Nội dung điều tra, khảo sát tập trung vào các vấn đề sau:- Thực trạng dạy các môn chuyên ngành tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương - Hải Dương theo tiếp cận năng lực với một số vấn đề cụ
Trang 1THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DẠY HỌC CÁC MÔN CHUYÊN NGÀNH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DƯỢC TRUNG ƯƠNG - HẢI DƯƠNG THEO TIẾP CẬN
cơ sở trường Trung học chuyên nghiệp dược - Bộ Y tế theo quyết định thành lập số 964/QĐ - BYT ngày 3/11/1965 của
Bộ trưởng Bộ Y tế Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển nhà trường đã đào tạo nhiều thế hệ học sinh sinh viên dược cho cả nước cũng như một số nước bạn như Campuchia, Lào” [43]
Sứ mạng và mục tiêu phát triển nhà trường
Sứ mạng của nhà trường
Trang 2“Trường Cao đẳng Dược Trung ương - Hải Dương là
cơ sở đào tạo công lập, có sứ mạng tiên phong trong việc đào tạo đội ngũ Cán bộ Dược trình độ Cao đẳng và các bậc thấp hơn có uy tín, chất lượng cho ngành Y tế Việt Nam, tiến tới đào tạo cán bộ Dược trình độ đại học; là cơ sở nghiên cứu và triển khai các ứng dụng khoa học - công nghệ phục vụ quản lý, sản xuất, kinh doanh của ngành Dược và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội góp phần vào việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; có năng lực hội nhập khu vực và quốc tế” [43]
Mục tiêu phát triển
- Mục tiêu chung
“Xây dựng và phát triển trường Cao đẳng Dược Trung ương - Hải Dương trở thành cơ sở đào tạo nguồn nhân lực Dược có trình độ Cao đẳng theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực, tiến tới thành lập trường Đại học Dược ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực” [43]
- Mục tiêu cụ thể
“Đào tạo cán bộ Dược ở các bậc Cao đẳng, Trung học; tiến tới đào tạo cán bộ Dược ở trình độ Đại học.
Trang 3Phát triển quy mô đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực y tế, góp phần chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân.
Kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học góp phần xây dựng và phát triển ngành Dược theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
Xây dựng cơ cấu tổ chức đáp ứng quy mô đào tạo theo Quy chế Tổ chức và hoạt động của Trường đã được ban hành.
Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên Xây dựng, phát triển cơ sở vật chất, các phòng thực hành và labo thí nghiệm hiện đại.
Xây dựng nguồn lực tài chính phù hợp để đảm bảo tốt các hoạt động của Trường” [43]
Chuyên ngành và quy mô đào tạo
“Trường Cao đẳng Dược Trung ương - Hải Dương đào tạo chuyên ngành quản lý và cung ứng thuốc với các trình độ
sơ cấp, trung cấp và cao đẳng
Trang 4Quy mô đào tạo phù hợp với từng giai đoạn phát triển:
Giai đoạn 2011- 2015:
- Dược sỹ Cao đẳng hệ Chính Quy: 600 - 1000 / năm
- Dược sỹ Cao đẳng liên thông từ Trung cấp: 700-
1000 / năm
- Dược sỹ Trung cấp: 500- 1000 / năm
- Dược sỹ đại học: 70 -150 / năm
- Các loại hình đào tạo khác: 500-700/năm
Giai đoạn 2016- 2020:
- Dược sỹ đại học: 100 -150 / năm
- Dược sỹ Cao đẳng hệ Chính Quy: 1000 - 1500 / năm
- Dược sỹ Cao đẳng liên thông (từ Trung cấp): 800 -
1500 / năm
- Dược sỹ Trung cấp: 500 - 800 / năm
- Các loại hình đào tạo khác: 400 - 500 / năm” [43]
Hình thức đào tạo:
Trang 5“- Chính quy
- Liên thông
- Đào tạo nâng cao, đào tạo lại” [43]
Giới thiệu về tổ chức khảo sát
Mục đích khảo sát
Tìm hiểu ý kiến, quan điểm của một số cán bộ quản lý
và một số giảng viên Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương về hoạt động dạy học và hoạt động quản lý dạy học các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực Hiểu được nội dung quản lý hoạt động dạy học các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực Qua đó nhận biết được những
-ưu điểm, hạn chế, những điều kiện thuận lợi dẫn đến các thành công và những nguyên nhân hạn chế thông qua sự tự đánh giá của cán bộ quản lý, giảng viên.
