LÊ THÀNH DUY Tên chuyên đề: “NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH VIÊM PHỔI - MÀNG PHỔI Ở LỢN DO VI KHUẨN ACTINOBACILLUS PLEUROPNEUMONIAE GÂY RA TẠI HUYỆN HIỆP HÒA - TỈNH BẮC GIAN
Trang 1LÊ THÀNH DUY
Tên chuyên đề:
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH VIÊM PHỔI -
MÀNG PHỔI Ở LỢN DO VI KHUẨN ACTINOBACILLUS
PLEUROPNEUMONIAE GÂY RA TẠI HUYỆN HIỆP HÒA -
TỈNH BẮC GIANG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y
Khóa học : 2014 - 2018
Thái Nguyên - năm 2018
Trang 2LÊ THÀNH DUY
Tên chuyên đề:
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH VIÊM PHỔI -
MÀNG PHỔI Ở LỢN DO VI KHUẨN ACTINOBACILLUS
PLEUROPNEUMONIAE GÂY RA TẠI HUYỆN HIỆP HÒA -
TỈNH BẮC GIANG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Thú y
Khóa học : 2014 - 2018
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Quang Tính
Thái Nguyên - năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa chăn nuôi thú y, thầy giáo hướng dẫn, cùng ban lãnh đạo công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet, em đã được về thực tập tốt nghiệp tại công ty
Sau quá trình học tập tại trường và thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, đến nay em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Qua đây em xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành và sâu sắc tới Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, cùng các thầy cô giáo trong khoa, đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua Đặc biệt là sự quan tâm, giúp đỡ của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Quang Tính đã chỉ bảo và trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn cán bộ, công nhân viên công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên, đại lý thuốc thú y Dương Thúy huyện Hiệp Hòa - tỉnh Bắc Giang, cán bộ trạm chăn nuôi thú y và nhân dân các xã của huyện Hiệp Hòa đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian tiến hành đề tài tại địa phương
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả bạn bè, gia đình và người thân đã động viên, tạo điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành đề tài đúng thời gian quy định
Em xin kính chúc các thầy cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành đạt trong công tác giảng dạy và thành công trong công tác nghiên cứu khoa học
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2018
Sinh viên
Lê Thành Duy
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Bảng đánh giá mức độ mẫn cảm của vi khuẩn với một số loại
kháng sinh (NCCLS - 2002) 22 Bảng 4.1 Kết quả thực hiện một số công việc tại kho thành phẩm của
công ty CP Đức Hạnh Marphavet 24 Bảng 4.2 Tỷ lệ lợn ốm, chết do nghi mắc viêm phổi màng phổi tại một
số xã của huyện Hiệp Hòa 25 Bảng 4.3 Tỷ lệ lợn ốm, chết do nghi mắc viêm phổi màng phổi theo
lứa tuổi 27 Bảng 4.4 Tỷ lệ lợn ốm, chết do nghi mắc bệnh viêm phổi màng phổi tại
một số xã của huyện Hiệp Hòa 29
Bảng 4.5 Kết quả phân lập A pleuropneumoniae ở mẫu bệnh phẩm lợn
mắc bệnh viêm phổi 30 Bảng 4.6 Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các
chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 32
Bảng 4.7 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của
các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 34
Bảng 4.8 Kết quả điều trị thử nghiệm lợn mắc viêm phổi màng phổi 38
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình phân lập vi khuẩn A Pleuropneumoniae 20
Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ lợn nghi mắc, chết do bệnh viêm phổi màng phổi
tại một số xã tại huyện Hiệp Hòa 26 Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ lợn ốm, chết do nghi mắc bệnh viêm phổi màng
phổi theo lứa tuổi 28 Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc, chết do nghi mắc bệnh viêm phổi màng
phổi theo thời vụ Error! Bookmark not defined
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
AGID : Agargel Immuno Diffuse
A pleuropneumoniae : Actinobaccillus pleuroneumoniae
BHI : Brain Heart Infusion
CAMP : Chiristie - Atkinson - Munch - Peterson
CPS : Capsule polysaccharide
DNT : Dermanecrotic toxin
ELISA : Enzyme - linked Immuno sorbant assay
H pleuropneumoniae : Haemophilus pleuropneumoniae
IHA : Indirect Haemagglutination test
LPS : Lypopolysaccaride
MR : Methyl red
NAD : Nicotinamide Adenine Dinucleotide
PBS : Phosphat buffer solution
PCR : Polymerase Chain Reaction
PPLO : Pleuropneumonia - like organism
P multocida : Pasteurella multocida
PRRS : Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome
Sta aureus : Staphylococcus aureus
S suis : Streptococcus suis
TYE : Tryptone Yeast Extract Broth
TSA : Tryptic Soya Agar
VP : Voges Prokauer
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU iv
MỤC LỤC v
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 4
2.1.1 Lịch sử hình thành 4
