TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cơ sở khoa học vấn đề nghiên cứu
2.1.1 T ổ ng quan v ề sinh v ậ t ngo ạ i lai xâm h ạ i
Sinh vật ngoại lai xâm hại là những loài không có nguồn gốc bản địa, xâm nhập vào hệ sinh thái mới và có thể gây ra những tác động tiêu cực Hệ sinh thái phát triển qua hàng ngàn năm với sự cạnh tranh và hợp tác giữa các loài, nhưng khi sinh vật ngoại lai xâm nhập, chúng có thể không thích nghi và bị loại trừ Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, do thiếu đối thủ cạnh tranh và điều kiện sống thuận lợi, chúng có thể phát triển nhanh chóng và gây ra sự đảo lộn cho hệ sinh thái bản địa Theo Cục bảo vệ Môi trường, sinh vật ngoại lai có thể xâm nhập qua nhiều con đường, chủ yếu là do hoạt động của con người, như vận chuyển hàng hóa và di chuyển phương tiện Nhiều loài được du nhập với mục đích kinh tế hoặc nghiên cứu nhưng không được kiểm soát tốt, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường.
Năm vật dụng chính phục vụ cho các hoạt động như trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp có thể trở thành các loài có hại theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Bé Phúc.
Các loài xâm lấn thường có các đặc tính sau đây:
1.Thường là loài ngoại lai (không phải loài bản địa), chúng thường được du nhập đến từ nơi khác do chủ ý hay vô tình
2 Chúng thường là các loài sinh trưởng nhanh do vậy chúng có thể thiết lập và chiếm lĩnh môi trường sống mới rất nhanh
3 Chúng thường là các loài tiên phong Với thực vật điều này co nghĩa rằng chúng thường là các loài ưa sáng và có thể sinh sôi nảy nở trên các khu vực có đất nghèo và suy thoái
4 Bởi chúng thường là các loài ngoại lai (du nhập từ bên ngoài), các loài xâm lấn thường không có thiên địch tại môi trường sống mới Điều này có nghĩa rằng sẽ không thể áp dụng các biện pháp sinh học để xử lý
5 Chúng thường được thiết lập trong môi trường sống bị suy thoái hoặc môi trường sống bị xáo trộn từ trạng thái tự nhiên ban đầu Thường thì chúng được du nhập đến và sinh sống ở “ rìa” hệ sinh thái hoặc môi trường sống mới do kết quả từ sự can thiệp của con người Rừng bị suy thoái là một ví dụ về điều này (KfW, 2005) [5]
Tiêu chí xác định loài ngoại lai xâm hại
1 Loài ngoại lai xâm hại đã biết đáp ứng các tiêu chí sau: a) Đã thiết lập được quần thể tại Việt Nam, đang lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, có xu hướng hoặc đang gây mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện hoặc qua khảo nghiệm bộc lộ khả năng xâm hại b) Đã được ghi nhận xâm hại nghiêm trọng ở nhiều nước có điều kiện sinh thái tương đồng với Việt Nam
6 c) Được Hội đồng tư vấn khoa học do Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập đánh giá và thống nhất xác định là loài ngoại lai xâm hại
2 Loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại đáp ứng các tiêu chí sau: a) Chưa du nhập vào Việt Nam hoặc đã xuất hiện ở Việt Nam song chưa thiết lập được quần thể trong tự nhiên b) Đã được ghi nhận xâm hại ở nhiều nước có điều kiện sinh thái tương đồng với Việt Nam c) Được Hội đồng tư vấn khoa học do Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập đánh giá và thống nhất xác định là loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013) [2]
Tại Việt Nam, các loài sinh vật ngoại lai xâm lấn quan trọng đã được ghi nhận bao gồm:
Cây Keo giậu (Leucaena leucocephala) là một loài cây gỗ nhỏ thường được trồng ở Việt Nam để làm hàng rào Loài cây này được coi là cỏ dại, phát triển tốt ở những khu vực có tán mở, nhiều ánh sáng và đất bạc màu Keo giậu có khả năng thích ứng với lượng mưa từ 500 - 3.500 mm và mùa khô kéo dài từ 6 - 8 tháng, đặc biệt phù hợp với điều kiện khí hậu vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Keo giậu có khả năng phát triển thành rừng cây bụi thuần loài, lấn át và thay thế các rừng cây bản địa, gây đe dọa cho các loài đặc hữu Mặc dù không ảnh hưởng rõ rệt đến đa dạng sinh học, nhưng sự phát triển dày đặc của các bụi cây này có thể cản trở giao lưu và kiếm ăn của các loài động vật.
