Trong giáo trình “Những vấn đề cơ bản của khoa họcquản lý giáo dục” của tác giả Trần Kiểm đã nêu: “Hoạtđộng quản lý nhà trường bao gồm nhiều loại, như quản lýcác hoạt động giáo dục: hoạt
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC CÁC MÔN CHUYÊN NGÀNH THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC TẠI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG
Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Giáo dục có vai trò hết sức to lớn đến đời sống, kinh tế
xã hội “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” của các quốc gia
trên thế giới, liên quan đến lợi ích, quyền lợi và nghĩa vụcủa nhân dân, đồng thời có tác động rất nhiều đến sự pháttriển của các tổ chức và đất nước Vì vậy, quản lý và pháttriển giáo dục được các nước trên thế giới luôn đặt lên hàngđầu, luôn luôn có sự quan tâm và đầu tư mọi mặt
Nói đến công tác quản lý dạy học rất nhiều các nhàkhoa học, nhà triết học, nhà giáo dục ở khắp nơi trên thếgiới, phương Đông và phương Tây như: Xôcrat, Khổng tử,J.A Cômenxki đã có những công trình nghiên cứu và đưa
ra quan điểm khác nhau về dạy học và quản lý dạy học như:
“Để nâng cao hiệu quả dạy học cần có phương pháp giúpthế hệ trẻ từng bước tự khẳng định, tự phát hiện tri thức mới
mẻ, phù hợp với chân lý”; “Đất nước phồn vinh, yên bìnhthì người lãnh đạo đất nước cần chú trọng tới 3 yếu tố: làm
Trang 2cho dân đông lên, làm cho dân giàu, dân được giáodục” Nhà giáo dục vĩ đại của thế giới cũng là nhà giáo dục
vĩ đại của dân tộc Serbia đã đưa ra các nguyên tắc dạy họcnhư: “nguyên tắc trực quan, nguyên tắc nhất quán, nguyêntắc đảm bảo tính khoa học và tính hệ thống; đồng thời đãkhẳng định hiệu quả dạy học có liên quan đến chất lượngngười dạy thông qua việc vận dụng có hiệu quả các nguyêntắc dạy học” Hai nhà nghiên cứu quản lý giáo dục Xô ViếtV.A Xukhomlinxki và Xvecxlerơ cho rằng “kết quả hoạtđộng của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổchức đúng đắn và hợp lý các hoạt động dạy học”
UNESCO đã đưa ra khuyến cáo coi nền giáo dục ở thế
kỷ XXI là nền giáo dục của xã hội học tập và học tập suốtđời, tiến tới xây dựng nền giáo dục hiện đại theo hướng bìnhđẳng đáp ứng nhu cầu giáo dục trong tình hình mới
Trong những thập niên gần đây cũng có rất nhiều côngtrình của các nhà khoa học nghiên cứu về lý luận giáo dục vàquản lý giáo dục; các công trình, các tác phẩm, các bài viếtcủa các tác giả như: Đặng Bá Lâm, Đặng Quốc Bảo, BùiMinh Hiền, Trần Kiểm, Bùi Minh Quân đó là những côngtrình nghiên cứu khác nhau làm sáng tỏ các vấn đề như quản
lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường và các hoạt động
Trang 3liên quan đến quản lý giáo dục, quản lý dạy học Kết quảcác công trình nghiên cứu về khoa học giáo dục của các tácgiả trên là các tri thức quý báu là chỗ dựa về cơ sở cho quản
lý giáo dục của nước ta, đồng thời là cơ sở phát triển mạnh
mẽ nền khoa học quản lý giáo dục, một lĩnh vực còn mới ởnước ta so với nhiều nước trên thế giới
Trong giáo trình “Những vấn đề cơ bản của khoa họcquản lý giáo dục” của tác giả Trần Kiểm đã nêu: “Hoạtđộng quản lý nhà trường bao gồm nhiều loại, như quản lýcác hoạt động giáo dục: hoạt động dạy học, hoạt động giáodục, hoạt động xã hội, hoạt động văn thể, hoạt động laođộng, hoạt động ngoại khoá… Quản lý các đối tượng khácnhau: quản lý giảng viên, quản lý sinh viên sinh viên, quản
lý cơ sở vật chất…”[13]