2.1.2 Cơ cấu bộ máy và tổ chức của công ty 5
2.1.3 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất nơi thực tập 5
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề nghiên cứu 6
2.2.1 Đặc điểm dịch tễ học 6
2.2.2 Cơ chế gây bệnh viêm phổi màng phổi 7
2.2.3 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh viêm phổi màng phổi ở lợn 8
2.2.4 Chẩn đoán 10
2.2.5 Phòng bệnh 12
2.2.6 Điều trị 14
PHẦN 3: NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Nội dung nghiên cứu 17
3.1.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh viêm phổi màng phổi ở lợn 17
3.1.2 Phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae 17
Trang 83.1.3 Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của các chủng A pleuropneumoniae
phân lập được 17
3.1.4 Nghiên cứu biện pháp phòng, trị 17
3.2 Đối tượng, nguyên liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
3.2.1 Đối tượng 17
3.2.2 Nguyên vật liệu 17
3.2.3 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 18
3.3 Phương pháp nghiên cứu 18
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ 18
3.3.2 Phương pháp lấy mẫu 19
3.2.3 Các tỷ lệ đo lường trong dịch tễ 21
3.3.4 Phương pháp xác định đặc tính sinh vật, hóa học của vi khuẩn A pleuropneumoniae 21
3.3.5 Phương pháp xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 21
3.3.6 Xây dựng phác đồ điều trị lợn nghi mắc bệnh viêm phổi màng phổi 22
3.3.7 Phương pháp xử lý số liệu 23
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Kết quả công việc thực hiện tại Công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet 24
4.2 Kết quả điều tra tình hình bệnh viêm phổi màng phổi ở lợn tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang 25
4.2.1 Kết quả xác định tỷ lệ lợn ốm, chết do nghi mắc bệnh viêm phổi màng phổi tại một số xã của huyện Hiệp Hòa 25
4.2.2 Kết quả xác định tỷ lệ lợn ốm, chết do nghi mắc bệnh viêm phổi màng phổi theo lứa tuổi 27
4.2.3 Kết quả xác định tỷ lệ lợn ốm, chết do nghi mắc bệnh viêm phổi màng phổi theo thời vụ (tháng) 28
Trang 94.3 Kết quả phân lập A pleuropneumoniae ở mẫu bệnh phẩm lợn mắc
bệnh viêm phổi màng phổi 30
4.4 Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 32
4.5 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 34
4.6 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị lợn mắc viêm phổi 36
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Đề nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42 PHỤ LỤC
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Bắc Giang là tỉnh có nghề chăn nuôi phát triển đem lại nguồn thu nhập cao cho nhiều hộ gia đình, trong đó chăn nuôi lợn luôn giữ vai trò chủ đạo
Do vậy, tỉnh Bắc Giang đã thực hiện nhiều dự án nạc hoá đàn lợn, hỗ trợ con giống, đưa nái ngoại vào chăn nuôi ở các nông hộ Theo số liệu cục thống kê tỉnh Bắc Giang tại thời điểm 01/04/2017 [3], tổng đàn lợn của tỉnh đạt 1.133.188 con; trong đó, đàn lợn nái là 191.957 con và đàn lợn thịt là 939.809 con Trên địa bàn tỉnh có 545 trang trại chăn nuôi lợn tập trung với quy mô mỗi trang trại có 20 nái và 100 lợn thịt trở lên Đây thực sự là một bước tiến mới trong chăn nuôi lợn của tỉnh, góp phần phát triển chăn nuôi lợn bền vững, tạo ra sản phẩm an toàn có sức cạnh tranh cao trên thị trường
Tuy nhiên, song song với sự phát triển chăn nuôi thì tình hình dịch bệnh cũng đang diễn biến hết sức phức tạp, hàng năm làm chết nhiều đầu lợn của tỉnh Theo báo cáo phòng chống dịch bệnh của Chi cục chăn nuôi và Thú
y tỉnh Bắc Giang năm 2017 [2], năm 2016 toàn tỉnh có 89.430 con lợn bị ốm trong đó 7.920 con chết; năm 2017 có 81.675 con lợn bị ốm và 6.100 con chết, gây thiệt hại lớn về kinh tế, hay gặp và phổ biến là bệnh viêm phổi ở
lợn, trong đó vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae được đánh giá là
nguyên nhân gây bệnh phổ biến và quan trọng nhất Bệnh viêm phổi ở lợn rất phổ biến, là bệnh rất khó ngăn chặn và kiểm soát Bệnh có thể làm giảm tốc
độ tăng trưởng và khả năng tiêu thụ thức ăn của vật nuôi, trong nhiều trường hợp có thể dẫn đến tử vong cho một số đàn lợn Về mặt kỹ thuật, việc kiểm
soát bệnh viêm phổi ở lợn đòi hỏi sự hiểu biết về mối tương quan giữa các vi
sinh vật có thể gây bệnh với vật nuôi và việc quản lý môi trường chăn nuôi Nguyên nhân gây nên các bệnh viêm phổi ở lợn vô cùng đa dạng trong đó có
Trang 11cả vi khuẩn và virus Có những trường hợp bệnh có sự tham gia cùng lúc của nhiều tác nhân Trên thực tế lâm sàng hiện nay có rất nhiều các ca bệnh viêm phổi - màng phổi xảy ra kế phát cùng với các virus gây bệnh trên đường hô hấp như (PRRS) làm nghiêm trọng hơn tình trạng bệnh hô hấp trong đàn cũng như gây khó khăn cho việc chẩn đoán, điều trị Bệnh viêm phổi màng phổi do
vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae (APP) gây ra, vi khuẩn này hiện
có hơn 15 serotypes và mỗi serotype có độc lực khác nhau Các serotypes xuất hiện khác nhau ở mỗi quốc gia Ở Việt Nam, serotype 2 và 5 khá phổ biến, bệnh gây những tổn thương nghiêm trọng ở phổi và gây ra tổn thất kinh
tế rất lớn cho người chăn nuôi Bệnh lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp hoặc qua không khí ở khoảng cách gần và mầm bệnh chỉ tồn tại bên ngoài con vật vài ngày Bệnh có thể xảy ra trên lợn từ lúc cai sữa đến khi giết thịt Thời gian
ủ bệnh thường rất ngắn, vào khoảng 12 giờ Các độc tố do vi khuẩn A
pleuropneumoniae sản sinh ra gây tổn thương nặng cho mô phổi Bệnh ảnh
hưởng đến năng suất của trại chăn nuôi, giảm tỷ lệ tăng trọng trên lợn và làm tăng tỷ lệ tiêu hao thức ăn Ở thể quá cấp tính có khả năng gây đột tử ở lợn Tại Bắc Giang, các công trình nghiên cứu về bệnh viêm phổi - màng phổi do
vi khuẩn A pleuropneumoniae chưa nhiều, đặc biệt là việc phân lập, nghiên
cứu xây dựng quy trình chẩn đoán, biện pháp phòng chống bệnh còn hạn chế
Xuất phát từ thực tế trên em tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae gây ra tại huyện Hiệp Hòa - tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu
- Điều tra tình hình mắc bệnh viêm phổi trên đàn lợn nuôi tại một số xã của huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Trang 12- Đưa ra một số phác đồ điều trị cho lợn mắc bệnh đạt hiệu quả cao
- Đánh giá hiệu quả điều trị của một số loại thuốc kháng sinh đối với bệnh viêm phổi màng phổi
1.2.2 Yêu cầu
- Xác định được tỷ lệ lợn mắc bệnh viêm phổi màng phổi tại một số xã
của huyện huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng quy trình phòng và trị bệnh cho lợn khi mắc viêm phổi ở các trang trại, hộ chăn nuôi tại cơ sở
1.2.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Phân lập, xác định được đặc tính sinh hóa học của vi khuẩn A
pleuropneumoniae
- Xác định tính mẫn cảm của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được với một số loại kháng sinh từ đó xây dựng phác đồ điều trị
- Làm phong phú tài liệu khoa học, làm tài liệu tham khảo phục vụ
nghiên cứu về vi khuẩn A pleuropneumoniae
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Lịch sử hình thành
Công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet được thành lập tháng 12 năm 2002, hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực: Sản xuất vacxin phòng bệnh, sản xuất kinh doanh thuốc thú y, dược phẩm, thực phẩm chức năng, chế phẩm sinh học, thức ăn chăn nuôi… cùng thời điểm đó Đảng và Nhà nước ta tăng cường giám sát, quản lý, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phải phát huy hết nội lực, sản xuất sản phẩm chất lượng cao, phù hợp với tiêu chuẩn Quốc tế, hướng đến xuất khẩu, theo đó những doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y vừa và nhỏ, máy móc trang thiết bị cũ và lạc hậu, sản xuất manh múm, tận dụng, cơ hội sẽ khó tồn tại được Dành chỗ cho những doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y chất lượng cao, uy tín, hợp vệ sinh thú y, trang thiết bị máy móc hiện đại phù hợp với tiêu chuẩn Quốc tế, giá thành rẻ, hiệu quả kinh tế và hiệu quả điều trị cao
Nhận thức sâu sắc được điều đó tập thể ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên công ty Marphavet quyết tâm xây dựng một thương hiệu Marphavet với chiến lược sản phẩm có chiều sâu mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sử dụng Tại đây có một tập thể các giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ có nhiều kinh nghiệm thực tế trong ngành Có đội ngũ bác sĩ thú y giỏi, đội ngũ công nhân tay nghề cao Cùng với sự phát triển của chăn nuôi cả nước Đức Hạnh Marphavet không ngừng tìm tòi, nghiên cứu, phát triển hệ tá dược mới kết hợp với thảo dược có nguồn gốc tự nhiên Sản phẩm của Đức Hạnh Marphavet khá đa dạng, phong phú về chủng loại
Trụ sở nhà máy đặt tại xã Trung Thành - Phổ Yên - Thái Nguyên Với
12 chi nhánh khác trên cả nước như: chi nhánh Cần Thơ, chi nhánh Quận 9 -
Trang 14TPHCM, chi nhánh Đồng Nai, chi nhánh Đắk Lắc, chi nhánh Nha Trang, chi nhánh Đà Nẵng, chi nhánh Huế, chi nhánh Hải Phòng và chi nhánh Mỹ Đình -
Hà Nội
2.1.2 Cơ cấu bộ máy và tổ chức của công ty
Marphavet có đội ngũ nhân sự chuyên môn trình độ cao với hơn 1.000 CBNV bao gồm 1 giáo sư, 3 phó giáo sư, 8 Ttiến sỹ, 29 thạc sỹ, trên 500 bác
sĩ thú y và kĩ sư chăn nuôi, 15 dược sĩ nhân y, 12 cử nhân Công nghệ sinh học
có nhiều kinh nghiệm thực tế trong ngành, hơn 250 cử nhân kinh tế, kế toán, luật, nhân văn, quản trị kinh doanh, marketing, cơ khí chế tạo máy, điện lạnh…có trình độ chuyên môn thường xuyên được tập huấn ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài sang đào tạo, đội ngũ công nhân thâm niên lành nghề, môi trường làm việc thân thiện, chuyên nghiệp, nhiều cơ hội thăng tiến Ngoài ra Công ty đang hợp tác tốt với các Bộ, Cục, Vụ, Viện, Liên hiệp, Hội, Trung tâm và các trường đại học trong và ngoài nước
2.1.3 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất nơi thực tập
Nhờ có sự giúp đỡ của công ty Marphavet mà em được phân công hỗ trợ đại lý thuốc thú y Dương Thúy
Đại lý nằm trên địa bàn xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, cách trung tâm huyện 0,3km Cơ sở thực tập do TS Lê Văn Dương quản lý và điều hành Đại lý gồm 1 quản lý, 1 kỹ thuật viên kiêm marketing, 1 nhân viên
và 2 thực tập sinh Nhờ có sự hợp tác của công ty Marphavet và TS Lê Văn Dương nên đã đào tạo 5 đợt sinh viên thực tập từ trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, học viện Nông Nghiệp Hà Nội, đại học Nông Lâm Bắc Giang
Các mặt hàng thuốc, chế phẩm sinh học, dụng cụ thú y bày bán được sắp xếp gọn gàng, khoa học TS Lê Văn Dương và Đoàn Thế Thắng (kỹ thuật viên) có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình, yêu nghề và có tinh thần trách nhiệm cao, luôn chỉ dạy và giúp đỡ tận tình các thực tập sinh
Trang 152.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề nghiên cứu
Bệnh viêm phổi màng phổi lây lan rộng và được ghi nhận ở nhiều nước trên thế giới, nơi có nền công nghiệp chăn nuôi lợn phát triển Bệnh có mặt và lan truyền ở hầu hết các nước Châu Âu và một phần ở Mỹ, Canada, Mexico, Nam Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Úc
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, vi khuẩn A pleuropneumoniae đã
được phân lập và được đánh giá là một trong những nguyên nhân gây bệnh hô hấp khá quan trọng ở tất cả các trang trại chăn nuôi lợn siêu nạc quy mô lớn
2.2.1 Đặc điểm dịch tễ học
Mặc dù vi khuẩn A pleuropneumoniae có nhiều serotype khác nhau
nhưng ở mỗi quốc gia, chỉ có một vài serotype nhất định lưu hành và gây bệnh trên đàn lợn, như serotype 2 có ở Thụy Điển, Đức và Thụy Sĩ và serotype 1, 5 ở Mỹ và Canada Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nhiều serotype cùng lưu hành trên đàn lợn ở cùng một nước cũng đã được phát hiện
(Maldonado và cs, 2009 [20]) trong 127 chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae
phân lập được ở Tây Ban Nha có 4,7% số chủng thuộc serotype 2, 4,7% thuộc serotype 4, 68,5% thuộc serotype 7, 1,6% thuộc serotype 11, và 26 chủng không xếp loại được Về độc lực, có một số serotype có tính độc yếu và dịch
tễ của chúng không quan trọng ở một số nước nhất định, song lại có thể gây nên dịch ở một số nước khác (Brandreth và Smith, 1985)[14]
A pleuropneumoniae là vi khuẩn cư trú ở đường hô hấp và có tính đặc
hiệu với lợn A pleuropneumoniae cư trú chủ yếu ở hạch amidan và ít hơn ở
xoang mũi của lợn khỏe Khi lợn bị nhiễm trùng quá cấp tính hoặc cấp tính, vi khuẩn không chỉ thấy ở các tổn thương ở phổi và máu, mà còn ở chất tiết đường hô hấp Những trường hợp sống sót sau nhiễm khuẩn cấp tính trở thành lợn lành nhưng mang mầm bệnh, chúng tồn tại ở những vùng hoại tử ở phổi, amidal và ở mũi Đây chính là nguồn lây bệnh chủ yếu cho các lợn khỏe khác
Trang 16Tất cả lợn ở các lứa tuổi đều có thể bị cảm nhiễm, nhưng lợn sau cai sữa dễ cảm nhiễm nhất Trong trường hợp bệnh cấp tính, tỷ lệ chết thường cao và tỷ lệ này cũng phụ thuộc vào độc lực của vi khuẩn cùng sự lưu hành bệnh trong môi trường Tỷ lệ tử vong sẽ trầm trọng hơn khi có mặt của các bệnh khác như bệnh Aujeszky, hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn
(PRRS) Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng việc nhiễm trùng đồng thời A
pleuropneumoniae và virus PRRS không phải lúc nào cũng luôn làm bệnh
trầm trọng hơn so với khi nhiễm trùng riêng rẽ
Con đường chính để lây bệnh là đường hô hấp: bệnh được truyền từ lợn bệnh sang lợn khỏe qua tiếp xúc trực tiếp hoặc qua không khí ở khoảng cách gần, đôi khi, bệnh có thể lây gián tiếp do các chất tiết bị nhiễm trùng từ các con lợn bị ốm cấp tính qua trung gian là các công nhân làm việc ở chuồng trại Chưa có bằng chứng cụ thể xác minh chắc chắn vai trò trung gian trong việc lây truyền bệnh qua các động vật gặm nhấm nhỏ và chim
Sự vận chuyển và nhập đàn làm tăng số lượng mắc bệnh viêm phổi màng phổi Sự lan truyền thường xảy ra do việc đưa vào các trại nuôi một số động vật mang bệnh khi các con vật ở trại đó không có miễn dịch với bệnh Ngoài ra, yếu tố môi trường xung quanh như đàn quá đông, cùng điều kiện khí hậu, nhất là khi có sự thay đổi nhiệt độ, độ ẩm không khí cao và thông khí không đủ làm sự phát triển và lan truyền bệnh nhanh chóng, tăng số lượng lợn chết và số lượng đàn lợn mắc bệnh (Nicolet, 1992 [22]) Vì thế, bệnh thường xảy ra với tỷ lệ cao nhất là ở lợn sau cai sữa và lợn chuẩn bị được giết thịt, chủ yếu là ở điều kiện thời tiết xấu Ở các đàn lớn, sự pha trộn, thường có nguy cơ cao hơn ở các đàn nhỏ nuôi riêng rẽ
2.2.2 Cơ chế gây bệnh viêm phổi màng phổi
Vi khuẩn A pleuropneumoniae không tồn tại lâu ngoài môi trường, bệnh
thường lây truyền trực tiếp từ lợn bệnh sang lợn khỏe Tuy nhiên, trong các ổ
Trang 17dịch cấp tính thì bệnh có thể được truyền từ đàn lợn này sang đàn lợn khác, điều này cho thấy sự truyền bệnh có thể qua đường không khí hoặc do những người chăn nuôi mang những dụng cụ có mầm bệnh từ những đàn lợn nhiễm bệnh làm lây nhiễm sang đàn khác (Nicolet, 1992 [22]) Vi khuẩn sau khi xâm nhập, cư trú ở họng và cuối cùng định cư ở phổi Các vi khuẩn sẽ bị thực bào rất nhanh bởi các tế bào đại thực bào, nhưng cuối cùng chính các tế bào đại thực bào này cũng bị vi khuẩn tiêu diệt
Cơ chế gây bệnh của A pleuropneumoniae khác nhiều so với cơ chế gây bệnh của các vi khuẩn khác trong họ Pasteurellaceae A pleuropneumoniae
do có khả năng giải phóng ra enzym protease phân giải gelatin, IgA, IgG và haemoglobin, làm cho con vật thiếu máu và thiếu oxy trầm trọng Các protein
có khả năng gắn với sắt có trong vi khuẩn cho phép chúng lấy sắt từ cơ thể vật chủ Vi khuẩn còn có khả năng sinh nội độc tố và ngoại độc tố Ngoài ra, vi khuẩn được bao bọc bởi một lớp giáp mô có tác dụng bảo vệ trước các yếu tố miễn dịch của vật chủ Tuy nhiên trong quá trình con vật mắc bệnh, các yếu tố nội sinh của vật chủ cũng góp phần trong sự phát triển của tổn thương phổi
sau khi bị vi khuẩn A pleuropneumoniae xâm nhập, như: các chu trình đông
máu và viêm đã được chứng minh là quan trọng trong giai đoạn đầu của sự phát triển tổn thương Ngoài ra, tình trạng miễn dịch của động vật rõ ràng có
liên quan đến mức độ nghiêm trọng và hậu quả cuối cùng của nhiễm trùng A
Trang 18+ Thể quá cấp tính: Một hoặc nhiều lợn cai sữa trong cùng chuồng hoặc khác chuồng trở nên ốm nặng, sốt 41,50C, mệt mỏi, bỏ ăn Lợn có thể nôn mửa và đi ngoài trong một thời gian ngắn Con vật bị bệnh nằm trên sàn, không có dấu hiệu thở rõ ràng, mạch đập tăng lên rất sớm và trụy tim mạch Thời gian ngắn trước khi chết, thường có những biểu hiện khó thở dữ dội, thở bằng mồm, lợn ở tư thế ngồi thở, nhiệt độ ở hậu môn giảm nhanh Ngay trước khi chết, có chảy nhiều dịch bọt lẫn máu ở miệng và lỗ mũi, nhịp tim tăng (Nielsen, 1985 [23]; Nicolet, 1992 [22]) Tiếp theo những triệu chứng này là rối loạn tuần hoàn, da trên mũi, tai, chân và sau cùng là toàn bộ cơ thể trở nên tím tái (Nicolet, 1992 [22]), lợn chết sau 24-36 giờ Trong một số trường hợp lợn chết đột ngột mà không có bất kỳ dấu hiệu lâm sàng nào Nhiều nghiên cứu cho thấy thời gian diễn biến của bệnh ít nhất là 3 giờ từ khi bị nhiễm trùng đến khi chết Trên lợn sơ sinh bệnh xảy ra như nhiễm trùng huyết và hậu quả tử vong
+ Thể cấp tính: Nhiều lợn cùng bị ốm ở một chuồng hoặc ở những chuồng khác nhau Nhiệt độ cơ thể từ 40,50C - 410C, da đỏ, con vật buồn bã, mệt, nằm không muốn dậy, không muốn uống, bỏ ăn Các dấu hiệu hô hấp nặng với khó thở, ho và đôi khi thở bằng miệng rất rõ (Fenwick và Henry, 1994) [16] Tình trạng suy sụp trong vòng 24 giờ đầu Bệnh diễn biến khác nhau ở từng con vật, phụ thuộc vào mức độ tổn thương ở phổi và thời điểm bắt đầu điều trị Ở cùng một nhóm lợn, có thể xuất hiện nhiều giai đoạn bệnh,
từ trung gian tới tử vong, bán cấp hoặc mạn tính Thể cấp tính của bệnh có thể làm con vật chết hoặc có thể con vật phục hồi lại (Nicolet, 1992 [22]) Lợn thường sống sót nếu qua được 4 ngày đầu của bệnh Tuy nhiên, lợn bị bệnh có thể khỏi và trở thành mang bệnh thể mạn tính (Nielsen, 1985 [23])
+ Thể bán cấp và mạn tính: xuất hiện sau khi các dấu hiệu cấp tính mất
đi Con vật không sốt hoặc sốt ít, xuất hiện ho tự phát, với các cường độ khác nhau, con vật kém ăn, giảm tăng trọng (Nicolet, 1992 [22])
Trang 19* Bệnh tích:
Nghiên cứu về bệnh tích của lợn bị nhiễm A pleuropneumoniae cho
thấy lợn bệnh có những tổn thương chủ yếu ở đường hô hấp (Nicolet, 1992 [22]) Đa số các trường hợp lợn bị viêm phổi hai bên, với tổn thương ở các thùy đỉnh, thùy tim và một phần các thùy trên vòm hoành, tại đó, vi khuẩn thường khu trú và có ranh giới rõ Ở các trường hợp tử vong nhanh chóng - thể cấp tính: khí quản và các phế quản bị lấp đầy bởi các chất tiết nhày, bọt nhuốm máu, phổi trở nên sẫm màu, có rất nhiều máu ở lồng ngực và nhiều tơ huyết gắn giữa phổi, thành ngực, cơ hoành và màng ngoài tim (Rogers và cs,
1990 [26]) Viêm màng phổi tơ huyết và fibrin thường rất rõ ở những lợn chết trong giai đoạn cấp tính của bệnh, ít nhất 24 giờ sau khi nhiễm trùng Hầu hết những nghiên cứu đều kết luận rằng những tổn thương trên là do độc tố của vi khuẩn gây ra (Bertram, 1986 [12])
Ở trường hợp lợn bị bệnh mạn tính do A pleuropneumoniae thì phổi có
thể bị tổn thương với các mức độ khác nhau, có thể phục hồi sau một vài tuần
và những tổn thương mạn tính ở các cơ quan nội tạng cũng có thể khác nhau (Fenwick và Henry, 1994) [16] Những tổn thương ở phổi này từ mầu đỏ sặc
sỡ sang mầu vàng và ít biến đổi hơn với chứng xơ hóa dễ nhận thấy (Rogers
và cs, 1990 [26]) Những tổn thương mạn tính có thể chứa A pleuropneumoniae
trong nhiều tháng và những lợn này được coi là động vật truyền bệnh (Fedorka- Cray và cs, 1993) [15] Tỷ lệ lưu hành bệnh viêm màng phổi mạn tính thường cao ở lợn giết thịt
2.2.4 Chẩn đoán
Việc chẩn đoán bệnh cần dựa trên:
- Các triệu chứng lâm sàng: Trên lâm sàng có thể nghi viêm phổi màng phổi ở các đợt bệnh cấp bùng phát Con vật chết đột ngột, thể quá cấp tính thường tiến triển trong vài giờ đến 2 ngày Con vật sốt cao (41oC), ho ướt, khó thở, thường có bọt lẫn máu chảy từ mũi và miệng
Trang 20- Bệnh tích: kiểm tra các bệnh tích trên phổi, màng phổi và nghiên cứu các tổn thương dựa trên các bệnh tích điển hình trên phổi như: sự xuất hiện của dịch rỉ viêm, cùng các vùng hoại tử được bao quanh bởi hàng rào các mảnh tế bào bạch cầu trung tính là bằng chứng rõ ràng nhất cho viêm phổi màng phổi Ở thể nhiễm trùng mạn tính, mổ khám thấy ổ áp xe cứng có ranh giới rõ ràng kết hợp với viêm màng phổi, viêm màng ngoài bao tim cũng là một bệnh tích có giá trị chẩn đoán
- Chẩn đoán vi khuẩn học:
Ở các con vật mới chết có các triệu chứng viêm phổi, màng phổi rõ ràng, có thể tìm thấy căn nguyên của bệnh tại phế quản, dịch tiết ở mũi hoặc các tổn thương ở phổi Nhuộm gram các tiêu bản làm từ bệnh phẩm là phổi tổn thương quan sát thấy nhiều cầu trực khuẩn gram âm
Phân lập A pleuropneumoniae từ các tổ chức và chất tiết có thể được tiến hành trên môi trường thạch máu cừu 5% với một đường cấy ngang của S
aureus Sau khi nuôi cấy hiếu khí qua đêm, các khuẩn lạc nhỏ sẽ xuất hiện ở
xung quanh đường cấy thẳng (do vi khuẩn cần có yếu tố NAD cho quá trình phát triển) được bao bọc xung quanh bởi vùng sáng dung huyết hoàn toàn Các đặc điểm này giúp cho chẩn đoán vi khuẩn nhanh Vi khuẩn cũng có thể mọc trên môi trường thạch chocolate nhưng không rõ rệt như trên môi trường thạch máu cừu
Trong trường hợp nhiễm trùng ghép, thường là với P multocida hoặc
cùng với các vi khuẩn khác, thì cần phải sử dụng môi trường chọn lọc (Nielsen, 1990 24) Jacobsen và Nielsen (1995) [18] đã đưa ra một môi trường chọn lọc có bổ sung kháng sinh để phân lập được vi khuẩn từ hạch amidan Tuy nhiên việc phân lập có thể bị thất bại trong trường hợp tổn thương mạn tính hay đã sử dụng kháng sinh để chữa trị Trong trường hợp tiền cấp tính, vi khuẩn có thể được phân lập từ cả ở cơ quan khác (nhiễm trùng huyết)
Trang 21- Chẩn đoán bằng các phương pháp sinh học phân tử
Trong những năm gần đây, kỹ thuật PCR đã trở nên phổ biến trong việc
phát hiện và định type đối với A pleuropneumoniae Một số phương pháp đã được phát triển trên cơ sở PCR cho phép phát hiện và định type nhanh A
pleuropneumoniae trong vòng vài giờ với độ nhậy cao
- Chẩn đoán phân biệt:
Bệnh dịch tả lợn, đóng đấu lợn và các bệnh nhiễm trùng do liên cầu phải được xem xét đến trong việc chẩn đoán phân biệt ở các trường hợp quá cấp và cấp tính Trong những trường hợp nhiễm trùng cấp tính và mạn tính, các bệnh tích của phổi phải được phân biệt với các bệnh tích gây ra bởi các
tác nhân vi khuẩn sinh mủ như A pyogenes, S aureus, trực khuẩn dạng bạch cầu và F necrophorum
Ngoài ra cũng cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác nữa như
viêm phổi địa phương do Mycoplasma, hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp
ở lợn (PRRS), bệnh cúm ở lợn, bệnh viêm phổi do tác động của Salmonella
choleraesuis,… Chẩn đoán phân biệt với các vi khuẩn khác trong họ Pasteurellaceae như P multocida, P haemolytica, H parasuis, A minor
2.2.5 Phòng bệnh
Việc phòng bệnh viêm phổi màng phổi nên được thực hiện theo một số nguyên tắc sau:
Các trại không bị mắc bệnh và nhiễm khuẩn phải duy trì việc cách ly,
đi đôi với việc sử dụng tinh dịch hoặc bào thai an toàn Khi nhập lợn mới vào đàn, phải đảm bảo chắc chắn rằng lợn có nguồn gốc từ một đàn không bị bệnh, không bị nhiễm khuẩn, nên nuôi cách ly chúng trong một thời gian trước khi cho vào đàn
Các chương trình kiểm soát phải tính đến các đặc điểm dịch tễ học của bệnh viêm màng phổi Ưu tiên hàng đầu là phải kiểm soát tỷ lệ lợn chết do
Trang 22bệnh viêm phổi màng phổi nhằm hạn chế thiệt hại kinh tế trên đàn lợn, bệnh
có biểu hiện lâm sàng và tiềm ẩn, sau đó xem xét sự kiểm soát hoặc loại trừ nhiễm khuẩn, kiểm soát tỷ lệ tử vong bằng cách điều trị các trường hợp lợn bị bệnh hoặc nhóm bị nhiễm khuẩn Có thể điều trị bệnh ở giai đoạn sớm bằng cách điều trị các nhóm lợn nghi bệnh cho và chuyển đến nơi sạch, cách ly cho tới khi giết thịt Khi các việc này không thể thực hiện được thì việc kiểm soát các yếu tố môi trường như nhiệt độ và không khí, sử dụng các vách ngăn chia chuồng trại giữa các đàn có thể làm hạn chế tối thiểu sự phát triển và mức độ bệnh nặng Có thể dùng thuốc liên tục hoặc ngắt quãng, nhưng không được dùng kéo dài và cần thường xuyên kiểm tra sự mẫn cảm của vi khuẩn với kháng sinh Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh không loại bỏ được mầm
bệnh hoàn toàn và A pleuropneumoniae vẫn có thể thải ra môi trường, góp
phần làm cho các chủng kháng kháng sinh tăng lên nhanh chóng Cray và cs, 1993) [15] Tiêu hủy toàn đàn là phương pháp tối ưu để thanh toán dịch bệnh, sau đó tiêu độc chuồng trại, tạo đàn mới từ những con giống sạch bệnh Trong trường hợp có tỷ lệ lợn trong đàn kiểm tra huyết thanh dương tính cao, thì tiêu hủy là phương pháp hiệu quả (Nicolet, 1992 [22]) Tuy nhiên, phương pháp tiêu hủy rất tốn kém và có thể dẫn đến mất đi những giống thuần quý (Leman, 1992 [19]) Cho thấy việc chẩn đoán sớm những con lợn mang trùng mà chưa có dấu hiệu lâm sàng là rất cần thiết và cấp bách Nếu các biện pháp quản lý, vệ sinh, phòng bệnh không được phối hợp chặt chẽ thì việc bùng phát bệnh viêm phổi màng phổi ở trại là có thể xảy ra (Fenwick và Henry, 1994) [16]
(Fedorka-Hiện đã có nhiều loại vacxin được sản xuất để phòng cho bệnh này, gồm 2 nhóm chính: Các vacxin vô hoạt và các vacxin có chứa một số thành phần cấu tạo của vi khuẩn Vacxin vô hoạt toàn khuẩn đặc hiệu theo chủng huyết thanh, có thể có miễn dịch chéo với các chủng huyết thanh khác
Trang 23Các vacxin thử nghiệm gồm các vi khuẩn bị làm yếu, giảm độc lực, hoặc các vi khuẩn đã chết hoặc các thành phần cấu tạo của chúng dùng theo đường khí dung hoặc đường uống đã cho thấy có tác dụng bảo vệ nhất định Vacxin dùng tiêm cho lợn con khi kháng thể thụ động nhận được từ lợn mẹ đã giảm đi giúp đàn lợn giảm tỷ lệ tử vong, giảm thuốc điều trị và cải thiện hiệu quả chuyển hoá thức ăn, chất lượng thịt cũng được nâng cao, lợn ít bị viêm phổi Các thế hệ vacxin cũ hơn thường không phải luôn luôn có hiệu quả Tuy nhiên, vacxin không thường xuyên ngăn cản được tình trạng mang vi khuẩn, nhưng đã được sử dụng như một biện pháp trợ giúp trong các chương trình tiêu diệt bệnh này
Trong các chương trình kiểm soát dịch bệnh đều phải có khử trùng Vi khuẩn nhạy cảm với nhiều chất tiệt trùng thông thường Các đàn đã bị nhiễm
A pleuropneumoniae cần phải được tiến hành một chương trình loại trừ A pleuropneumoniae Tuy nhiên phải có sự đánh giá kỹ về hiệu quả kinh tế
trước khi tiến hành Giết thịt toàn bộ và thiết lập lại đàn lợn có nguồn gốc từ các đàn chắc chắn không bị nhiễm vi khuẩn viêm phổi - màng phổi là một trong các biện pháp tối ưu
2.2.6 Điều trị
A pleuropneumoniae trong thử nghiệm in vitro rất mẫn cảm với
ampicilin, cephalosporin, chloramphenicol, tetracyclin, colistin, sulfonamide, cotrimoxazole (trimethoprim + sulfamethoxazole), penicillin, và gentamycin với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) thấp Vi khuẩn này có MIC cao với streptomycin, kanamycin, spectinomycin, spiramycin và lincomycine (Inoue
và cs, 1984 [17]) Prescott và Baggot (1993) [25] đã đánh giá lại khả năng nhạy cảm của vi khuẩn này với các thuốc kháng sinh Sự xuất hiện tình trạng kháng lại ampicilin, cephalosporin, chloramphenicol, colistin, tetracyclin, streptromycin, sulfonamide là vấn đề đáng lo ngại và thường gặp ở các
Trang 24serotype es 1, 3, 5, 7 (Vaillancourt và cs, 1988 [27]), nhưng hiếm gặp ở các chủng khác, nhất là serotype 2 (Inoue và cs, 1984 [17]) Đặc tính kháng kháng sinh có khả năng truyền bằng plasmid
Kháng sinh được chọn lựa phải là kháng sinh có nồng độ ức chế tối thiểu thấp nhất và có khả năng diệt khuẩn tốt nhất Do vậy, các kháng sinh nhóm beta - lactam (chủ yếu cephalosporin); chloramphenicol, cotrimoxazole
và với một mức độ nhất định nào đó, tetracyclin được coi là có tác dụng Một
số kháng sinh mới có gần đây như các dẫn xuất quinolone (Enrofloxacin) hoặc cephalosporin bán tổng hợp (Ceftiofur sodium) đã được chứng minh trên thử nghiệm rất có kết quả…
Người ta đã thu được những kết quả tốt trên thực tế với tiamulin và hỗn hợp lincomycin và spectinomycin Moore và cs (1996) [21] đã trộn tilmicosin vào thức ăn thấy có tác dụng phòng và điều trị tốt Cần làm kháng sinh đồ khi thí nghiệm điều trị bằng kháng sinh
Điều trị bằng kháng sinh chỉ có hiệu quả ở giai đoạn mới phát bệnh, có tác dụng làm giảm tỷ lệ tử vong Nếu điều trị muộn khi cơ thể đã xuất hiện nhồi máu hoặc tổn thương mạn tính làm cho lợn bị rối loạn hô hấp thì kết quả rất kém Phải dùng kháng sinh liều cao (tiêm bắp thịt hoặc dưới da vì lợn ốm thường sẽ giảm ăn hoặc bỏ ăn) Để đảm bảo nồng độ thuốc ổn định trong máu, có thể phải tiêm nhiều lần, tuỳ theo đặc tính dược lực học, dược động học của thuốc sử dụng Sự thành công của điều trị phụ thuộc chủ yếu vào việc phát hiện sớm các dấu hiệu lâm sàng và can thiệp điều trị sớm, có thể cho uống thuốc đối với nhóm các lợn còn uống được
Cho thuốc kháng sinh vào thức ăn, với bất cứ loại kháng sinh nào kể trên có thể cho kết quả tốt nếu lợn ăn uống bình thường Có thể sử dụng thuốc uống và qua thức ăn trong việc điều trị dự phòng cho các nhóm bị nhiễm và di chuyển tới một vùng nào đó Ở một số đợt dịch gần đây, việc kết hợp thuốc tiêm với thuốc uống thường cho kết quả tốt
Trang 25Theo Lê Văn Dương (2013) [5], đã tiến hành điều trị thử nghiệm 270 con lợn nghi mắc viêm phổi với 3 loại kháng sinh là ceftiofur, amoxicillin, florfenicol Kết hợp bổ sung Gluco – K – C - Namin để trợ sức trợ lực, giảm sốt, giảm ho, tiêu viêm và tăng cường sức đề kháng cho lợn mắc bệnh Kết quả tổng cộng với 3 phác đồ điều trị thử nghiệm 270 con lợn nghi mắc viêm phổi có 242 con khỏi về triệu chứng, đạt tỷ lệ trung bình là 89,63%
Vì vậy, để tăng hiệu quả trong ngành chăn nuôi lợn, việc kết hợp dùng vacxin phòng bệnh viêm phổi màng phổi và các biện pháp chăn nuôi khác là hết sức cần thiết để xây dựng lại đàn lợn với những con lợn khỏe mạnh, không bị bệnh
Trang 26PHẦN 3 NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh viêm phổi màng phổi ở lợn 3.1.2 Phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae
3.1.3 Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của các chủng A pleuropneumoniae phân lập được
3.1.4 Nghiên cứu biện pháp phòng, trị
- Xác định khả năng mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi
khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được
- Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh viêm phổi màng phổi ở lợn
3.2 Đối tượng, nguyên liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Đối tượng
- Lợn ở các lứa tuổi được nuôi trên địa bản huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
3.2.2 Nguyên vật liệu
- Mẫu bệnh phẩm
Phổi và cuống họng của lợn bị ốm và chết có biểu hiện triệu chứng,
bệnh tích mắc bệnh viêm phổi chưa sử dụng kháng sinh điều trị
- Các loại hoá chất, môi trường
+ Các loại môi trường dùng để nuôi cấy, phân lập vi khuẩn do hãng Oxoid (Anh) và Merck (Pháp) sản xuất như môi trường nước thịt, thạch thường, thạch máu, thạch MacConkey, thạch Chocolate
+ Môi trường phân lập vi khuẩn và tăng sinh như thạch BHI có bổ xung 5% máu cừu hoặc máu bò; thạch chocolate; thạch TSA (Tryptone soya agar) có bổ xung 1- 3% fresh Yeast Extract; TSB (Tryptone soya broth) có bổ sung 1- 3% fresh Yeast Extract và 5% huyết thanh ngựa; nước thịt TYE (Tryptone Yeast Extract Broth); thạch dinh dưỡng PPLO có bổ xung 0,1%
Trang 27glucose, 8-10% YE tươi và 5% huyết thanh ngựa;
+ Môi trường xác định các đặc tính sinh hóa: Oxidase, Catalase, Indol, Urerase, O.N.P.G Các loại đường như glucose, mannitol, trehalose, arabinose, lactose, raffinose, maltose
+ Các vật liệu hóa chất khác như giấy thử phản ứng Oxidase, dung dịch
H2O2 3%, nước muối 6,5%, thuốc thử Kovac’s, giấy tẩm kháng sinh, huyết thanh ngựa, NAD, thiamine;
+ Các loại hoá chất, môi trường dùng cho các phản ứng ngưng kết, huyết thanh học và phản ứng PCR được chuẩn hóa theo quy trình nghiên cứu của bộ môn Vi trùng, bộ môn Virus, Viện Thú y Quốc gia
- Máy móc thiết bị
Các dụng cụ thí nghiệm thông dụng, buồng cấy vô trùng, nồi hấp, máy
ly tâm, máy lắc giàn, máy dùng cho phản ứng PCR, máy rửa và đọc ELISA thuộc phòng thí nghiệm, Viện Thú y Quốc gia
3.2.3 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Các địa phương trên địa bàn huyện Hiệp Hòa-tỉnh Bắc Giang;
+ Bộ môn Vi trùng -Viện Thú y Quốc gia;
+ Phòng thí nghiệm công ty cổ phần thuốc thú y Marphavet
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 20/11/2017 đến ngày 20/5/2018
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ
Sử dụng phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả (Descriptive study), dịch tế học phân tích (Analytic study) và dịch tễ học thực nghiệm của Nguyễn Như Thanh (2011) [10], Nguyễn Văn Thiện (1997) [11]
Chọn mẫu điều tra
- Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên, mẫu chùm nhiều bậc: số bậc
Trang 28trong mẫu chùm, phụ thuộc vào số bậc đơn vị mẫu trung gian;
- Trực tiếp quan sát để phát hiện lợn mắc bệnh viêm phổi màng phổi Những con lợn có triệu chứng điển hình mắc bệnh được mổ khám mà chưa sử dụng thuốc kháng sinh điều trị thì được sử dụng lấy mẫu để phân lập vi khuẩn gây bệnh
3.3.2 Phương pháp lấy mẫu
Dùng dao mổ cắt phần phổi có bệnh tích viêm phổi và cuống họng của những con lợn có triệu chứng điển hình mắc viêm phổi được mổ khám; các con dùng để lấy mẫu đều chưa được sử dụng thuốc kháng sinh điều trị Các mẫu bệnh phẩm được bảo quản trong túi nylon vô trùng ở điều kiện 4oC và nhanh chóng được đưa về phòng thí nghiệm, Viện thú y Quốc gia (phân lập theo phương pháp thường quy của bộ môn vi trùng, Viện thú y Quốc gia - Hình 3.1)
Trang 29K/lạc mọc xung quanh đường
cấy Sta aureus và hình thành
vùng xung huyết kiểu β
24 giờ 370 c CO 2 (5%) 24 giờ 370c CO 2 (5%) 24 giờ 370c CO 2 (5%)
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae
(Viện Thú y Quốc gia)