Cây Bông ổi (Lantana camara), hay còn gọi là cây Cứt lợn, được đưa vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XX với mục đích trang trí và hiện nay đã được trồng rộng rãi trên toàn quốc Theo IUCN (2003), loài cây này có khả năng xâm lấn mạnh, gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái địa phương (Nguyễn Đức Tú và cs, 2007).
Cây Bèo lục bình (Eichhornia crassipes), còn được biết đến với tên gọi bèo Nhật Bản, đã được nhập khẩu vào Việt Nam từ năm 1902 nhằm mục đích trang trí cảnh quan.
Cây Mai dương (Mimosa pigra) là một trong những loài sinh vật gây hại lớn nhất tại Việt Nam, phân bố chủ yếu ở các sinh cảnh tự nhiên, nông nghiệp, vùng nước ngọt và ven biển, đặc biệt là gần các nguồn nước ngọt Loài cây này có nguồn gốc từ nhiệt đới châu Mỹ và đã du nhập vào châu Á vào cuối thế kỷ XX Ban đầu, sự phát tán của chúng diễn ra chậm và lần đầu tiên được ghi nhận tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vào năm 2007.
• Sắn dây rừng (Pueraria montana) là một loài dây leo thuộc họ Đậu
• Cây Mikania (Mikania micrantha) và Trinh nữ móc (M Diplotricha) cả hai là loài dây leo sinh trưởng cực nhanh (Trạm Bảo Vệ Thực vật huyện Vĩnh Hưng, 2013) [18]
Trinh nữ thân vuông (Mimosa diplotricha) là một loài cây leo có thể sống một năm hoặc lâu năm, với thân hình 4 góc và có gai nhọn Cây thường tụm lại thành bó và bò trườn lên các cây khác Lá của loài này là lá kép lông chim màu xanh, mỗi lá có khoảng 20 cặp lá chét và có khả năng khép lại khi bị tác động hoặc vào ban đêm.
Ngoài ra còn có các loài cây khác xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới như:
Keo đen mearnsii (Acacia mearnsii) là cây thường xanh có độc tố, cao tới 20m, nổi bật với khả năng sinh sản hạt dồi dào Loài cây này phát triển mạnh mẽ và tạo ra nhiều rễ hút, cạnh tranh với các loài thực vật bản địa, dẫn đến việc hình thành rừng cây đơn loài.
Cỏ Tranh (Imperata cylindrica) là một loài cỏ phổ biến, thuộc nhóm thực vật C4, có nguồn gốc từ Cựu Thế giới Loài cỏ này phát triển mạnh trong điều kiện khí hậu nóng tại nhiều quốc gia ở châu Phi, Nam Sahara, cũng như Nam và Đông Nam Á, và thường xuất hiện như một loại cỏ dại.
8 nhiều đảo vùng Thái Bình Dương (Trạm Bảo Vệ Thực Vật Huyện Vĩnh Hưng, 2013) [18].
Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
Hiện nay, chỉ có 21 loài thực vật thân gỗ xâm lấn trên toàn cầu, trong khi số lượng thực vật thân thảo lại rất đa dạng Tại Đông Bắc nước Mỹ, 62% loài cỏ dại là loài ngoại lai, trong khi tiểu lục địa Ấn Độ có 40% thực vật là ngoại lai Úc mỗi năm tiếp nhận 11 loài ngoại lai, với 18% tổng số thực vật của nước này là ngoại lai, tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn thấp hơn so với New Zealand (51%), Anh (32%) và Hawai (40%).
Trên toàn cầu, có khoảng 26.000 loài cỏ dại xâm lấn tiềm ẩn, trong đó đã xác định được 10.000 loài, với 4.000 loài đang lây lan ở nhiều quốc gia Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Thi (2016), chỉ có 15% trong số các loài xâm lấn này đã được ghi nhận, trong khi 85% còn lại dự kiến sẽ xâm lấn mạnh mẽ trong tương lai Một trong những loài đáng chú ý là cây Mai dương (Trinh nữ thân gỗ).
