lớp: Kiểm diện học sinh( 1 phút)

- GV đưa ra tình huống: “Vấn đề tạo màu trong thực phẩm được sử dụng như thế nào trong thị trường hiện nay?”

Sử dụng màu thực phẩm hiện nay rất phổ biến, nhưng việc sử dụng không hợp lý có thể gây ra nhiều tác hại đối với sức khỏe con người Do đó, cần có sự thống nhất quan điểm và tranh luận về cách sử dụng an toàn và hợp lý các phẩm màu này.

B Hoạt động hình thành kiến thức

Nội dung Hoạt động HS Hoạt động GV Công cụ hỗ trợ

1.Thí nghiệm khám phá kiến thức " phát hiện diệp lục và carotenoit"

- HS thực hành quan sát và ghi kết quả vào phiếu thực hành thí nghiệm.

Giáo viên đặt ra câu hỏi về khả năng tạo ra nguồn màu thực phẩm tự nhiên, an toàn cho sức khỏe con người Điều này mở ra một thí nghiệm thú vị nhằm khám phá các nguyên liệu tự nhiên có thể sử dụng để tạo màu thực phẩm, đồng thời đảm bảo tính an toàn cho người tiêu dùng.

- Giáo viên nêu mục đích và hướng dẫn thí nghiệm.

- Giáo viên phát nguyên liệu và dụng cụ thực hành, phiếu thực hành thí nghiệm hướng dẫn Hs thực hành.

- Mẫu vật: lá cây màu xanh, màu vàng, quả cà chua, cà rốt

2 Giải thích kết quả thí nghiệm

- Quan sát hiện tượng quan sát được và thảo luận nhóm, trả lời câu hỏi giáo viên đưa ra

GV đưa ra các câu hỏi, yêu cầu các nhóm thảo luận và giải thích?

- Vì sao cần phải cắt nhỏ mẫu vật trước khi đổ dung dịch vào ngâm?

- Tại saolại sử dụng cồn trong chiết rút sắc tố

- Nhận xét về độ hòa tan của sắc tố trong hai loại dung môi cồn và nước?

- Kể tên các nhóm sắc tố thu được từ thí nghiệm trên?

PHT theomẫutrong SGK trang 58 sinh học 11

3 Thống nhất tiến trình dự án

- Nhận tiến trình dự án tham khảo từ giáo viên

- Thông báo tiến trình thực hiện dự án "Mâm xôi ngũ sắc"

- Bảng tiến trình dự án trong phiếu học tập

- Thống nhất thời gian thực hiện với giáo viên

- Ghi lại thời gian đã thống nhất vào bảng tiến trình thời gian hoạt động hợp lí

Hs nhận nhiệm vụ và lên kế hoạch phân chia công việc cho các thành viên:

Học sinh về nhà tìm hiểu về sắc tố thực vật và trình bày sơ đồ trên giấy A0, bao gồm các nhóm sắc tố, đặc điểm và vai trò của các loại thực phẩm Họ cũng lựa chọn nguyên liệu để nghiên cứu quy trình chế biến xôi ngũ sắc, thực hiện chiết xuất sắc tố và chế biến món xôi ngũ sắc hấp dẫn.

Tiết 11: HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO

CHỦ ĐỀ : "MÂM XÔI NGŨ SẮC"

Sau hoạt động này HS có khả năng :

- Tích cực tìm kiếm từ nhiều nguồn khác nhau về công thức làm xôi ngũ sắc từ sắc tố có sẵn trong thực vật

- Nghiêm túc làm việc nhóm, lựa chọn nguyên liệu chế biến xôi ngũ sắc

- Chịu trách nhiệm về lời nói, hành vi của bản thân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, báo cáo kết quả.

- Có thói quen giữ gìn vệ sinh, an toàn thực phẩm.

- Có ý thức xây dựng và thực hiện kế hoạch dự án hợp lí, khoa học.

Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

- Phân tích được tình huống và phát biểu vấn đền cần thiết của việc tạo màu thực phẩm từ nguyên liệu thực vật.

