ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Chè hoa vàng, hay còn gọi là Kim hoa trà, có tên khoa học là Camellia spp., thuộc họ Theaceae Loài thực vật hạt kín này thường được tìm thấy ở nhiều vùng khác nhau.
Trung Quốc (Tây Nam tỉnh Quảng Tây) và Việt Nam (tỉnh Quảng Ninh), Vĩnh Phúc (Tam Đảo) (Trình Kim Thủy và cộng sự ,1994) [16]
Cây Chè hoa vàng, với sắc vàng rực rỡ, từng được ưa chuộng làm cây cảnh Tuy nhiên, qua nghiên cứu, chúng ta nhận ra rằng Chè hoa vàng không chỉ có giá trị thẩm mỹ mà còn là nguồn nguyên liệu cho trà ngon và bổ dưỡng, phù hợp cho việc thưởng thức hàng ngày.
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học hiện đại, Chè hoa vàng ngày càng được coi trọng nhờ vào những công dụng và lợi ích tuyệt vời mà nó mang lại Chè hoa vàng chứa nhiều hợp chất quý giá, với hơn nhiều thành phần có lợi cho sức khỏe.
Chè hoa vàng chứa hơn 400 hoạt chất quý giá, bao gồm saponin Tea polyphenon và các nguyên tố vi lượng như Selenium (Se), Germannium (Ge), Kalium (K), Kẽm (Zn), Molypden (Mo), Vanadium (V), Mangan (Mn) cùng các vitamin B1, B2 và C Loại chè này đã được giới y học nghiên cứu sâu rộng và ứng dụng tại nhiều quốc gia như Mỹ, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản và Việt Nam.
Chè hoa vàng lần đầu được phát hiện bởi người Pháp tại miền Bắc Việt Nam vào năm 1910, nhưng nghiên cứu về loại chè này vẫn còn hạn chế Theo ước tính, Việt Nam hiện có gần 20 loài chè hoa vàng, trong đó Vườn Quốc gia Tam Đảo sở hữu 8 loài Trong những năm qua, tư thương đã thu gom số lượng lớn hoa chè từ rừng tự nhiên để buôn bán, với giá khoảng 1.500.000 đồng/kg hoa tươi và 20.000 đồng/kg cho cây tươi, sau đó xuất khẩu ra nước ngoài.
Trung Quốc theo đường tiểu ngạch Cùng một số nguyên nhân khác làm cho Chè hoa vàng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên
Cây Chè hoa vàng tại Bắc Kạn, xuất hiện ở các huyện như Chợ Đồn, Ba Bể, Pác Nặm và Chợ Mới, đang bị khai thác mạnh mẽ do giá trị dược lý và kinh tế cao Người dân địa phương đã thu hoạch nụ hoa tươi với giá khoảng 0,5 triệu đồng/kg và cây tươi với giá từ 7.000 đến 10.000 đồng/kg Tuy nhiên, việc khai thác này đang đe dọa nguồn tài nguyên tự nhiên, vì vậy cần có các biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý để đảm bảo sự bền vững cho cây Chè hoa vàng.
Nghiên cứu các biện pháp nhân giống và chăm sóc Chè hoa vàng là rất cần thiết để bảo tồn và phát triển loài cây này Tuy nhiên, hiện tại, các nghiên cứu về Chè hoa vàng vẫn còn hạn chế Việc bảo tồn và phát triển loại cây này không chỉ giúp ngăn chặn tổn thất đa dạng sinh học mà còn tạo ra hướng sản xuất hàng hóa phục vụ nhu cầu cây cảnh và dược liệu, từ đó tăng thu nhập cho người dân địa phương.
Để nâng cao hiệu quả khai thác cây Chè hoa vàng thành sản phẩm hàng hóa giá trị cao từ lâm sản ngoài gỗ tại Bắc Kạn, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu về việc sử dụng chế phẩm chất kích thích sinh trưởng cho nhân giống cây Chè hoa vàng bằng phương pháp giâm cành tại xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn.
Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu này nhằm xác định các chế phẩm kích thích sinh trưởng phù hợp để áp dụng trong quá trình nhân giống cây Chè hoa vàng bằng hom tại xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn Kết quả sẽ góp phần xây dựng hướng dẫn kỹ thuật nhân giống cây Chè hoa vàng tại địa phương, hỗ trợ phát triển bền vững ngành trồng chè.
Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu này sẽ cung cấp dữ liệu khoa học về các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng nhân giống Chè hoa vàng.
- Kết quả nhiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu Chè hoa vàng nói chung và Chè hoa vàng nói riêng.
QUAN TÀI LIỆU
Giá trị sử dụng của cây Chè hoa vàng
2.1.1 Sử dụng làm dược liệu
Chè hoa vàng có tên khoa học là Camellia chrysantha, là loài thực vật hạt kín trong họ Chè Theaceae, có giá trị dược liệu rất quý Ở Trung Quốc,
Chè hoa vàng, hay kim hoa trà, chứa hơn 400 loại nguyên tố hóa học có lợi cho sức khỏe con người (Rosmann J.C., 2000) [16] Hiện nay, công ty Phú Tân tại Quảng Tây, Trung Quốc, đã thành công trong việc chế biến chè túi lọc từ Chè hoa vàng, tinh chè và dịch Chè hoa vàng thành nước uống bổ dưỡng cao cấp, đưa sản phẩm ra thị trường thế giới.
Chè hoa vàng, với giá 4.67 triệu đồng/chai, là một sản phẩm đặc biệt có lợi cho sức khỏe Theo ông Lipuren, chuyên gia y học dân tộc nổi tiếng của Trung Quốc, chè hoa vàng có "công dụng y học vô giá" Sử dụng chè hoa vàng có thể giúp giảm triệu chứng xơ vữa động mạch do máu nhiễm mỡ chỉ sau 20 ngày và hỗ trợ điều trị bệnh cao huyết áp Ngoài ra, sản phẩm này còn có khả năng chữa trị nhiều bệnh như táo bón, hạ đường huyết cho người tiểu đường, cũng như các bệnh về đường hô hấp và bài tiết, mang lại hiệu quả nhanh chóng.