Cây M pigra, hay còn gọi là Trinh nữ đầm lầy, đã được trồng tại vườn thực vật Darwin từ thế kỷ XIX và nhanh chóng phát tán xâm lấn ở Australia Loài cây này có khả năng lan rộng qua dòng nước, bám vào động vật, quần áo và phương tiện giao thông, dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng về diện tích xâm lấn Tại Oenpelli, diện tích nhiễm bệnh đã tăng từ 200 ha năm 1984 lên 5.500 ha chỉ sau 5 năm Ở Bắc Australia, khoảng 80.000 ha thảm thực vật bản địa đã bị Trinh nữ đầm lầy cạnh tranh xâm lấn Đặc biệt, vùng đất ngập nước ở lưu vực sông Adelaide đã bị loài cây này xâm lấn trên diện tích hơn 450 km² vào năm 1990, và con số này đã tăng lên 700 km² vào năm 1995.
Cây Trinh nữ đầm lầy đã được ghi nhận phát tán xâm lấn tại Sri Lanka từ năm 1996, chủ yếu dọc theo hai bờ sông Mahaweli với chiều dài khoảng 1 km ở những khu vực ngập nước theo mùa Đến năm 2000, sự xâm lấn của cây Trinh nữ đầm lầy đã mở rộng đáng kể, kéo dài tới 20-25 km dọc bờ sông Mahaweli.
46 địa danh thuộc 3 tỉnh (Phạm Văn Lầm và cs, 2010) [7]
Năm 1947, Thái Lan đã nhập khẩu cây Trinh nữ đầm lầy từ Indonesia nhằm sử dụng làm cây che phủ đất trống và chống xói mòn đất tại khu vực Bắc Thái Lan.
Từ năm 1982, cây Trinh nữ đầm lầy đã bắt đầu lây lan rộng rãi tại Thái Lan Đến cuối thế kỷ XX, 23 trong số 74 tỉnh của nước này bị cây này xâm lấn, gây hại nghiêm trọng, đặc biệt tại các khu vực như Chiềng Mai, Pattaya và Hatyai.
Cây Trinh nữ đầm lầy lần đầu tiên được ghi nhận ở Malaysia vào năm 1980 tại Kelantan, sau đó nhanh chóng lan rộng sang các bang như Penang, Johore và Selangor Tại Perlis và Kedah, khoảng 360.000 ha đất lúa đã bị cây này xâm lấn (Phạm Văn Lầm và cs, 2010) Tại Indonesia, có khoảng 3.000 ha đất trồng lúa ở Sumatra và Kalimantan cũng bị cây Trinh nữ đầm lầy đe dọa, đặc biệt là khu vực bờ phía Nam và phía Tây của hồ Rawa Pening Ngoài ra, cây này cũng được phát hiện ở Campuchia từ đầu thập niên gần đây.
Từ năm 1990 đến tháng 5 năm 1997, cây Trinh nữ đầm lầy đã lan rộng dọc theo lưu vực sông Tonle Sap và khu vực Kompong Chhan, phía Bắc Biển Hồ Sự phát triển của loài cây này đã trở thành một mối đe dọa nghiêm trọng đối với các hệ sinh thái trong vùng Biển Hồ và lưu vực sông Mê Kông (Phạm Văn Lầm và cs, 2010).
Từ năm 1965, Australia đã bắt đầu thử nghiệm thuốc trừ cỏ nhằm tiêu diệt cây Trinh nữ đầm lầy Đến năm 1984, nước này đã hợp tác với Thái Lan để nghiên cứu và mở rộng áp dụng biện pháp hóa học trong việc kiểm soát loại cây này Tại vùng Bắc Australia, các loại thuốc như 2,4-5T hoặc hỗn hợp 2,4-5T với Picloram hay Triclopyr đã được sử dụng để xử lý cây Trinh nữ đầm lầy.
Để kiểm soát cây Trinh nữ đầm lầy, có thể sử dụng các loại thuốc tiếp xúc như atrazin kết hợp với 2,4D và Tebuthiuron cho hiệu quả cao ở giai đoạn cây non Các thuốc nội hấp như Dicamba, Fluroxypyr, Glyphosate, Picloram kết hợp với 2,4D và Metsulfuron methyl cũng mang lại hiệu quả diệt trừ tốt hơn Phun Dicamba, Glyphosate, Imazapyr vào gốc cây sau khi chặt hoặc tiêm Dicamba, Hexazinone vào cây sẽ giúp tăng cường hiệu quả Ngoài ra, bón Hexazinone, Tebuthiuron vào đất hoặc rải Ethidimuron cũng là những phương pháp khả thi Tuy nhiên, hiệu quả diệt trừ trong một số trường hợp vẫn còn thấp và chưa triệt để (Phạm Văn Lầm và cs, 2010).