Nội dung khảo sát
Nhằm đánh giá quan điểm, ý kiến của một số cán bộ quản lý và một số giảng viên đang công tác tại trường Tác giả đã tiến hành điều tra thông qua các phiếu hỏi dành cho một số cán bộ quản lý và giảng viên trong nhà trường.
Trang 6Nội dung điều tra, khảo sát tập trung vào các vấn đề sau:
- Thực trạng dạy các môn chuyên ngành tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương - Hải Dương theo tiếp cận năng
lực với một số vấn đề cụ thể như: Mục tiêu và nội dung dạy học các môn chuyên ngành của giảng viên tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương - Hải Dương theo tiếp cận năng lực; Thực trạng chuẩn bị lên lớp của giảng viên tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương - Hải Dương theo tiếp cận năng lực (soạn giáo án, chuẩn bị học liệu và phương tiện dạy học); Thực trạng phương pháp và tổ chức dạy học các môn chuyên ngành tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương
- Hải Dương theo tiếp cận năng lực; Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên học các môn chuyên ngành Trường Cao đẳng Dược Trung ương - Hải Dương theo tiếp cận năng lực.
- Thực trạng quản lý dạy học các môn chuyên ngành tại trường Cao đẳng Dược Trung ương - Hải Dương theo
tiếp cận năng lực như: Thực trạng xây dựng, phê duyệt và thực hiện kế hoạch dạy học theo tiếp cận năng lực; Thực trạng tổ chức và chỉ đạo chuẩn bị dạy học các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực; Thực trạng tổ chức và chỉ
Trang 7đạo thực hiện mục tiêu và nội dung chương trình dạy học các môn chuyên ngành tiếp cận năng lực; Thực trạng tổ chức và chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học lý thuyết các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực; Thực trạng tổ chức và chỉ đạo đổi mới hình thức tổ chức dạy học lý thuyết các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực; Thực trạng
tổ chức và chỉ đạo thực hành các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực; Thực trạng kiểm tra, giám sát và đánh giá hoạt động dạy học các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực.
Đối tượng, phạm vi và công cụ khảo sát, thang đánh giá
- Đối với nhóm khách thể bao gồm: Giảng viên, cán
Trang 8Cho điểm theo nguyên tắc 5 4 3 2 1 và đánh giá với chuẩn như sau:
Điểm trung bình ký hiệu là TB
lý và giảng viên về tính khả thi của những biện pháp đã đề xuất
- Phương pháp: Điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn trực tiếp, phân tích tài liệu kết hợp với phương pháp chuyên gia.
Trang 9- Dữ liệu thu được từ phiếu hỏi, phỏng vấn trực tiếp sẽ phân tích theo điểm số quy định, tính phần trăm và điểm trung bình theo mỗi mục cụ thể.
Thực trạng dạy học các môn chuyên ngành tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương - Hải Dương theo tiếp cận năng lực
Để đánh giá thực trạng hoạt động dạy học các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương - Hải Dương, tác giả tiến hành điều tra và tham khảo ý kiến đối với 17 cán bộ quản lý, 35 giảng viên giảng dạy các môn học chuyên ngành tại 04 bộ môn (Hoá dược, Quản lý dược, Bào chế, Dược liệu) với các yêu cầu tại các phiếu hỏi; kết quả cụ thể thu được như sau:
Thực trạng chuẩn bị lên lớp của giảng viên các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực
Thông qua kết quả khảo sát 100% giảng viên thực hiện
“Soạn giáo án, chuẩn bị giáo trình đầy đủ khi lên lớp”, tuy nhiên những tỷ lệ những giảng viên có mức độ chuẩn bị tốt
và khá chỉ chiếm 67,3%, 32,7% được đánh giá ở mức độ trung bình.