Về quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạyhọc của giáo viên, giảng viên… cũng có nhiều tác giả như:Nguyễn Ngọc Hợi, Thái Văn Thành, Phạm Minh Hùng…
đã chỉ ra những nguyên tắc chung để nâng cao chất lượnggiảng dạy như: “Xác định đầy đủ nội dung hoạt độngchuyên môn; tổ chức đánh giá và xây dựng hoàn thiện quychế đánh giá, đánh giá và xếp loại chuyên môn của giáoviên, giảng viên”
Trang 4Đặc biệt trong những năm gần đây khi các chươngtrình đào tạo thạc sĩ quản lý giáo dục được đào tạo ở nhiềutrường trong cả nước; đã có rất nhiều nghiên cứu về quản lýcác lĩnh vực trong khoa học quản lý giáo dục như:
Tác giả Phạm Minh Tùng với “Quản lý đào tạo theo tiếp cận năng lực ở Trường Trung cấp nghề số 11 Bộ Quốc Phòng” Luận văn Thạc sĩ, Đại học sư phạm Hà Nội 2, năm
2015 [31]
Tác giả Bùi Thu Trang với “Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực ở trường trung học cơ
sở Nam Trung Yên, quận Cầu Giấy, Hà Nội” Luận văn Thạc
sĩ, Trường Đại học Giáo dục, năm 2016 [6]
Tác giả Vũ Thị Lan với “Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông tư thục Đào Duy Từ thành phố Hà Nội” Luận văn Thạc sĩ, Học
viện Quản lý giáo dục, năm 2017 [45]
Tác giả Đào Kim Thoa với “Quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo định hướng phát triển năng lực vận dụng toán học cho học sinh tại các trường trung học cơ sở huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc” Luận văn Thạc sĩ,
Trường Đại học Giáo dục, năm 2018 [11]
Trang 5Tác giả Phạm Minh Đức với bài viết “Dạy học và kiểm tra, đánh giá các môn lí luận chính trị theo hướng tiếp cận năng lực nghề nghiệp ở trường đại học” đăng trên Tạp
chí Giáo dục, số 440 kì 2 tháng 10 - 2018.[29] …
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn
đề cơ bản liên quan đến quản lý hoạt động dạy học của cácđơn vị, khu vực cụ thể khác nhau và đưa ra những biện phápnhằm nâng cao khả năng quản lý hoạt động dạy học của nhàtrường Các công trình đã nghiên cứu về thực trạng nhữngbiện pháp quản lý hoạt động dạy học của người quản lý nhàtrường đối với các đối tượng quản lý bằng các biện pháp khácnhau; từ đó đề xuất một số biện pháp cần thiết, khả thi nhằmnâng cao chất lượng trong quản lý dạy học Mặc dù có nhữngnghiên cứu mang tính khái quát, có những nghiên cứu mangtính cụ thể đến một lĩnh vực trong quản lý giáo dục; nhưng đócũng chỉ là những công trình có giá trị phù hợp với công việccủa các tác giả trong việc thực hiện chức trách người quản lýcủa đơn vị mình; Người quản lý các đơn vị khác có thể dùng
để tham khảo để vận dụng một phần trong công tác quản lýcủa mình Qua quá trình học tập và nghiên cứu các tài liệu, cácnghiên cứu của nhiều tác giả thấy rằng chưa thể bao quát hếtđược các đặc thù riêng của khu vực, vùng miền, cũng như lĩnh
Trang 6vực cụ thể khác nhau mà chỉ tập trung vào một khía cạnh quản
lý nhất định
Qua tìm hiểu về các vấn đề liên quan đến quản lý giáodục trong đó có quản lý dạy học, tác giả nhận thấy việcnâng cao chất lượng trong giảng dạy luôn được rất nhiềunhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Đất nướcmuốn phát triển thì giáo dục và quản lý trong giáo dục càngđặc biệt quan tâm Các nghiên cứu về những vấn đề khácnhau trong khoa học giáo dục, các ý kiến của mỗi nhànghiên cứu mặc dù có những điểm khác nhau nhưng quan
điểm chung là: “Khẳng định vai trò rất quan trọng của các khâu trong công tác quản lý dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường học”.
Tóm lại, qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu cho thấy
có rất nhiều tác giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam đãnghiên cứu và đưa ra nhiều biện pháp quản lý hoạt độngdạy học trong nhà trường Có nhiều luận văn thạc sĩ quantâm tới đề tài nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lýđối với hoạt động dạy học trong nhà trường với nhiều cáchtiếp cận về nhiều vấn đề quản lý khác nhau, với phạm vinghiên cứu rộng hẹp khác nhau và ở các địa phương khác.Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có đề tài nào đi sâu nghiên
Trang 7cứu về quản lý dạy các môn chuyên ngành tại trường Caođẳng Dược Trung ương - Hải Dương theo tiếp cận năng lực.
Do đó, nếu nghiên cứu vấn đề này sẽ là một đề tài nghiêncứu mới về lý luận và thực tiễn Vì vậy, tác giả tìm hiểunghiên cứu đề tài nhằm đưa ra các biện pháp quản lý hiệu
quả đối với quản lý dạy các môn chuyên ngành tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương - Hải Dương theo tiếp cận năng lực.
Một số khái niệm
Quản lý
Hoạt động quản lý hình thành và phát triển cùng với
sự phát triển của xã hội loài người, vì vậy cũng có rất nhiềuquan điểm khác nhau về khái niệm quản lý, có thể kể đếnmột số khái niệm về quản lý của các tác giả nước ngoàicũng như tác giả trong nước như sau:
Theo tác giả Frederich Wiliam Taylor (1856-1915)người đặt nền móng của thuyết “quản lý theo khoa học”,
tiếp cận dưới góc độ kinh tế, kỹ thuật cho rằng: “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc của mình một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Trang 8Theo Các Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của
nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trường” [19, tr.29]
Theo tác giả Harold Knoontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ chức) Mục đích của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn của
cá nhân ít nhất” [17]
Các tác giả trong nước cũng có nhiều công trìnhnghiên cứu về khái niệm quản lý, khoa học quản lý với cácgóc độ khác nhau:
Theo các tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho
rằng “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có
Trang 9mục tiêu, quản lý hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [15]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý
là quá trình gây tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [23]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là quá trình gây tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [9]
Theo tác giả Phan Văn Kha cho rằng: “Quản lý là một tập hợp các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các quá trình tự nhiên, xã hội, khoa học, kỹ thuật
và công nghệ để chúng phát triển hợp quy luật, các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng) vật chất và tinh thần, hệ thống
tổ chức và các thành viên thuộc hệ thống để đạt được các mục đích đã định”.[33, tr.10]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: “Quản lý là
sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình
Trang 10xã hội và hành vi cá nhân hướng đến mục đích hoạt động
và phù hợp với quy luật khách quan” [32, tr.40]
Một cách khái quát khác, các tác giả ở Đại học Quốcgia Hà Nội là Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc đưa
ra quan niệm: “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức” [25]
Từ những quan điểm khác nhau về quản lý có nêu kháiniệm quản lý một cách khái quát như sau:
“Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt tới các mục tiêu đề ra”.
Các khái niệm có khác nhau về cách diễn đạt, nhưngđều chung ở một số đặc điểm cơ bản đó là:
Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tácđộng đến khách thể quản lý
Khách thể quản lý là đối tượng bị quản lý trực tiếp,tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý
Trang 11Phải có mục tiêu, có hướng đặt ra cho đối tượng quản
lý và chủ thể quản lý; mục tiêu là căn cứ để chủ thể quản lýtác động đến khách thể quản lý
Phải có hệ thống công cụ quản lý: các văn bản pháp lý
về giáo dục, phương pháp quản lý và công cụ quản lý
Tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lýphải phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của từng đơn vịhoặc từng tổ chức cụ thể Tác động của chủ thể quản lý đếnkhách thể quản lý có thể chỉ là một lần mà cũng có thể lànhiều lần liên tục
Như vậy bất kỳ một tổ chức được xây dựng nên nhằmmục đích gì, cơ cấu tổ chức ra sao, quy mô thế nào đều phải cóchủ thể quản lý và khách thể quản lý
Từ cơ sở lý luận, cơ sở thực tế cho thấy quản lý là mộtngành khoa học sử dụng nền tảng tri thức của nhiều ngànhkhoa học khác: khoa học tự nhiên và khoa học xã hội (hànhchính, toán, kinh tế, tâm lý, xã hội ) Quản lý là một “nghệthuật” đòi hỏi phải vận dụng khéo léo, tinh tế, của chủ thểtác động đến khách thể để đạt được mục đích
Như vậy, một cách khái quát có thể đưa ra phát biểu
sau: “quản lý là sự tác động, điều hành, hướng dẫn và
Trang 12điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra Sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản
lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ
để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả
xã hội”.
Quản lý giáo dục
Trước tiên có thể khẳng định rằng quản lý giáo dục làmột khoa học quản lý, vì vậy giống như khái niệm quản lýthì khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều các khái niệmtheo các cách tiếp cận khác nhau như:
Trong tác phẩm: “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục” tác giả M.I.Kondakop đã cho rằng: “ Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp, kế hoạch hóa nhằm đảm bảo vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng” [21, tr.17]
Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai của Ban chấp
hành Trung ương Đảng khoá VIII: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản
lý nhằm đưa ra các hoạt động sư phạm của hệ thống giáo
Trang 13dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất”.
[8, tr.50]
Theo Đặng Quốc Bảo thì: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [10, tr.36]
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục được hiểu
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục
là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý giáo dục tới các hoạt động giáo dục trong xã hội nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối
và nguyên lý giáo dục của Đảng và Nhà nước thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế
hệ trẻ và đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [31]
Trang 14Từ các quan điểm khác nhau về quản lý giáo dục có
thể khái quát khái niệm về quản lý giáo dục như sau: “Quản
lý giáo dục là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo - giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”.
Chuyên ngành
Chuyên ngành:
Theo Luật giáo dục đại học ngày 18 tháng 06 năm
2012 chuyên ngành đào tạo tại các trường cao đẳng, đại họcđịnh nghĩa như sau:
“Chuyên ngành đào tạo là một tập hợp những kiến thức và kỹ năng chuyên môn chuyên sâu của một ngành đào tạo Trong đó, ngành đào tạo là một tập hợp những kiến thức và kỹ năng chuyên môn của một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp, khoa học nhất định Ngành đào tạo bao gồm nhiều chuyên ngành đào tạo” [20] (Khoản 3 Điều 4 Luật
giáo dục đại học 2012)
Các môn chuyên ngành:
Các môn chuyên ngành là các môn học cụ thể đượcgiảng dạy theo chương trình qui định về một ngành nghềđào tạo cụ thể của các trường Cao đẳng, Đại học Các mônchuyên ngành có kiến thức chuyên môn làm cơ sở cho việcthực hiện các công việc về chuyên môn sau này
Trang 15Trường Cao đẳng Dược Trung ương - Hải Dương hiệnnay đào tạo 01 ngành dược (quản lý và cung ứng thuốc) vớicác môn chuyên ngành như:
Hoá dược - dược lý
Kiểm nghiệm
Dược lâm sàng
Bào chế
Tổ chức quản lý và pháp chế dược
Đảm bảo chất lượng và quản lý tồn trữ thuốc
Kỹ năng giao tiếp bán hàng
Kinh tế và quản trị kinh doanh dược
Các môn chuyên ngành cung cấp cho người học kiếnthức về chuyên môn, phục vụ công việc và công tác liênquan đến nghề nghiệp
Năng lực
Mô hình năng lực được giáo sư đại học Havard - nhàtâm lý học David C.McClelland đề xướng năm 1973 trongbài “Đánh giá năng lực tốt hơn là đánh giá tri thức” Theo
ông, “năng lực có ngụ ý nói tới những đặc trưng chiều sâu, giúp phân biệt những thành tựu thực sự với những điều tầm thường Năng lực bao hàm động cơ, thái độ, đặc trưng cá nhân về kiến thức, kĩ năng Ông miêu tả, năng lực như một tảng băng trôi Kiến thức, kỹ năng có thể dễ dàng quan sát
Trang 16được và cần thiết để hoàn thành một công việc Còn những thành tố khác của năng lực như động cơ, thái độ, khả năng, nhận thức, … là phần chìm dưới đáy nước của tảng băng”.
Cùng với sự phát triển của xã hội đã có nhiều kháiniệm khác nhau về năng lực được đưa ra như:
Từ bình diện Triết học: “năng lực hiểu theo nghĩa
rộng là những đặc tính tâm lý của cá thể điều tiết hành vi của cá thể và là điều kiện sống của cá thể […] Hiểu theo
nghĩa đặc biệt thì năng lực là toàn bộ những đặc tính tâm lý
của con người khiến cho nó thích hợp với một hình thức hoạt động nghề nghiệp nhất định đã hình thành trong lịch
sử” Cũng theo quan điểm này, “Năng lực của con người là
sản phẩm của sự phát triển xã hội”, nó “không những do hoạt động của bộ não quyết định mà trước hết là do trình
độ phát triển lịch sử mà loài người đã đạt được Theo ý
nghĩa đó thì năng lực của con người không thể tách rời với
tổ chức lao động xã hội và với hệ thống giáo dục thích ứng với tổ chức đó” [ 27 , tr.379]
Từ bình diện Tâm lý học: “năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” [4 4 , tr.499]
Theo Giáo dục học: “Năng lực là khả năng được hình
thành và phát triển cho phép con người đạt được thành
Trang 17công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp Năng lực được thể hiện ở khả năng thi hành một hoạt động, thực thi một nhiệm vụ” [ 28
Theo từ điển tiếng Việt: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó Năng lực là sản phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [18]
Theo các tác giả Meier và Nguyễn Văn Cương cho
rằng: “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiệu biết, kỹ năng,
kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sãng sàng hành động”.
[1]
Trong khoa học về xây dựng và phát triển Chương
trình giáo dục: “Năng lực có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài…” [ 14
McLagan cho rằng: “Năng lực được hiểu là một tập hợp các kiến thức, thái độ, và kỹ năng hoặc cách chiến lựơc
Trang 18tư duy mà tập hợp này là cốt lõi và quan trọng cho việc tạo
ra những sản phẩm đầu ra quan trọng” [ 22
Tuy vậy, ở góc độ quản lý, việc định nghĩa năng lựclàm sao để không bị mờ nhạt những bản chất cốt lõi củanăng lực mà ta vẫn có thể lượng hóa năng lực trong các bốicảnh cụ thể là điều vô cùng cần thiết Từ những quản điểmtrên cùng với một số khái niệm đã nêu ta có thể khái quát
khái niệm về năng lực như sau: “Năng lực là tổ hợp các hành động dựa trên sự huy động các nguồn kiến thức, kỹ năng khác nhau với một thái độ, tình cảm của một cá nhân
cụ thể nào đó để hoàn thành hoạt động theo mục tiêu định trước”.
Với khái niệm về năng lực trên, để có năng lực thìcông việc đầu tiên là người học cần được trang bị kiến thức,
kỹ năng và thái độ Kiến thức, kỹ năng, thái độ không chỉ từmột môn học cụ thể mà có thể là kiến thức kỹ năng của một
hệ thống các môn học, các chương trình học tập khác nhau.Năng lực được biểu hiện rõ ràng qua các hành động chứkhông phải nằm ở những đặc điểm tâm, sinh lý trừu tượng.Các hành động được thực hiện sẽ quy định, đánh giá vềmức độ, khả năng năng lực của người học
Dạy học, dạy học theo tiếp cận năng lực, dạy học các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực
Trang 19Dạy học là gì?
Nhiều nhà nghiên cứu về các lĩnh vực giáo dục đã cónhiều hướng tiếp cận với khái niệm dạy học thông quanhững góc độ khoa học khác nhau như:
Từ góc độ điều khiển học, tác giả Đỗ Ngọc Đạt cho
rằng: “Dạy học là quá trình cộng tác giữa thầy và trò nhằm điều khiển - truyền đạt và tự điều khiển - lĩnh hội tri thức nhân loại nhằm thực hiện mục đích giáo dục” [13]
Từ góc độ giáo dục học: “Dạy học - một trong các bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn,
là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trên cơ
sở đó hình thành thế giới quan , phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng phát triển các phẩm chất của nhân cách người học theo mục đích giáo dục” [26]
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng:“Dạy học
là quá trình cộng tác giữa thầy và trò luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau để truyền đạt - điều khiển và lĩnh hội
- tự điều khiển tri thức nhằm tạo cho người học khả năng phát triển trí tuệ, hoàn thiện nhân cách” [14, tr.240]
Theo Thái Duy Tuyên cho rằng:“Dạy học là một bộ phận của quá trình giáo dục (nghĩa rộng), là quá trình tác
Trang 20động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người (kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo…) để phát triển năng lực và phẩm chất người học theo mục đích giáo dục” [38]
Theo Phạm Minh Hạc cho rằng: “Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích luỹ được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm thành phẩm chất, năng lực cá nhân” [30]
Ngoài ra, một số các nhà nghiên cứu dựa trên quanđiểm phát triển, nhất là phát triển về khoa học công nghệ
cho rằng “Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước
có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở
đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học”.
Từ những quan điểm về dạy học ở trên có thể hiểu
khái quát: “Dạy học là một bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn, là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan,
Trang 21phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng các phẩm chất nhân cách của người học”.[16]
Dạy học theo tiếp cận năng lực
Theo một số nhà nghiên cứu về giáo dục trong nước
và thế giới thì chương trình dạy học phân chia thành hai loại
cơ bản là chương trình dạy học dựa vào nội dung và chươngtrình dạy học dựa vào năng lực:
“Chương trình dạy học dựa vào nội dung xuất phát từ
quan điểm: dạy học là quá trình truyền thụ tri thức Nhìnvào chương trình dạy học, người dạy biết mình phải dạy gì
và học sinh cũng biết mình phải học gì”
“Chương trình dạy học dựa vào năng lực xuất phát từquan điểm: dạy học là quá trình chuẩn bị cho người họcnhững kiến thức, kỹ năng, thái độ hay những năng lực cốtlõi để bước vào cuộc sống”
Do đó, chương trình môn học dạy học theo tiếp cậnnăng lực sẽ tập trung việc xác định các năng lực chung và cácnăng lực chuyên biệt cần đạt được ở người học ở chuẩn đầu
ra Qua đó, cả người dạy và người học sẽ xác định nhữngnăng lực được cần được hình thành ở người học khi kết thúckhoá học
Như vậy, dạy học theo tiếp cận năng lực là chương trìnhdạy học mang quan điểm sáng tạo, phù hợp với xu thế, tình
Trang 22hình phát triển của xã hội và thế giới nhằm khắc phục nhữngnhược điểm của chương trình dạy học định hướng nội dung.
Dạy học các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực:
Dạy học các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực
giúp sinh viên hình thành năng lực nghề nghiệp “Năng lực nghề nghiệp là tổng hợp những kiến thức, kĩ năng, thái độ của con người về nghề để đáp ứng những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra”.
Quản lý dạy học, quản lý dạy học các môn chuyên ngành theo tiếp cận năng lực
Quản lý dạy học:
Dạy học là hoạt động trọng tâm của các nhà trường, quản
lý dạy học tốt trong nhà trường có ý nghĩa quan trọng quyết địnhchất lượng giáo dục của nhà trường
Một số quan điểm về quản lý dạy học
Theo Trần Thị Tuyết Oanh: “Quá trình dạy học là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức,
tự điều khiển hoạt động của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học” [41, tr.139]
Như vậy cho thấy quá trình dạy học bao gồm quá trìnhdạy của giáo viên và quá trình học của học sinh; hai quá
Trang 23trình này có mối quan hệ không thể tách rời mà là một quátrình hoạt động chung để hình thành nhân cách của conngười, đáp ứng yêu cầu của giáo dục.
Cũng theo Trần Thị Tuyết Oanh các thành tố cơ bản
của quá trình dạy học bao gồm: “Mục đích dạy học, nội dung dạy học, chương trình dạy học, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, chủ thể dạy học, hình thức tổ chức dạy học, kết quả dạy học và môi trường dạy học (gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội)” [41, tr.133-134]
Theo tác giả Nguyễn Phúc Châu: “Quản lý dạy học là
sự tác động có chủ đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý dạy học đến chủ thể dạy học (người dạy và người học) bằng các giải pháp phát huy tác dụng của các phương tiện quản lý dạy học như chế định giáo dục và đào tạo, bộ máy tổ chức và đội ngũ nhân lực, nguồn tài lực và vật lực dạy học, môi trường dạy học và thông tin dạy học nhằm đạt được mục đích của quản lý dạy học” [24, tr.47]
Như vậy, quản lý dạy học thực chất là quản lý quá trìnhtruyền thụ tri thức của giảng viên và quá trình lĩnh hội kiến thức,
kỹ năng… của sinh viên; quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị,phương tiện dạy học… của người quản lý trong nhà trường
Mục tiêu của việc quản lý hoạt động dạy học là nângcao chất lượng, hiệu quả dạy của giảng viên và kết quả học