Biện pháp hoá học đang được áp dụng nghiên cứu tại nhiều quốc gia như Australia, Pakistan, Sri Lanka, Lào, Campuchia và Indonesia Tại Australia, để kiểm soát cây Trinh nữ đầm lầy trong các vườn quốc gia, người ta sử dụng máy bay trực thăng phun thuốc trừ cỏ Metsulfuron Methyl (20%) với liều lượng 120 g/ha Tuy nhiên, hiệu quả diệt trừ cây Trinh nữ đầm lầy của loại thuốc này khá thấp, chỉ có tác dụng với chồi non mới mọc và hoa, góp phần hạn chế sự sinh sản của cây.
Cây Sắn dây, được nhập khẩu từ Nhật Bản vào Mỹ vào năm 1876, đã được giới thiệu tại Triển lãm 100 năm ở Philadelphia, Pennsylvania, với mục đích làm cỏ nuôi cho thú cưng và cỏ trang trí.
Từ năm 1935 đến đầu thập niên 1950, Cục Bảo tồn Đất khuyến khích nông dân miền Đông Nam Hoa Kỳ trồng cây Sắn dây nhằm ngăn chặn xói mòn đất, trong khi Đoàn Bảo tồn Dân sự cũng đã trồng loại cây này một cách rộng rãi trong nhiều năm.
Miền Đông Nam Hoa Kỳ có khí hậu lý tưởng cho sự phát triển không kiểm soát của cây sắn dây, với mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều và mùa đông ôn hòa Khu vực này không có động vật ăn sắn dây và hiếm khi bị băng giá, điều này giúp cây sinh trưởng mạnh mẽ Sắn dây không chịu được nhiệt độ băng giá thấp, do đó ít khi xuất hiện ở những vùng có giá lạnh Vì lý do này, từ năm 1953, Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ đã phân loại loài thực vật này là cỏ dại.
Hiện nay, Sắn dây đã mọc lên rộng rãi ở khắp miền Đông Nam Hoa
Cây Sắn dây đã lan rộng tới 30 quận từ Illinois đến Evanton ở miền Bắc và Texas ở miền Tây Nam, với sự xuất hiện không rõ nguyên nhân ở quận Clackamas, Oregon vào năm 2000 Hiện nay, cây này chiếm từ 20.000km2 đến 30.000km2 đất ở Hoa Kỳ, gây thiệt hại khoảng 500 triệu đô mỗi năm do mất đất trồng trọt và chi phí kiểm soát.
Hình 2.1 Hình ả nh cây s ắ n dây xâm l ấ n ở Atlanta, Georgia (Hoa K ỳ )
Tổng quan về khu vực nghiên cứu
Xã Lản Nhì Thàng nằm ở phía Đông huyện Phong Thổ, có địa giới hành chính tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp giáp xã Mường So
- Phía Nam giáp xã Ma Quai của huyện Sìn Hồ và xã Nậm Loỏng thị xã Lai Châu
- Phía Đông giáp xã Thèn Sin và xã Sùng Phài, huyện Tam Đường
- Phía Tây giáp xã Ma Quai và xã Phìn Hồ của huyện Sìn Hồ
Xã biên giới núi cao có địa hình đặc trưng với những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Với độ cao các ngọn núi vượt quá 1500 m và khu vực thấp nhất cũng trên 700 m, nơi đây sở hữu những ngọn núi dốc đứng, xen lẫn là các thung lũng sâu và hẹp cùng với nhiều sông suối chảy qua, tạo nên cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với nhiều thác ghềnh.
Theo kết quả điều tra khảo sát thổ nhưỡng thì xã Lản Nhì Thàng có các loại đất chủ yếu sau:
Nhóm đất dốc tụ tại xã Lản Nhì Thàng hình thành do quá trình tích tụ đất ở các thung lũng, phân bố chủ yếu ở khu vực trung tâm và các bản trong xã Loại đất này có hàm lượng mùn, đạm, lân cao, rất thích hợp cho việc trồng lúa và các loại cây hoa màu.