Trang 10Việc “Cập nhật kiến thức mới, mở rộng kiến thức trong bài giảng” còn rất nhiều hạn chế; có 40,4% giảng viên cập nhật và mở rộng kiến thức ở mức độ trung bình và yếu; khi trao đổi trực tiếp với những người được khảo sát đánh giá, những giảng viên ở trong nhóm này chủ yếu là các giảng viên trẻ và một số giảng viên lớn tuổi; nhiều giảng viên lớn tuổi thì ngại nghiên cứu mở rộng, nghiên cứu kiến thức mới; trong khi đó các giảng viên trẻ thì kinh nghiệm giảng dạy còn ít nên họ chỉ tập trung vào các nội dung cốt lõi có trong chương trình, chưa mở rộng và cập nhật các kiến thức mới.
Việc “Chuẩn bị đồ dùng, trang thiết bị dạy học phục
vụ giờ lên lớp” có nhiều hạn chế; có 76,9% giảng viên chuẩn bị trung bình và yếu, nhóm người này tập trung chủ yếu những giảng viên lớn tuổi ngại chuyển đổi các phương pháp dạy học mới, các hình thức tổ chức dạy học mới; những giảng viên này thường sử dụng các phương pháp giảng dạy truyền thống đã được tích luỹ nhiều năm, hơn nữa kỹ năng sử dụng, áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy của các giảng viên này còn nhiều hạn chế nên cũng ngại thay đổi các phương pháp mới.
Trang 11Tóm lại, thông qua kết quả bảng 2.1 cho thấy việc chuẩn bị trước khi lên lớp của giảng viên dạy học các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực còn nhiều hạn chế; việc chuẩn bị giáo án trước khi lên lớp là một khâu rất quan trọng trong giảng dạy, đặc biệt trong giảng dạy theo tiếp cận năng lực; người giảng viên cần nhận thức được điều này để thực hiện tốt các khâu trong giảng dạy;
có chuẩn bị tốt giáo án, giáo trình chính thức, giáo trình tham khảo khi đó các giảng viên sẽ có các định hướng phù hợp trong giảng dạy giúp các em sinh viên hình thành được năng lực cho mình Muốn vậy các giảng viên luôn luôn phải cập nhật kiến thức mới, mở rộng kiến thức
và chuẩn bị các thiết bị phục vụ giảng dạy phù hợp, đăng
ký sử dụng thiết bị với nhà trường để có điều kiện vật chất phù hợp nhằm thực hiện tốt các phương pháp dạy học, các hình thức tổ chức dạy học tích cực; vì thông thường các phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học tích cực bao giờ cũng gắn liền với sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học.
Thực trạng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực
Trang 12Kết quả khảo sát thực trạng phương pháp và hình thức tổ chức dạy
học các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực
2
40,4
3
40,4
8
44,2
2
23,1
6 Luyện tập và thực hành
3,029,6 13,
5
55,8
6 7,7 0,0
3 Dạy cá nhân
1,310,0 0,0 9,6 11,
5
78,9
4 Dạy trong môi trường thực tế
1,190,0 0,0 0,0 19,
280,8
Trang 135 Dạy theo chuyên đề
3,217,7 11,
1
11,5
11,5
Qua bảng cho thấy, việc sử dụng các phương pháp dạy học và cáchình thức tổ chức dạy học các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực cònnhiều hạn chế; phương pháp dạy học thuyết trình có số lượng giảng viênluôn luôn sử dụng, thường xuyên sử dụng lên tới 61,5%; 38,5% số lượnggiảng viên ít sử dụng; phương pháp thuyết trình không phù hợp trong đào tạotheo tiếp cận năng lực, hạn chế phát huy được khả năng, năng lực của ngườihọc do đó cần hạn chế và tránh sử dụng phương pháp này Phương phápđược nhiều giảng viên sử dụng ở mức độ cao như luôn luôn hay thườngxuyên là phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề có điểm trung bình
là 4,25 ở mức 1 trong thang điểm 5 mức; số lượng giảng viên luôn luôn vàthường xuyên sử dụng lên tới 82,7% Phương pháp có số lượng giảng viênthường xuyên hay luôn luôn sử dụng đứng thứ 2 là phương pháp giảng dạytrực quan, có điểm trung bình là 4,00 (mức 2) Đối với phương pháp hoạtđộng nhóm, phương pháp luyện tập và thực hành số lượng giảng viênthường xuyên sử dụng rất ít, mặc dù đây là phương pháp rất phù hợp tronggiảng dạy tích hợp nên thường xuyên được áp dụng, tuy nhiên khi được hỏicác giảng viên đều nhắc đến những nguyên nhân khách quan tác động đếnviệc áp dụng các phương pháp dạy học này như số lượng sinh viên trên mộtlớp học, điều kiện cơ sở vật chất của phòng học… chưa đáp ứng được.Phương pháp dạy học vấn đáp ít được các giảng viên sử dụng, số lượng
Trang 14thường sử dụng phương pháp này 19,2%, điểm đánh giá trung bình là 1,85chỉ đạt ở mức 4 trong thang điểm gồm 5 mức.