- Xác định,tìm ra kiến thức về các nhóm sắc tố trong thực vật, sử dụng cho việc giải quyết vấn đề.

- Đề ra giải pháp, thiết kế công thức chế biến xôi ngũ sắc từ màu thực phẩm.

- Chiết xuất sắc tố thực vật để chế tạo mâm xôi ngũ sắc

- Đánh giá được sản phẩm, quá trình thực hiện và đề xuất ý tưởng cải tiến xôi ngũ sắc.

- Trình bày sản phẩm xôi ngũ sắc với các món ăn kèmmột cách thẩm mĩ, sáng tạo.

- Trình bày video quá trình chế biến xôi tại nhà.

-Giải thích được thành công,thất bại của sản phẩm trong quá trình thực hiện chế biến

- Đánh giá sản phẩm của nhóm khác, tự đánh giá nhóm mình về quá trình làm việc, kết quả sản phẩm theo tiêu chí đã đề xuất.

- Đề xuất các ý tưởng cải tiến sản phẩm của bản thân và các nhóm khác.

- GV tổ chức cuộc thi : "Sắc màu ẩm thực" với sự tham gia của các đội thi

- Các nhóm Hs mang xôi thành phẩm đã nấu sẵn lên lớp và sử dụng các dụng cụ để tạo hình cho món xôi của nhóm mình.

- Hs nhận xét, đánh giá quá trình làm việc cũng như sản phẩm của trình nhóm mình cũng như nhóm khác

C Dự kiến sản phẩm đáp ứng yêu cầu cần đạt

- Sản phẩm xôi ngũ sắc đạt tiêu chuẩn đã đề xuất trong tiêu chí.

- Bản đề xuất quy trình cải tiên xôi ngũ sắc ( Nếu có)

D Tiến trình dạy học cụ thể

Nội dung Hoạt động HS Hoạt động GV Công cụ hỗ trợ

Báo cáo sản phẩm của các nhóm

-Đại diện HS đóng vai trò

MC giới thiệu về cuộc thi, các HS chính là người tham gia chế biến, tạo hình cho món xôi.

-Hs tạo hình cho sản phẩm -Hs chiếu video hoặc ảnh quy trình chế biến xôi ở nhà.

- Tổ chức hoạt động dưới dạng " ngày hội ẩm thực".

- Ban giám khảo quan sát và chấm điểm sản phẩm của các nhóm -Tổng kết, đánh giá điểm của các nhóm

- Câu hỏi kiểm tra kiến thức kĩ năng sau chủ đề

- Trưng bày và giới thiệu sản phẩm

- Lắng nghe nhận xét từ Hs khác

Thảo luận nhóm và trả lời câu hỏi của giáo viên về kiến thức và kỹ năng đã rèn luyện thông qua chủ đề STEM là một phần quan trọng trong quá trình học tập Các thành viên trong nhóm cần chia sẻ ý kiến và kinh nghiệm của mình, từ đó tạo ra một môi trường học tập tích cực và hiệu quả Việc tuân thủ các tiêu chí đã thống nhất sẽ giúp nâng cao chất lượng thảo luận và đảm bảo mọi người đều tham gia tích cực.

- Đặt câu hỏi kiểm tra mức độ hiểu kiến thức và khả năng vận dụng kiến thức qua chủ đề STEM

Tổng kết, đánh giá dự án của lớp

- Lắng nghe ý kiến của giáo viên

- Tổng kết lại nội dung kiến thức

- Suy nghĩ, phát triển rộng mô hình vừa thực hiện

- Nhận xét về quá trình làm việc trong dự án

- Tổng kết kiến thức về vai trò của rau củ, quả đối với nhu cầu dinh dưỡng của con người

- Tổng kết kiến thức cần học và ứng dụng

Bảng: Tiêu chí đánh giá sản phẩm

TT Tiêu chí Điểm tối đa Điểm đạt được

1 Xôi có màu sắc đẹp tự nhiên,không sử dụng phẩm màu hóa học

3 Tạo hình xôi ngũ sắc đẹp 10

4 Các món ăn kèm xôi ngon,hấp dẫn 5

5 Tạo hình sản phẩm đúng thời gian quy định 5

D Hoạt động tìm tòi mở rộng

Giáo viên yêu cầu học sinh về nhà tiếp tục cùng người thân, thực hiện chiết rút tạomàu thực phẩm để chế biến nhiều món ăn khác nhau.

Kết quả nghiên cứu

Áp dụng các phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong và ngoài giờ học Sinh học 11 đã tạo ra sự hứng thú học tập cho học sinh Tất cả học sinh, bất kể năng lực, đều tham gia nhiệt tình và hiệu quả vào các hoạt động trải nghiệm Nhiều em đã thể hiện ý tưởng và cách làm sáng tạo, khiến giờ học trở nên sinh động và hấp dẫn hơn Qua đó, giáo viên không chỉ kết nối sinh học với đời sống mà còn rèn luyện cho học sinh những kỹ năng sống cần thiết, giúp các em tự tin hơn khi bước vào cuộc sống.

Sau khi tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh với chủ đề "Mâm xôi ngũ sắc", tôi nhận thấy đã đạt được nhiều kết quả thiết thực.

+ Đa số học sinh đã tự trải nghiệm để làm được sản phẩm xôi ngũ sắc rất thành công

Khi báo cáo sản phẩm, học sinh thể hiện sự tự tin và linh hoạt trong cách trình bày Sự nhấn mạnh trong lời nói của các em đã thu hút sự chú ý của giáo viên và bạn bè, tạo nên một không khí hứng thú và lôi cuốn trong lớp học.

Dưới đây là một số hình ảnh minh họa.

Sản phẩm báo cáo tại buổi học

Trong quá trình theo dõi lựa chọn, chuẩn bị và báo cáo sản phẩm của từng cá nhân và nhóm, tôi đã tiến hành đánh giá và chấm điểm với kết quả cụ thể như sau:

Lớp 11A11 Đánh giá Nhóm Điểm số

Các thành viên trực tiếp phân công nhiệm vụ, biên tập, báo cáo sản phẩm 1 1 1 2 10

Thành viên tích cực tham gia 8 9 8 7 8 - 9

Thành viên chưa tích cực

Thành viên không tham gia 0 0 0 0

Lớp 11A12 Đánh giá Nhóm Điểm số

Các thành viên trực tiếp phân công nhiệm vụ, biên tập, báo cáo sản phẩm 2 2 1 2 10

Thành viên tích cực tham gia 6 7 8 6 8-9

Thành viên chưa tích cực 2 1 1 2 Dưới 7 điểm

Thành viên không tham gia 0 0 0 0

Đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu quan trọng trong giáo dục, trong đó hoạt động trải nghiệm sáng tạo đóng vai trò then chốt Hoạt động này được tổ chức trong môi trường học tập, cho phép học sinh tham gia trực tiếp và phát huy khả năng sáng tạo của mình Môn Sinh học, đặc biệt là Sinh học 11, là một lĩnh vực lý tưởng để triển khai các hoạt động trải nghiệm sáng tạo Qua việc áp dụng các phương pháp này, học sinh không chỉ tiếp thu bài học hiệu quả hơn mà còn tăng cường hứng thú với môn học, từ đó phát triển kiến thức và kỹ năng cần thiết để hòa nhập xã hội.

KẾTLUẬN

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là chìa khóa để kết hợp lý thuyết với thực hành, giúp học sinh học qua làm và giải quyết các vấn đề thực tiễn ngay trong lớp học Hoạt động này rất phù hợp với các môn học, đặc biệt là môn Sinh học, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục.

Trước khi tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo, giáo viên cần hiểu rõ bản chất của hoạt động này để xây dựng kế hoạch và tổ chức một cách hiệu quả, tránh những lúng túng không cần thiết.

Giáo viên cần liên tục khám phá và áp dụng các phương pháp tổ chức trải nghiệm học tập phù hợp với học sinh, cả trong và ngoài các tiết học Sinh học Điều này nhằm tạo sự hứng thú cho các em đối với môn học, mặc dù môn Sinh học rất quan trọng trong thi cử nhưng thường không thu hút được sự quan tâm của học sinh.

Trong quá trình tổ chức hoạt động, giáo viên cần xác định rõ nhiệm vụ cho học sinh và theo dõi sát sao từng bước thực hiện để có đánh giá chính xác Việc đánh giá không chỉ dựa trên sản phẩm mà còn kết hợp với hành vi, thái độ của học sinh, giúp các em củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng sống tích cực Điều này nhằm đáp ứng yêu cầu về con người hiện đại mà UNESCO đã đề ra.

Chương trình Sinh học lớp 11 được thiết kế hấp dẫn và thực tiễn, cho phép giáo viên tổ chức nhiều hoạt động trải nghiệm phong phú cho học sinh Các hoạt động này có thể bao gồm trò chơi, thảo luận nhóm hoặc tranh luận về các vấn đề nhỏ liên quan đến nội dung bài học, giúp kết nối kiến thức với thực tiễn cuộc sống.

Các phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm có thể áp dụng cho tất cả các khối lớp trong chương trình Sinh học trung học phổ thông, không chỉ riêng lớp 11 Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp dạy học phụ thuộc vào khả năng của giáo viên và đặc điểm học sinh ở từng địa phương Do đó, giáo viên cần linh hoạt trong thiết kế bài giảng và sử dụng phương pháp dạy học để phát huy tối đa khả năng sáng tạo của học sinh, từ đó đạt được thành công trong quá trình giảng dạy Để tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo hiệu quả, tôi xin đề xuất một số kiến nghị với các cấp quản lý.

Việc tổ chức và tập huấn cho đội ngũ cán bộ giáo viên là rất quan trọng, vì giáo viên đóng vai trò tiên phong trong việc triển khai các hoạt động giáo dục cho học sinh Đặc biệt, với sự xuất hiện của hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình học, nhiều giáo viên vẫn còn lúng túng trong việc xây dựng kế hoạch và tổ chức Do đó, việc tập huấn kỹ càng cho giáo viên là điều cần thiết để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

Các trường học, bao gồm cả trường tôi, cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị như hệ thống máy tính kết nối internet và máy chiếu Những thiết bị này không chỉ hỗ trợ cho hoạt động trải nghiệm sáng tạo mà còn góp phần phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong các hoạt động học tập khác.

Bài viết này chia sẻ những định hướng tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong môn Sinh học, đặc biệt là Sinh học 11, dựa trên kinh nghiệm cá nhân trong năm học đầu tiên áp dụng phương pháp này Mặc dù kinh nghiệm còn hạn chế, nhưng đây là bước khởi đầu quan trọng để tôi cải thiện và mong muốn nhận được ý kiến đóng góp từ đồng nghiệp, chuyên gia và hội đồng giám khảo.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Ngày đăng: 25/05/2021, 12:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dự thảo đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015 - Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thôngsau năm 2015 -
2. Dự thảo chương trình tổng thể GDPT sau năm 2015 - Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo chương trình tổng thể GDPT sau năm 2015 -
6. Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông - Bùi Ngọc Diệp - Tạp chí Khoa học Giáo dục, Số 113 - Tháng 02/2015 - Trang 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trườngphổ thông - "Bùi Ngọc Diệp - "Tạp chí Khoa học Giáo dục
8. Tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo giải pháp phát huy năng lực người học - NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo giải pháp phát huy nănglực người học
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội
9. Hướng dẫn thực hiện một số kế hoạch dỵ học chủ đề giáo dục STEM ở trường THCS và THPT - NXB Đại học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện một số kế hoạch dỵ học chủ đề giáo dục STEM ởtrường THCS và THPT
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
3. Sách giáo viên Sinh học 11 - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Khác
4. Sách giáo khoa Sinh học 11 - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Khác
5. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Sinh học 11 THPT- Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w