- Nhóm đất đỏ vàng (feralit) gồm:
Đất nâu vàng được hình thành từ đá macma bazơ, chủ yếu phân bố ở các khu vực đồi và núi thấp Loại đất này rất thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp.
Đất đỏ nâu được hình thành từ đá vôi và thường phân bố ở những khu vực có độ dốc trên 25 độ, rất thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả và phát triển rừng.
Ngoài ra, còn tồn tại một số loại đất không phổ biến như đất mùn vàng đỏ, thường phân bố ở độ cao trên 900 mét, cùng với một số nhóm đất khác rải rác trong xã.
Xã Lản Nhì Thàng có khí hậu nhiệt đới điển hình với ngày nóng và đêm lạnh, ít bị ảnh hưởng bởi bão Năm chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 với lượng mưa lớn và độ ẩm cao, và mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau với khí hậu lạnh và độ ẩm thấp, lượng mưa chỉ từ 5 đến 20mm Trong những đợt rét, nhiệt độ có thể xuống tới 4-5°C, kèm theo sương mù dày đặc và gió bấc Biên độ nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm rất cao, với nhiệt độ buổi trưa có thể tăng lên đáng kể.
38 0 C, nhưng về đêm nhiệt độ hạ xuống chỉ còn 18 – 20 0 C
Xã Lản Nhì Thàng có địa hình cao và dốc, với nhiều thung lũng sâu và hẹp cùng các sông suối có thác ghềnh Nguồn nước chính phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của người dân chủ yếu đến từ một số nhánh suối nhỏ trong khu vực (Ban Quản lý dự án KfW8, 2015).
2.3.2.1 Tình hình chung về dân sinh - kinh tế a Dân số
Toàn xã có 568 hộ với 2897 nhân khẩu Trong xã có 10 thôn/bản với các dân tộc cùng chung sống là: Mông, Dao, Hoa…
Toàn bộ xã có 1634 lao động Nhìn chung lực lượng lao động của xã rất dồi dào đáp ứng đầy đủ nhu cầu quản lý và bảo vệ rừng
Phong tục tập quán của đồng bào thiểu số chủ yếu xoay quanh sản xuất nương rẫy và chăn nuôi Ngoài ra, một số hộ gia đình đã bắt đầu áp dụng kỹ thuật sản xuất lúa nước và trồng cây công nghiệp, góp phần đa dạng hóa hoạt động nông nghiệp.
Quá trình phát triển kinh tế xã hội trong những năm gần đây đã làm giảm bớt sự nặng nề của các tập tục tôn giáo, giúp người dân dần tiếp nhận nền văn hóa tiên tiến hơn.
Đời sống dân cư chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, trong đó trồng trọt đóng góp đến 85% thu nhập Chăn nuôi và dịch vụ sản xuất chiếm khoảng 10%, trong khi phần còn lại đến từ các dịch vụ khác và một tỷ lệ nhỏ từ hoạt động nghề rừng.
Trong một xã thuần nông, trình độ sản xuất của người dân còn hạn chế, dẫn đến tình trạng kinh tế của các hộ gia đình nghèo khổ và tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao Việc cải thiện giáo dục là cần thiết để nâng cao đời sống và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng.
Trên địa bàn xã hiện có 01 trường THCS, 01 trường tiểu học trung tâm, 7 điểm trường tiểu học tại các bản và 12 điểm trường mầm non Tỷ lệ trường học các cấp như mầm non, mẫu giáo, tiểu học và THCS đạt chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất là 70%.
Trên địa bàn xã hiện có một trạm y tế với diện tích 1800 m², được trang bị cơ sở vật chất đầy đủ và đội ngũ cán bộ y tế được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ Trạm y tế này đáp ứng tốt nhu cầu khám chữa bệnh của người dân.
2.3.2.2 Thuận lợi và khó khăn
Lản Nhì Thàng là xã cửa ngõ của huyện Phong Thổ, tiếp giáp với Thành phố Lai Châu, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu buôn bán và phát triển kinh tế xã hội.