Kết quả khảo sát về hình thức tổ chức dạy học thể hiện qua bảngcho thấy, số lượng giảng viên sử dụng hình thức dạy học cả lớp ở mức độrất cao có điểm trung bình đánh giá là 4,85 (mức 1) chiếm tỷ lệ 98,1%;hình thức dạy học cá nhân có 9,6% giảng viên thường xuyên sử dụng; cáchình thức dạy học theo nhóm, dạy học theo chuyên đề, dạy học theo dự
án, dạy học trong môi trường thực tế đều có số lượng giảng viên thườngxuyên sử dụng ít, phần lớn các giảng viên đều không sử dụng hoặc rất ít
sử dụng Khi được hỏi hầu hết giảng viên đều cho rằng, các hình thức tổchức dạy học: dạy theo nhóm, dạy cá nhân, dạy theo chuyên đề, dạy theo
dự án và dạy trong môi trường thực tế là phù hợp trong đào tạo theo tiếpcận năng lực Tuy nhiên rất khó triển khai thực hiện trên lớp bởi các vấn
đề khách quan và chủ quan, đối với những vấn đề khách quan các giảngviên cho rằng, số lượng sinh viên trên lớp đông, không gian lớp học cònhạn chế, nội dung kiến thức nhiều, kiểm tra, thi vẫn mạng nặng về nộidung do đó áp dụng các hình thức này chưa phù hợp Nhiều giảng viênchia sẻ cụ thể hơn đã nêu ra những ví dụ minh hoạ như: nếu chia ra thảoluận nhóm sau đó cho học sinh trình bày thì sẽ mất nhiều thời gian vàgiảng viên không thể truyền đạt hết các nội dung trong một buổi học, cũngnhư trong từng tiết học; số lượng sinh viên lớn không thể áp dụng hìnhthức dạy học theo cá nhân vì không có đủ không gian và thời gian để quantâm đến các cá nhân đó một cách hiệu quả; các giảng viên chỉ áp dụnghình thức dạy học theo nhóm, dạy học theo cá nhân trong những trườnghợp giảng dạy đối với một số sinh viên cá biệt là các sinh viên giỏi hoặcnhững sinh viên yếu kém; hình thức dạy học trong môi trường thực tếcũng không thể triển khai với số lượng sinh viên đông vì giảng viên khôngthể bao quát hết, hơn nữa điều kiện về không gian giảng dạy cũng gần nhưkhông có, một số giảng viên áp dụng cũng chỉ thực hiện trong một vài tìnhhuống đặc biệt có số lượng sinh viên ít và học về một số chuyên đề cụ
Trang 15thể Về nguyên nhân chủ quan cũng nhiều giảng viên thẳng thắn thừanhận, trong một số tình huống cụ thể giảng viên cũng muốn áp dụng cácphương pháp giảng dạy tích cực, tuy nhiên bản thân cũng chưa hiểu rõcách triển khai các phương pháp đó sao cho có hiệu quả cao nên cũngkhông mạnh dạn áp dụng Các giảng viên cũng gửi kèm những đề nghị làmuốn áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực nhà trường cần tạođiều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, số lượng sinh viên trên các lớp phảiphù hợp, xây dựng nội dung kiến thức trên mỗi tiết học phải phù hợp, thayđổi hình thức thi hết môn đồng thời nhờ các chuyên gia trong lĩnh vựcgiảng dạy theo tiếp cận năng lực về tập huấn các phương pháp cũng nhưhình thức tổ chức dạy học để các giảng viên có điều kiện hiểu rõ về cácphương pháp, các hình thức tổ chức dạy học tích cực để áp dụng vào thực
tế giảng dạy của mình
Tóm lại, các phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực có số lượng giảng viên thường xuyên sử dụng rất hạn chế, phần lớn các giảng viên đều không
sử dụng hoặc ít sử dụng với hai lý do chủ yếu: thứ nhất là cơ sở vật chất chưa đáp ứng được, số lượng sinh viên còn nhiều, nội dung giảng dạy còn nhiều, hình thức tổ chức thi hết môn chưa phù hợp với các phương pháp dạy học đó; thứ hai là trình độ hiểu biết của các giảng viên đối với các hình thức tổ chức và phương pháp dạy học theo tiếp cận năng lực còn nhiều hạn chế.
Thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các môn chuyên ngành của sinh viên theo tiếp cận năng lực
Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các môn chuyên ngành của sinh viên theo tiếp cận năng lực
Trang 165,
8 7,73
Đánh giá khi sinh viên có ý
tưởng sáng tạo để giải quyết
vấn đề
3,13
9,6 28,
8
42,4
3,8
15,44
1
28,8
7
84,6
6 Đánh giá kết quả các bài tập
lớn
3,83
19,3
Trang 17cho sinh viên đánh giá chéo ở mức độ thường xuyên, chỉ có 7,7% giảngviên đôi khi sử dụng phương pháp tổ chức cho sinh viên đánh giá chéo còn92,3% giảng viên là không sử dụng phương pháp này Khi được hỏi về cáchình thức giảng viên thường lựa chọn để đánh giá sinh viên và những hìnhthức giảng viên ít lựa chọn các giảng viên có lý giải như sau: số lượng sinhviên lớn, nội dung giảng dạy còn nhiều, thời lượng cho kiểm tra đánh giácòn ít do đó chỉ áp dụng hình thức đánh giá kiểm tra viết là phù hợp nhất;trong quá trình giảng dạy cũng có điều kiện để kiểm tra ý thức, thái độ họctập của sinh viên nên cũng có thể đánh giá thông qua hình thức này; sốlượng kiến thức giảng dạy nhiều nên nhiều giảng viên áp dụng phươngpháp giao bài tập lớn và đánh giá kết quả bài tập lớn Khi giao bài tập lớngiúp sinh viên phát huy khả năng tự nghiên cứu, tự thực hiện bài tập vàphát huy tính tự giác Phương pháp đánh giá ý tưởng sáng tạo của sinh viêncũng được nhiều giảng viên sử dụng nhằm khuyến khích, kích thích khảnăng học tập sáng tạo của sinh viên; hình thức kiểm tra vấn đáp và tổ chứccho sinh viên đánh giá chéo khó áp dụng vì số lượng sinh viên đông, hơnnữa các sinh viên cũng chưa bao quát được vấn đề cần đánh giá mà thườngchỉ đánh giá ở mức độ đúng, sai, trình bày tốt hay chưa tốt mà không thểnhận xét hay đưa ra phản hồi chính xác về nguyên nhân, hạn chế của cácbạn khác nên cũng không thể sử dụng kết quả đó làm kết quả đánh giáchính thức; cũng có một số giảng viên tổ chức cho sinh viên đánh giá chéo,nhưng kết quả chỉ để tham khảo và để kiểm tra ý thức, kiến thức, cách đánhgiá của các sinh viên với nhau.
Tóm lại, các giảng viên đã sử dụng nhiều phương pháp kiểm tra, đánh giá để đánh giá sinh viên, tuy nhiên phương pháp các giảng viên thường xuyên sử dụng là kiểm tra viết; phương pháp này là phương pháp không được sử nhiều trong đánh giá sinh viên khi đào tạo theo tiếp cận năng lực, do đó các giảng viên phải sử dụng các phương pháp đánh giá tích cực để đánh giá được sự hình thành năng lực sinh viên.
