Nghiên cứu ảnh hưởng của các loài cây phù trợ đến sinh trưởng của Đàn hương .... + Qua những đánh giá cụ thể về sinh trưởng chúng ta có thể tìm ra được các loài cây phù trợ thích hợp nhằ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN HIỂN
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG ĐÀN HƯƠNG TỪ HẠT TẠI VIỆN KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp Khoa : Lâm nghiệp Khóa học : 2015 - 2019
Thái Nguyên, 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN HIỂN
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG ĐÀN HƯƠNG TỪ HẠT TẠI VIỆN KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khóa học : 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn : 1 T.S Nguyễn Minh Chí
2 Th.S Phạm Thu Hà
Thái Nguyên, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận trên là kết quả nghiên cứu của riêng bản thân tôi không sao chép của ai Các kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là kết quả hoàn toàn trung thực, khách quan Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí theo danh mục tài liệu của khóa luận Nếu có điều gì sai sót, em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước
Hội đồng khoa học
Người viết cam đoan
TS Nguyễn Minh Chí Th.S Phạm Thu Hà Hoàng Văn Hiển
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Lâm nghiệp, em
tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu nhân giông đàn hương
từ hạt tại viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam”
Để hoàn thành chuyên đề báo cáo thực tập này trước hết em xin gửi đến các thầy, cô giáo trong khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm lời cảm
ơn chân thành Đặc biệt, em xin cảm ơn thầy Nguyễn Minh Chí và cô Phạm Thu Hà, những người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành chuyên
đề báo cáo thực tập này
Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các phòng ban của Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được tìm hiểu thực tiễn trong suốt quá trình thực tập
Em xin cảm ơn nhà trường đã tạo cho em có cơ hội được thưc tập nơi
mà em yêu thích, cho em bước ra đời sống thực tế để áp dụng những kiến thức mà các thầy cô giáo đã giảng dạy Qua công việc thực tập này em nhận
ra nhiều điều mới mẻ và bổ ích trong côngviệc nghiêncứu khoa học để giúp ích cho công việc sau này của bản thân
Vì kiến thức bản thân còn hạn chế, trong quá trình thực tập, hoàn thiện chuyên đề này em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy cô
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Sinh viên thực hiện
Hoàng Văn Hiển
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Bố trí công thức thí nghiệm ngẫu nhiên 24
Bảng 3.2: Các công thức thí nghiệm đất và phân bón 26
Bảng 4.1: Tổng hợp kết quả thí nghiệm cây phù trợ sau 90 ngày 27
Bảng 4.2: Tổng hợp kết quả thí nghiệm cây phù trợ sau 120 ngày 29
Bảng 4.3: Tổng hợp kết quả thí nghiệm cây phù trợ sau 150 ngày 30
Bảng 1.4: Tổng hợp kết quả thí nghiệm xử lý nảy mầm hạt giống sau 30 ngày 33
Bảng 4.5: Tổng hợp kết quả thí nghiệm xử lý nảy mầm hạt giống sau 45 ngày 34
Bảng 4.6: Tổng hợp kết quả thí nghiệm giá thể sau 30 ngày 35
Bảng 4.7: Tổng hợp kết quả thí nghiệm xử lý nảy mầm hạt giống sau 45 ngày 37
Bảng 4.8: Đặc điểm tính chất đất làm giá thể bầu ươm 38
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của đất và phân bón đến sinh trưởng của cây ở giai đoạn 90 ngày tuổi 39
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Cây Đàn hương ở viện nghiện cứu Lâm nghiệp 3
Hình 4.2 Cây Đàn hương trồng trên đất khô cằn ở Phú Thọ 3
Hình 4.3 Lá cây Đàn hương 4
Hình 4.4 Hoa và quả non của cây Đàn hương 4
Hình 4.5 Quả và hạt cây Đàn hương ở Phú Thọ 5
Hình 4.6: Cây Đàn hương 90 ngày tuổi khi trồng cùng cây Rệu xanh (ảnh trái) và đối chứng (ảnh phải) 28
Hình 4.7: Cây Đàn hương 120 ngày tuổi khi trồng cùng cây Dền cảnh 29
Hình 4.8: Cây Đàn hương 150 ngày tuổi khi trồng cùng cây Rệu xanh (ảnh trái) và Dền cảnh (ảnh phải) 31
Hình 4.9: Rễ cây Đàn hương bán ký sinh trên rễ cây họ đậu 32