Tiến sĩ John Welsburger - thành viên cao cấp của Tổ chức Sức khỏe Hoa
Nghiên cứu cho thấy, việc tiêu thụ 4-5 tách chè đen mỗi ngày có thể giảm 70% nguy cơ đột quỵ so với những người chỉ uống 2 tách hoặc ít hơn Điều này được lý giải nhờ vào flavonoid có trong chè đen, giúp ngăn ngừa sự vón cục của tiểu huyết cầu trong máu, nguyên nhân chính gây ra đột quỵ và cơn đau tim Chè đen được nhắc đến ở đây là sản phẩm chế biến từ chè hoa vàng.
Lá chè hoa vàng có 9 tác dụng chính được y học cổ truyền Trung Quốc ghi nhận: (1) Giảm tổng hàm lượng lipid trong huyết thanh, giảm cholesterol xấu và tăng cholesterol tốt (2) Nước sắc lá trà giúp hạ huyết áp hiệu quả và duy trì lâu dài (3) Có tác dụng ức chế sự tụ tập của tiểu cầu, ngăn ngừa hình thành huyết khối (4) Phòng ngừa ung thư và ức chế sự phát triển của khối u (5) Tăng cường hưng phấn thần kinh (6) Có tác dụng lợi tiểu mạnh.
Lá trà có tác dụng giải độc gan và thận, giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch, đồng thời ức chế và tiêu diệt vi khuẩn Ngoài ra, lá trà còn có khả năng chống viêm, chống dị ứng và duy trì trạng thái bình thường của tuyến giáp.
Trong nhiều năm qua, người cao tuổi ở huyện Quế Phong đã biết đến cây Chè hoa vàng, một loại cây mọc tự nhiên trong rừng, được sử dụng để nấu nước uống giống như Chè xanh Nước Chè hoa vàng giúp người ốm yếu hồi phục sức khỏe, trong khi người khỏe mạnh cảm thấy ăn ngon và ngủ sâu hơn Lá Chè hoa vàng còn được chế biến thành món canh nấu với măng, thích hợp cho người mới ốm dậy và người suy nhược Đặc biệt, khi bị thương, người dân địa phương thường dùng hoa và lá Chè hoa vàng giã nhỏ để đắp lên vết thương, giúp vết thương mau khô và liền da chỉ sau vài ngày.
Nghiên cứu cho thấy trà có hiệu quả gần 90% trong việc ngăn ngừa sạm da, một nguyên nhân gây ung thư da Gần đây, các nhà khoa học Nhật Bản phát hiện hoạt chất epigallocatechin gallat (EGCG) trong Chè hoa vàng có khả năng ngăn HIV bám vào tế bào miễn dịch khỏe mạnh, mở ra hướng đi mới trong việc chống lại bệnh HIV.
Trong quá trình khảo sát cây Chè hoa vàng, chúng tôi đã tiếp xúc với một số thầy lang và nhận thấy đây là vị thuốc nam hiệu quả Không chỉ hoa, lá của Chè hoa vàng còn giúp chống mệt mỏi, tăng cường chức năng tiêu hóa, lợi tiểu và giải độc Đây là nguồn tài nguyên quý giá cần được phát huy, đặc biệt trong điều trị dự phòng tại cơ sở.
Hình 2.1: Trà túi lọc sản phẩm từ Chè hoa vàng Hình 2.2: Trà ô long sản phẩm từ Chè hoa vàng
Hình 2.3: Thuốc được điều chế từ Chè hoa vàng
Giá trị nổi bật nhất của các loài thuộc chi Camellia là khả năng làm cây cảnh Hiện nay, trên toàn cầu và tại Việt Nam, có nhiều loài Camellia được trồng và ưa chuộng.
Camellia là loài hoa nổi bật với nhiều màu sắc đa dạng như trắng, đỏ, vàng, cùng với những sắc màu độc đáo được tạo ra từ quá trình lai tạo, thu hút sự chú ý của những người yêu thích cây cảnh Đặc biệt, các loài Chè hoa vàng rất hiếm, chỉ xuất hiện tại Việt Nam và Trung Quốc.
Chè hoa vàng, thuộc chi Camellia, nổi bật với giá trị làm cảnh nhờ màu vàng đặc trưng, khó tái tạo qua lai giống, thu hút sự quan tâm toàn cầu Việc lai tạo Chè hoa vàng, đặc biệt là Camellia nitidissima, đã đòi hỏi nỗ lực 20 năm để khắc phục sự bất thụ lai với Camellia flava của Việt Nam, loài dễ lai tạo, dẫn đến sự ra đời của nhiều giống mới trong bộ sưu tập chè cảnh toàn thế giới (Ngô Quang Đê, 1996).
Nghiên cứu của tác giả Ngô Quang Đê đã phát hiện hai loài Camellia tiềm năng cho việc thuần hóa thành cây cảnh tại Vườn Quốc gia Ba Vì, Hà Nội Những loài này chủ yếu phân bố ở độ cao trên 600m, nơi có tầng đất dày, xốp ẩm và hơi chua dưới tán rừng Chúng là các loài sinh trưởng chậm, nhạy cảm với điều kiện ngoại cảnh, do đó cần kỹ thuật chăm sóc tốt Ngoài ra, tác giả đã thành công trong việc di thực thuần hóa hai loài: Chè hoa thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis) và Chè hoa vàng Ba Vì (Camellia tonkinensis (Pitard) Cohen Stuart) tại vườn chè ở Xuân Mai, Chương Mỹ.
Hà Nội, hiện 2 loài này sinh trưởng phát triển tốt đồng thời cho hoa đẹp vào dịp xuân về (Ngô Quang Đê, 1996) [4]
Chè hoa không chỉ có khả năng hấp thu CO2, H2S, Cl, HF và các khí độc hại khác mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và làm sạch không khí Để nâng cao ý thức cộng đồng, một công viên Chè hoa vàng đã được xây dựng tại Nam Ninh, Trung Quốc, không chỉ phục vụ nhu cầu tham quan của người dân mà còn là nơi bảo tồn nguồn gen cho các nghiên cứu khoa học.
Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1 Nguốc gốc, phân loại Chè hoa vàng
Chè hoa vàng có tên khoa học là Camellia L tên Việt Nam gọi là Trà hoa vàng (Trà mi), thuộc Họ Theaceae (Họ chè), Chi Camellia L (Chi chè)
Theo hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan, vị trí phân loại của chi Camellia L có thể được tóm tắt như sau:
2.2.2 Đặc điểm hình thái và phân bố chi Camellia L
Cây bụi hoặc cây nhỏ thường xanh có cành nhẵn hoặc có lông, với lá đơn mọc so le không có lá kèm Chóp lá nhọn hoặc kéo dài thành đuôi, gốc lá có hình dạng nêm hẹp, nêm rộng, tròn hoặc hình tim, mép lá có răng cưa nhọn hoặc tù Hoa lưỡng tính, có kích thước lớn hoặc nhỏ, mọc đơn độc ở nách lá hoặc đầu cành, thường có màu đỏ, trắng hoặc vàng Cuống hoa ngắn hoặc gần như không có, với 2 - 10 lá bắc xoắn trên cuống hoa và cánh hoa có 4 cánh.
19, hợp một phần ở gốc cùng với vòng nhị ngoài Nhị nhiều, dính với nhau ở phía gốc, vòng nhị phía trong rời nhau, chỉ nhị dài Bầu trên, 1 - 5 ô, vòi nhụy 1
Cây có 5 nhị, có thể ở dạng sợi, rời hoặc dính nhau; bầu và vòi nhụy nhẵn hoặc phủ lông mịn Quả nang có hình cầu dẹt hoặc hình trứng, khi khô sẽ chẻ ô từ trên xuống thành 3 hoặc 4 phần.
Quả có 5 mảnh, có thể có trụ hoặc không, với vỏ quả dày hoặc mỏng và có khả năng hóa gỗ Mỗi ô chứa từ 1 đến nhiều hạt, có hình dạng cầu, nửa cầu hoặc hình nêm Vỏ hạt có màu nâu, nâu hạt giẻ nhạt hoặc nâu hồng, bề mặt có thể phủ lông hoặc nhẵn.
2.2.3 Đặc điểm phân bố chi Camellia L
Chi Camellia L bao gồm khoảng 280 loài, chủ yếu phân bố ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Nguồn gốc của chúng nằm ở khu vực Đông và Nam châu Á, trải dài từ phía Đông dãy Himalaya đến Nhật Bản và Indonesia.
- Châu Á: Ấn độ, Bangladesh, Đài Loan, Hàn Quốc, Indonesia, Iran, Malaysia, Myanmar, Nepal, Nhật Bản, Sri-lanka, Trung Quốc, Việt Nam
- Châu Phi: Burundi, Ethiopia, Kenya, Maritius, Nam Phi, Uganda
- Nam Mỹ: Argentina, Brazil, Ecuador, Peru
- Châu Đại Dương: Australia, New-Zeland
Châu Âu, đặc biệt là Thổ Nhĩ Kỳ và các quốc gia thuộc Liên Xô cũ, đã quan tâm đến việc bảo tồn và phát triển các loài Camellia từ sớm Tại Trung Quốc, nhiều trung tâm nghiên cứu và bảo tồn chè, trong đó nổi bật là chè hoa vàng Vườn ngân hàng gen Camellia ở Nam Ninh hiện đang giữ bộ sưu tập lớn nhất thế giới về chè hoa vàng (Camellia chrysantha.M.Sealy), với hơn 20 loài Camellia và 15 giống trà hoa vàng Nơi đây bảo tồn 3.000 cá thể và đã tạo ra 7.000 dòng lai từ cây chè hoa vàng và các loài khác trong chi Camellia, phục vụ cho nghiên cứu và phát triển giống.
Camellia L Có 6 loài trong bộ sưu tập được thu từ Việt Nam, gồm: C chrysantha.M.Sealy, C ptilosperma S Ye Liang & Q T Chen, C tunghinensis
H.T Chang, C murauchii Ninh & Hakoda, C impressinervis Hung T Chang
S Ye Liang and C amplexicaulis (Pitard) Cohen-Stuart are notable species, alongside various gardens that preserve numerous Camellia species and varieties Among these, the Guilin Botanic Garden in Yanshan, Guangxi, is home to 20 different species, while the Jinhua International Camellia Garden also contributes to the conservation of these beautiful plants.
Species Garden - Chiết Giang (25 loài); The Fangcheng Golden Camellia
The Nature Reserve and Gene Bank in Quảng Tây is home to 28 species and varieties of Camellia, including the prized Trà hoa vàng Meanwhile, the Kunming Institute of Botany in Yunnan boasts 25 species, among which are eight native to Vietnam, including C crassiphylla Ninh & Hakoda.
C cucphuongensis Ninh &Rosmann; C hakodae.M.Sealy;
C rosmannii Ninh; C vidalii J C.Rosmann; C dongnaiensis Orel; C luteocerata Orel; C inusitata Orel, Curry & Luu (Trần Ninh và Hakoda Naotoshi, 2010) [6]
Việt Nam được xác định là trung tâm đa dạng sinh học với 58 loài Camellia L., bao gồm các nhóm như Trà, Hải đường, Trà mi, và Sở Các loài Chè hoa vàng chủ yếu phân bố tại các khu vực như Tam Đảo, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Tuyên Quang, Yên Bái, và Cúc Phương, trong đó có 27 loài có hoa màu vàng.
Bảng 1.1 Danh mục các loài Camellia L có hoa vàng ở Việt Nam
Tên Việt Nam Phân bố
1 Camellia aurea Hung T Chang Trà hoa vàng kim VN
2 Camellia crassiphylla Ninh & Hakoda Trà hoa vàng lá dày VN
3 Camellia cucphuongensis Ninh & Rosmann Trà hoa vàng Cúc
4 Camellia dalatensis Luong, Tran & Hakoda Trà hoa vàng Đà Lạt VN
5 Camellia dilinhensis Ninh & V.D.Luong Trà hoa vàng Di Linh VN
6 Camellia dormoyana (Pierre) Sealy Trà hoa vàng Đo môi VN
7 Camellia euphlebia M.Sealy Trà hoa vàng Tiên Yên VN, TQ
8 Camellia flava (Pit.) Sealy Trà hoa vàng nhạt VN
9 Camellia chrysantha (Hu) Tuyama Trà hoa vàng VN, TQ
10 Camellia gilbertii (A Chev ex Gagnep.) Sealy Trà hoa Gilbert VN, TQ
11 Camellia hakodae M.Sealy Trà hoa vàng Hako VN
12 Camellia hamyenensis M.Sealy Trà hoa vàng Hàm Yên VN
13 Camellia hirsute Trà hoa vàng nhiều lông VN
14 Camellia huulungensis Rosmann & Ninh Trà hoa vàng Hữu Lũng VN
15 Camellia impressinervis Hung T Chang & S Ye
Trà hoa vàng gân lõm VN, TQ
16 Camellia kirinoi Ninh Trà hoa vàng Kiri VN
17 Camellia limonia C.F.Liang & S.L.Mo Trà hoa vàng da cam VN, TQ
18 Camellia murauchii Ninh & Hakoda Trà hoa vàng Murô VN
19 Camellia megasepala Hung T.Chang & Trin
Trà hoa vàng Ba Bể VN, TQ
20 Camellia petelotii (Merr.) Sealy Trà hoa vàng Petelot VN
21 Camellia phanii Hakoda et Ninh Trà hoa vàng Phan VN
22 Camellia quephongensis Hakoda et Ninh Trà hoa vàng Quế Phong VN
23 Camellia rosmannii Ninh Trà hoa vàng Yên Tử VN
24 Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda Trà hoa vàng Tam đảo VN
25 Camellia thanxaensis Trà hoa vàng Thần Sa VN
26 Camellia tonkinensis (Pit.) Cohen-Stuart Trà hoa vàng Bắc bộ VN
27 Camellia tienii Ninh Hải đường hoa vàng VN
Ảnh hưởng của môi trường sống đến quá trình giâm hom
Nhóm nhân tố ngoại sinh bao gồm các chất kích thích ra rễ và các yếu tố môi trường như độ ẩm, ánh sáng, nhiệt độ và thời vụ giâm hom Trong khi đó, nhóm nhân tố nội sinh liên quan đến các đặc điểm di truyền của loài, nguồn gốc và cá thể, cùng với vai trò của tuổi cây, tuổi cành và vị trí cành.
2.3.1 Các nhân tố ngoại sinh
Khả năng ra rễ của hom giâm bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại sinh, bao gồm điều kiện sống của cây mẹ và các yếu tố tác động đến quá trình giâm hom như mùa vụ, nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm và loại giá thể sử dụng.
Thời vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm, với một số loài có thể giâm quanh năm, nhưng nhiều loài lại có thời vụ giâm rõ rệt Theo nghiên cứu của Frison (1967) và Nesterov (1967), mùa mưa có tỷ lệ ra rễ cao hơn so với các mùa khác Kết quả giâm hom phụ thuộc vào các yếu tố như diễn biến khí hậu, mùa sinh trưởng của cây và trạng thái sinh lý của cành.
Thời vụ giâm hom ảnh hưởng lớn đến kết quả nhân giống, với sự sinh trưởng mạnh mẽ vào mùa xuân và hè, trong khi chậm lại vào cuối thu và mùa đông Thời điểm giâm hom lý tưởng nhất là vào mùa xuân, hè và đầu thu Sự thành công hay thất bại của quá trình này phụ thuộc vào thời vụ giâm hom Đối với cây gỗ cứng và rụng lá, nên lấy cành khi cây bắt đầu vào thời kỳ ngủ nghỉ, trong khi cây gỗ mềm nửa cứng không rụng lá thì cần lấy hom vào mùa sinh trưởng để đạt hiệu quả cao nhất.
Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp, hô hấp và vận chuyển chất dinh dưỡng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và hình thành rễ của hom Đặc biệt, các loài cây nhiệt đới thường yêu cầu nhiệt độ cao hơn so với các loài cây ôn đới để phát triển khỏe mạnh.
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình quang hơp: Nhiệt độ tối thấp từ 5 –
Cây bắt đầu quá trình quang hợp ở nhiệt độ 7 độ C, nhưng nhiệt độ tối ưu để cây đạt hiệu quả quang hợp tốt nhất là từ 25 đến 30 độ C Nếu nhiệt độ cao được duy trì quá lâu, cây sẽ gặp nguy hiểm và có thể chết.
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình hô hấp: Nhiệt độ tối thấp từ 10 –
20 o C cây bắt đầu hô hấp, nhiệt độ tối ưu là 35 – 40 o C và nhiệt độ tối cao 45 -
50 o C cây sẽ bị phá hủy
Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất và vận chuyển chất trong cây Nhiệt độ thấp làm tăng độ nhớt của protein, cản trở dòng vận chuyển và giảm hô hấp của mô libe, dẫn đến thiếu năng lượng cần thiết cho quá trình này Ngược lại, nhiệt độ cao làm gia tăng quá trình thoát hơi nước ở lá, gây mất nước và héo cây Nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của cây là từ 25 đến 30 độ C.
Nhiệt độ là yếu tố quyết định tốc độ ra rễ của hom giâm; nếu nhiệt độ quá thấp, hom sẽ ở trạng thái tiềm ẩm và không ra rễ, trong khi nhiệt độ quá cao sẽ làm tăng hô hấp và gây hỏng hom, giảm tỷ lệ ra rễ Nhiệt độ không khí lý tưởng cho hom giâm là từ 28 – 33°C, trong khi nhiệt độ giá thể nên ở mức 25 – 30°C Nhiệt độ trên 35°C có thể làm tăng tỷ lệ héo của cành giâm, do đó, nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom nên cao hơn nhiệt độ giá thể từ 2 – 3°C.
Ánh sáng đóng vai trò thiết yếu trong quá trình sống của cây, đặc biệt là trong quang hợp và sự ra rễ của hom giâm Ánh sáng tán xạ kích thích quá trình quang hợp, tạo ra các chất đồng hóa cần thiết cho việc vận chuyển trong mạch libe Khi có ánh sáng, tốc độ vận chuyển các chất hữu cơ từ lá ra nhanh hơn so với trong bóng tối Tuy nhiên, trong trường hợp hom giâm không có lá, quá trình quang hợp không diễn ra, dẫn đến khó khăn trong việc ra rễ, ngoại trừ một số loại cây đặc biệt Hầu hết các loài cây không thể ra rễ trong điều kiện tối hoàn toàn Trong môi trường nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên mạnh và nhiệt độ cao có thể làm giảm khả năng ra rễ, do đó cần che bóng phù hợp cho từng loài cây với mức độ tán che khác nhau Ảnh hưởng của ánh sáng đến sự ra rễ của hom giâm thường là sự tổng hợp của ánh sáng, nhiệt độ và độ ẩm, chứ không phải chỉ từng yếu tố riêng lẻ.
Ngoài ra tùy từng loại cây mà mức độ yêu cầu ánh sáng là khác nhau Mức độ này còn phụ thuộc vào chất dinh dưỡng có trong hom
Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể đóng vai trò quan trọng trong quá trình giâm hom Nước là yếu tố cần thiết cho các hoạt động quang hợp, hô hấp, phân chia tế bào và chuyển hóa chất Thiếu nước sẽ khiến hom bị héo, trong khi thừa nước làm tăng hoạt động của men thủy phân, dẫn đến việc quang hợp bị ngừng trệ Mỗi loài cây đều cần một mức độ ẩm thích hợp để đảm bảo sự phát triển của hom.
Khi độ ẩm giảm xuống dưới 15 – 20%, cây sẽ mất khả năng ra rễ hoàn toàn Đối với nhiều loài cây, độ ẩm lý tưởng để giâm hom là từ 50 – 70% Nếu độ ẩm tăng thêm 10%, khả năng ra rễ của hầu hết các hom giâm sẽ giảm đáng kể.
Yêu cầu độ ẩm của hom giâm khác nhau tùy thuộc vào loài và mức độ hóa gỗ của hom Phun sương là cần thiết để tăng độ ẩm, giảm nhiệt độ không khí và hạn chế sự thoát hơi nước ở lá Thời gian phun sương cần điều chỉnh theo từng mùa, với thời gian ngắn hơn trong mùa nóng so với mùa lạnh Để duy trì độ ẩm phù hợp cho hom ra rễ, cần chọn vật liệu làm giá thể thông thoáng, thoát nước tốt nhưng vẫn giữ được độ ẩm cần thiết.
- Các chất kích thích sinh trưởng
Romixarop (1964) đã tìm hiểu ảnh hưởng của các chất kích thích ra rễ ở
Nghiên cứu về 130 loài cây cho thấy thuốc kích thích có thể làm tăng hiệu quả ra rễ từ 1,5 đến 3 lần ở 27 loài, trong khi 23 loài đạt kết quả trung bình, 72 loài không có hiệu quả, và 8 loài kém hơn cả đối chứng Điều này chỉ ra rằng thuốc kích thích không phải là giải pháp duy nhất để tăng tỉ lệ ra rễ của các loài cây rừng Để đạt hiệu quả tối ưu, cần xác định loại thuốc, nồng độ và thời gian xử lý phù hợp cho từng loài cây Ngoài ra, trạng thái hom (hom hoá gỗ yếu, hom nửa hoá gỗ hay hom đã hoá gỗ) cũng yêu cầu nồng độ và thời gian xử lý khác nhau, điều này cần được chú ý khi lập kế hoạch xử lý một số lượng lớn hom cành cho sản xuất.
- Giá thể hay môi trường giâm hom
Giá thể đóng vai trò quan trọng trong việc giâm hom, với các loại phổ biến như mùn cưa mục, xơ dừa băm nhỏ, đất tầng B và cát tinh Một giá thể giâm hom lý tưởng cần duy trì độ ẩm lâu dài, không bị ứ nước để hỗ trợ sự phát triển của rễ Ngoài ra, giá thể cũng phải sạch sẽ, không bị nhiễm nấm và không chứa sâu bệnh, với độ pH lý tưởng khoảng 6,0 - 7,0.
Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành, bao gồm ánh sáng, độ ẩm không khí và độ ẩm đất, có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm, đặc biệt là đối với hom lấy từ cây non.
- Tuổi cây mẹ lấy cành
Cơ sở khoa học của nhân giống vô tính
Nhân giống là giai đoạn cuối cùng trong chương trình cải thiện giống, nhằm cung cấp hạt hoặc hom cành cho việc trồng rừng quy mô lớn Bước này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện giống thông qua các phương thức sinh sản phù hợp.
Nhân giống bằng hom là phương pháp nhân giống sinh dưỡng, sử dụng một phần của cây như lá, thân, cành hoặc rễ để tạo ra cây mới, gọi là hom, mang đặc tính di truyền của cây mẹ Phương pháp này thuộc loại nhân giống vô tính, cho phép cây mới giữ được đặc điểm của cây bố mẹ, có khả năng ra hoa sớm Tuy nhiên, cây hom có thể gặp khó khăn trong việc phát triển bộ rễ, sức sống và tính thích ứng không mạnh, đồng thời không thể trồng hàng loạt như cây gieo hạt.
* Ưu điểm của giâm hom
Hệ số nhân cao cho phép từ một cây mẹ giống tốt có thể thu hoạch nhiều cành hom để tạo ra nhiều cây con, trong khi phương pháp chiết chỉ cho phép lấy một số lượng cành hạn chế từ mỗi cây.
Giâm hom giữ nguyên các đặc tính di truyền và phẩm chất ổn định từ cây mẹ, đảm bảo chất lượng cây con Phương pháp này còn giúp kiểm soát hiệu quả số lượng cây đực, góp phần nâng cao tính chống chịu của giống cây.
Cây giâm hom có năng suất và sản lượng cao hơn so với cây trồng bằng hạt, nhờ vào việc hoàn thành diện tích tán lá cần thiết để ra hoa sớm hơn.
* Nhược điểm của giâm hom
Cây mẹ có khả năng truyền virus sang cây con, dẫn đến tình trạng thoái hóa nhanh chóng ở cây giống, gây ra sự phát triển không đồng đều và giảm giá trị thương phẩm Hệ số nhân cây giống thấp, yêu cầu một số lượng lớn cây bố mẹ để đảm bảo chất lượng.
Giâm hom là phương pháp nhân giống đòi hỏi kỹ thuật phức tạp và có chi phí cao hơn so với nhân giống bằng hạt, với mức giá gấp 6 - 8 lần Phương pháp này cũng hạn chế độ tuổi của cây mẹ được sử dụng để lấy hom.
2.4.1 Cơ sở phát sinh phát triển cá thể
Mỗi loài sinh vật trong quá trình phát triển đều bị chi phối bởi bộ gen, trong khi bộ gen lại bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh Các gen trong bộ gen hoạt động theo những điều kiện nhất định và được điều chỉnh nhịp nhàng với môi trường, tạo nên sự phát triển đặc trưng cho từng loài cụ thể.
Quá trình sinh trưởng của cây bao gồm ba giai đoạn: non trẻ, chuyển tiếp và thành thục Ở giai đoạn non trẻ, khả năng ra chồi rễ cao hơn so với giai đoạn trưởng thành Vì vậy, việc xử lý trẻ hoá là biện pháp quan trọng trong nhân giống bằng hom, đặc biệt đối với những loài cây khó ra rễ.
2.4.2 Sự hình thành rễ bất định
Nhân giống bằng hom là phương pháp dựa vào khả năng tái sinh và hình thành rễ bất định từ một đoạn thân hoặc cành trong điều kiện thích hợp, nhằm tạo ra cơ thể mới.
Rễ bất định là loại rễ phát triển từ bất kỳ bộ phận nào của cây, không chỉ giới hạn ở hệ rễ chính Quá trình hình thành rễ bất định là yếu tố quan trọng trong kỹ thuật giâm và chiết cây.
Khả năng ra rễ của hom phụ thuộc vào nguồn gốc, với một số loại dễ ra rễ hơn loại khác Chồi đỉnh thường có khả năng ra rễ tốt hơn chồi nách, đặc biệt là cành chồi vượt so với cành từ tán cây Mỗi loài cây yêu cầu loại hom phù hợp, và việc chọn hom cần dựa vào tuổi và vị trí của cây (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [11].
Có 2 loại rễ: Rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh
Rễ tiềm ẩn là loại rễ phát triển từ thân hoặc cành cây, nhưng chỉ xuất hiện khi phần thân này được tách rời khỏi cây mẹ.
Rễ mới sinh là loại rễ phát triển sau khi thực hiện cắt và giâm hom Khi cắt, các tế bào bị tổn thương và tế bào dẫn truyền trong mô gỗ chết mở ra, kích thích quá trình trao đổi chất và vận chuyển chất dinh dưỡng trong thân cây Dòng nhựa từ lá bị dồn lại tại vị trí cắt, dẫn đến sự phân chia tế bào và hình thành mô sẹo, từ đó tạo ra rễ bất định.
Sự hình thành rễ bất định có thể được phân chia làm 3 giai đoạn:
- Các tế bào bị thương ở các vết cắt chết đi và hình thành lên một lớp tế bào bị thối trên bề mặt
- Các tế bào sống ngay dưới lớp bảo vệ bắt đầu phân chia và hình thành lớp mô mềm gọi là mô sẹo
- Các tế bào vùng thượng tầng hoặc lân cận và libe bắt đầu hình thành rễ.
Tình hình nghiên cứu cây Chè hoa vàng trên thế giới và Việt Nam
2.5.1.Tình hình nghiên cứu cây Chè hoa vàng trên thế giới
Chi Camellia được nghiên cứu từ đầu thế kỷ XVII, với tên gọi do nhà thực vật học Thụy Điển Carl Linnaeus đặt để tưởng nhớ cha ông, "Camellus Job" Loài đầu tiên được mô tả là Camellia japonica, sau đó là Camellia sinensis Mặc dù nghiên cứu về các loài thuộc chi Camellia còn hạn chế, nhưng từ cuối thế kỷ XX, các nhà thực vật học đã bắt đầu chú trọng hơn đến chi này, dẫn đến nhiều thay đổi trong lịch sử nghiên cứu.
17 nhưng đó đã đánh dấu một bước khởi đầu và là tiền đề cho các nghiên cứu về chi Camellia sau này (Trần Ninh và Hakoda Naotoshi, 2010) [12]
Từ những năm đầu của thế kỷ XX (1940-1931) nhà sưu tập thực vật học
G Forest (người Anh) đã đến Vân Nam – Trung Quốc và thu thập các loài
Camellia reticulata và Camellia saluenensis là hai loài cây được trồng tại Vườn Thực vật Hoàng gia Anh Nhà thực vật học Robert Sealy đã nghiên cứu sâu về chi Camellia trong cuốn "Revision of the genus Camellia" xuất bản năm 1958, trong đó ông mô tả 82 loài Ông phân loại 62 loài thành 12 nhánh dựa trên những đặc điểm cần thiết, trong khi 20 loài còn lại không được xếp vào nhánh nào do thiếu các đặc điểm cần thiết (Trần Ninh và Hakoda Naotoshi, 2010).
Các nhà thực vật học Trung Quốc đã phát hiện ra loài Camellia hoa vàng đầu tiên tại Quảng Tây vào năm 1964, đó lá loài Camellia chrysantha
Tuyama, kể từ đó đến nay việc nghiên cứu về chi Camellia ở Trung Quốc được đặc biệt chú ý (Trần Ninh và Hakoda Naotoshi, 2010) [12]
Theo Đạt Trường Hồng (1998), Trung Quốc đã phát hiện 16 loài Camellia hoa vàng và nhanh chóng nhận ra nhiều tác dụng của chúng Trung Quốc là nước tiên phong trong nghiên cứu và ứng dụng nguồn lợi từ chi Camellia, đặc biệt trong nghệ thuật làm cây cảnh Nghiên cứu về chi Camellia ở Trung Quốc đã diễn ra một cách hệ thống từ cuối thế kỷ 19, với những công trình đáng chú ý của Cheng Jin Shui và các cộng sự trong việc phân loại và lai tạo giống mới Chỉ sau 20 năm, họ đã tạo ra hơn 300 loài hoa khác nhau.
(1998) và Dat Truong Hong (1998) đã phân thành 4 chi phụ là:
Protocamellia, Camellia, Metcamellia và Thea là các chi phụ chính trong hệ thống phân loại thực vật Mỗi chi phụ này được chia thành nhiều nhóm loài và loại khác nhau Nghiên cứu của nhà thực vật học Trung Quốc Chang Hung Ta đã đóng góp đáng kể vào việc hiểu biết về các chi phụ này.
“Camellias” xuất bản năm 1981 ống cũng thống nhất chia chi Camellia thành
Chi Camellia có 4 chi phụ và 20 nhánh, tập trung chủ yếu ở một số tỉnh miền Nam Trung Quốc như Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, và kéo dài xuống miền Bắc Việt Nam Quan điểm này tương đồng với nhận định của một số nhà thực vật học Trung Quốc như Xiu Lijang và Quan Kaiyun trong cuốn sách "An introduction to the yellow Camellia".
Một nghiên cứu khác trên tạp chí nghiên cứu thực vật học Vân Nam của tác giả Chu Tương Hồng cho thấy ở Trung Quốc các loại cây trong chi
Camellia phân bố tự nhiên ở 16 tỉnh và sở hữu nhiều loài có giá trị thẩm mỹ cao Nghiên cứu về các loài trong chi Camellia đã bắt đầu tại Trung Quốc.
Từ những năm 1940, thông qua việc chọn giống và nhân giống, số lượng chủng loại đã tăng từ 20 lên 120 loài.
1950 ở Côn Minh – Trung Quốc đã đưa việc nghiên cứu các loại trong chi
Camellia đã trở thành trọng điểm trong nghiên cứu nguồn giống, nhằm xây dựng ngân hàng gen phục vụ cho các mục tiêu sản xuất nguyên liệu công nghiệp, đồ uống và cây cảnh (Chu Tương Hồng, 1993).
Trung Quốc là quốc gia tiên phong trong nghiên cứu và ứng dụng các loài cây thuộc chi Camellia, với sự quan tâm sâu sắc từ các nhà khoa học và chuyên gia Các loại chè hoa không chỉ được khai thác trong nghệ thuật cây cảnh mà còn được sử dụng làm thuốc và đồ uống, thể hiện bề dày truyền thống trong việc sử dụng các loài cây này.
2.5.2 Tình hình nghiên cứu cây Chè hoa vàng ở Việt Nam Ở Việt Nam trước đây đã có một số công trình nghiên cứu về loài trong họ Theaceae và trong chi Camellia, nhưng việc nghiên cứu mới chỉ tập trung vào một só loài cây lấy lá làm dược liệu, chế biến nước giải khát còn việc nghiên cứu chi Camellia với mục đích phân loại, thống kê, bảo tồn loài, bảo tồn đa dạng sinh học… còn ít, chưa sâu, chưa toàn diện Trong những năm gần đây chi Camellia đã thực sự được các nhà thực vật học Việt Nam quan tâm, chú ý
Người đầu tiên nghiên cứu chi Camellia tại Việt Nam là L Pieret, một nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp Sau khi khảo sát hệ thực vật ở Biên Hòa, Hà Tây và đầu nguồn sông Đồng Nai, vào năm 1887, ông đã giới thiệu một số loài chi Camellia trong cuốn “Flore forestiere de la cochinchine”, bao gồm các loài như Thea dormoyana, Thea drupifera và Thea caudata.
(Trần Ninh và Hakoda Naotoshi, 2010) [12]
Vào năm 1943, nhà thực vật học Gagnepain đã nghiên cứu và mô tả 30 loài thuộc chi Camellia, nhưng sau khi so sánh với tài liệu của Sealy và Chang, số loài được công nhận chỉ còn lại 28 do một số loài có tên đồng nghĩa Thêm vào đó, qua các cuộc khảo sát thực vật ở Việt Nam và Trung Quốc, một số loài mới đã được công bố.
Camellia aurea, Camellia vietnamensis, Camellia indochinensis… (Trần
Tháng 2 năm 1923, Alfred Petelot thầy thuốc người Pháp đã tiến hành thu thập một số loài thực vật của vùng núi Tam Đảo nay trở thành Vườn quốc gia Tam Đảo Dựa trên mẫu vật mang số hiệu 848 lưa giữ tại phòng tiêu bản thuộc trường đại học California (UC) nhà thực vật người Pháp Elmer Drew
Vào năm 1924, Merrill đã công bố một loài mới và đặt tên là Thea petelotii Theo luật danh pháp quốc tế, nhà thực vật học người Anh Robert Sealy đã đổi tên loài này.
Camelliapetelotii (Merr.) Sealy vào năm 1958 trong tác phẩm “ Revesion of the genus Camellia” Đây là loài Camellia đầu tiên ghi nhận có ở Vườn quốc gia Tam Đảo [23]
Từ năm 1990 đến 1998, nhiều cuộc khảo sát được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu thuộc Viện điều tra quy hoạch rừng, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Trường Đại học Lâm nghiệp Các bảng danh lục trong nghiên cứu đã ghi nhận một số loài thuộc chi Camellia mà các nhà thực vật người Pháp đã thu thập ở nhiều vùng khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam.
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu về các loài trong chi Camellia ở Việt Nam như sau:
Ngô Quang Đê (1996) đã nghiên cứu cho kết quả ở Vườn quốc gia Ba
TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
Đối tượng: Cây Chè hoa vàng lá to búp màu tím mọc tự nhiên tại xã Đông Viên huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn
Vật liệu gồm các loại chế phẩm kích thích sinh trưởng:
(1) ROOTS NEW - BT0150 dạng dung dịch đặc sánh: Do công ty
CP cây trồng Bình Chánh Thành phố Hồ Chí Minh sản xuất Thành phần: NAA: 800 ppm, N:6%, P2O5: 5,6%, K2O: 6%, Mo: 60 ppm và các loại axit hữu cơ, vitamin
(2) TRIMIX - DT 500G: Do công ty TNHH Điền Trang, Thành phố
Hồ Chí Minh sản xuất Thành phần: NAA: 1.000 ppm, GA3: 1.000 ppm , N: 6,5%, P2O5: 3%, K2O: 2%, Mg: 300 ppm, Mn: 200 ppm, Zn: 200 ppm, Fe: 200 ppm, Ca: 300 ppm, Cu: 200 ppm, Mo: 100 ppm, B: 200 ppm
(3) CLONEX dạng keo: Sản xuất tại Mỹ được phân phối bởi công ty công ty Growth Technology Ltd., Anh Quốc Thành phần: IBA: 0,31%, các chất khác: 99,69%.
Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 9/2018 đến tháng 3/2019
- Địa điểm nghiên cứu: Xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát tình hình nhân giống Chè hoa vàng tại xã Đông Viên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
- Nghiên cứu sử dụng các chế phẩm chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nhân giống bằng giâm hom cây Chè hoa vàng tại xã Đông Viên.
Phương pháp nghiên cứu
* Khảo sát về tình hình nhân giống cây Chè hoa vàng tại xã Đông viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bài viết trình bày kết quả thu thập thông tin từ phiếu khảo sát 30 hộ dân thực hiện khai thác và nhân giống Chè hoa vàng tại xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Nội dung khảo sát bao gồm các loại giống, thời vụ nhân giống, và một số phương pháp cũng như kỹ thuật nhân giống Ngoài ra, bài viết cũng đề cập đến những khó khăn trong quá trình nhân giống, như lựa chọn vật liệu cây, giá thể, và chất kích thích sinh trưởng được sử dụng.
Thí nghiệm nghiên cứu đã được thực hiện để thử nghiệm các chế phẩm kích thích sinh trưởng cho giâm hom cây Chè hoa vàng lá to búp màu tím tại xã Đông Viên.
(1) Công thức và phương pháp bố trí thí nghiệm:
- Thí nghiệm gồm 04 công thức (CT) tương ứng xử lý với 03 loại chế phẩm kích thích ra rễ và đối chứng không xử lý
CT Tên chế phẩm Nồng độ xử lý và cách xử lý
1 Không xử lý (Đ/C) Giữ nguyên hom và không sử dụng chế phẩm
Nhúng phần gốc hom có vết cắt vào dung dịch chế phẩm đã pha nồng độ 1,5 % trong thời gian
30 phút, sao cho thuốc bám vào gốc hom.
Nhúng phần gốc hom có vết cắt vào dung dịch chế phẩm đã pha nồng độ 0,5 % trong thời gian
30 phút, sao cho thuốc bám vào gốc hom.
4 XỬ LÝ CLONEX Chấm bề mặt vết cắt, phần gốc hom vào chế phẩm bám dính, vào mặt cắt
- Thí nghiệm bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 lần nhắc lại và
Bài viết mô tả 4 công thức thí nghiệm, mỗi công thức sử dụng 90 hom bánh tẻ có kích thước đồng nhất 0,5 cm đường kính và 25 cm chiều dài Mỗi ô thí nghiệm được cắm 30 hom vào bầu đất tầng B, và toàn bộ các ô thí nghiệm được bố trí trên cùng một luống rộng 1,2m, được chăm sóc trong cùng điều kiện.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
CT1 CT4 CT2 CT3 CT1 CT3
CT3 CT2 CT4 CT1 CT4 CT2
(2) Kỹ thuật cơ bản áp dụng trong thí nghiệm
Để chuẩn bị bầu giâm, bạn cần sử dụng bầu có kích thước 10 x 16 cm, với ruột bầu là đất rừng sạch tầng B Luống đất được xếp có kích thước rộng 1,2m và nên được đặt trong nhà lưới đen, che khoảng 40 - 50% ánh sáng Để giữ ẩm cho luống giâm, nên sử dụng khung chụp nilong trắng.
Để chuẩn bị cành hom cho cây Chè hoa vàng, cần chọn cành từ cây có lá to và chồi tím, đảm bảo cành bánh tẻ khỏe mạnh, không bị sâu bệnh, và không có hoa hoặc nụ Nên khai thác cành vào những ngày mát với nhiệt độ từ 20 - 30 độ C hoặc vào buổi chiều để giúp hom ổn định qua đêm Sau khi cắt, cành chè được cho vào túi nilông và phun nước để giữ ẩm trong quá trình chờ giâm.
Cắt hom và xử lý hom là bước quan trọng trong quá trình nhân giống Chiều dài hom nên đạt 25 cm và được cắt vát ở gốc Đối với những hom có lá, cần cắt bỏ 1/2 diện tích lá để giảm thiểu thoát hơi nước Sau khi cắt, hom nên được ngâm trong dung dịch Benlat 0,1% trong 15 phút để tiêu diệt nấm, sau đó để khô nước Cuối cùng, hom sẽ được xử lý bằng chế phẩm kích thích ra rễ để tăng cường khả năng phát triển.
Hom chè cần được cắm vào bầu đất đã được xử lý nấm bệnh trước đó 2 ngày Trước khi cắm, cần tưới ướt giá thể trong bầu bằng bình ô doa có lỗ nhỏ hoặc hệ thống tưới phun sương để đạt độ ẩm 75 – 80% Hom chè được cắm thẳng đứng vào vị trí giữa bầu, với lá xuôi theo chiều gió và cuống lá gần sát đất, đảm bảo phần gốc hom ngập trong đất từ 2,5 - 3 cm.
Sau khi cắm hom chè xanh, cần tưới đủ ẩm cho bầu và che phủ bằng khung nilong Hàng ngày, tưới phun sương từ 2 đến 3 lần để duy trì độ ẩm Các công đoạn chăm sóc khác như bón phân, làm cỏ và phòng trừ sâu bệnh cũng cần được thực hiện theo quy trình kỹ thuật nhân giống bằng giâm hom.
(3) Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Trên toàn bộ các hom của các ô thí nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu sau:
- Tỷ lệ sống (%) theo dõi định kì 30 ngày/lần sau ngày cắm hom cho đến khi 6 tháng
- Tỷ lệ bật chồi (%) theo dõi định kì 15 ngày/lần sau ngày cắm hom cho đến khi 3 tháng
Tỷ lệ hom bật chồi (%) = - × 100%
Tổng số hom giâm (90) Sau cắm hom 6 tháng, tiến hành theo dõi:
Khả năng sinh trưởng chồi được đánh giá trên các cây sống trong các ô lấy mẫu đại diện, với 5 cây mỗi ô Các chỉ tiêu được xác định bao gồm số lượng chồi trên mỗi hom, chiều dài chồi tính bằng centimet và số lá trên mỗi hom.
Khả năng ra rễ của cây được đánh giá bằng cách loại bỏ cẩn thận lớp đất mặt trong bầu mà không làm đứt rễ Quá trình này bao gồm việc quan sát toàn bộ cây còn sống và đếm số cây có rễ, từ đó tính tỷ lệ phần trăm (%) cây ra rễ.
Tỷ lệ hom ra rễ (%) = - × 100%
Sử dụng các cây mẫu xác định sinh trưởng chồi (5 cây/ô) xác định số lượng rễ và chiều dài (cm) rễ ở rễ dài nhất
- Tỷ lệ hom giâm đạt tiêu chuẩn xuất vườn được tính trong tổng số các hom giâm ban đầu
Tỷ lệ hom đạt TCXV (%) = - × 100%
Tổng số hom giâm là 90 Tiêu chuẩn để cây xuất vườn bao gồm: cây phải có mầm, tối thiểu từ 3 lá trở lên, trong đó ít nhất 2 lá phải cứng cáp, dày và xanh Gốc chồi cần có màu nâu và xuất hiện chùm rễ có màu vàng nâu, chiều dài từ 3 cm trở lên.
(4) Phương pháp xử lý số liệu
Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và SAS 9.0, sử dụng phân tích ANOVA để đánh giá nguồn biến động, cùng với một số chỉ tiêu được so sánh phân hạng thông qua T-test.