Trang 18Thực trạng thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình dạy học các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực
Kết quả khảo sát thực trạng thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình dạy học các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực
Giảng viên thực hiện theo
đúng mục tiêu, nội dung
chương trình được quy định
Giảng viên lập kế hoạch dạy
học theo đúng mục tiêu, nội
dung chương trình
3,603,8 52,
0
44,
2 0,0
0,03
Linh hoạt điều chỉnh nội
dung cho phù hợp với đối
tượng đào tạo
3,73
13,5
55,7
21,
2 9,6
0,04
Thiết kế nội dung dạy học có
tính phân hoá đối tượng sinh
viên
2,581,9 5,8 40,
4
51,9
0,0
5 Thiết kế nội dung dạy học
tích hợp, liên môn
2,561,9 3,8 42,
3
52,0
0,0
Qua kết quả khảo sát thực hiện mục tiêu và nội dung chương trìnhthì các giảng viên giảng dạy các môn học chuyên ngành cho rằng: mụctiêu, nội dung chương trình giảng dạy của nhà trường hiện nay được biênsoạn và chỉnh sửa thường xuyên nên rất phù hợp, do đó các giảng viênluôn luôn, thường xuyên thực hiện tốt các mục tiêu, nội dung chươngtrình theo quy định; theo chuẩn đánh giá các mức độ thực hiện từ mức 1đến mức 5 thì việc giảng viên thực hiện theo đúng mục tiêu, nội dung
Trang 19chương trình theo quy định được đánh giá ở mức 1 với điểm trung bình
là 4,96; các giảng viên đánh giá nội dung chương trình giảng dạy đượcđiều chỉnh rất phù hợp, có kiến thức cập nhật, hiện đại, đảm bảo tínhchính xác, tính khoa học, tính thực tiễn phù hợp với sinh viên
Kết quả khảo sát cho thấy việc “Giảng viên lập kế hoạch dạy họctheo đúng mục tiêu, nội dung chương trình” được đánh giá ở mức 2 vớiđiểm trung bình là 3,60; trong đó có 29 người trên tổng số 52 ngườithường xuyên và luôn luôn thực hiện chiếm tới 55,8%; thông qua đócũng cho thấy phần lớn các nhiều giảng viên luôn có ý thức và chủ độngtrong việc xây dựng kế hoạch giảng dạy của cá nhân
Một số giảng viên cũng chủ động linh hoạt trong việc điều chỉnhcác nội dung giảng dạy cho phù hợp với đối tượng đào tạo như việc giảmtải các nội dung mà sinh viên đã nắm chắc, điều này giúp cho sinh viên
đỡ nhàm chán và giảm tải cho sinh viên; tỷ lệ giảng viên thực hiệnthường xuyên, rất thường xuyên việc này còn ít (69,2%), 30,8% số lượnggiảng viên ít hoặc rất ít thực hiện linh hoạt điều chỉnh nội dung nhưkhông thực hiện giảm tải các nội dung sinh viên đã nắm rõ, điều nàycũng khiến một số em sinh viên có cảm giác nhàm chán trong một số tiếthọc Thông qua phỏng vấn trực tiếp đối với việc linh hoạt điều chỉnh nộidung còn cho thấy một thực tế là nhiều giảng viên thường xuyên thựchiện giảng dạy tăng cường vào những nội dung trọng tâm liên quan đếnbài thi; trong khi số lượng giảng viên giảng dạy tăng cường vào các nộidung sinh viên chưa hiểu rõ còn chưa nhiều điều này cũng cho thấynhiều giảng viên còn giảng dạy tập trung vào những nội dung thi hếtmôn Thông qua kết quả phỏng vấn còn cho thấy việc việc linh hoạtgiảm tại các nội dung lý thuyết, tăng nội dung thực hành, luyện tập đượcphần lớn các giảng viên thực hiện thường xuyên; điều này rất phù hợp
Trang 20với đào tạo theo tiếp cận năng lực và đạt hiệu quả cao trong hình thànhnăng lực cho sinh viên.