Hình 4.10: Hạt Đàn hương nảy mầm sau 30 ngày ở công thức 3 33
Hình 4.11: Hạt bắt đầu nảy mầm sau 20 ngày trên giá thể cát sông 36
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
BNN Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
GA Chất kích thích sinh trưởng thực vật Gibberellin
GA3 Chất điều hòa sinh trưởng Gibberellin
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 3
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 3
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 13
2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 13
2.3.2 Đặc điểm khu vực Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 20
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 23
3.1.3 Địa điểm nghiên cứu 23
3.2 Nội dung nghiên cứu 23
3.2.1 Nghiên cứu xác định loài cây phù trợ cho cây Đàn hương bán ký sinh ở giai đoạn vườn ươm 23
Trang 93.2.2 Nghiên cứu nhân giống đàn hương từ hạt 23
3.3.1 Nghiên cứu xác định loài cây phù trợ cho cây Đàn hương bán ký sinh ở giai đoạn vườn ươm 24
3.3.2 Nghiên cứu nhân giống Đàn hương từ hạt 24
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1 Nghiên cứu xác định loài cây phù trợ cho cây Đàn hương bán ký sinh ở giai đoạn vườn ươm 27
4.1.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của các loài cây phù trợ đến sinh trưởng của Đàn hương 27
4.1.2 Nghiên cứu đặc điểm bán ký sinh của rễ đàn hương với rễ cây chủ 31
4.2 Nghiên cứu nhân giống đàn hương từ hạt 32
4.2.1 Nghiên cứu xử lý nảy mầm hạt giống 32
4.2.2 Nghiên cứu lựa chọn giá thể gieo hạt 35
4.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể bầu nuôi cây 37
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Kiến nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 10PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Đàn hương (Santalum album Linn) là loài cây thường xanh, sống bán
ký sinh, cây chỉ có thể sinh trưởng tốt khi bán ký sinh với một số loại cây chủ nhất định ở các giai đoạn khác nhau Đàn hương đã được trồng trên diện rộng ở nhiều nước để lấy gỗ và tinh dầu Gỗ và lá Đàn hương chứa 3 - 6% tinh dầu dễ bay hơi (chủ yếu là sesquiterpenols α- và β santalols), chất nhựa và tannins
Đàn hương là loài cây gỗ cho tinh dầu có giá trị kinh tế lớn, có nguồn gốc ở Đông Timor, Ấn Độ, Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam), Indonesia Ở Việt Nam được cho là có phân bố ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa Bộ phận thường dùng là lõi của cây gỗ
Việc chưng cất tinh dầu từ gỗ thường sử dụng gỗ của cây có đường kính trên 20cm (>25 năm tuổi), hàm lượng tinh dầu tổng số trung bình đạt từ 1,5-10%, tùy bộ phận của cây Gỗ lõi của rễ có thể đạt 10%, gỗ giác từ cành nhánh đạt từ 1,5 đến 2% Năng suất gỗ có thể đạt 85 đến 240 kg gỗ lõi/cây đối với cây đạt đường kính 30cm Chu kỳ kinh doanh của cây Đàn hương thường
từ 20-30 năm Trong giai đoạn cây còn non, có thể tận dụng cành và lá để chưng cất tinh dầu và chế biến trà túi lọc từ lá [11]
Hiện nay, giá bán tinh dầu Đàn hương trên thị trường thế giới vào khoảng 1.000 đến 1.500 USD/kg, chúng thường được dùng trong công nghiệp chế biến dược liệu, thực phẩm và mỹ phẩm làm hương liệu Nhu cầu sử dụng tinh dầu Đàn hương rất lớn nhưng mới chỉ đáp ứng được khoảng 20% Do đó nghiên cứu phát triển Đàn Hương ở Việt Nam nhằm mục tiêu cung cấp tinh dầu giá trị cao phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu là hoàn toàn khả thi Từ những thực trạng nêu trên, đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây
Trang 11Đàn hương từ hạt tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam” rất cần được
thực hiện
1.2 Mục tiêu
- Xác định được biện pháp xử lý hạt đàn hương nảy mầm
- Xác định được cây chủ cho cây đàn hương bán ký sinh
- Xác định được giá thể phù hợp để gieo ươm đàn hương
1.3 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học:
+ Củng cố kiến thức đã học, bổ sung kiến thức chuyên môn
+ Việc nghiên cứu đề tài là cơ sở để đề xuất các biện pháp nhân giống cây Đàn hương
+ Biết cách tổng hợp, phân tích để viết báo cáo nghiên cứu khoa học
- Ý nghĩa trong thực tiễn:
+ Qua quá trình thu thập, xử lý số liệu giúp tôi học hỏi và làm quen với thực tế sản xuất và khoa học
+ Qua những đánh giá cụ thể về sinh trưởng chúng ta có thể tìm ra được các loài cây phù trợ thích hợp nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động trồng và phát triển cây Đàn hương
+ Làm cơ sở và tài liệu cho những đề tài nghiên cứu có liên quan
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Đàn hương là loài cây gỗ cho tinh dầu có giá trị kinh tế lớn, có nguồn gốc ở Đông Timor, Ấn Độ, Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam), Indonesia Ở Việt Nam được cho là có phân bố ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa Bộ phận thường dùng là lõi của cây gỗ
Hiện nay, nhu cầu trồng đàn hương rất cao nhưng kỹ thuật gieo ươm gặp nhiều khó khăn, cây đàn hương đòi hỏi có cây chủ để chúng bán ký sinh ở từng giai đoạn phát triển Do đó việc nghiên cứu gieo ươm đàn hương thành công sẽ góp phần phát triển hiệu quả cây đàn hương ở Việt Nam
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
Giới thiệu chung về cây Đàn hương
Đây là cây gỗ cao 10 - 15 m, với đặc tính sinh học quan trọng nhất là
có rễ cái ký sinh trên cây chủ, rễ con bám chặt vào rễ cái cây chủ bằng các giác mút, hút dinh dưỡng từ cây ký chủ để sinh trưởng và phát triển nên còn gọi đàn hương là cây gỗ bán ký sinh
Hình 4.1 Cây Đàn hương ở viện
nghiện cứu Lâm nghiệp
Hình 4.2 Cây Đàn hương trồng trên đất khô cằn ở Phú Thọ
Trang 13Cây Đàn hương được trồng ở khuôn viên và cây ở ngoài tự nhiên có sự khác nhau rõ rệt, cây được trồng sinh trưởng tốt, lá sẫm màu, tán rộng hơn so với cây ngoài tự nhiên Là loài cây thường xanh, sống theo bụi to và cao, phát triển được trong các vùng khí hậu khác nhau
Hình 4.3 Lá cây Đàn hương
Hình 4.4 Hoa và quả non của cây Đàn hương
Trang 14
Hình 4.5 Quả và hạt cây Đàn hương ở Phú Thọ
Lá nguyên, dầy, mọc đối, hình trứng hoặc hình mũi mác Hoa mẫu 4, cụm hoa mọc thành chùm, lúc đầu màu vàng rơm, sau màu đỏ thẫm Quả hạch hình cầu, khi chín màu đen, thịt nhiều nhựa Ra hoa vào tháng 5 - 6, đậu quả vào tháng 7-9
Gỗ Đàn hương cứng, nặng, vàng và hạt mịn, giác trắng, mùi thơm, lõi vàng nâu, được sử dụng sản xuất các loại hàng mỹ nghệ tuyệt diệu, Gỗ đàn hương là loại gỗ đắt thứ hai trên thế giới, sau gỗ đen châu Phi, Dầu gỗ đàn hương được chiết xuất từ gỗ để sử dụng, cất tinh dầu để SX nhiều mặt hàng quý và xà phòng thơm
Cả gỗ và dầu đều tạo ra một mùi thơm đặc biệt được đánh giá cao trong nhiều thế kỷ Do đó, các loài cây phát triển chậm này đã bị thu hoạch quá mức trong thế kỷ qua
Trang 152.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.2.1.1 Giá trị của cây Đàn hương
Đàn hương đã được trồng trên diện rộng ở nhiều nước để lấy gỗ và tinh dầu Gỗ và lá Đàn hương chứa 3-6% tinh dầu dễ bay hơi (chủ yếu là các hợp chất sesquiterpenols α và β santalols), chất nhựa và tannins.[10]
Đàn hương là loài cây gỗ cho tinh dầu có giá trị kinh tế lớn, có nguồn gốc ở Đông Timor, Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia và Việt Nam Bộ phận thường dùng là lõi của cây gỗ
Việc chưng cất tinh dầu từ gỗ thường sử dụng gỗ của cây có đường kính trên 20cm (>25 năm tuổi), hàm lượng tinh dầu tổng số trung bình đạt từ 1,5-10%, tùy bộ phận của cây Gỗ lõi của rễ có thể đạt 10%, gỗ giác từ cành nhánh đạt từ 1,5 đến 2% Năng suất gỗ có thể đạt 85 đến 240 kg gỗ lõi/cây đối với cây đạt đường kính 30cm Chu kỳ kinh doanh của cây Đàn hương thường
từ 20-30 năm Trong giai đoạn cây còn non, có thể tận dụng cành và lá để chưng cất tinh dầu và chế biến trà túi lọc từ lá
Hiện nay, giá bán tinh dầu Đàn hương trên thị trường thế giới vào khoảng 1.000 đến 1.500 USD/kg, chúng thường được dùng trong công nghiệp chế biến dược liệu, thực phẩm và mỹ phẩm làm hương liệu Nhu cầu sử dung tinh dầu Đàn hương rất lớn nhưng mới chỉ đáp ứng được khoảng 20% [10]
Nhu cầu Đàn hương trên toàn cầu sẽ tăng 5 lần lên 20.000 tấn gỗ mỗi năm trong giai đoạn 2015 - 2025, TFS cho biết Trung Quốc được dự báo đóng góp một nửa sức tăng này Đàn hương tại đây được dùng làm thuốc, đồ thủ công và nước hoa Trong khi đó, Đàn hương khai thác hợp pháp tại Ấn
Độ lại đang bị Chính phủ hạn chế sản xuất và xuất khẩu [11]
Đây là ngành kinh doanh cực lớn, Công ty Santanol hiện bán dầu Đàn hương với giá dưới 3.000 USD một kg Giá này được họ cho là "phù hợp với
xu hướng tương lai" Ấn Độ đến nay vẫn thống trị nguồn cung Đàn hương
Trang 16Tuy nhiên, số lượng bán ra từ các đợt đấu giá của Chính phủ đã lao dốc vài năm gần đây, do khai thác quá mức và buôn lậu, theo các báo cáo tại một hội thảo của Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) năm 2011 Bên cạnh đó, luật pháp nước này quy định toàn bộ Đàn hương là tài sản quốc gia, khiến nhà đầu tư tư nhân khó cạnh tranh [2]
2.2.1.2 Nghiên cứu về chọn loài cây phù trợ cho cây Đàn hương
Đàn hương (Santalum album) là loài cây thường xanh, sống bán ký
sinh, cây chỉ có thể sinh trưởng tốt khi bán ký sinh với một số loại cây chủ nhất định ở các giai đoạn khác nhau
Chi Rau rệu thường được sử dụng như là cây chủ đầu tiên cho gỗ Đàn hương trong vườn ươm Tăng trưởng của cây Đàn hương là mạnh mẽ hơn khi chi Rau rệu được trồng trong cùng và cây Đàn hương sẽ phát triển tốt hơn khi cây con được trồng mà có kết hợp với cây phù trợ.[14]
Thí nghiệm chọn cây phù trợ với 5 loài gồm Alternanthera nana, Sesbaniaformosa, Atalaya hemiglauca, Acacia hemignostavà Crotalaria retusa, kết quả nghiên cứu cho thấy A nana và S formosa phù trợ tốt nhất sau
17 và 24 tuần thí nghiệm, sinh trưởng chiều cao và đường kính của cây Đàn hương vượt hẳn so với các công thức khác và đối chứng.[15]
Đàn hương thường bán ký sinh với các loài cây có khả năng cố định
đạm như Sesbaniaformosa, Acacia trachycarpavà A ampliceps Cây Đàn
hương sinh trưởng vượt trội khi được trồng cạnh các loài cây có khả năng cố định đạm nêu trên, trong khi với thí nghiệm trồng Đàn hương cạnh cây Bạch đàn camal, cây sinh trưởng rất kém (Radomiljac et al., 1999) Cây con ở vườn
ươm rất phù hợp khi được trồng cùng cây con thuộc loài Alternanthera nana
(Radomiljac et al., 1998) và thí nghiệm cho thấy Đàn hương đều bán ký sinh
với ba loài Dalbergia sissoo, Lonicera japonica và Aquilaria sinensis, trong
đó phù hợp nhất là D sisso.[13]
Trang 172.2.1.3 Nghiên cứu về nhân giống Đàn hương từ hạt
Các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng Đàn hương trên thế giới bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên việc tạo cây con Đàn hương tương đối khó, tỷ lệ nảy mầm đạt khoảng 30% và tỷ lệ tạo cây con thành công đạt khoảng 15% Đàn hương là cây sống bán ký sinh nên ở giai đoạn vườn ươm, Đàn hương cần phải trồng cùng các cây bổ trợ như Rệu, Dền cảnh… để hình thành mối quan hệ bán ký sinh ban đầu Ở giai đoạn rừng non, Đàn hương cần được trồng cùng các cây bổ trợ thuộc họ đậu như Đậu triều, Muồng đen, Bánh dầy… để đảm bảo cây sinh trưởng tốt, Đến giai đoạn tuổi lớn hơn lại phải trồng cùng các cây bổ trợ khác, được gọi là cây bổ trợ dài hạn như Sưa, Trắc, Giáng hương….[1]
Tại Hải Nam và Quảng Đông - Trung Quốc đã rất thành công với mô hình này, đến nay đã xây dựng được 1.500ha rừng hỗn giao Đàn hương với Sưa có giá trị kinh tế rất cao [12] Việc nghiên cứu chọn loài cây phù trợ cho cây Đàn hương rất được quan tâm, công tác này quyết định sự thành công để gieo ươm cũng như trồng rừng Đàn hương Trong đó, giai đoạn gieo ươm rất quan trọng, quyết định tỷ lệ thành cây và việc gieo ươm Đàn hương đã được
thực hiện thành công với việc sử dụng cây phù trợ là loài Alternanthera nana
Sinh trưởng của cây con rất tốt.[14]
Hạt giống đã được thí nghiệm xử lý trước khi gieo với 16 công thức, trong đó bao gồm ngâm trong nước sôi, axit và ngâm trong GA3 ở nồng độ và thời gian khác nhau Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ nảy mầm cao nhất (74,33%) khi xử lý ở công thức 8 (Ngâm hạt trong 500 mg/l GA 3 trong
24 giờ) và thấp nhất (44,33%) ở công thức 5 (Ngâm hạt trong H2SO4 trong 5 phút) Việc khử trùng axit và xử lý nước sôi làm giảm tỷ lệ nảy mầm của hạt giống hơn so với việc đối chứng Liên quan đến chất lượng nảy mầm, ngâm hạt trong 1000 mg/l GA3 trong 24 giờ (CT 9) cho chất lượng nảy mầm cao
Trang 18nhất (44,67%) tiếp theo là hạt ngâm trong 500 mg/l GA3 (CT 8) Việc xử lý bằng GA3 tạo ra chỉ số nảy mầm cao nhất của hạt và giá trị thấp nhất được ghi nhận trong các phương pháp xử lý H2SO4 Trong thí nghiệm này, tiền
xử lý với GA3 tốt nhất, nhưng giải pháp thứ hai là ngâm hạt trong nước nóng và gieo hạt trong phân bò hoai Đây là phương pháp xử lý chi phí thấp so với GA3 và do đó có thể được nông dân sử dụng rộng rãi trong các vườn ươm [16]
Thí nghiệm gieo ươm Đàn hương với các công thức sử dụng túi bầu và công thức giá thể và kích thước túi bầu khác nhau cho thấy túi bầu dung tích 600ml tốt nhất để gieo ươm và thần giá thể phù hợp là cát, đất, phân hữu cơ, trấu cháy và than củi theo tỷ lệ 5: 3: 10: 1: 1.[9]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.2.1 Giá trị của cây Đàn hương
Cây Đàn hương có tên khoa học Santalum album L, họ Đàn hương
(Santalaceae) Đây là cây gỗ cao 10 - 15 m, với đặc tính sinh học quan trọng nhất là có rễ cái ký sinh trên cây chủ, rễ con bám chặt vào rễ cái cây chủ bằng các giác mút, hút dinh dưỡng từ cây ký chủ để sinh trưởng và phát triển nên còn gọi Đàn hương là cây gỗ bán ký sinh
Lá nguyên, dầy, mọc đối, hình trứng hoặc hình mũi mác Hoa mẫu 4, cụm hoa mọc thành chùm, lúc đầu màu vàng rơm, sau màu đỏ thẫm Quả hạch hình cầu, khi chín màu đen, thịt nhiều nhựa Ra hoa vào tháng 5 - 6, đậu quả vào tháng 7 - 9
Đàn hương có nguồn gốc ở Đông Timor, phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam), Indonesia Ở Việt Nam cây mọc hoang ở vùng núi Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa Bộ phận dùng là lõi của cây
gỗ, thu hoạch vào mùa thu Gỗ màu vàng nhạt, mùi thơm ngát, dùng dưới dạng khúc gỗ hoặc gỗ bào
Trang 19Đàn hương là cây có giá trị kinh tế rất cao, được thế giới đánh giá là cây hương liệu siêu hạng, Trung Quốc đánh giá Đàn hương là cây có thu nhập vào loại cao nhất trên một đơn vị diện tích, là cây “hoàng kim” giá đắt như vàng.[7]
Gỗ Đàn hương có tinh dầu thơm gồm các thành phần α, β - santalol (ancolsesquiterpen), α, β - Santalen, santen, santenon, α - santenol, santalon, santalicaxit, teresantalicaxit, isovalerandehit, teresantalol, tricycloekasantal, santalin, deoxysantalin, sinapylliandehit, coniferylandehit, syringic andehit, vanilin, urs - 12 - en - 3β - yl – palmitat
Gỗ Đàn hương vị cay, mùi thơm tính ấm (ôn) Ly khí, ôn trung, hòa vị, chỉ thống Chữa các chứng đau bụng vùng dạ dày, bụng dưới, đái buốt do viêm đường tiết liệu, thổ huyết, nấc, ho có đờm lâu khỏi, chữa phong thấp đau nhức xương, kinh giảm, thuốc điều khí chữa đau tim
Theo tây y, gỗ Đàn hương có tác dụng sinh lý chủ yếu là sát trùng đường niệu - sinhdục Y học cổ truyền Ấn Độ dùng lõi gỗ Đàn hương chống viêm, sát trùng, hạ nhiệt, làm săn da, chữa viêm bàn quang (cystitis), ỉa chảy, lậu mãn tính, xuất huyết, nấc, khí hư, loét và rối loạn đường tiết niệu
Gỗ Đàn hương cứng, giác trắng, không mùi, lõi vàng nâu, được sử dụng sản xuất các loại hàng mỹ nghệ tuyệt diệu, rất đắt tiền, cất tinh dầu
để sản xuất nhiều mặt hàng quý và xà phòng thơm
Ngoài ra, ngày càng có nhiều người rất ưa chuộng dùng gỗ Đàn hương
để thỏa mãn nhu cầu phong phú về vật chất của cá nhân và nhu cầu sản phẩm tâm linh, được coi là biểu hiện của nhu cầu hưởng thụ mang tính quý tộc
Đàn hương là loài cây có giá trị kinh tế lớn, giá tinh dầu Đàn hương hiện đang đạt từ 1.000 đến 1.500 USD/kg Nhu cầu sản phẩm tinh dầu Đàn hương trên thế giới rất lớn và nhiều nước như Úc, Ấn Độ và Trung Quốc đã
Trang 20gây trồng, thương mại hóa các sản phẩm từ cây Đàn hương như tinh dầu, trà túi lọc từ lá
Nếu Đàn hương trồng được 40 năm tuổi thì cho gỗ quý, nhưng trồng từ
6 - 10 năm vẫn cho sản phẩm đắt tiền và hiệu quả cao Với mật độ trồng 1.000 cây/ha, cũng có nơi trồng 2.000 cây/ha, sau khoảng 10 năm thu đượclõi 30 kg/cây, giá bán khoảng 500 USD/kg Như vậy, sau 10 năm doanh thu khoảng 15.000 USD/cây, bình quân doanh thu gần 1,5 triệu USD/ha/năm, tương đương 27 tỷ đồng/ha/năm, cao gấp hàng trăm lần các cây rừng khác.[4]
2.2.1.3 Nghiên cứu về nhân giống Đàn hương từ hạt
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống Đàn hương trong tự nhiên rất thấp, trung bình chỉ được 5 - 10%, do đó người ta thường sử dụng biện pháp kích thích nảy mầm nhân tạo bằng các chất kích thích đặc dụng Tuy nhiên, vì lý do giá thành và nguồn gốc công nghệ nhận chuyển giao, nhiều cơ sở bán cây giống
đã sử dụng chất kích thích hóa học GA3 để kích thích hạt giống này mầm Bản chất GA3 là giúp kéo dãn tế bào, giúp tỷ lệ hạt giống nảy mầm cao hơn, nhưng lại gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cây gỗ
Cây Đàn hương thích hợp nhiều loại đất như đất cát, đất đỏ, đất sét, đất
đá ong pha sét, đất sỏi… có độ pH từ 5,5 - 8,0 Cây sinh trưởng kém trên đất
có tầng đất dày dưới 1m, ở những nơi có độ dốc trên 35 độ Đặc biệt, Đàn hương là cây chịu hạn tốt, không chịu được ngập úng, không trồng được ở vùng ven biển thường xuyên có bão to Không phù hợp khi trồng Đàn hương
ở những vùng đất có khí hậu dưới 5oC vào mùa đông vì Đàn hương sẽ tạm ngừng phát triển khi nhiệt độ dưới 5oC và sẽ chết khi nhiệt độ dưới 0oC
Nhằm góp phần thực hiện tốt mục tiêu của Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp theo Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN, Bộ NN&PTNT với kế hoạch hành động và ưu tiên thực hiện 4 nhiệm vụ trọng tâm, gồm: (1) nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất; (2) nâng cao giá trị
Trang 21gia tăng sản phẩm gỗ qua chế biến; (4) phát triển kinh tế hợp tác và liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm trong lâm nghiệp; (5) phát triển thị trường gỗ và sản phẩm Theo định hướng đó, từ nay đến năm 2020 cần đẩy mạnh hoạt động kinh doanh trồng rừng gỗ lớn, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển cây lâm sản ngoài gỗ
Theo Quyết định số 2366/QĐ-BNN-LN ngày 17/8/2006 về đề án bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ giai đoạn 2006-2020 [3], đã xác định các định hướng cơ bản gồm: (1) Hình thành các vùng nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ với quy mô hợp lý gắn với cơ sở chế biến lâm sản, tạo những sản phẩm đặc trưng cho từng vùng và phù hợp với nhu cầu của thị trường Đến năm 2020, diện tích cây lâm sản ngoài gỗ 700-800 ngàn ha (2) Tập trung ưu tiên phát triển nhóm sản phẩm từ chiết xuất tinh dầu và hoá chất có nguồn gốc tự nhiên, thực phẩm (3) Khuyến khích trồng cây lâm sản ngoài gỗ trong cơ cấu cây trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất, kể cả việc trồng thuần hoá lâm sản ngoài
gỗ Khuyến khích phát triển thực vật rừng được phép kinh doanh và có nhu cầu tiêu thụ trên thị trường quốc tế (4) Chú trọng cơ sở chế biến lâm sản ngoài gỗ vừa và nhỏ, làng nghề thủ công truyền thống có sử dụng nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ, mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, đẩy mạnh xúc tiến thương mại để xác định mặt hàng chủ lực làm cơ sở định hướng phát triển vùng nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ
Ngoài ra, cây Đàn hương còn có thể gây trồng trên các lập địa khô hạn, nghèo dinh dưỡng vì vậy nó là đối tượng trồng rừng phù hợp cho nhiều vùng sinh thái ở Việt Nam Qua đó mang lại lợi ích kinh tế lớn cho các vùng khó khăn
Thông qua các chương trình hợp tác quốc tế với Úc, đến nay, Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng đã xây dựng được 01 mô hình trồng Đàn hương tại Tân Sơn, Phú Thọ Sau 3 năm tuổi, tỷ lệ sống đạt trên 95% Tuy đất khô,
Trang 22xấu nhưng cây sinh trưởng tốt và đã ra hoa, kết quả Đồng thời, trong những năm qua, Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng đã thí nghiệm thăm dò tạo cây con và trồng hỗn giao với Sưa, kết quả bước đầu rất khả quan Đây là nguồn vật liệu nghiên cứu, là cơ sở khoa học quan trọng và khả thi để tiến hành nghiên cứu phát triển Đàn Hương ở Việt Nam
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
Thủ đô Hà Nội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, là trung tâm đầu não về chính trị, văn hoá và khoa học kĩ thuật, đồng thời là trung tâm lớn về giao dịch kinh tế và quốc tế của cả nước Trải qua 1.000 năm hình thành và phát triển, kể từ khi vua Lý Thái Tổ chọn khu đất Đại La bên cửa sông Tô Lịch làm nơi định đô cho muôn đời Hà Nội đã chứng kiến sự thăng trầm của hầu hết các triều đại phong kiến Việt Nam từ Lý - Trần - Lê - Mạc - Nguyễn… kinh thành Thăng Long là nơi buôn bán, trung tâm văn hóa, giáo dục của cả miền Bắc
2.3.1.1 Vị trí địa lý
Hà Nội hiện nay có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên - Vĩnh Phúc ở phía Bắc; Hà Nam - Hòa Bình ở phía Nam; Bắc Giang - Bắc Ninh - Hưng Yên ở phía Đông và Hòa Bình - Phú Thọ ở phía Tây
Đức Thắng là một phường thuộc quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Việt Nam Phường Đức Thắng có diện tích 120 ha, dân số năm 2013 là
19.923 người.[5]
Trước năm 1942, vùng này nguyên là xã Liên Ngạc, tổng Phú Gia, thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông Sau năm 1954, đây là xã thuộc quận Quảng Bá, ngoại thành Hà Nội Năm 1961, xã Liên Ngạc cùng với các xã Đông Ngạc, Nhật Tảo nhập thành xã Đức Thắng thuộc huyện Từ Liêm mới
Trang 23thành lập Năm 1964, xã Đức Thắng đổi thành xã Đông Ngạc.Ngày 27 tháng
12 năm 2013, xã Đông Ngạc chia tách thành 2 phường: Đông Ngạc và Đức Thắng.[5]
2.3.1.2 Điều kiện địa hình
Nhìn chung, địa hình Hà Nội khá đa dạng với núi thấp, đồi và đồng bằng Trong đó phần lớn diện tích của Thành phố là vùng đồng bằng, thấp dần
từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng dòng chảy của sông Hồng Điều này cũng ảnh hưởng nhiều đến quy hoạch xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố
Khu vực nội thành và phụ cận là vùng trũng thấp trên nền đất yếu, mực nước sông Hồng về mùa lũ cao hơn mặt bằng Thành phố trung bình 4 - 5m
Hà Nội có nhiều hồ, đầm thuận lợi cho phát triển Thủy sản và du lịch, nhưng
do thấp trũng nên khó khăn trong việc tiêu thoát nước nhanh, gây úng ngập cục bộ thường xuyên vào mùa mưa Vùng đồi núi thấp và trung bình ở phía Bắc Hà Nội thuận lợi cho xây dựng, phát triển công nghiệp, lâm nghiệp và tổ chức nhiều loại hình du lịch
2.3.1.3 Tài nguyên đất
Hà Nội có tổng diện tích đất tự nhiên 92.097 ha, trong đó, diện tích đất nông nghiệp chiếm 47,4%, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 8,6%, đất ở chiếm 19,26%
Xuất phát từ yêu cầu sử dụng đất của Thủ đô Hà Nội, có 2 nhóm đất có
ý nghĩa lớn nhất đối với phát triển kinh tế - xã hội, đó là đất nông lâm nghiệp
và đất xây dựng Phần lớn diện tích đất đai ở nội thành Hà Nội được đánh giá
là không thuận lợi cho xây dựng do có hiện tượng tích nước ngầm, nước mặt, sụt lún, nứt đất, sạt lở, trôi trượt dọc sông, cấu tạo nền đất yếu
Trang 242.3.1.4 Thủy văn
Hà Nội được hình thành từ châu thổ sông Hồng, nét đặc trưng của vùng địa lí thành phố Hà Nội là “Thành phố sông hồ” hay “Thành phố trong sông” Nhờ các con sông lớn nhỏ đã chảy miệt mài hàng vạn năm đem phù sa về bồi đắp nên vùng châu thổ phì nhiêu này Hiện nay, có 7 sông chảy qua Hà Nội: sông Hồng, sông Đuống, sông Đà, sông Nhuệ, sông Cầu, sông Đáy, sông Cà
Lồ Trong đó, đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài tới 163km (chiếm 1/3 chiều dài của con sông này chảy qua lãnh thổ Việt Nam) Trong nội đô ngoài
2 con sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu còn có hệ thống hồ đầm là những đường tiêu thoát nước thải của Hà Nội
Những hồ đầm này của Hà Nội không những là một kho nước lớn mà còn là hệ thống điều hòa nhiệt độ tự nhiên làm cho vùng đô thị nội thành giảm bớt sức hút nhiệt tỏa nóng của khối bê tông, sắt thép, nhựa đường và các hoạt động của các nhà máy… Hồ đầm của Hà Nội không những tạo ra cho thành phố khí hậu mát lành - tiểu khí hậu đô thị mà còn là những danh lam thắng cảnh, những vùng văn hóa đặc sắc của Thăng Long - Hà Nội
2.3.1.5 Điều kiện khí hậu thời tiết
Tài nguyên khí hậu ở Hà Nội được hình thành và tồn tại nhờ cơ chế nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh ít mưa, mùa hè nóng nhiều mưa Lượng bức xạ tổng cộng năm dưới 160 kcal/cm2 và cân bằng bức xạ năm dưới 75 kcal/cm2 Hàng năm, chịu ảnh hưởng của khoảng 25 - 30 đợt front lạnh Nhiệt
độ trung bình năm tuy không dưới 23oC, song nhiệt độ trung bình tháng 01 dưới 18oC và biên độ năm của nhiệt độ trên 12oC
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm khoảng 80% lượng mưa toàn năm Mùa ít mưa chủ yếu là mưa nhỏ và mưa phùn kéo dài
từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong đó tháng 12 hoặc tháng 01 có lượng mưa ít nhất
Trang 25Hà Nội có mùa đông lạnh rõ rệt so với các địa phương khác ở phía Nam: Tần số front lạnh cao hơn, số ngày nhiệt độ thấp đáng kể, nhất là số ngày rét đậm, rét hại nhiều hơn, mùa lạnh kéo dài hơn và mưa phùn cũng nhiều hơn Nhờ mùa đông lạnh trong cơ cấu cây trồng của Hà Nội cũng như đồng bằng Bắc Bộ, có cả một vụ đông độc đáo ở miền nhiệt đới
- Nhiệt độ không khí trung bình trong năm :23oC
- Nhiệt độ không khí ngày cao nhất trong năm:42oC
- Nhiệt độ không khí ngày thấp nhất trong năm: 5oC
- Lượng mưa trung bình trong năm: 1480mm
- Lượng mưa năm cao nhất (tần suất 20%): 1952mm
- Lượng mưa năm thấp nhất: 915mm
Độ ẩm: cao nhất trong năm vào các tháng: 4, 9, 10, thấp nhất vào các tháng: 11, 12 Hướng gió chủ đạo: mùa hè là hướng Đông Nam, mùa đông là hướng Đông Bắc Tốc độ gió trung bình: 3m/s Các yếu tố khí hậu khác trong năm: sương muối có từ 2-3 ngày/năm, mưa phùn khoảng 40 ngày/năm, số giờ nắng trung bình: 1620 giờ/năm Lượng bức xạ: 8,5kcal/cm2/tháng Nhìn chung, huyện nằm trong vùng khí hậu tương đối thuận lợi, đặc biệt là cho sản xuất nông nghiệp với khả năng bố trí nhiều vụ gieo trồng trong năm
Với đặc điểm địa hình và điều kiện khí hậu thuận lợi rõ rệt tạo điều kiện cho việc định hướng phát triển kinh tế theo đặc điểm và thế mạnh của từng vùng, tạo nên sự phát triển đa dạng về kinh tế, văn hoá, xã hội Đồng thời, với địa hình dốc tự nhiên, sẽ tương đối thuận lợi cho việc thiết kế hệ thống tiêu thoát nước trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá
2.3.1.6 Giao thông
Hệ thống đường bộ
Cho đến cuối năm 2013, trên địa bàn toàn thành phố có khoảng 6.132 km đường bộ, trong đó đường do Bộ GTVT quản lý khoảng 80 km,
Trang 26thành phố quản lý khoảng 1.715 km, các huyện quản lý 1.390 km còn lại các
xã quản lý 12.947 km
Hệ thống xe buýt
Mặc dù Hà Nội đã phát triển nhanh hệ thống xe buýt để phục vụ tới 300 triệu lượt người trong năm 2005, số người lựa chọn đi xe buýt chỉ chiếm gần 18% số người tham gia theo một cuộc điều tra của Sở Giao thông Công cộng thành phố Hơn 60% trả lời họ lựa chọn xe máy làm phương tiện di chuyển hàng ngày, và khoảng 13% nói họ chọn xe đạp hoặc đi bộ Sở không công bố bao nhiêu người tham gia cuộc điều tra
Hệ thống đường sắt
Đường sắt Hà Nội là hệ thống giao thông quan trọng trong vận chuyển hàng hóa và hành khách, được nối liền với hầu hết với mọi miền ở Việt Nam Hà Nội là điểm đầu của tuyến đường sắt Bắc Nam dài 1.726 km, nằm trong tổng chiều dài 2.600 km của hệ thống đường sắt Việt Nam, chủ yếu
do Pháp xây dựng
Ngoài ra, từ Hà Nội còn có các tuyến đường sắt nối với các tỉnh phía Bắc và đi ra cảng Hải Phòng Hà Nội cũng có tuyến đường sắt Bắc Hồng - Văn Điển được xây dựng vào năm 1987 với mục đích vận chuyển hàng hóa
Từ năm 1900 Hà Nội đã có đường sắt nội đô dùng cho tàu điện do Pháp xây dựng Tồn tại trong 9 thập kỷ đến năm 1991 thì tàu ngừng hoạt động, đường ray đã được bóc đi vì phương tiện giao thông này gây tắc đường, một phần do đường ray và phần vì tốc độ tàu chạy chậm Hiện tại Hà Nội đang có
dự án xây dựng tuyến đường sắt đô thị trên cao nhằm tăng lợi ích trong việc lưu thông cho người dân
Tuyến đường đi qua quận Bắc Từ Liêm
Các dự án đường sắt đô thị đi qua địa bàn quận Bắc Từ Liêm là các tuyến số 2 (Nội Bài - Thượng Đình), tuyến số 3 (Trôi - Nhổn - Yên Sở), tuyến