Dưới sự chỉ đạo của ủy ban nhân dân huyện và Hạt Kiểm lâm huyện, cùng với sự giám sát của Đảng ủy và Ủy ban nhân dân xã, diện tích rừng của xã đã được quản lý một cách tập trung Đa số người dân trong xã ý thức chấp hành tốt các chính sách pháp luật của Nhà nước Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã có tác động tích cực đến nhận thức của người dân và chính quyền địa phương về giá trị kinh tế thiết thực mà rừng mang lại.
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Sắn dây rừng mọc xâm lấn tại các khu rừng thứ sinh nghèo của xã Lản Nhì Thàng, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
3.1.2 Ph ạ m vi Điều tra đánh giá thực trạng và thực nghiệm các phương pháp lâm sinh xử lý sắn dây rừng tại bản Séo Xiên Pho, xã Lản Nhì Thàng, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu tại bản Séo Xiên Pho, xã Lản Nhì Thàng, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
- Thời gian nghiên cứu từ ngày 18 tháng 8 năm 2016 đến ngày 18 tháng
Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm hình thái, phân loại Sắn dây rừng
- Điều tra thực trạng và mức độ xâm lấn của Sắn dây rừng tại bản Séo Xiên Pho, xã Lản Nhì Thàng, huyện Phong Thổ
- Nghiên cứu phương pháp xử lý Sắn dây rừng bằng phương pháp cơ học
- Nghiên cứu phương pháp xử lý Sắn dây rừng bằng phương pháp hóa học
- Đề xuất giải biện pháp ký thuật lâm sinh xử lý Sắn dây rừng
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Ph ươ ng pháp nghiên c ứ u đặ c đ i ể m hình thái, phân lo ạ i S ắ n dây r ừ ng
- Phương pháp thừa kế số liệu, tài liệu
3.4.2 Ph ươ ng pháp thu th ậ p thông tin v ề th ự c tr ạ ng và m ứ c độ xâm l ấ n c ủ a cây S ắ n dây r ừ ng Để điều tra nội dung này ta áp dụng bố trí ô mẫu theo phương pháp hệ thống, cụ thể là bố trí theo tuyến song song cách đều
Phương pháp lập tuyến điều tra là một kỹ thuật phổ biến trong điều tra lâm học và nghiên cứu thực vật học, theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2007).
Tại mỗi khu vực, cần nắm bắt thông tin chung từ tài liệu hiện có và thực hiện điều tra bổ sung ngoài thực địa để xác định vùng phân bố và mức độ xâm lấn của loài Sắn dây rừng Trong khu vực nghiên cứu, thiết lập các tuyến điều tra đi qua nơi có sự phân bố của loài xâm lấn này và các trạng thái rừng khác nhau Trên các tuyến điều tra, tiến hành quan sát và nhận dạng loài thông qua các đặc điểm hình thái.
Địa điểm khảo sát tình hình và mức độ xâm lấn của cây sắn dây rừng được thực hiện tại bản Séo Xiên Pho, xã Lản Nhì Thàng, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
Lý do chọn địa điểm lập tuyến điều tra:
Bản này nổi bật với các đặc điểm rõ nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, có rừng tự nhiên phong phú và vị trí gần các tuyến đường thuận tiện cho việc di chuyển.
+ Dựa trên thực trạng rừng, loại rừng, địa hình và phân bố của loài xâm lấn Sắn Dây rừng
Sắn dây rừng thường phát triển trong môi trường sống điển hình như rừng suy thoái và phân mảnh, nơi có tỷ lệ bìa rừng cao và đang đối mặt với nguy cơ xâm hại lớn.
Cụ thể các tuyến được chọn như sau:
Tuyến 1 bắt đầu từ Bản Siếu Sin Pho, kéo dài khoảng 500m theo đường dân sinh, thiết lập tuyến song song với Quốc lộ 4D Tổng chiều dài của tuyến này khoảng 3km, nằm ở phía tả ly dương.
Tuyến 2 bắt đầu từ Bản Siếu Sin Pho, kéo dài khoảng 500m theo đường dân sinh trước khi lập tuyến song song với Quốc lộ 4D, với tổng chiều dài khoảng 3km nằm ở phía tả ly âm.
Tuyến 3 bắt đầu từ bản Siếu Sin Pho, di chuyển xuống đường dân sinh khoảng 1km và thiết lập tuyến song song với Quốc lộ 4D, với tổng chiều dài khoảng 3km ở phía tả ly âm.
Trên mỗi tuyến, thực hiện việc lập 10 ô thử nghiệm (OTC) với kích thước mỗi ô là 100m² (10x10m), kết hợp với sự hỗ trợ từ người dân có kinh nghiệm đi rừng để phát hiện loài xâm lấn Sắn dây rừng Khoảng cách giữa các tuyến là 500m và khoảng cách giữa các ô thử nghiệm trong một tuyến là khoảng 300m.
Mỗi vị trí rừng đều có sự khác biệt về kiểu rừng và thảm thực vật Để đánh giá, cần điều tra các chỉ tiêu như độ che phủ của loài xâm lấn, độ tàn che của cây bản địa, đường kính và chiều cao trung bình của cây bản địa, cũng như trạng thái rừng và mức độ xâm lấn.
Dựa trên bản đồ địa hình và quản lý khu vực, chúng tôi đã tiến hành sơ thám và tham khảo tài liệu cùng với ý kiến của cán bộ và người dân địa phương am hiểu về địa hình Sau khi thảo luận nhóm với cán bộ BQLDAH và cộng đồng, chúng tôi đã xác định một số chỉ tiêu để đánh giá mức độ xâm lấn của loài Sắn dây rừng.
+ Yếu: < 10% trên tổng diện tích điều tra
+ Trung Bình: 30% trên tổng diện tích điều tra
+ Mạnh: > 50% trên tổng diện tích điều tra
- Trạng thái rừng được phân loại dựa trên quan điểm đánh giá tài nguyên rừng của Loeschau (1963)
- Độ tàn che và độ che phủ được tính theo phương pháp trực quan
-Sử dụng ống đo độ tàn che, thước dây, kẹp đo đường kính, thước sào
- Sử dụng ống tre để đo độ tàn che:
+ Làm một ống tre (rỗng bên trong) có chiểu dài khoảng 20cm, đường kính khoảng 2cm
Để đảm bảo độ chính xác khi đo, hãy đứng tại vị trí đo và nhìn qua ống che theo phương thẳng đứng lên tán rừng Để kiểm tra, nên nhờ một người khác xác nhận rằng ống che đã được giữ thẳng đứng.
Khi nhìn qua ống tre, nếu bạn thấy tán lá cây rừng, hãy đếm là “1” Nếu chỉ nhìn thấy bầu trời, đếm là “0” Trong trường hợp bạn nhìn thấy 50% bầu trời và 50% tán lá rừng, hãy đếm là “0,5”.
Ghi lại điểm số và di chuyển đến điểm đo tiếp theo, lặp lại các thao tác Đo tại các điểm cố định với khoảng cách giữa các điểm đo là 5m.
+Đảm bảo đo tối thiểu tại 20 vị trí
Tổng số điểm có được chia cho số điểm đo (vị trí đo) để có được tỷ lệ phần trăm của độ tàn che (KfW, 2015) [5]
Hình 3.1 Cách s ử d ụ ng ố ng đ o độ tàn che
Bảng 3.1: Thực trạng xâm lấn của Sắn dây rừng theo từng tuyến tại bản
C Đường kính trung bình của cây bản địa (cm)
Chiều cao trung bình của cây bản địa(m) Độ tàn che của Rừng (%)
Trạng thái rừng Độ che phủ của SDR (%)
Từ kết quả các tuyến điều tra tổng hợp lại diện tích bị xâm lấn và đánh giá mức độ xâm lấn của toàn bản
3.4.3 Ph ươ ng pháp th ự c nghi ệ m và x ử lý c ơ h ọ c trên ô tiêu chu ẩ n
Phương pháp xử lý cơ học được thiết kế để kiểm soát Sắn dây rừng tại mô hình thực như sau:
Lập 1 OTC ở ngoài bìa rừng với kích thước là 100m 2 (5x20m)
Tiêu chí chọn địa điểm để lập OTC:
1) Dễ tiếp cận từ đường chính thông qua một đường mòn đi bộ
2) Có các hộ gia đình sống gần đó, những người có thể tham gia hợp đồng thuê khoán lao động
3) Có thể nhìn thấy từ ngoài đường chính ngang qua thung lũng (dành cho đánh giá quan trắc các biện pháp kiểm soát)
4) Hiện trường có diện tích tương đối nhỏ – nơi các biện pháp kiểm soát có thể thành công và nơi có tiềm năng được duy trì