Kết quả phiếu khảo sát cho thấy việc thiết kế các nội dung dạy họctích hợp liên môn và thiết kế các nội dung dạy học phân hoá sinh viên cácgiảng viên đều thực hiện, tuy nhiên số lượng các giảng viên thực hiện ởmức độ thường xuyên trở lên rất ít (5,77% và 7,79%) phần lớn các giảngviên ít thực hiện
Tóm lại, qua kết quả khảo sát cho thấy việc thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình theo tiếp cận năng lực còn nhiều hạn chế; phần lớn các giảng viên chưa chủ động giảng dạy giảm tải các nội dung sinh viên đã nắm rõ, dẫn tới nhiều sinh viên không tập trung và thiếu hứng thú trong tiết học; nhiều giảng viên còn mang nặng suy nghĩ học để thi nên khi giảng dạy thường xuyên tập trung tăng cường các nội dung thi; trong khi đó một số giảng viên lại không tập trung tăng cường vào các nội dung quan trọng mà sinh viên chưa hiểu; điều này thể hiện rất nhiều giảng viên chưa chú trọng đến làm sao để hình thành năng lực đối với sinh viên mà vẫn tập trung vào kết quả điểm thi của sinh viên Thực hiện thiết kế các nội dung dạy học tích hợp các môn học, thiết kế các nội dung dạy học phân hoá sinh viên cũng chưa được các giảng viên chú trọng, như vậy chưa chú trọng được vào việc làm sao để hình thành năng lực cho sinh viên
Thực trạng quản lý hoạt động dạy học các môn chuyên ngànhtheo tiếp cận năng lực
Để đánh giá thực trạng hoạt động quản lý dạy học các môn chuyênngành theo tiếp cận năng lực tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương -Hải Dương, tác giả tiến hành điều tra và tham khảo ý kiến đối với 17 cán
bộ quản lý, 35 giảng viên giảng dạy các môn học chuyên ngành tại 04 bộ
Trang 21môn (Hoá dược, Quản lý dược, Bào chế, Dược liệu) với các yêu cầu tạicác phiếu hỏi; kết quả của phiếu hỏi tại các bảng hỏi sẽ được phân tíchđánh giá nhằm đề suất các biện pháp quản lý tốt hơn, khắc phục cácnhược điểm, tăng cường phát huy các ưu điểm nhằm hoàn thiện công tácquản lý dạy học các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực tại TrườngCao đẳng Dược Trung ương - Hải Dương.
Thực trạng xây dựng và phê duyệt kế hoạch dạy học
Nhằm đánh giá thực trạng hoạt động xây dựng và phê duyệt kếhoạch dạy học trong đó có kế hoạch dạy học của các môn chuyên ngànhtại Trường Cao đẳng Dược Trung ương - Hải Dương, tác giả tiến hànhkhảo sát một số cán bộ quản lý, giảng viên giảng dạy các môn chuyênngành với kết quả cụ thể như sau:
Kết quả khảo sát thực trạng xây dựng và phê duyệt kế hoạch dạy học
Phòng Đào tạo dự thảo về kế
hoạch dạy học của bộ môn,
giảng viên chuyên ngành
3,440.0 57.
Xin ý kiến các bộ môn
chuyên ngành để hoàn thiện
5
55,7
21,
2 9,6
0,0
Trang 22Như vậy, thông qua đánh giá của một số cán bộ quản lý và giảng viên nhà trường về việc xây dựng và phê duyệt kế hoạch dạy học có kết quả tương đối tốt; không khâu nào trong phần này bị đánh giá yếu kém, tuy nhiên cũng chưa được tốt; như vậy cũng cần rà soát, kiểm tra, khắc phục hạn chế và phát huy những điểm mạnh để thực hiện công tác này một cách tốt nhất.
Thực trạng tổ chức và chỉ đạo chuẩn bị dạy học của giảng viên các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực
Việc chuẩn bị dạy học của giảng viên trước khi giảng dạy là mộtcông việc rất quan trọng trong các khâu của quá trình dạy học; để thựchiện một tiết giảng thành công người giảng viên cần phải có sự chuẩn
bị đầy đủ và chi tiết; thông qua quá trình chuẩn bị người giảng viênxác định các năng lực cần hình thành cho sinh viên trong mỗi tiết học,
từ đó tìm kiếm các phương pháp dạy học, các hình thức tổ chức dạyhọc phù hợp, chuẩn bị các phương tiện dạy học phù hợp nhấ giúp sinhviên hình thành và phát triển các năng lực cần đạt được Tiến hànhkhảo sát thực trạng tổ chức và chỉ đạo chuẩn bị giờ lên lớp của giảngviên dạy học của các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực tạiTrường Cao đẳng Dược Trung ương - Hải Dương thu được kết quảnhư sau:
Kết quả khảo sát thực trạng tổ chức và chỉ đạo chuẩn bị dạy học của giảng viên các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực